Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Kể từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Cách mạng tháng 8 1945 thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đem lại độc lập tự do và thống nhất đất nước, đưa nước ta bước vào sự nghiệp đổi mới và từng bước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa có quan hệ rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu bước vào thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên một chặng đường dài có bao nhiêu biến cố, sự kiện phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, đất nước phải đương đầu với đủ loại kẻ thù với bao khó khăn thử thách có những lúc ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng Việt Nam vẫn cập bến vinh quang. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn một điều không thể phủ nhận, đó là sự lãnh đạo của Đảng nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bên cạnh việc chỉ đạo chiến lược để xây dựng lực lượng cách mạng,chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc tay sai, giành độc lập, chính quyền cho nhân dân, Đảng cũng có những chuyển hướng trong chủ trương đường lối và có sự đổi mới tư duy, biện pháp để phát triển toàn diện mọi lĩnh vực. Nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta nhận thức một cách hệ thống, cơ bản ban đầu về quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta. Qua đó có thể hiểu được sự đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam trong từng giai đoạn để có thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. 2. Đối tượng nghiên cứu Những đường lối ,chính sách của Đảng và thành tựu đạt được của kinh tế Việt Nam sau khi đổi mới. 3. Phạm vi nghiên cứu Văn kiện các kỳ đại hội Đảng, vấn đề kinh tế xã hội của Việt Nam trước và sau đổi mới. 4. Phương pháp nghiên cứu a) Cơ sở phương pháp luận Lấy Chủ Nghĩa MácLênin và các quan điểm có tính phương pháp luận của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng Sản Việt Nam làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam. b) Các phương pháp nghiên cứu cụ thể Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hoá và trừu tượng hóa...thích hợp với từng nội dung phân tích. B. NỘI DUNG Chương I: Quá trình thành đường lối đổi mới của Đảng 1.Bối cảnh lịch sử Chủ trương đổi mới xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam được căn cứ dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mac Lênin, trên cơ sở đó áp dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam, của hệ thống chủ nghĩa xã hội đã và đang diễn ra lúc này. Hiện tại, thời kỳ quá độ đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta vẫn phải đương đầu với những trở ngại rất lớn. Không chỉ vậy, nước ta còn mang nặng đặc điểm vốn có của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu, đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hậu quả lớn và lâu dài của chiến tranh do các thế lực thù địch đế quốc và bọn phản động quốc tế gây ra cũng đặt nước ta vào hoàn cảnh bắt buộc phải đổi mới mới có thể phát triển. Tình hình kinh tế xã hội ở nước ta cũng như ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa đang gặp nhiều khó khăn do những khiếm khuyết của mô hình xã hội chủ nghĩa mà chúng ta chưa phát hiện để khắc phục. những biến động phức tạp xảy ra tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng gây ra nhiều bất lợi cho Cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội của nước ta vẫn diễn ra nghiêm trọng. Tình trạng nạn đói, thiếu lương thực, lạm phát cao ở nhiều tỉnh trong những năm 1978 1989 làm đời sống nhân dân rất khó khăn, các hiện tượng gian lận và tệ nạn xã hội gia tăng. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô không sửa chữa được những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, trái lại đất nước ngày càng lún sâu vào khủng hoảng kinh tế, chính trị. Các thế lực thù địch lấy cớ quân tình nguyện Việt Nam chưa rút hết khỏi Campuchia để tiếp tục cô lập Việt Nam. Mỹ vẫn thực hiện chính sách cấm vận về kinh tế đối với nước ta làm cho quan hệ kinh tế giữa Liên Xô và các nước Đông Âu với nước ta bị thu hẹp. Những khó khăn cả trong nước và quốc tế
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt của cáchmạng Việt Nam Kể từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giànhđược những thắng lợi vĩ đại Cách mạng tháng 8 - 1945 thành công khai sinh ra nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đem lại độc lập tự do vàthống nhất đất nước, đưa nước ta bước vào sự nghiệp đổi mới và từng bước quá độlên Chủ nghĩa xã hội
Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộcđịa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo conđường Xã Hội Chủ Nghĩa có quan hệ rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trongkhu vực và trên thế giới Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủđất nước, làm chủ xã hội Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu bướcvào thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên một chặng đường dài có bao nhiêu biến cố, sự kiện phức tạp của tìnhhình trong nước và quốc tế, đất nước phải đương đầu với đủ loại kẻ thù với bao khókhăn thử thách có những lúc ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng dưới sựlãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng ViệtNam vẫn cập bến vinh quang Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn một điềukhông thể phủ nhận, đó là sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định mọi thắng lợicủa cách mạng Việt Nam
Bên cạnh việc chỉ đạo chiến lược để xây dựng lực lượng cách mạng,chĩa mũinhọn đấu tranh vào đế quốc tay sai, giành độc lập, chính quyền cho nhân dân, Đảngcũng có những chuyển hướng trong chủ trương đường lối và có sự đổi mới tư duy,biện pháp để phát triển toàn diện mọi lĩnh vực
Nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta nhận thức một cách hệ thống, cơ bảnban đầu về quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta Qua đó có thể hiểu
Trang 2được sự đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Namtrong từng giai đoạn để có thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
2 Đối tượng nghiên cứu
Những đường lối ,chính sách của Đảng và thành tựu đạt được của kinh tếViệt Nam sau khi đổi mới
3 Phạm vi nghiên cứu
Văn kiện các kỳ đại hội Đảng, vấn đề kinh tế- xã hội của Việt Nam trước vàsau đổi mới
4 Phương pháp nghiên cứu
a) Cơ sở phương pháp luận
Lấy Chủ Nghĩa Mác-Lênin và các quan điểm có tính phương pháp luận của
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng Sản Việt Nam làm cơ sở phương pháp luận cho việcnghiên cứu quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam
b) Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháplôgic, ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh,quy nạp và diễn dịch, cụ thể hoá và trừu tượng hóa thích hợp với từng nội dungphân tích
Trang 3B NỘI DUNG Chương I: Quá trình thành đường lối đổi mới của Đảng
1.Bối cảnh lịch sử
Chủ trương đổi mới xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam được căn cứ dựatrên lý luận của chủ nghĩa Mac - Lênin, trên cơ sở đó áp dụng vào hoàn cảnh và điềukiện cụ thể của Việt Nam, của hệ thống chủ nghĩa xã hội đã và đang diễn ra lúc này
Hiện tại, thời kỳ quá độ đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta vẫn phải đươngđầu với những trở ngại rất lớn Không chỉ vậy, nước ta còn mang nặng đặc điểm vốn
có của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu, đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa Hậu quả lớn và lâu dài của chiến tranh do các thế lực thùđịch đế quốc và bọn phản động quốc tế gây ra cũng đặt nước ta vào hoàn cảnh bắtbuộc phải đổi mới mới có thể phát triển
Tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như ở nhiều nước xã hội chủ nghĩađang gặp nhiều khó khăn do những khiếm khuyết của mô hình xã hội chủ nghĩa màchúng ta chưa phát hiện để khắc phục những biến động phức tạp xảy ra tại Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng gây ra nhiều bất lợi cho Cách mạng ViệtNam
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội của nước ta vẫn diễn ra nghiêm trọng Tìnhtrạng nạn đói, thiếu lương thực, lạm phát cao ở nhiều tỉnh trong những năm 1978-
1989 làm đời sống nhân dân rất khó khăn, các hiện tượng gian lận và tệ nạn xã hộigia tăng
Công cuộc cải tổ ở Liên Xô không sửa chữa được những sai lầm trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, trái lại đất nước ngày càng lún sâu vàokhủng hoảng kinh tế, chính trị
Các thế lực thù địch lấy cớ quân tình nguyện Việt Nam chưa rút hết khỏiCampuchia để tiếp tục cô lập Việt Nam Mỹ vẫn thực hiện chính sách cấm vận về
Trang 4kinh tế đối với nước ta làm cho quan hệ kinh tế giữa Liên Xô và các nước Đông Âuvới nước ta bị thu hẹp.
Những khó khăn cả trong nước và quốc tế đòi hỏi Đảng ta phải bắt tay vàocông cuộc đổi mới đất nước Trước hết là đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng tình hình của nước ta lúc này để có thể đề ra những biện pháp chínhxác, kịp thời, khắc phục khó khăn Và công cuộc đổi mới phải được thực hiện toàndiện và sâu sắc cả trong tư tưởng nhân dân và đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hộikhi nước ta đang bước vào thời kỳ quá độ Vì vậy việc hình thành đường lối đổi mớicủa Đảng ta là tất yếu lịch sử
2 Nhận thức về đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta từ Đại hội
VI đến Đại hội VIII
Chúng ta đã có những bước cải tiến về nền kinh tế theo hướng thị trường, tuynhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để Đó là khoán sản phẩm trong nông nghiệptheo chỉ thị 100 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá vào lương ởLong An; Nghị quyết TW8 khóa V (1985) về giá - lương - tiền; thực hiện Nghị định
25 và Nghị định 26 - CP của Chính phủ…tuy nhiên đó là tiền đề để đổi mới sau nàytại các kỳ Đại hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15 đến
18-12-1986.Đại hội VI của Đảng đã rút ra bài học là trong toàn bộ hoạt động, Đảng
phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủcủa nhân dân lao động Chính lợi ích sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hìnhthành đường lối đổi mới Một trong những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới
mà Hội Nghị Trung ương 6 - khoá VI (3-1989) nêu ra là phải thực hiện tốt hơn dânchủ xã hội chủ nghĩa, nhưng dân chủ luôn luôn gắn liền với tập trung, gắn liền vớinghĩa vụ, trách nhiệm công dân, với kỷ cương, kỷ luật pháp luật, dân chủ phải cólãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ
Trong Nghị quyết Trung ương 8B - khoá VI (3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Đảng
nhấn mạnh các quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; độnglực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân vàkết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; các hình
Trang 5thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác vận động quần chúng là trách nhiệmcủa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
Đảng cũng chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các đoàn thể nhân dân Mặt trận và các tổ chức thành viên là cơ sởchính trị của chính quyền nhân dân Cùng với Đảng, Nhà nước, tổ chức Mặt trận vàđoàn thể nhân dân như Tổng liên đoàn lao động, Hội nông dân, Đoàn thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh hợp thành hệthống chính trị Công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị ở tất cả các cấp
Đảng chú trọng xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, tăng cường sức mạnhcủa khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đổi mới Đoàn kết các giai cấp, cácthành phần kinh tế, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, mọi tầng lớp, cá nhân yêunước, đoàn kết người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoàinhằm phát huy nội lực của dân tộc Việt Nam
Thứ năm, đổi mới chính sách đối ngoại, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hoá, Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới trên cơ
sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Xây dựng chiến lược bảo
vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta đã nêu rõ
chủ trương: khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất
là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao Đi đôi với công bố luật đầu tư,cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài vàViệt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh Luật đầu tư nước ngoài là luật sớmnhất của thời kỳ đổi mới, được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 29-12-1987 và
ta đã lựa chọn
Trang 6Đảng tuyên bố chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam muốn là bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển.
Đảng ta tiếp tục có những nhận thức mới, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn
về công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa Đại hội đã xác định rõ vai trò “mặt trậnhàng đầu” của nông nghiệp, và trên thực tế đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách đãtăng lên Đại hội đề cập đến lĩnh vực Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật trong việc đáp ứngyêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc tế; đưa ra chiến lược phát triển kinh tếvùng phù hợp với chiến lược chung cả nước Thực hiện đường lối công nghiệp hóacủa Đại hội VII, nền kinh tế đã có những bước phát triển cao hơn, có chất lượnghơn, đi vào thực chất hơn so với nhiều năm trước:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1991: 5,8% 1995: 9,5%
+ Tương ứng công nghiệp tăng: 1991: 5,3 % 1995: 15,5%
+ Nông nghiệp tăng 1991: 2,2% 1995: 4,8%
+ Xuất khẩu tăng 1991: -13,2% 1995: 34,4%
Đại hội Đảng VIII (năm 1996) nhìn lại đất nước sau 10 năm đổi mới đã nhậnđịnh: nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặngđường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bảnhoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước
Đại hội VIII đã điều chỉnh chính sách CNH theo hướng lấy nông nghiệp làmkhâu đột phá, coi nông nghiệp kết hợp với công nghiệp chế biến là mặt trận hàngđầu Tiếp tục thực hiện rộng rãi hơn chính sách mở cửa, phát triển kinh tế nhiều
Trang 7thành phần, nâng cao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Gắncông nghiệp hóa với hiện đại hóa, lấy khoa học – công nghệ làm động lực, lấynguồn lực con người làm yếu tố trung tâm của CNH, HDH Đặt ra nội dung cụ thểcủa công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm trước mắt (1996-2000) là “đặcbiệt coi trọng CNH, HDH nông nghiệp nông thôn…” Kết quả là:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1996: 9,3% 2000: 6,75%
+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 1996: 14,5% 2000: 10,1 %
+ Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 1996: 4,4% 2000: 4%
+ Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 1996: 33,2% 2000: 24%
+ Cơ cấu kinh tế 1996: 27,8 – 29,7 – 42,5 (%) , 2000: 24,3 – 36,6 – 39,1 (%)
3 Nhận thức về đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta từ Đại hội lần thứ IX đến Đại hội lần thứ XI.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp từ ngày 19 đến ngày 22-4-2011 Đại hội IX đã hoạch định Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm
2001-2010 với mục tiêu tổng quát: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển;nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đểđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lựckinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao”
Đại hội IX của Đảng là “Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18 đến ngày 25/4/2006 Đại hội X của Đảng là Đại hội “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới, thực hiện bằng được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”
Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006) Đảng ta tiếp tục bổ sung vànhấn mạnh một số điểm mới trong tư duy về công nghiệp hóa:
- Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian sovới các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹpkhoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 8Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ vàthành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại qua hội nhập quốc tế
để rút ngăn thời gian
- Tuy nhiên, tiến hành công nghiệp hóa theo lối rút ngắn so với các nước đitrước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: Phát triển kinh tế và công nghệ phảivừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đấtnước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức;phát huy nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọngphát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và độnglực cho CNH, HDH
- Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phải phát triển nhanh và
có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầutrong nước và xuất khẩu
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành công nghiệphóa trong một nền kinh tế mở, hướng ngoại
- Đẩy nhanh CNH, HDH nông nghiệp nông thôn với việc nâng cao năngsuất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng họp từ ngày 12 đến ngày 19/1/2011 Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng,toàn dân ta tiếp
tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàndân tộc,đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXInước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủnghĩa
Đại hội XI của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc thập kỷ đầu củathế kỷ XXI, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội
X và trải qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 2001-2010 Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghịquyết Đại hội X của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011-2015; tổngkết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010, xác định
Trang 9Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020; tổng kết, bổ sung và pháttriển Cương lĩnh năm 1991; kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa X; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI (nhiệm kỳ 2011-2015) Các văn kiện này không chỉ nhằm đề ra cácbiện pháp để giải quyết những nhiệm vụ trước mắt mà còn là sự định hướng lâu dàicho hành động của Đảng và nhân dân ta.
Đại hội XI của Đảng là sự kiện chính trị - xã hội không những có ý nghĩaquan trọng đối với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam mà còn có ý nghĩa quốc
tế sâu sắc Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn có tính nguyên tắc, sáng tạo trong việc giảiquyết các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồng thời khẳng định và kiênđịnh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, phấn đấu đi theo con đường xãhội chủ nghĩa Những thành tựu và đường lối đổi mới đó là bài học và kinh nghiệmquý báu góp phần vào kho tàng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhữngngười cộng sản trên thế giới
Trang 10
Chương II: Thành quả, thời cơ và hạn chế, thách thức của công cuộc đổi mới thời kỳ 1986 đến nay
1 Những thành quả đã đạt được và thời cơ của công cuộc đổi mới
Với những nội dung rất căn bản và chủ yếu trong đường lối đổi mới cùng vớibản lĩnh chính trị vững vàng và trách nhiệm trước đất nước, giai cấp và dân tộc,Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, kể
cả tác động tiêu cực do sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu
và Liên Xô đưa lại, không ngừng đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo con đường củaChủ nghĩa xã hội và qua 20 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩalịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống của nhândân, như các văn kiện trình Đại hội X của Đảng đã khẳng định
Có thể thấy rõ thành tựu của 20 năm đổi mới cả về thực tiễn và nhận thức lýluận để vững tin vào con đường đã lựa chọn và sự phát triển của đất nước
Về thực tiễn, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội từ 1996, kinh tế
tiếp tục tăng trưởng khá nhanh (GDP bình quân trong giai đoạn 1986-1990 là 3,9%,1991-1995 là 8,2%, 1996-2000 là 7% và 2001-2005 là 7,5%), nền kinh tế thị trườngđịnh hướng Xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng, công nghiệp hoá, hiện đạihóa được đẩy mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội tăng lên đáng kể
Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh công nhân nông dân - trí thức do Đảng lãnh đạo ngày càng được tăng cường và củng cố Nềnquốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định.Quan hệ đối ngoại được mở rộng Vị thế nước ta trên thế giới được nâng cao Sứcmạnh tổng hợp từ nguồn nội lực của đất nước tăng lên nhiều Nhân dân tin tưởng ởđường lối đổi mới và sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tin tưởng ở tươnglai phát triển của đất nước
-Về lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam ngày càng rõ hơn, “Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi