Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi Châu lục và không trừ một ngoại lệ nào. Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sự cùng cực của nghèo khổ không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người. Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao. Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội. Đói nghèo còn ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau kể cả đối với người già và trẻ em, làm gia tăng bệnh tật, trẻ em không có được cơ hội đến trường, từ đó nảy sinh ra những tệ nạn xã hội, không được tiếp xúc với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ... Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi họ là những người phụ nữ nghèo đơn thân làm chủ gia đình họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còn gánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự ti, ít giao tiếp xã hội và sống khép mình, chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởi vậy, hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng và toàn thể cộng đồng nói chung. Trong đó, NVCTXH được coi là những người có trọng trách nặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù. Tại huyện Thăng Bình qua năm năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo năm 2015 đã giảm xuống còn 3316 hộ chiếm 8,80% , Công tác giảm nghèo trong thời gian qua đã có những thay đổi, đời sống của người dân được nâng cao. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn là một huyện nghèo, đặc biệt tỉ lệ phụ nữ nghèo đơn thân vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo danh sách thống kê hộ nghèo của huyện Thăng Bình thì tỉ lệ hộ nghèo do phụ nữ đơn thân làm chủ hộ chiếm 45%. Trong đó xã Bình Hải là một trong những xã có nhiều phụ nữ nghèo đơn thân vì đây là một xã ven biển, phần lớn người đàn ông làm nghề biển (nghề có nhiều mối nguy hiểm). Và trong cơn bão Chan Chu năm 2006, nhiều hộ gia đình đã mất đi người chồng, người cha, những đứa con trai,... Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt là những kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nhằm tìm hiểu những vấn đề cũng nh
Trang 1A.PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàncầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi Châu lục và không trừ một ngoại lệ nào.Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sựcùng cực của nghèo khổ không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bảncủa con người Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao
Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội đượchưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra nhữnghậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội Đói nghèo còn ảnh hưởng đến nhiềuđối tượng khác nhau kể cả đối với người già và trẻ em, làm gia tăng bệnh tật,trẻ em không có được cơ hội đến trường, từ đó nảy sinh ra những tệ nạn xãhội, không được tiếp xúc với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe
Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi họ là những người phụ nữ nghèo đơnthân làm chủ gia đình họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còngánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự
ti, ít giao tiếp xã hội và sống khép mình, chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởivậy, hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng
và toàn thể cộng đồng nói chung Trong đó, NVCTXH được coi là nhữngngười có trọng trách nặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trongcuộc sống bằng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù
Tại huyện Thăng Bình qua năm năm thực hiện chương trình xóa đói giảmnghèo, tỉ lệ hộ nghèo năm 2015 đã giảm xuống còn 3316 hộ chiếm 8,80% ,Công tác giảm nghèo trong thời gian qua đã có những thay đổi, đời sống củangười dân được nâng cao
Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn là một huyện nghèo, đặc biệt tỉ lệ phụ nữnghèo đơn thân vẫn chiếm tỷ lệ cao Theo danh sách thống kê hộ nghèo củahuyện Thăng Bình thì tỉ lệ hộ nghèo do phụ nữ đơn thân làm chủ hộ chiếm45% Trong đó xã Bình Hải là một trong những xã có nhiều phụ nữ nghèo đơn
Trang 2thân vì đây là một xã ven biển, phần lớn người đàn ông làm nghề biển (nghề
có nhiều mối nguy hiểm) Và trong cơn bão Chan Chu năm 2006, nhiều hộgia đình đã mất đi người chồng, người cha, những đứa con trai,
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữnghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt là những
kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng phụ nữ nghèo đơn thânnuôi con nhỏ nhằm tìm hiểu những vấn đề cũng như nhu cầu của họ để từ đócùng thân chủ xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, địnhhướng và kết nối họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộcsống
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơnthân
- Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, trường hợp cụthể là chị: Nguyễn Thị Lài, phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại thôn HiệpHưng, xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Nghiên cứu có sử dụng những thông tin từ những nguồn tài liệu có sẵndựa trên nguồn số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới(Danh sách hộ nghèo năm 2015 xã Bình Hải), các báo cáo kinh tế chính trị
Trang 3của xã Bình Hải năm 2014, báo cáo của LHPN xã Bình Hải, các tài liệu vềphụ nữ nghèo đơn thân, …để làm tư liệu trong quá trình hoàn thành đề tài.
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu thân chủ nhằm mụcđích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện tìmhiểu những chính sách và biện pháp mà chính quyền đã triển khai trong hỗ trợphụ nữ nghèo tại địa phương
Bên cạnh đó, thu thập những thông tin về những thực trạng, nguyên nhânnghèo hiện tại, nhận thức của họ về cách thức vươn lên thoát nghèo, nhữngkhó khăn của họ trong quá trình giảm nghèo, những nguyện vọng và mongmuốn của họ…
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa khoa học
Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác xã hội,đặc biệt là CTXHCN cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương phápthu thập và phân tích thông tin, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cungcấp thêm nguồn lý luận phong phú cho việc ứng dụng các lý thuyết và cácphương pháp này trong thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trìnhCTXHCN với phụ nữ nghèo dựa trên khảo sát chính nhu cầu của họ Việc ứngdụng tốt tiến trình này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho thân chủ bởithông qua đó họ có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống,những tâm tư nguyện vọng cũng như những đường hướng để vươn lênXĐGN, ổn định cuộc sống
Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu để vận dụng thực hiệncông tác giảm nghèo cho phụ nữ Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp íchcho các tổ chức hoạt động vì cộng đồng trong việc định hướng can thiệp giảm
Trang 4nghèo cho các nhóm yếu thế trong xã hội đặc biệt là nhóm phụ nữ nghèo đơnthân
Trang 5B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN 1.1.Công tác xã hội cá nhân
1.1.2 Đặc điểm
1.1.1.1.Đối tượng (thân chủ và nhân viên xã hội)
Trong công tác xã hội cá nhân, đối tượng( hay còn là thân chủ) là mộttrong những thành phần quan trọng nhất để tiến hành hoạt động này Ở đây,thân chủ được hiểu là cá nhân có vấn đề khó khăn cần được sự giúp đỡ củacác nhân viên công tác xã hội Họ thường đến với mong muốn tạo ra sự thayđổi về tình huống hoặc đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ Đây cũngchính là nguyên tắc cốt yếu trong công tác xã hội cá nhân khi giải quyết vấn
đề của người nhân viên xã hội
1.1.1.2.Vấn đề về thân chủ
Vấn đề được xác định là những tình huống hay hoàn cảnh gây cản trở choviệc thực hiện chức năng xã hội của đối tượng và bản thân đối tượng khôngthể đối phó giải quyết được
1.1.1.3.Tổ chức/ cơ quan giải quyết các vấn đề
- Dựa trên nguồn viện trợ: đó là các cơ quan thuộc chính phủ, ngoàichính phủ Tổ chức chính phủ được chính quyền tài trợ và các tổ chức ngoài
Trang 6(phi) chính phủ gây quỹ từ các chiến dích hay từ những sự đỡ đầu tài chínhkhác Một sộ ít là cơ quan bán công vì họ có nhận được một phần tài trợ từchính phủ mặc dù tài chính là từ bên ngoài.
- Dựa theo sự chủ quản có thể phân thành: cơ quan chính phủ (được phéphoạt động từ chính phủ, trên cơ sở luật lệ) và cơ quan tư nhân (được cấpquyền hạn từ một nhóm công dân có quan tâm hay một cộng đồng hoặc lĩnhvực tư nhân)
- Cũng có thể phân loại theo chức năng: đó là những cơ quan đa năng vớinhiều bộ phận (Bộ xã hội) nhưng cũng có những cơ quan chỉ có một chứcnăng duy nhất (chủ yếu là các tổ chức phi chính phủ)
Các tổ chức xã hội đều có nhiệm vụ, chức nawnhg và cách tiếp cận riêng,mang những giá trị, tiêu chí riêng có thể phục vụ và đáp ứng cho một hoặcnhiều nhóm đối tượng khác nhau
1.1.2.Nguyên tắc cơ bản
1.1.2.1.Nguyên tắc cá nhân hóa
Mỗi thân chủ phải được nhân viên xã hội hiểu và nhìn nhận như một cánhân độc lập có cá tính riêng biệt, không giống ai trong cộng đồng của mình.Đây chính là điều quan trọng nhất trong nguyên tác cá nhân hóa đề nhân viên
xã hội can thiệp trong quá trình giúp đỡ thân chủ
1.1.2.2.Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận thân chủ có nghĩa đòi hỏi nhân viên xã hội phải nhìn nhận thânchủ như vốn thân chủ đó có với mọi phẩm chất tốt và xấu, điểm mạnh vàđiểm yếu,….của thân chủ Điều đó có nghĩa, thân chủ được chấp nhận là mộtcon người bình thường cho dù tội lỗi của họ là không thể chấp nhận Tuynhiên, việc chấp nhận không có nghĩa là việc tha thứ thậm chí biện hộ haychạy tội cho những hành vi, hành động xã hội của thân chủ mà xã hội khôngthể chấp nhận Có như vậy, thân chủ mới bộc lộ những vấn đề của họ chomình
Trang 71.1.2.3 Không phê phán
Không phê phán có nghĩa là đòi hỏi nhân viên xã hội trong quá trình làmviệc không được đưa ra bất cứ một sự bình phẩm, kỳ thị hay tỏ vẻ bất bình,bất hợp tác….về hành vi của thân chủ, cho dù họ trong cuộc sống có thể họ làhững người tội lỗi Nói chung, thân chủ của công tác xã hội cá nhân là nhữngngười có khó khăn khi giải quyết vấn đề trong cuộc sống Họ có những căngthẳng dưới dạng này hay dạng khác Việc chấp nhận, không phê phán củanhân viên xã hội sẽ giúp thân chủ yên tâm và hoàn toàn sẽ chia những điềuvướng mặc của mình cho nhân viên xã hội
1.1.2.4 Quyền tự quyết của đối tượng
Quyền tự quyết, cùng sự tự do trong những quyết định của thân chủ làmột trong những quyên tắc căn bản của công tác xã hội cá nhân miễn sao hậuquả của những quyết định ấy không làm ảnh hưởng, thậm chí gây tổn hại đếnngười khác và bản thân họ, điều này có nghĩa, những quyết định này phải ởtrong những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được và thân chủvới tư cách là người ra quyết định phải tự chịu trách nhiệm thực hiện và gánhlấy những hậu quả (nếu xảy ra) từ những quyết định của chính mình Cònnhân viên xã hội không được đưa ra những quyết định, lựa chọn hay vạch kếhoạch giúp thân chủ đưa ra những giải pháp để thân chủ tự quyết định màthôi
1.1.2.5 Sự tham gia của đối tượng trong việc giải quyết vấn đề
Kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc tự quyết là sự tham gia của thân chủtrong việc giải quyết vấn đề Thân chủ trở thành đối tuowngjchinhs trong việctheo đuổi kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động và nhân viên xã hội đóngvai trò là người tạo cơ hội cho thân chủ tham gia
1.1.2.6 Sự bí mật của nhân viên xã hội
Sự chia sẽ thông tin của thân chủ với người khác của nhân viên xã hội cho
dù người đó ;à thành viên của gia đình mình hay một đồng nghiệp thân cận…
mà chưa có sự đồng ý của thân chủ thì đó là một điều tối kỵ trong hành nghệ
Trang 8công tác xã hội cá nhân Điều đó có nghĩa trong tiến trình công tác xã hội cánhân, có nhiều điều chỉ nhân viên xã hội mới được thân chủ chia sẽ Nhữngthông tin này đòi hỏi nhân viên xã hội phải giữ bí mật Có như vậy thì mốiquan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ mới bền chặt và qua đó nhân viên
xã hội mới hiểu, cảm nhận được xúc cảm của thân chủ và nhìn nhận tình thếcủa thân chủ như vấn đề của mình
1.1.2.7 Tự ý thức của nhân viên công tác xã hội
Trong thực hành Công tác xã hội với cá nhân, nhân viên công tác xã hộiphải xây dựng mối quan hệ tin tưởng với thân chủ dựa trên những nguyên tắcchấp nhận, không phê phán Luôn đặt mình vào trong vị trí của thân chủ đểcảm nhận về mức độ cảm xúc của thân chủ để có thể nhìn vấn đề của thân chủnhư chính thân chủ Tuy nhiên nhân viên xã hội cần phải có cái nhìn kháchquan để khỏi mù quáng bởi những cảm xúc quá độ về tình huống
Sự can dự có kiểm soát sẽ giúp cho nhân viên xã hội duy trì một mức độsuy xét độ lập nhất định bên cạnh một mức độ cảm xúc thích hợp nhằm giúpcho thân chủ có cái nhần khách quan về cấn đề của mình và xây dựng kếhoạch một cách tinh tế
1.1.3.Tiến trình công tác xã hội cá nhân
Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVXHvới thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan hệtương giao giữa NVCTXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quan điểm,giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của mình để giúp thânchủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu,phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cảithiện điều kiện sống của mình
Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động doNVXH và thân chủ thực hiện để giải quyết vấn đề Trong quá trình giúp đỡ từnhiều nguồn khác nhau, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữliệu, thẩm định và lượng giá Có thể mô phỏng theo 7 bước sau:
Trang 9Bước 1: Tiếp cận đối tượng.
Tiếp cận ca là bước đầu tiên có thể thân chủ tự tìm đến với nhân viên xãhội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đócũng có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trongphạm vi hoạt động theo chức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu nhânviên xã hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuậntiện hơn
Bước 2: Thu thập thông tin
Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải tiến hành thu thậpthông tin nhằm xá định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm rahướng giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cánhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cá quá trình và kết quả của nó là sựđịnh hướng cho tất cá các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tớichẩn đoán và cách trị liệu đúng
Bước 3: Chuẩn đoán
Gồm 3 bước: Chuẩn đoán, Phân tích, Thẩm định
- Chuẩn đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên
cơ sở các dữ liệu thu nhân được
- Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn
- Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông quanhững năng lực nào của thân chủ
Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quantrong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ
là kế hoạch tạm thời
Để tiến hành chuẩn đoán tốt nhằm xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả,nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng một số công cụ như: Cây phả hệ;Biểu đồ sinh thái; Bảng phân tích điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ…để
có thể phân tích sâu và đưa ra chuẩn đoán chính xác
Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu
Trang 10Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu và mụctiêu cụ thể để đạt được mục đích Nhiệm vụ của hoạt động này:
- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu,phải đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích đến là gì
- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu
- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào
- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thục hiện nhân viên xãhội nhân viên hay thân chủ
- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? Bao lâu?
Bước 6: Lượng giá
Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội
cá nhân để thẩm định kết quả Lượng giá là một hoạt động liên tục, đồng thời
dù cho là một bộ phận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân và chỉ tìmđược mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động
Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoawch không thayđổi thì tiếp tục điều trị và người lại là phải thay đổi phương pháp trị liệu
- Nếu kết quả cho thấy chiều hướng xấu thì xác định mức độ đến đâu từ
đó thay đổi hoặc bổ sung kế hoạch trị liệu
- Nếu kết quả cho thấy tích cực có sự thay đổi tiến bộ của thân chủ thìnhân viên xã hội chủ động giảm dần vai trò tạo điều kiện giúp thân chủ tangtính độc lập trong việc thực hiên kế hoạch trị liệu
Kết thúc quá trình trị liệu là khi vấn đề của thân chủ đã được giải quyếthoặc sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thayđổi được vấn đề
Trang 11Bước 7: Kết thúc
Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủthường là khi nhân viên xã hội hoàn thành nhiệm vụ giúp thân chủ giải quyếtvấn đề hoặc là chuyển ca sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giảiquyết và sự hiện điện của nhân viên xã hội là không còn cần thiết
• Việc kết thúc ca dựa trên:
- Nhu cầu và quyền lợi của thân chủ
- Không kéo dài vì ý tưởng chủ quan của thân chủ
- Không kết thúc vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội
- Trước khi kết thúc cần nới lỏng quan hệ
1.2 Phụ nữ nghèo đơn thân
1.2.1 Khái niệm
Phụ nữ nghèo đơn thân là đối tượng trong tình trạng ly thân, ly hôn hoặc
là những bà mẹ tự túc (có con nhưng chưa kết hôn), người nuôi con mộtmình, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Họthường bị cản trở trong việc gia nhập thị trường lao động hay tìm kiếm việclàm vì phải chăm sóc con cái
( Theo tạp chí “ Tiếp thị và gia đình”)
1.2.2.Đặc điểm
Phụ nữ nghèo đơn thân họ là những người ít có cơ hội tiếp cận với khoahọc, công nghệ, tín dụng và đào tạo…không những thế phụ nữ nghèo đơn thâncòn là những người thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống gia đình nhất
là trong việc tự quyết định các công việc trong gia đình một cách đơn độc.Ngoài xã hội thì họ thường là những người dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệtthòi, họ rất ít có cơ hội thăng tiến bản thân đặc biệt họ thường được trả công laođộng thấp hơn so với nam giới kể cả cùng loại công việc với mức độ và cường
độ làm việc bằng với nam giới Bên cạnh thiếu hụt về kinh tế, nhiều phụ nữnghèo đơn thân hầu như không có cơ hội để nâng cao trình độ bản thân, nêncũng gặp nhiều khó khăn trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái; và hiện naythiếu nhà ở ổn định là một trong những thiếu hụt điển hình về nhu cầu cơ bản
Trang 121.2.3.Nhu cầu
Phụ nữ nghèo đơn thân họ mong muốn tìm kiếm được một công việc ổnđịnh Họ muốn mở rộng mối quan hệ, quan tâm chia sẻ nhưng lại ngại tiếpxúc Ngoài xã hội thì họ muốn được tôn trọng, muốn có cơ hội để được thăngtiến, muốn được mọi người quan tâm đến mình
1.3 Tổng quan về xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 1.3.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
+ Xã Bình Hải là một xã vùng đồng bằng ven biển nằm về phía Đông Namcủa huyện Thăng Bình, cách trung tâm hành chính huyện Thăng Bình khoảng
15 km về phía Đông Nam
+ Phía Đông giáp với biển Đông
+ Phía Tây giáp xã Bình Sa
+ Phía Bắc giáp xã Bình Đào, Bình Minh
+ Phía Nam giáp xã Bình Nam
+ Diện tích tự nhiên: 1.251,24 ha, có 06 thôn gồm:
+ Thôn Phước An 1: 255,2 ha+ Thôn Phước An 2: 240,7 ha
+ Thôn An Thuyên: 97,09 ha+ Thôn Kỳ Trân: 225,79 ha-Địa hình:
Địa hình nhiều gò đồi, địa hình trũng nhất là 0,5m thuộc thôn Phước An
1, thôn Phước An 2, thường dễ bị ngập úng vào mùa mưa Dọc theo địa hình
về phía Tây Nam của xã có con sông Trường Giang với lưu lượng nước khálớn là tiềm năng phát triển của xã
toàn xã trải dài dọc theo xã từ Bắc xuống Nam Do hiện tượng xói mòn, rửatrôi đất xảy ra mạnh làm cho đất bị bạc màu, một số khu thích hợp phát triểnlâm nghiệp
Trang 13Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất
Khoản mục
Hiện trạng năm2012(ha)
Tỷ lệ % sovới đất tựnhiên
Ghi chú
- Đất sông suối và mặt nước
chuyên dung
Khí hậu:
tố khí hậu thời tiết khu vực như sau:
Trang 14+ Độ ẩm không khí trung bình : 80 %
+ Các hướng gió chính: Gió mùa đông bắc và gió tây nam, đông nam.+ Mang đặc điểm chung: Chế độ khí hậu rất thích nghi với nhiều loạicây trồng, con vật nuôi vùng nhiệt đới; Tuy nhiên lượng mưa lượng nhiệtphân bổ không đều theo mùa gây trở ngại rất lớn trong việc bố trí sản xuất
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Dân số
- Dân số toàn xã tính đến ngày 30/11/2012 là 6.155 nhân khẩu, tổng số 1.708
hộ gia đình (bao gồm cả hộ đăng ký tạm trú trên 6 tháng), mật độ dân số bìnhquân 492 người/km2
- Về số hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản: 1.195 hộ,chiếm 70% tổng số hộ Đặc điểm: Các hộ này không còn sản xuất thuần nông
mà kết hợp các ngành nghề khác như: Buôn bán nhỏ, làm công nhân
- Tổng số gia đình trong toàn xã là 1.708 hộ gia đình, số gia đình có phụ nữđơn thân làm chủ hộ là 200 hộ ( kể cả gia đình chồng mất)
1.3.2.2 Lao động
-Tổng số người trong độ tuổi lao động là 3.112 LĐ, trong đó số người còn khả năng lao động là 3.019 người, còn 93 người mất sức lao động do đau ốm,bệnh tật chiếm 2,99% Lao động nông, ngư nghiệp 2.945 người chiếm94,63%, còn lại lao động trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, TTCN vàngành nghề khác chiếm 2,38% Nhìn chung những năm qua mức độ chuyểndịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệcao Qua số liệu trên, ta thấy số hộ dân của xã sống bằng nghề nông nghiệpcòn khá cao, diện tích bình quân cho 1 lao động nông nghiệp là 0.13 ha/laođộng
+ Nhân khẩu nông, ngư nghiệp: 6.007 người, ứng với 1.667 hộ;
+ Nhân khẩu phi nông nghiệp: 148 người, ứng với 41 hộ
Tổng số hộ 1.708 hộ, 6.155 khẩu, trong đó lao động trong độ tuổi là3.112 người (Nam: 1.570 người, nữ: 1.542 người)
Trang 15-Là địa phương có số lao động tương đối dồi dào, song do địa bàn của xã sảnxuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn, không chủ động nước, tiến độ pháttriển kinh tế của địa phương chậm, đời sống nhân dân còn nghèo nên đa sốlao động phổ thông chưa qua đào tạo Vài năm gần đây được Nhà nước đầu tưxây dựng 02 ao gom nước nhĩ, kênh mương nội đồng, nạo véc và nâng cấp aođìa, hàn gắn các đoạn đê ngăn mặn bị hư hỏng, xuống cấp, tập huấn chuyểngiao khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản, đầu tư con, giống có hiệuquả nên ngành nông nghiệp có nhiều bước phát triển đáng kể, cộng vào đó,đất đai dồi dào, lao động đảm bảo, nhân dân có truyền thống cần cù lao động,đặc biệt là có Nghị quyết 26 của BCH Trung ương khóa X về Nông nghiệp -Nông dân - Nông thôn, chắc chắn xã nhà sẽ phát triển tốt trên các lĩnh vựckinh tế, văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trong thời gian đến.
1.3.2.3.Tiềm năng của địa phương trong phát triển kinh tế xã hội
Địa phương có tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp, đánh bắtnuôi trồng thủy sản, chăn nuôi kinh tế hộ gia đình Với nguồn nhân lực đã quađào tạo (Cao đẳng, Đại học) 193 người đã và đang làm việc tại những địaphương trên mọi miền tổ quốc, với tình yêu quê hương và văn hóa lá rụng vềcội là một tiềm năng lớn của địa phương khi biết khai thác và có cơ chếkhuyến khích tập trung trí tuệ, nhân, lực để những người con về phục vụ quêhương
Hạ tầng kinh tế - xã hội địa phương tương đối ổn định, giao thông, thủylợi trường học và các dịch vụ công cộng ngày càng phát triển cùng với tinhthần đoàn kết gắn bó, sẽ chia trong nhân dân luôn được phát huy và giữ vững
là những động lực, nền tảng để phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
Trang 16CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ
NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN TẠI XÃ BÌNH HẢI - HUYỆN THĂNG
BÌNH TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Mô tả trường hợp
Mỗi khóa học ngành CTXH- trường Đại học sư phạm Quảng Nam chúngtôi đều có một chuyến đi thực tập cuối khóa nhằm áp dụng những kiến thức
đã học ở trên lớp vào thực tế Nhóm sinh viên K12 chúng tôi năm nay đượcthực tập theo địa điểm tự chọn Và tôi quyết định thực tập tại địa phương nơitôi đang sinh sống- xã Bình Hải huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam Vàonhững ngày đầu khi đến cơ quan thực tập tôi đã được các Ban ngành, đoàn thểgiới thiệu về trường hợp của chị Nguyễn Thị Lài – một phụ nữ nghèo đơnthân nuôi con nhỏ luôn chật vật, mặc cảm với cuộc sống hiện tại Tôi đã gặp
và nghĩ về người phụ nữ ấy, tôi không thể tin chị lại vượt qua những đau khổ,một mình nuôi con như thế nào? Tôi quyết định sẽ tiếp cận chị Lài không chỉ
vì tôi lo lắng cho chị mà còn bởi khi thấy chị tôi cảm nhận được sự chịuthương chịu khó, nét buồn sâu thẳm trong chị
2.2 Lý thuyết tiếp cận
2.2.1 Lý thuyết phân tầng của Karl Marx và Max Weber
Xã hội học hiện đại, kể cả xã hội học hiện đại phương Tây nói chungđều thừa nhận có hai ông tổ của lý thuyết phân tầng xã hội - đó là Karl Marx
và Max Weber Bởi lý thuyết của ông tổng hợp lại đã cung cấp cho người tanhững nhận thức rất cơ bản về tiền đề và điều kiện (hay những nhân tố về
Trang 17kinh tế, chính trị, văn hóa) dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp vàtầng lớp khác nhau.
a Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818- 1883)
Karl Marx là nhà triết học và kinh tế học Đức, nhà lý luận của phong
trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủnghĩa cộng sản khoa học
Theo tập thể các tác giả cuốn Nhập môn xã hội học (Tony Bilton vàcộng sự) - một cuốn sách giáo khoa tốt nhất, tổng hợp nhất và có giá trị nổibật, thì “Marx đã cung cấp cho xã hội học và chính trị học hiện đại một trongnhững tiếp cận lý thuyết phân tầng bao quát mạnh mẽ nhất Cũng lúc đó, cáchgiải thích về xã hội của ông là một cách giải thích bị tranh luận gay gắt nhấttrong mọi học thuyết xã hội, bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học, màcũng là một triết lý về con người và mộ cương lĩnh cho sự thay đổi cách mạngtrong xã hội…Các nhà xã hội học khác nhau đã chấp nhận những quan điểmkhác nhau đó, những người khác thì ở lưng chừng, nhưng điều chắc chắn làbất cứ lý thuyết phân tầng nào đều vay mượn của Marx cách lý giải về giaicấp… Với Marx mối quan hệ giai cấp là chìa khóa mọi mặt của xãhội”[43,56]
Marx cho rằng, sản xuất của cải vật chất là hoạt động trước tiên củacon người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác Chừng nào mà xã hội cóthể sản xuất nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để sinh sống thì giai cấp mới có thểxuất hiện Bất cứ xã hội có giai cấp nào đều xây dựng trên mối quan hệ giữanhững người bóc lột - kẻ bị bóc lột
Lịch sử xã hội “văn minh” theo Marx là lịch sử của những hình thứckhác nhau về sự bóc lột và thống trị giai cấp Theo ông: “Mọi xã hội đều baohàm sự bóc lột giai cấp trên cơ sở những quan hệ sản xuất, chính cái này màMarx gọi là phương thức sản xuất Chìa khóa để tìm hiểu một xã hội nhấtđịnh là khám phá ra trong đó phương thức sản xuất nào chiếm ưu thế Tiếp đóchúng ta biết được mô hình cơ bản của những mối quan hệ xã hội và chính trị
Trang 18và có thể đánh ra xung đột và những tiềm năng thay đổi nào đã được gắn bóvới xã hội” [43,57].
Thật ra, Marx không đưa ra một chỉ dẫn riêng về các nhân tố dẫn đếnphân tầng xã hội, nhưng qua tác phẩm tiêu biểu của ông - từ Bản thảo kinh tế-triết học 1844 đến Tuyên ngôn Cộng sản, từ Phê phán khoa học chính trị kinh
tế đến bộ Tư bản đồ sộ, ta có thể thấy trong quan niệm của Marx, sự phânchia cốt yếu giữa các giai cấp trong một xã hội nhất định đều bắt nguồn từ
quyền sở hữu tài sản đối với các phương tiện sản xuất
Trong xã hội phong kiến, lãnh chúa có quyền thu lấy toàn bộ tài sảnthặng dư do nông dân sản xuất ra trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của lãnhchúa Trong xã hội tư bản, nhà tư bản có quyền chỉ huy lao động và chiếmhữu phần thặng dư do công nhân tạo ra Theo Marx, nhà tư sản có quyền đó
“Không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay những phẩm chất con ngườicủa hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản [14, 89]
Như vậy, nêu bật nhân tố hàng đầu của phân tầng xã hội là quyền sởhữu tài sản Marx (và cả F Engel) còn lưu ý đến yếu tố phân công lao động xãhội mà bản thân nhân tố này lại có mối quan hệ tác động qua lại với lực lượngsản xuất xã hội và do đó với quyền sở hữu tài sản
Điều đó giải thích tại sao trong khi phân tích hai giai cấp chủ yếutrong xã hội là tư sản vô sản vào thời đại của mình, ông không hề bỏ qua cácgiai tầng xã hội khác như: giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, những ngườisản xuất nhỏ, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp tri thức xuất thân từ các giai cấp khácnhau; tầng lớp công nhân “quý tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong bảnthân giai cấp công nhân…[43, 108]
b Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber (1864- 1992)
Marx Weber là kinh tế học, nhà sử học đặc biệt ông còn được tôn vinh
là một nhà xã hội học bách khoa toàn thư
Trang 19Marx Weber cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh củaMarx, ông đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “vaymượn” của Marx vừa có những điểm phát triển thêm.
Ý kiến của Weber khác với Marx theo nhiều cách Ông bác bỏ mụcđích và chính sách của các nhà xã hội chủ nghĩa Đức vì coi chủ nghĩa cộngsản là một Utopia không thể đạt tới Bao quát hơn, ông bác bỏ ý kiến cho rằngcác nhà xã hội học có thể khái quát hóa các cấu trúc xã hội bằng cách sử dụng
sự phân tích các phương thức sản xuất Với Weber, mỗi xã hội về mặt lịch sử,đều độc nhất và phức tạp
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa ôngcòn phê phán, bác bỏ quan niệm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tếluôn luôn là yếu tố giải thích cấu trúc xã hội và động lực đầu tiên của sự thayđổi xã hội Ông tin rằng những tư tưởng tôn giáo có một ảnh hưởng độc vềmặt lịch sử và rằng lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếutrong những thay đổi xã hội song khi bàn đến cơ cấu xã hội dưới chủ nghĩa tưbản, Weber cũng phải thừa nhận rằng chính những quan hệ kinh tế đã tạo nên
cơ sở của sự bất bình đẳng, tức là tạo tiền đề và điều kiện cho sự phân chia xãhội thành các giai cấp khác nhau Chỉ có điều “Weber nhấn mạnh tầm quantrọng của thị trường như là cơ sở kinh tế cho giai cấp hơn là tài sản Với ôngnguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thịtrường - đấy là những kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường laođộng Những khác biệt trong phần thưởng giữa các nghề nghiệp kết quả từ kỹnăng hiếm hoi mà nhóm nghề nghiệp cần giữ Nếu kỹ năng được quá cầu thìtiền thưởng sẽ cao” [43, 65] Và người có điều kiện để thuê những kỹ năng ấykhông ai khác ngoài những người nắm giữ, sở hữu tài sản trong tay
Weber còn đưa ra khái niệm “cơ may đời sống”, thuật ngữ này dùng
để chỉ tất cả các phần thưởng và lợi thế nào do khả năng thị trường đem đến.Những cơ may đời sống bao gồm thu nhập, bảo hiểm, phụ cấp,… Bởi vậy,
Trang 20chúng ta có thể phân biệt những nhóm có khả năng thị trường tương tự vànhững nhóm này có thể gọi là giai cấp.
Như vậy, chúng ta có thể thấy chúng ta có thể thấy rằng Weber đồng ývới Marx là những nét kinh tế cốt yếu của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữucác phương tiện sản xuất và những thị trường cho hàng hóa và lao động Sựkhác biệt cốt yếu là Marx nhấn mạnh yếu tố kinh tế còn Weber nhấn mạnhyếu tố phi kinh tế
Nếu có những điểm mới trong lý thuyết phân tầng của Weber thì nhữngđiểm đó được thể hiện chủ yếu trong tiểu luận “Giai cấp, địa vị và đảng” Ở tácphẩm này, Weber cho rằng sự bất bình đẳng trong xã hội có thể không dựa trên
cơ sở những mối quan hệ kinh tế, nhưng lại dựa trên uy tín hay quyền lực chínhtrực được huy động thông qua một đảng Ngoài ra, theo Weber, trong điều kiệncủa nền kinh tế thị trường, giai cấp lao động có thể phân chia thành từng tầnglớp: có kỹ năng, bán kỹ năng và không có kỹ năng, mà các kỹ năng này thựcchất là trình độ học vấn và tay nghề - lại đưa đến sự khác biệt về cơ may đờisống thể hiện ở mức thu nhập, phụ cấp, tiền thưởng…
Tuy nhiên, khi đánh giá học thuyết của Weber thì có một số vấn đềtrong sự giải thích của ông: không thể có tiêu chuẩn để phân chia lực lượng –lao động thành giai cấp và phân tầng Nói một cách khác, sự phân tích củaWeber về khả năng thị trường sẽ đặt mỗi cá nhân vào một giai cấp riêng rẽ.Một cách quan trọng hơn, những tiếp cận của Weber có xu hướng tập trungvào công việc, coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu trong cấu trúc giai cấp
Từ các lý thuyết phân tầng của Marx và Weber, xã hội học hiện đại đãrút ra ba nhân tố cơ bản dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp vàtầng lớp là: Sở hữu tài sản; trí tuệ; quyền lực
Như vậy, cả Marx và Weber đều coi xã hội phương Tây là xã hội tưbản và cả hai đều thống nhất là những nét phân biệt cốt yếu của điều đó là sự
sở hữu tư nhân về các tài sản sản xuất và một thị trường lao động Chính vì lẽ
đó mà tập thể tác giả cuốn nhập môn xã hội học đã đưa ra kết luận rằng những
Trang 21tư tưởng của Marx và Weber có thể phối hợp một phần để tạo nên mô hình bagiai cấp chính trong xã hội tư bản hiện đại Tầng lớp trên ít ỏi gồm những ainắm được tư liệu sản xuất Giai cấp này trùng với giai cấp tư sản của Marx.Tuy nhiên, những người không sở hữu các tài sản sản xuất không thể được mô
tả tất thảy như là vô sản Người nghèo theo lý thuyết phân tầng không chỉ bị rơixuống tầng đáy của thang bậc phân tầng xã hội mà gần như ở ngoài lề của hệthống thứ bậc đó Lớp nghèo bị coi là giai cấp dưới trong hệ thống phân tầng,
có địa vị xã hội thấp kém, không có quyền lực, uy tín, không sở hữu của cải và
ở bên lề thị trường lao động
Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết phân tầng của K.Marx và M.Weber về quyền sở hữu tài sản, phân công lao động, khả năng thịtrường lao động, cơ may đời sống, uy tín xã hội… để phân tích và thấy rõnhững đặc trưng của người nghèo từ đó đưa ra các giải pháp tích cực để xâydụng mô hình giảm nghèo hiệu quả, nhanh chóng rút ngắn ranh giới của sựgiàu - nghèo trong xã hội, hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội bởi mỗingười trong xã hội đều có những vai trò, những vị thế nhất định
2.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ôngđược thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý họcnhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giátrị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của conngười - bởi hệ thống lý thuyết về thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) củacon người
Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản đểtồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm
xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu nàyđược sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảngnhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậc thangnhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướng thỏa
Trang 22mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồisau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn.
Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:
Nhu cầu thể chất sinh lý:
Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông chorằng đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại và duy trì
sự sống của bản thân vì vậy nó là một nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên
Nhu cầu về an toàn:
Con người cần có một môi trường sống an toàn, đảm bảo về an ninh
để tính mạng của họ được đảm bảo Họ có nhu cầu tránh sự nguy hiểm, đedọa từ môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi
Nhu cầu tình cảm xã hội:
n n
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu vật chất Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện
Trang 23Đây là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, là sự mong muốnnhận được sự quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần
có gia đình, cần tới trường để học tập và vui chơi trong nhóm bạn bè cùnglớp, cần được tham gia vào nhiều nhóm trong xã hội Trong các nhóm xã hộithì gia đình là nhóm xã hội đặc thù, cơ bản nhất của con người
Nhu cầu được tôn trọng
Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thànhviên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôntrọng, họ cần được bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường, dù họ
là ai, trẻ em hay người tàn tật, người giàu hay người nghèo
Nhu cầu hoàn thiện
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông
Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để pháttriển một cách toàn diện
Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, NVCTXH áp dụng vào đề tàinhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của thân chủ, để xem họ đang
ở bậc thang nhu cầu nào từ đó có biện pháp can thiệp phù hợp, kịp thời, manglại hiệu quả cao
2.3 Tiến trình công tác xã hội các nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Bình Hải – huyện Thăng Bình – tỉnh Quảng Nam
2.3.1 Tiếp cận đối tượng
Tiếp xúc với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ có hoàn cảnh khó khăn
là một vấn đề không hề đơn giản bởi họ luôn có những mặc cảm, tự ti, sốngkhép mình, ít giao tiếp với mọi người xung quanh,…Vì vậy, ngay từ đầuNVCTXH cần phải thật linh hoạt, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ.Được sự giới thiệu của Ban Văn hóa- xã hội xã Bình Hải và Hội Phụ nữ
xã Bình Hải, NVCTXH đã tìm đến gặp gỡ trao đổi với cán bộ phụ nữ thônHiệp Hưng, xã Bình Hải
Trang 24Mục tiêu của buổi làm việc là nhằm thiết lập mối quan hệ với cán bộ cơ
sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trên địabàn thôn thông qua việc trao đổi trực tiếp với cán bộ phụ nữ xã, thôn và hồ sơ
hộ nghèo lưu trữ tại nhà văn hóa thôn
Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến chị Nguyễn Thị Lài bởi chịkhông chỉ thiếu thốn về vật chất mà thiếu hụt về tình cảm, hơn nữa chị lạimặc cảm với mọi người xung quanh và mang nỗi lo âu khi đứa con trai duynhất của chị lại bị tật nguyền bẩm sinh
2.3.2 Thu thập thông tin
Từ hồ sơ hộ nghèo tôi thu thập được một số thông tin về thân chủ nhưsau:
Năm 2007 chào đón đứa contrai ra đời
Sinh ra đã bị tật nguyền, chưađược gặp mặt bố
Vào ngày 29/ 1/ 2015 NVCTXH đã chủ động tìm đến nhà đối tượng Sauđây là mô phỏng buổi gặp gỡ đầu tiên giữa NVCTXH và đối tượng nhằm thiếtlập mối quan hệ thân thiện và cởi mở, lắng nghe và chia sẻ, đồng cảm vớithân chủ
“ Gia cảnh tôi thì nghèo, con cái thì bị tật nguyền, giờ có làm gì đi nữa thìcũng nghèo Tôi cũng chẳng muốn mọi người soi mói về mình”
“ Chị đừng ngại Em thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị, có gì buồnchị cứ tâm sự với em, việc giữ bí mật cho thân chủ là một trong nhữngnguyên tắc quan trọng của NVCTXH, những gì chị chia sẻ với em, em sẽ giữ
bí mật và không nói cho ai, nếu thực sự cần nói em sẽ xin ý kiến của chị”.Trong buổi gặp gỡ và trao đổi, làm việc với thân chủ, NVCTXH đã giớithiệu về bản thân, trình xuất giấy giới thiệu, trình bày với thân chủ về mục
Trang 25đích, nguyên tắc của NVCTXH,…nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ, giúpthân chủ hiểu hơn về CTXH đồng thời giúp thân chủ cởi mở hơn trong việcgiao tiếp và làm việc với NVCTXH Qua buổi tiếp xúc, trò chuyện đầu tiênnày, NVCTXH cũng nhận thấy thân chủ có phần bi quan trong cuộc sống nên
đã sử dụng kỹ năng khích lệ, đồng cảm nhằm giúp cho thân chủ bớt bi quantrong cuộc sống và tự ti trong giao tiếp
Trong buổi trò chuyện này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một sốthông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ
“ Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông, nghèo bố mẹ mấtsớm Năm 2005 chị lấy chồng, hai vợ chồng như hai mảnh ghép cuộc đời đều
là những đứa trẻ mồ côi cha mẹ lớn lên trong sự yêu thương của họ hàng.Chồng chị làm nghề đi câu mực ở biển khơi khoảng 3 tháng mới về nhà mộtlần Năm 2006 khi đang làm việc trên biển thì cơn bão Chan Chu đã đổ bộvào biển Đông cướp đi sinh mạng người chồng của chị Trong khi đó chịđang mang thai đứa con được 2 tháng Rồi cũng tới ngày sinh Hậu chỉ có mộtmình chị, nhìn đứa con tật nguyền ra đời chị thấy tủi thân Nhiều lúc chị chỉmuốn ôm con chết theo chồng cho bớt khổ”
Sau những buổi vãng gia, thăm và trò chuyện với thân chủ NVCTXHnhận thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình sự tin cậy và quý mến nhấtđịnh, NVCTXH đã tiến hành thu thập thông tin
Công việc thu thập thông tin được tiến hành trong suốt quá trình canthiệp NVCTXH đã thông qua một số nguồn có thể tiếp cận như thân chủ,hàng xóm, những người thân, Hội phụ nữ thôn Hiệp Hưng để thu thập thôngtin Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng nhiều
kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng khuyến khích làm
rõ ý, kỹ năng phỏng vấn sâu,… để khai thác và thu thập vấn đề của đối tượng
2.3.3 Xác định vấn đề
Như vậy bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng cung cấpthông tin,kỹ năng quan sát,….đồng thời qua quá trình tiếp xúc và trò chuyệnban đầu NVCTXH nhận thấy thân chủ đang gặp phải một số vấn đề như sau:
Trang 26+ Vấn đề thứ nhất: Thân chủ là người gặp khó khăn về kinh tế.
+ Vấn đề thứ hai: Thân chủ mặc cảm, ít cởi mở
+ Vấn đề thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc contrai bị tật nguyền bẩm sinh
- Vấn đề của thân chủ:
Trước tiên, NVCTXH lắng nghe thân chủ bộc lộ về hoàn cảnh gia đình,bản thân, những khó khăn mà thân chủ đang gặp.Qua đó, NVCTXH xác nhậnmột số vấn đề mà thân chủ đang gặp phải:
Thứ nhất: Thân chủ là người gặp khó khăn về kinh tế
Hiện tại thân chủ rất chật vật, khó khăn về kinh tế Thân chủ không cóviệc làm ổn định Lâu lâu mới đi sẻ cá thuê hay đi khiêng tôm thuê cho người
ta để kiếm tiền thuốc thang, rau cháo qua ngày, phần lớn thời gian chị dành đểchăm sóc đứa con bị tật nguyền bẩm sinh
“ Từ ngày chồng mất chị chẳng biết làm gì ra tiền Trước kia chị còn nuôiđược con heo móng cái với vài ba con gà nhưng từ khi có dịch lỡ mồm lôngmóng với dịch cúm gà nên nó chết hết nên chị cũng không có tiền mua lại mànuôi nữa Còn bây giờ, thỉnh thoảng chị đi sẻ cá thuê hay đi khiêng tôm thuêcho họ kiếm ít tiền hầu như chẳng có thu nhập gì ngoài tiền trợ cấp theo nghịđịnh 67 của em Hậu là 270.000 đồng/ tháng, giá cả thì ngày càng đắt đỏ, chịkhông biết xoay sở như thế nào nữa”
(PVS, Thân chủ)Thứ hai: Thân chủ luôn có tâm lý mặc cảm, ít cởi mở
Qua thực tế quan sát tiếp xúc, trò chuyện NVCTXH nhận thấy thân chủluôn mặc cảm với hiện tại Chính vì sự đói nghèo, sự mặc cảm đã khiến chothân chủ thành người ít nói, ít cởi mở và ít có các mối quan hệ xã hội
“Phần vì lo kiếm cái ăn hàng ngày, phần vì chăm sóc con nên chị cũngkhông có thời gian đi đâu chỉ ở nhà chơi với con Đi ra đường thì thấy nhàngười ta ấm no, còn gia đình mình thì mẹ góa con tật nguyền, nhiều lúc muốnbuông xuôi tất cả”
( PVS, Thân chủ)Thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc con trai bị tậtnguyền bẩm sinh
Trang 27Theo như lời kể của chị Lài và quan sát của NVCTXH nhận thấy, thânchủ là người chăm sóc cuộc sống cho con trai từ việc ăn uống đến tắm rửa, vệsinh,…Bởi em Hậu bị tật co quắp tay chân, mà chân tay lại dài ngoằn ngoèo
và rất yếu…không thể cử động được Chính vì thế, phần lớn thời gian chị phải
ở bên cạnh và chăm sóc cho con đặc biệt mỗi khi trái gió trở trời
“ Con chị bị dị tật bẩm sinh, hai tay và hai chân không thể làm các việc cánhân như ăn uống hay đi lại, vệ sinh cá nhân,… tất cả mọi việc một mình chịlàm hết Nó ở nhà miết không đi ra ngoài chơi nên nhiều lúc thấy nó buồnmình cũng thương”
Ngoài thu thập thông tin qua thân chủ, NVCTXH cũng chủ động thu thậpthông tin từ các nguồn khác như: hàng xóm, hội phụ nữ, thôn trưởng thônHiệp Hưng để bổ sung cho các thông tin được hoàn chỉnh và chính xác hơn
Thông qua, hàng xóm NVCTXH biết được hoàn cảnh của chị đặc biệtkhó khăn bắt đầu từ khi đứa con ra đời
“Cuộc đời chị ấy khổ lắm, chồng chết ở biển không tìm được xác sau
đó là cu Hậu nó ra đời Một mình con trai bị tật bẩm sinh Nhiều bữa tôi sangthấy hai mẹ con chỉ ăn cháo với rau”
(PVS, Chị Nguyễn Thị Nhiễu, hàng xóm của thân chủ)Thông qua hội phụ nữ thôn, NVCTXH cũng tìm hiểu được một số cácthông tin không chỉ về hoàn cảnh của thân chủ mà còn có những hoạt độngcủa Hội phụ nữ đối với thân chủ như hoạt động thăm hỏi tặng quà ngày lễ tết,ngày kỷ niệm của Hội (8/3, 20/10 ) hay các ngày vì người nghèo, ngàyngười tàn tật
“Chị Lài là một trong những trường hợp phụ nữ nghèo đơn thân cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn.Chị một thân một mình nuôi con tàn tật, vốnliếng lại không có Chi hội cũng đã có những biện pháp giúp đỡ như tặng xelăn nhân ngày 20/10, tặng quà ngày tết và động viên tinh thần để chị tham giasinh hoạt vào hội phụ nữ nhưng hình như chị vẫn còn nhiều mặc cảm nên vẫnchưa tham gia sinh hoạt”
Trang 28( PVS, Chị Nguyễn Thị Phượng, Phó chủ tịch HPN xã)Như vậy, thông qua các hoạt động của Hội phụ nữ dành cho thân chủNVCTXH có thể định hướng cho thân chủ trong việc lập ra kế hoạch canthiệp cụ thể cho thân chủ, ví dụ như NVCTXH có thể là cầu nối giúp cho thânchủ vượt qua mặc cảm và cởi mở hơn với mọi người trong việc tham gia sinhhoạt ở chi hội phụ nữ của thôn.
Thông qua các buổi làm việc thu thập thông tin cùng với thân chủ, vớicác đoàn thể, NVCTXH đã trao đổi và bàn bạc với thân chủ về nguyên nhâncủa các vấn đề mà thân chủ đang mắc phải Thân chủ xác định mình vốn sinh
ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, tuy nhiên càng trở nên trầm trọng từkhi con trai chị ra đời năm 2007
Những vấn đề này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
-Thiếu điều kiện sản xuất, nguồn vốn
-Chịu nhiều định kiến xã hội: góa chồng, con bị tật nguyền bẩm sinh
-Chi phí chăm sóc con bị tàn tật bẩm sinh: tiền thuốc thang, thời gian chămsóc
- Những khía cạnh môi trường xung quanh ảnh hưởng đến thân chủ: môitrường xung quanh tác dộng đến thân chủ theo hai hướng :
+ Thứ nhất: Sự động viên, hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, gia đình đã giúpthân chủ có ý chí vươn lên trong cuộc sống
+ Thứ hai:Sự xa lánh, soi mói và ánh mắt thiếu cảm thông chia sẻ của mọingười xung quanh khiến cho thân chủ bị cô lập, ít cởi mở mà chính vì điềunày đã làm cho vấn đề của thân chủ ngày càng nặng nề hơn
Trong thu thập thông tin, NVCTXH cần chú trọng tìm hiểu kỹ nhữngkhía cạnh này để từ đó có kế hoạch trị liệu cụ thể làm sao vừa có thể làm chothân chủ sử dụng hiệu quả nguồn lực từ sự hỗ trợ của cộng đồng lại vừa cóthể làm cho một bộ phận người dân hiểu và cảm thông cho hoàn cảnh củathân chủ nhằm tạo cơ hội cho thân chủ giao tiếp và có nhiều hơn các mốiquan hệ xã hội
Trang 29-Tìm hiểu các nguồn lực:
NVCTXH cùng với thân chủ bàn bạc, thảo luận về các nguồn lực có thểhuy động để giải quyết vấn đề: bao gồm: nội lực (nguồn lực bên trong từ chínhbản thân thân chủ và gia đình), ngoại lực (nguồn lực bên ngoài từ sự hỗ trợ củaanh em, bạn bè, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội) Cụ thể như sau:
Về nội lực:
Nguồn lực để giải quyết vấn đề của thân chủ hầu như là không có nhất
là về vật chất, về tinh thần thân chủ hầu như cam chịu và chấp nhận hoàncảnh, không có ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống
“Chị chỉ biết sống qua ngày chứ giờ biết làm răng được Thân đàn bà mộtmình con lại tàn tật chắc khổ đến chết chứ làm răng mà thoát nghèo được”
Về ngoại lực:
Anh em, họ hàng chị lớn lên trong một gia đình nghèo, bố mẹ thì mất sớm chịcũng chẳng có anh chị em ruột rà mà nhờ cậy, anh em xa thì xa lánh khôngthông cảm Vì vậy, chị không nhận được sự hỗ trợ tinh thần vật chất từ phíaanh em, họ hàng
Hàng xóm láng giềng thì xa lánh nên chị thiếu các mối quan hệ và giao tiếphàng ngày, hai mẹ con sống khép kín thiếu sự chia sẻ, giúp đỡ của hàng xómláng giềng
Các tổ chức đoàn thể đã có những chính sách hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinhthần cho thân chủ Tuy nhiên, sự giúp đỡ đó chỉ mang tính tức thời bởi nógiống như một hoạt động từ thiện, thiếu tính thực tế Chính vì vậy, chưa khơidậy được tiềm năng của thân chủ để họ tự vươn lên giải quyết vấn đề củachính bản thân mình
Như vậy, qua một số số thông tin trên đây có thể thấy thân chủ khôngchỉ gặp khó khăn về kinh tế mà còn tự ti về bản thân, mặc cảm về gia đình vàhầu như bị cô lập, lạc lõng trong xã hội Chính vì thế, thân chủ cần sự cảmthông, chia sẻ và giúp đỡ của cộng đồng Đây là vấn đề khó đặt ra cho
Trang 30NVCTXH, NVCTXH cần phải đề ra một kế hoạch cụ thể trong tiến trình canthiệp với đối tượng.
2.3.4 Chuẩn đoán vấn đề
Thông qua các thông tin có được NVCTXH nhận thấy vấn đề thân chủgặp phải có tính chất khá nghiêm trọng:
- Vấn đề thứ nhất: Thân chủ là người gặp khó khăn về kinh tế
- Vấn đề thứ hai: Thân chủ mặc cảm, ít cởi mở
- Vấn đề thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc contrai bị tật nguyền bẩm sinh
Trong tất cả các vấn đề đó thì NVCTXH cùng với thân chủ đã xác địnhvấn đề ưu tiên đó là vấn đề khó khăn về kinh tế và tâm lý mặc cảm, tự ti vềbản thân cũng như gia đình Đây không phải là vấn đề khó khăn nhất nhưngđây là vấn đề mà trong một thời gian nhất định cùng với những kỹ năng củamình NVCTXH có thể can thiệp được phần nào Hơn nữa, đây cũng là vấn đề
mà nếu khắc phục được nó sẽ tạo thuận lợi hơn, tạo bàn đạp để NVCTXHgiải quyết cho vấn đề thứ ba là chăm sóc con cái sẽ thuận lợi Bởi khi có điềukiện về kinh tế tâm lý thoải mái hơn thân chủ sẽ có điều kiện chăm cho conhơn về ăn uống, thuốc thang
Sau khi xác định vấn đề ưu tiên, NVCTXH cùng với thân chủ xácđịnh lại nguyên nhân của vấn đề từ đó giúp thân chủ nhìn rõ hơn vấn đề vànhững nguyên nhân gốc rễ để có những cơ sở xác thực nhằm chuẩn đoánbản chất vấn đề để lên kế hoạch trị liệu một cách hiệu quả nhất Từ cáchđánh giá và nhìn nhận lại vấn đề, các nguyên nhân gây nên vấn đề đượcxác định cụ thể như sau:
- Thân chủ không có nghề nghiệp ổn định
- Thu nhập không cao, thiếu điều kiện để sản xuất cơ bản: nguồn vốn
- Chịu nhiều định kiến xã hội: góa chồng, con bị tàn tật nên thân chủluôn trong tâm lý mặc cảm, tự ti, ít cởi mở, sống khép kín
Trang 31Nữ
Đã chết Quan hệ thân thiết
Sơ đồ phả hệ gia đình chị Lài:
Ghi chú:
Nhận xét về sơ đồ phả hệ gia đình thân chủ:
H