Tính cấp thiết của đề tài Thầy, thuốc và trang thiết bị y tế TTBYT là 3 yếu tố chính, góp phần quyếtđịnh chất lượng, hiệu quả của công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.TTBYT là một
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH HÒA
Đại học kinh tế Huế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sựhướng dẫn khoa học của giáo viên Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănnày là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôicũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRƯƠNG THỊ HỒNG LINH
Đại học kinh tế Huế
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, ngoài sự cốgắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của các nhà khoahọc, các quý Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Kinh tế Huế, sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị và người thân trong giađình để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến Cô giáo, PGS.TS Nguyễn ThịMinh Hoà đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài.Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, QuýThầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Kinh tế Huế đã truyền đạt kiến thức, góp ý chânthành, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong hai năm học tập cũng như quá trình thựchiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến ban lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị
đã luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được tham gia học tập và hoànthành luận văn Xin cảm ơn các cán bộ công nhân viên trong Bệnh viện đã giúp đỡtôi thu thập số liệu, phỏng vấn để thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên,ủng hộ, tạo mọi điều kiện cho tôi để hoàn thành Chương trình đào tạo Thạc sỹ.Bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình trong suốt thời gian qua để thựchiện tốt luận văn này Tuy vậy, luận văn cũng không tránh khỏi những hạn chế, kínhmong nhận được sự chỉ bảo của quý Thầy, Cô giáo
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cám ơn!
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên : TRƯƠNG THỊ HỒNG LINH
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế Niên khóa: 2016-2018
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH HOÀ Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y
TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG TRỊ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thầy, thuốc và trang thiết bị y tế (TTBYT) là 3 yếu tố chính, góp phần quyếtđịnh chất lượng, hiệu quả của công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.TTBYT là một hàng hóa đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp tới sinh mạng của ngườibệnh, nhân viên y tế và môi sinh Vì vậy, hoàn thiện cơ chế quản lý trang thiết bị y
tế là yêu cầu cấp thiết trong quá trình hoạt động và phát triển của bệnh viện hiệnnay, nhằm đề ra những giải pháp phù hợp với định hướng phát triển và đảm bảo đạtđược hai mục tiêu lớn là đảm bảo công bằng y tế và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế.Xuất phát từ lý do trên tôi đã chọn đề tài:“Hoàn thiện công tác quản lý trang thiết
bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2 Phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản và
các vấn đề liên quan đến quản lý TTBYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý hiện đang công tác tại Bệnh viện Đa khoa
tỉnh Quảng Trị
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập tài liệu; nghiên cứu tổng
quan; nghiên cứu định tính; thống kê mô tả và phương pháp điều tra khảo sát
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Đề tài cung cấp cho các nhà quản lý Bệnh viện các nội dung về cơ sở lý luậnquản lý TTBYT, phân tích đánh giá đúng thực trạng về công tác quản lý TTBYT tạiBệnh viện trong thời gian qua Trên cơ sở đó đưa ra các kết quả đạt được, những hạnchế và nguyên nhân còn tồn đọng trong công tác quản lý TTBYT trong thời gian qua,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác TTBYT trong thời gian tới
Đại học kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BVĐK Bệnh viện Đa khoaHSTC-CĐ Hồi sức tích cực chống độcKTV Kỹ thuật viên
KH&CN Khoa học & Công nghệKHTH Kế hoạch tổng hợpNSNN Ngân sách Nhà nướcPT-GMHS Phẫu thuật – Gây mê hồi sứcTCKT Tài chính kế toán
TSCĐ Tài sản cố địnhTTBYT Trang thiết bị y tế
UBND Uỷ ban nhân dânVT-TBYT Vật tư – thiết bị y tế
Vụ TTB-CTYT Vụ Trang thiết bị - công trình y tế
Đại học kinh tế Huế
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ x
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3.ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
5.CẤU TRÚC LUẬN VĂN 5
Phần II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ BỆNH VIỆN 6
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý trang thiết bị y tế bệnh viện 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về trang thiết bị y tế 6
1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý trang thiết bị y tế trong bệnh viện 11
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Trang thiết bị Y tế tại bệnh viện 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện 20
1.2.1 Các chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế 20
1.2.2 Những thành tựu đã đạt được 22
1.2.3 Những hạn chế trong quản lý trang thiết bị y tế ở Việt Nam 23
1.2.4 Bài học kinh nghiệm 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG TRỊ 29
Đại học kinh tế Huế
Trang 72.1 Giới thiệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 29
2.1.1 Lịch sử hình thành 29
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện 30
2.1.3 Tổ chức bộ máy 32
2.1.4 Nguồn nhân lực 33
2.1.5 Tình hình cơ sở vật chất của Bệnh viện 34
2.1.6 Kết quả hoạt động sự nghiệp của Bệnh viện 35
2.2 Thực trạng công tác quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị (2014-2016) 36
2.2.1 Hiện trạng trang thiết bị Y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 36
2.2.2 Quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 41
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 62
2.3.1 Nhân tố bên ngoài 62
2.3.2 Nhân tố bên trong 64
2.4 Đánh giá từ kết quả khảo sát .67
2.4.1 Thông tin chung về đối tượng điều tra 67
2.4.2 Công tác quản lý trong đầu tư mua sắm trang thiết bị Y tế 68
2.4.3 Công tác quản lý trong quá trình sử dụng trang thiết bị Y tế 72
2.4.4 Công tác quản lý trong quá trình sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị y tế 73
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 77
2.5.1 Kết quả đạt được 77
2.5.2 Hạn chế 78
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 79
Chương 3:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG TRỊ 81 3.1 Định hướng chung về công tác quản lý trang thiết bị Y tế tại Bệnh viện Đa khoa
Đại học kinh tế Huế
Trang 8tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới 81
3.2 Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý trang thiết bị Y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 82
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 83
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trong đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế .83
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trong quá trình sử dụng trang thiết bị y tế 84
3.3.3Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trong quá trình sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị y tế 85
3.3.4 Nhóm giải pháp khác 87
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1.KẾT LUẬN 90
2.KIẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1+2
BẢN GIẢI TRÌNH XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
Đại học kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu cơ bản của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 30
Bảng 2.2: Tình hình cán bộ viên chức của bệnh viện qua các năm 33
Bảng 2.3: Tình hình cơ sở vật chất của bệnh viện 34
Bảng 2.4: Tình hình hoạt động của bệnh viện 35
Bảng 2.5: Số lượng các trang thiết bị y tế được trang bị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 38
Bảng 2.6: Giá trị các trang thiết bị y tế được trang bị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 39
Bảng 2.7: Kế hoạch mua sắm trang thiết bị y tế hằng năm của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 44
Bảng 2.8: Nguồn vốn mua sắm trang thiết bị Y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị qua các năm (2014 đến 2016) 47
Bảng 2.9: Kinh phí được duyệt mua mới trang thiết bị y tế tại Bệnh viện đa khoa Quảng Trị qua các năm 48
Bảng 2.10: Tần suất sử dụng trang thiết bị Y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị qua các năm 53
Bảng 2.11: Kết quả đánh giá chức năng các trang thiết bị y tế ở bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị qua các năm 57
Bảng 2.12: Tình hình thanh lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị qua các năm 61
Bảng 2.13: Trình độ chuyên môn của các cán bộ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 65
Bảng 2.14: Thông tin chung về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 67
Bảng 2.15: Mức độ hài lòng của cán bộ bệnh viện về công tác lập kế hoạch mua sắm thiết bị y tế 71
Bảng 2.16: Tình hình thực hiện quy trình quản lý sử dụng trang thiết bị y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 72
Đại học kinh tế Huế
Trang 10Bảng 2.17: Đánh giá chung về trang thiết bị y tế trong quá trình sử dụng 73Bảng 2.18: Tình hình thực hiện công tác quản lý bảo dưỡng trang thiết bị Y tế tại
bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 74Bảng 2.19: Đánh giá việc thực hiện quản lý quy trình sửa chữa trang thiết bị Y tế
tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 76
Đại học kinh tế Huế
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị 32
Đồ thị 2.1: Sự tham gia vào công tác lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị Y tế 68
Đồ thị 2.2: Đánh giá về công tác quản lý nguồn nhập trang thiết bị y tế 69
Đồ thị 2.3: Đánh giá về tỷ lệ đáp ứng theo kế hoạch mua trang thiết bị Y tế 70
Đồ thị 2.4: Thời gian sửa chữa các trang thiết bị Y tế bị hỏng trong năm 2016.75
Đại học kinh tế Huế
Trang 12PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị là đơn vị sự nghiệp y tế, trực thuộc Sở Y tế cóchức năng, nhiệm vụ chăm sóc, khám và chữa bệnh, đào tạo nhân lực y tế, chỉ đạotuyến, phòng chống dịch bệnh và nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng khoa họccông nghệ, kỹ thuật hiện đại phục vụ nhân dân trong tỉnh và khu vực lân cận từ namQuảng Bình đến bắc Thừa Thiên - Huế và các tỉnh biên giới nước bạn Lào anh em.Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chấtlượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trịbệnh nhân được chính xác, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả góp phần thực hiện tốtvai trò chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Trong những năm qua, cùng với việcxây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh củangười dân, ngành Y tế Quảng Trị cũng đã đầu tư TTBYT đồng bộ từ tuyến cơ sở đếntuyến tỉnh cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo tính hiện đại và hiệu quả trong côngtác khám và chữa bệnh Xuất phát từ quy mô, năng lực hoạt động và nhu cầu thiết yếucủa từng đơn vị, với nhiều nguồn mua sắm, đầu tư trang thiết bị khác nhau, danh mụcTTBYT cho các đơn vị trong ngành tương đối lớn, đa dạng về chủng loại Đến nay, hệthống TTBYT trong ngành được cải thiện đáng kể có khả năng giải quyết cơ bản nhucầu khám chữa bệnh của người dân tại các cơ sở tuyến dưới, giảm bớt tình trạng quátải cho cơ sở tuyến trên Từ đó góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng khámchữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và các hoạt động chuyên môn kỹ thuật, thúc đẩyphát triển, triển khai nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao, nâng cao uy tín thương hiệu chocác đơn vị Thực tế cho thấy, gần 90% TTBYT của ngành đang được sử dụng và khaithác có hiệu quả, trong đó Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị được trang cấp đầy đủcác TTBYT hiện đại ngang tầm với các bệnh viện tỉnh khác trong khu vực như máychụp cộng hưởng từ MRI, máy cắt lớp vi tính CT Scanner, X-quang kỹ thuật số, siêu
âm 3D tim, mạch máu, sản phụ khoa, máy chụp mạch số hóa xóa nền một bình diệnDSA, máy đo độ loãng xương, hệ thống nội soi và phẫu thuật nội soi, máy xét nghiệmhuyết học, sinh hóa tự động…
Đại học kinh tế Huế
Trang 13Từ năm 1989 đến nay, TTBYT của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị đượccung cấp từ nhiều nguồn như: Ngân sách nhà nước, quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp, viện trợ từ dự án Hà Lan, viện trợ ODA, dự án phòng chống HIV/AIDS, dự
án hỗ trợ y tế Bắc Trung Bộ,…
Do đó, một phần TTBYT hiện tại của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị cònmang tính chồng chéo, có khi cùng một chủng loại trang thiết bị lại được tài trợ bởinhiều tổ chức khác nhau Về đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, sử dụng, bảodưỡng, sửa chữa TTBYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị vừa thiếu về sốlượng và còn hạn chế về trình độ chuyên môn Do vậy, công tác quản lý TTBYTtại bệnh viện vẫn còn nhiều bất cập
Quản lý TTBYT có hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng khám chữa bệnhtại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị, giảm được kinh phí đầu tư, nâng cao tưổi thọcủa thiết bị, hỗ trợ công tác chuyên môn cho cán bộ y tế Từ đó thu hút người dântới khám chữa bệnh, góp phần làm giảm sự quá tải cho các bệnh viện tuyến trên,đồng thời người dân được hưởng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao ngay tại tuyến tỉnh, vìvậy giảm được chi phí đi lại không cần thiết, việc này rất có ý nghĩa đối vớingười nghèo, những người bệnh ở vùng sâu, vùng xa hay ở xa với những bệnh việnlớn tuyến trên có trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Do đó, việc khảo sátthực trạng quản lý, sử dụng TTBYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị là hết sứccần thiết
Đây chính là lý do đề tài “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG TRỊ” được lựa
chọn nghiên cứu trong luận văn này
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đakhoa tỉnh Quảng Trị, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lýtrang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
Đại học kinh tế Huế
Trang 143 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý TTBYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnhQuảng Trị
- Đối tượng khảo sát: Là cán bộ hiện đang công tác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnhQuảng Trị
- Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị
Thời gian: Đánh giá tình hình quản lý TTBYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh QuảngTrị giai đoạn 2014 - 2016 và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lýTTBYT đến năm 2020
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4.1 Phương pháp thu thập thông tin:
Về thông tin thứ cấp: Đề tài thu thập các thông tin thứ cấp thông qua các luồngchính: các báo cáo của các khoa phòng chuyên môn thuộc Bệnh viện Đa khoa QuảngTrị trong giai đoạn 2014-2016 Ngoài ra, thông tin thứ cấp còn được thu thập từ cácbáo cáo tại hội thảo chuyên ngành, từ sách, báo, internet và các công trình nghiên cứu,các đề tài đã được thực hiện liên quan đến nội dung nghiên cứu
Về thông tin sơ cấp: Nhằm phản ánh rõ thực trạng công tác quản lý TTBYT tạiBệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị từ hoạt động đầu tư đến hoạt động thanh lý tài sảntrong toàn bệnh viện, đồng thời xây dựng các giải pháp phù hợp trong quản lý TTBYTtại bệnh viện Đề tài tiến hành điều tra khảo sát trực tiếp cán bộ quản lý tại Bệnh viện vềcác vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu Cụ thể là 3 đối tượng chính: điều dưỡng,
Đại học kinh tế Huế
Trang 15bác sỹ, kỹ thuật viên (KTV), là những người tham gia công tác quản lý trang thiết bị y tếtrong cả bốn giai đoạn: đầu tư, mua sắm; sử dụng; sửa chữa, bảo dưỡng và khấu hao,thanh lý tại bệnh viện.
Phiếu điều tra gồm các mục hỏi:
- Thông tin cá nhân
- Ý kiến cá nhân về công tác quản lý TTBYT của Bệnh viện trong thời gian qua
Kỹ thuật lập phiếu điều tra được tìm hiểu, nghiên cứu từ các sách, tài liệu vềquản lý TTBYT Nội dung của phiếu điều tra được trình bày ở phần phụ lục củaluận văn
Thời gian khảo sát: từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017
4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu:
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp các số liệu thống kê mô tả của giai đoạn từnăm 2014- 2016
- Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian để phân tích kết quả hoạt độngquản lý trang thiết bị y tế
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Kết quả điều tra sẽ được xử lý, tổng hợp vàphân tích trên máy vi tính dựa trên phần mềm Excel
4.3 Phương pháp phân tích thông tin:
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được vận dụng trong chọn điểm nghiên cứu, phân tíchthống kê các loại đối tượng và phân tích sự ưu tiên trong việc lựa chọn
Trang 16bệnh viện trong thời gian qua Phân tích so sánh sự khác biệt trong đánh giá các vấn
đề có liên quan, những vấn đề bất cập trong quản lý trang thiết bị y tế đang diễn ra
ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị Từ đó đưa ra kết luận có căn cứ khoa họccho các giải pháp đồng thời đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lýtrang thiết bị y tế tại bệnh viện
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài Phần Mở đầu, Phần Kết luận và kiến nghị, Phần Nội dung nghiên cứuđược chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý trang thiết bị y tế Bệnh viện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện
Đa khoa tỉnh Quảng Trị
Đại học kinh tế Huế
Trang 17Phần II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨUChương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRANG
THIẾT BỊ Y TẾ BỆNH VIỆN
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý trang thiết bị y tế bệnh viện 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về trang thiết bị y tế
1.1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế
Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử
và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợpvới nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con ngườinhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây:
a) Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắptổn thương, chấn thương;
b) Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý;
c) Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;
d) Kiểm soát sự thụ thai;
e) Khử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trìnhxét nghiệm;
f) Vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế;
g) Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện phápkiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể người
Trang thiết bị chẩn đoán in vitro gồm thuốc thử, chất hiệu chuẩn, vật liệu kiểm soát,dụng cụ, máy, thiết bị hoặc hệ thống được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp theo chỉ định củachủ sở hữu để phục vụ cho việc kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể người
Phụ kiện là một sản phẩm được chủ sở hữu trang thiết bị y tế chỉ định dùng chomục đích cụ thể cùng với một thiết bị y tế cụ thể nhằm tạo điều kiện hoặc hỗ trợ thiết
bị đó sử dụng đúng với mục đích dự định của nó [8]
1.1.1.2 Đặc điểm trang thiết bị y tế
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện phục vụ
Đại học kinh tế Huế
Trang 18cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Trang thiết bị y tế là bộ phậnkhông thể tách rời trong các hoạt động y tế và là yếu tố không thể thiếu trong việcnâng cao chất lượng, hiện đại hóa nền y học nước nhà Đặc điểm TTBYT thể hiện:a) Trang thiết bị y tế là một loại hàng hóa đặc biệt với chủng loại đa dạng và luônđược cập nhật ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới, thế hệ công nghệ luônthay đổi.
b) Trang thiết bị là tài sản cố định có giá trị cao Trang thiết bị hiện nay cho ngành
y tế thường là hiện đại nên có giá trị cao, đắt tiền Nó được sản xuất gắn liền vớithành tựu của khoa học tiên tiến về khám chữa bệnh
c) Trang thiết bị y tế ở Việt Nam phần lớn được nhập khẩu từ các nước có nềnkhoa học tiên tiến, hiện đại, đòi hỏi người sử dụng phải cập nhật và nâng cao trình
độ thường xuyên
d) Trang thiết bị y tế ở Bệnh viện tuyến tỉnh thường được hình thành từ nhiềunguồn vốn khác nhau, trong đó có từ ngân sách nhà nước, các loại viện trợ, quỹ pháttriển khoa học và tự mỗi đơn vị mua sắm
e) Trang thiết bị y tế gồm nhiều loại khác nhau, có tính năng sử dụng khác nhau:
Loại thiết bị cá nhân: TTBYT được sử dụng tại tư gia (Homecare) Đây làmột phương pháp vừa đáp ứng nhu cầu cấp bách vừa đặt nền tảng cho một nền y tếhiện đại
Loại TTBYT đơn giản: Đây là loại thiết yếu, đơn giản, dễ sử dụng, kết hợp vớicác thiết bị khác được sử dụng trong bệnh viện, đặc biệt là đơn vị y tế nhỏ
Loại TTBYT chuyên dùng trong các bệnh viện yêu cầu người sử dụng phải amhiểu kỹ thuật tính năng vận hành, kiểm tra theo dõi các thông số
Loại thiết bị nghiên cứu: Đây là những thiết bị đáp ứng nhu cầu trong cácphòng nghiên cứu khoa học Mặc dù hiệu quả kinh tế chưa phát huy được ngay nhưngđây là cách hỗ trợ và xây dựng một hướng phát triển lâu dài, nhằm tăng cường nănglực cho bệnh viên [14, 5-7]
1.1.1.3 Quy định về phân loại trang thiết bị
Trong Chương II Nghị định 36/2016/NĐ-CP, việc phân loại trang thiết bị y tếđược quy định như sau:
Đại học kinh tế Huế
Trang 19Trang thiết bị y tế gồm 2 nhóm được phân làm 4 loại dựa trên mức độ rủi ro tiềm
ẩn liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các trang thiết bị y tế đó:
- Nhóm 1 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại A là trang thiết bị y tế có mức độrủi ro thấp Cụ thể, nhóm 1 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại A là những thiết bị
có mức độ gây rủi ro thấp nhất, đơn vị sở hữu sẽ công bố chất lượng, tiêu chuẩn
kỹ thuật và tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm (như: Bông, băng, giườngđiều trị thông thường…)
- Nhóm 2 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại B, C và D, trong đó loại B là trangthiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình thấp; trang thiết bị y tế thuộc loại C có mức độrủi ro trung bình cao và loại D có mức độ rủi ro cao (như: Trang thiết bị cấy ghép vào
cơ thể người) Với các trang thiết bị loại C và D sẽ phải qua giai đoạn thử nghiệm lâmsàng (trên người) về tính an toàn trước khi được đưa vào sử dụng chính thức
Nguyên tắc phân loại trang thiết bị y tế
- Việc phân loại trang thiết bị y tế phải dựa trên cơ sở quy tắc phân loại về mức
- Trong trường hợp trang thiết bị y tế được sử dụng kết hợp với một trang thiết bị
y tế khác hoặc trang thiết bị y tế có hai hoặc nhiều mục đích sử dụng thì việc phân loạiphải căn cứ vào mục đích sử dụng quan trọng nhất của trang thiết bị y tế đó
- Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết việc phân loại trang thiết bị y tế bảo đảmphù hợp với các điều ước quốc tế về phân loại trang thiết bị y tế của Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á mà Việt Nam là thành viên
Dựa vào các nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân
ra 10 nhóm TTBYT như sau:
Nhóm I: Thiết bị chẩn đoán hình ảnh bao gồm các thiết bị đặc trưng là: Máy
Đại học kinh tế Huế
Trang 20chụp X - Quang các loại, máy chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch
số hoá xoá nền, máy chụp cắt lớp positron (PET/CT), máy siêu âm Nhóm II: Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý bao gồm các loại máy: Máy điện tâm
đồ (ECG), điện não đồ (EEG), điện cơ đồ, máy đo lưu huyết não
Nhóm III: Thiết bị labo xét nghiệm bao gồm các thiết bị như máy đếm tế bào,máy ly tâm
Nhóm IV: Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ bao gồm các thiết bịnhư máy thở, máy gây mê, máy theo dõi (monitoring), máy tạo nhịp tim, máy sốctim, dao mổ điện, thiết bị tạo oxy
Nhóm V: Thiết bị vật lý trị liệu như điện phân, điện sóng ngắn, tia hồngngoại, laser trị liệu
Nhóm VI: Thiết bị quang điện tử y tế như Laser CO2, Laser YAG, Nd, Ho,Laser hơi kim loại, phân tích máu bằng Laser
Nhóm VII: Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như máy đo công năng phổi, đothính giác, tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt,máy chạy thận nhân tạo
Nhóm VIII: Các thiết bị từ y tế Phương Đông như máy dò huyệt, massage,châm cứu, điều trị từ phổi
Nhóm IX: Nhóm thiết bị điện tử y tế thông thường dùng ở gia đình như huyết áp
kế điện tử, nhiệt kế điện tử , máy chạy khí rung, điện tim
Nhóm X: Nhóm các loại thiết bị thông dụng phục vụ trong các cơ sở y tế nhưthiết bị thanh tiệt trùng, máy giặt, trung tâm quản lý thông tin (hệ thống máy tính),
xe ôtô cứu thương, lò đốt rác thải y tế, khu xử lý nước thải
1.1.1.4 Danh mục Trang thiết bị Y tế thiết yếu cho Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh
Để tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực TTBYT, Bộ trưởng Bộ y
tế đã ký quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/02/2002 về việc ban hành danh mụcTTBYT tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Danh mục TTBYT do Bộ y tế ban hành đốivới bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh phân bổ theo các khoa như sau :
- TTBYT khoa Khám bệnh gồm 41 loại
Đại học kinh tế Huế
Trang 21- TTBYT khoa Cấp cứu hồi sức gồm 105 loại.
- TTBYT khoa Nội tổng hợp gồm 75 loại
- TTBYT khoa Nội tim mạch lão học gồm 72 loại
-TTBYT khoa truyền nhiễm gồm 72 loại
- TTBYT khoa Da liễu gồm 69 loại
- TTBYT khoa Thần kinh gồm 76 loại
- TTBYT khoa Tâm thần gồm 68 loại
- TTBYT khoa Y học cổ truyền gồm 67 loại
- TTBYT khoa Nhi gồm 73 loại
- TTBYT khoa Ngoại tổng hợp gồm 73 loại
- TTBYT khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức gồm 114 loại
- TTBYT khoa Phụ sản gồm 103 loại
- TTBYT khoa Tai mũi họng gồm 82 loại
- TTBYT khoa Răng hàm mặt gồm 83 loại
- TTBYT khoa Mắt gồm 95 loại
- TTBYT khoa Vật lý trị liệu phục hồi chức năng gồm 87 loại
- TTBYT khoa Ung bướu gồm 66 loại
- TTBYT khoa Huyết học truyền máu gồm 51 loại
- TTBYT khoa Hoá sinh gồm 49 loại
- TTBYT khoa Vi sinh gồm 61 loại
- TTBYT khoa Chẩn đoán hình ảnh gồm 34 loại
- TTBYT khoa Giải phẫu bệnh gồm 31 loại
- TTBYT khoa Chống nhiễm khuẩn gồm 23 loại
- TTBYT khoa Dược gồm 40 loại
- TTBYT Phòng Vật tư thiết bị y tế gồm 24 loại
Dựa vào danh mục này mà các Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh, các cán bộ đượcgiao công tác quản lý vật tư – trang thiết bị của các bệnh viện cần xây dựng các mẫubiểu, sổ sách theo dõi, cập nhật hàng hoá hàng tháng và báo cáo tình hình thay đổiTTBYT cho cấp trên
Đại học kinh tế Huế
Trang 221.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý trang thiết bị y tế trong bệnh viện 1.1.2.1 Khái niệm về quản lý
Cho tới nay có khá nhiều khái niệm về quản lý do bản thân khái niệm quản lý
có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt về nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khácbiệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lýgiải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mởrộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải kháiniệm quản lý càng trở nên rõ rệt Do vậy khái niệm về quản lý rất phong phú và đadạng, sau đây là một số khái niệm chủ yếu:
“Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển,chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” (Harol Koontz, 1993)
“Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội vàhành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” (Nguyễn MinhĐạo, 1997)
Như vậy, quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềmnăng, cơ hội của hệ thống xã hội để đạt được mục tiêu trong điều kiện luôn biến độngcủa môi trường
Qua các định nghĩa trên, hoạt động quản lý có một số đặc trưng sau:
- Công việc của quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (Henry Fayol, 1915): xây dựng kếhoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát
- Đối tượng của quản lý là các mối quan hệ giữa con người và con người bêntrong và bên ngoài hệ thống Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó màtác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác để tạo ra kết quả cuối cùng củatoàn bộ hệ thống
- Quản lý là quá trình tác động mang tính liên tục theo thời gian, là tập trung nỗlực, cố gắng của mọi người nhằm tạo dựng tương lai mong muốn trên cơ sở quá khứ
và hiện tại
- Quản lý không có lý do để tự thân tồn tại mà là nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt
Đại học kinh tế Huế
Trang 23được mục đích một cách tốt nhất trong điều kiện nguồn lực hạn chế và môi trườngluôn biến động Mục tiêu của quản lý tạo dựng môi trường mà trong đó mỗi người cóthể thực hiện được các mục đích theo nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất và
sự thõa mãn cá nhân cao nhất
- Các nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện môi trường luôn luôn biếnđộng Sự hiểu biết về môi trường của hệ thống và kỹ năng phân tích môi trường là hếtsức cần thiết
Chủ thể thông qua các cơ chế quản lý (nguyên tắc, phương pháp, công cụ) tácđộng vào đối tượng quản lí nhằm đạt được các mục tiêu xác định Mối quan hệ tácđộng qua lại giữa chủ thể và đối tượng quản lí tạo thành hệ thống quản lý
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩathống nhất Có người cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành côngviệc thông qua sự nỗ lực của người khác Cũng có người cho rằng quản lý là một hoạtđộng thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đíchcủa nhóm Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có tráchnhiệm về một cái gì đó… Tóm lại, có thể hiểu quản lý là sự tác động chủ quan có tổchức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đã đề ra với hiệu quả cao nhất
Vậy quản lý trang thiết bị y tế là gì?
Quản lý trang thiết bị y tế là một hoạt động của quản lý y tế nhằm mục tiêuhuy động, phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn lực một cách hiệu quả và tiếtkiệm; thực hiện đúng các quy định của Nhà nước và của ngành; phát hiện nhữngyếu kém trong công tác tổ chức quản lý, điều hành, thực hiện ngân sách y tế tại đơn
vị để đề xuất các giải pháp khắc phục, các chế độ mới nhằm hoàn thiện hệ thốngquản lý TTBYT của ngành
Công tác quản lý TTBYT tại các cơ sở y tế nói riêng và trong toàn ngành nóichung cần phải được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt để góp phần nâng cao chấtlượng phục vụ, phát huy hiệu quả đầu tư, đặc biệt là an toàn trong khám chữa bệnhphục vụ nhân dân Để thực hiện được nhiệm vụ trên, tăng cường công tác quản lý đầu
Đại học kinh tế Huế
Trang 24tư TTBYT và quản lý sử dụng, khai thác có hiệu quả các TTBYT là một trong nhữngbiện pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng vàChính phủ về đầu tư cho ngành y tế, góp phần phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ vànâng cao sức khỏe nhân dân Để nâng cao hiệu quả, đòi hỏi các đơn vị phải luôn cậpnhật và nắm vững các văn bản quy định của pháp luật, đồng thời, phải nêu cao ý thứctrách nhiệm và đặc biệt là vai trò của bộ phận chuyên trách quản lý, theo dõi vềTTBYT có vai trò rất quan trọng trong công tác tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo đơn vịtrong công tác quản lý chất lượng, công tác đầu tư, quy trình mua sắm, quản lý khaithác sử dụng có hiệu quả vật tư, TTBYT trong đơn vị mình.
1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý, sử dụng Trang thiết bị Y tế
Trang thiết bị y tế (TTBYT) là mặt hàng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sứckhỏe con người và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chấtlượng của công tác y tế, hỗ trợ người thầy thuốc trong chẩn đoán và điều trị cho ngườibệnh TTBYT lại có đặc thù là chủng loại đa dạng với hàng nghìn loại, thế hệ côngnghệ luôn thay đổi, cập nhật ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới
Vì vậy vấn đề quản lý là hết sức quan trọng và phải được quán triệt trongtoàn ngành, nhất là đối với đội ngũ cán bộ quản lý của các cơ sở y tế Nguyên tắc quản
lý, sử dụng trang thiết bị y tế được quy định tại Điều 55 Nghị định 36/2016/NĐ-CP vềquản lý trang thiết bị y tế như sau:
Việc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế phải theo đúng mục đích, công năng, chế
độ, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả
Việc kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định, hiệu chuẩn phải tuân thủ quyđịnh của nhà sản xuất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về kiểm định,hiệu chuẩn
Đối với các trang thiết bị y tế có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh laođộng thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định về kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểmđịnh, hiệu chuẩn theo quy định tại Nghị định này còn phải tuân thủ quy định của phápluật về an toàn vệ sinh lao động
Phải lập, quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về trang thiết bị y tế; thực hiện hạch toán
Đại học kinh tế Huế
Trang 25kịp thời, đầy đủ trang thiết bị y tế về hiện vật và giá trị theo quy định hiện hành củapháp luật về kế toán, thống kê và các quy định pháp luật khác có liên quan; bảo đảmkinh phí thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền vềquản lý trang thiết bị y tế
Các cơ sở y tế của Nhà nước ngoài việc thực hiện quản lý, sử dụng trang thiết bị
y tế theo quy định tại Điều 55 Nghị định 36/2016/NĐ-CP, phải thực hiện quản lý trangthiết bị y tế theo các quy định sau:
Trang thiết bị y tế trong các cơ sở y tế của Nhà nước được quản lý, sử dụngtheo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Thực hiện công khai chế độ quản lý, sử dụng trang thiết bị y tếThực hiện đầu tư, mua sắm trang thiết bị y tế bảo đảm nguyên tắc:
Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu của đơn vị và theo đúng các quyđịnh hiện hành của pháp luật về đấu thầu;
Khuyến khích sử dụng các trang thiết bị y tế sản xuất trong nước Đối vớitrang thiết bị y tế sản xuất trong nước đã được Bộ Y tế công bố đáp ứng yêu cầu chấtlượng sử dụng và khả năng cung cấp thì trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quyđịnh nhà thầu không được chào trang thiết bị y tế nhập khẩu
Bảo đảm chất lượng, an toàn và sử dụng hiệu quả trang thiết bị y tế
Thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về đặc tính kỹ thuật, công dụng của trangthiết bị y tế và các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra đối với người sử dụng
Bảo đảm truy xuất nguồn gốc của trang thiết bị y tế
1.1.2.3 Mục tiêu quản lý Trang thiết bị Y tế bệnh viện
- Nhằm làm hạn chế tối đa hư hỏng, kéo dài tuổi thọ của TTBYT
- Tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ( đảm bảo TTBYT luôn hoạt động
ổn định, chính xác và an toàn cho bệnh nhân)
- Nắm chắc tình hình TTBYT và xây dựng nhu cầu TTBYT mua sắm cho nămsau, báo cáo lên cấp trên ( Bộ Y tế và Sở Y tế)
- Tổ chức thực hiện việc kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ và tiến hành kiểm tra, đánhgiá chất lượng TTBYT theo đúng quy định
Đại học kinh tế Huế
Trang 261.1.2.4 Nội dung quản lý Trang thiết bị Y tế
Công tác quản lý TTBYT đều nhắm đến tính hiệu quả, hiệu quả được xem xét ởmỗi khâu, mỗi công đoạn và từng công việc được giao Quản lý TTBYT được thựchiện theo những tiêu chí nhất định nhằm quản lý chặt chẽ hiệu quả theo đúng chínhsách chế độ, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và đảm bảo tiết kiệm
Theo điều 12, Luật quản lý tài sản công ngày 21/6/2017, công tác quản lýTTBYT tại các Bệnh viện công lập được tiến hành quản lý theo quá trình hình thành
và sử dụng tài sản công bao gồm quá trình đầu tư mua sắm, khai thác, sử dụng, kể cảduy tu, bảo dưỡng, sửa chữa và cuối cùng là thanh lý, khấu hao.[13]
a) Quản lý đầu tư trang thiết bị y tế
Là công tác đầu tiên của quy trình quản lý Quá trình này gồm hai giai đoạn: quyếtđịnh chủ trương mua sắm và thực hiện đầu tư mua sắm Việc quyết định đầu tư mua sắmphải căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn sử dụng, chế độ quản lý TTBYT, nắm vững khảnăng và nhu cầu cần đầu tư, xây dựng mua sắm TTBYT của đơn vị Xác định nhu cầuvốn cho đầu tư mua sắm tài sản được ghi vào dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.Sau khi có chủ trương đầu tư mua sắm, việc thực hiện đầu tư, mua sắm TTBYTphải được thực hiện theo quy định về đầu tư và xây dựng, mua sắm tài sản công Cơ sở
để quyết định trong giai đoạn này mang tính định tính, quy phạm pháp luật để quyếtđịnh cho quá trình hình thành hay đầu tư, mua sắm TTBYT
Quản lý khâu lập kế hoạch mua sắm là nội dung đầu tiên của quản lý đầu tưTTBYT, theo đó phải xác định được các căn cứ lập kế hoạch mua sắm TTBYT,các thủ tục và phương pháp lập kế hoạch mua sắm và lên kế hoạch mua sắmTTBYT hàng năm cho bệnh viện Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện đầu tư theo
kế hoạch của các bệnh viện, các cơ sở y tế
Như vậy, quản lý quá trình đầu tư, mua sắm TTBYT là khâu mở đầu, quan trọngnhất quyết định các khâu tiếp theo TTBYT nếu được hình thành có cơ sở khoa học,thiết thực sẽ được quản lý và khai thác sau này có hiệu quả Đồng thời, thông qua quátrình đầu tư, mua sắm TTBYT sẽ đánh giá được tính cấp thiết, thực trạng quản lý ngânsách của đơn vị
Đại học kinh tế Huế
Trang 27b) Quản lý trong quá trình sử dụng Trang thiết bị Y tế:
TTBYT bao gồm các loại máy móc, thiết bị đặc thù Tuy nhiên, cũng như cácloại máy móc thiết bị khác, quá trình sử dụng và vận hành các TTBYT sẽ dần xuấthiện những vấn đề kỹ thuật, những điểm yếu kém Do đó, công tác quản lý TTBYTcũng cần quan tâm đặc biệt đến việc quản lý sử dụng Quá trình sử dụng TTBYTchứng minh cho những luận chứng kỹ thuật được đưa ra trong giai đoạn đầu tư, muasắm Đây là quá trình diễn ra hết sức phức tạp, bởi vì thời gian sử dụng tùy thuộc đặcđiểm, tính chất, độ bền của mỗi loại TTBYT Quá trình này đều được thực hiện bởicác tổ chức, cá nhân được đơn vị giao trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT Thời giancủa quá trình khai thác, sử dụng TTBYT được tính từ ngày nhận hay bàn giao TTBYTđến khi nó không còn sử dụng được phải thanh lý
Quản lý việc sử dụng TTBYT phải theo công năng, mục đích nhất định NhữngTTBYT cần thiết phải có điều kiện quản lý theo tiêu chuẩn, định mức sử dụng thì phảixây dựng tiêu chuẩn, định mức sử dụng và thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn, định mức sửdụng đó Đồng thời, tất cả TTBYT phải có chế độ quản lý, sử dụng, trong đó chú ý đếnviệc đăng kí sử dụng TTBYT, xây dựng quy chế quản lý từng loại TTBYT Đặt ra địnhmức sử dụng là nghiệp vụ hết sức khoa học và phức tạp quyết định hiệu quả cho quản lý,khai thác Định mức cũng là một trong những cơ sở khởi nguồn cho công tác mua sắm.Tiếp đến trong công tác quản lý là việc điều chuyển từ bộ phận này sang bộ phậnkhác, tức là điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu hoặc có TTBYT đối với bộ phậnnày thì không còn sử dụng được nhưng đối với bộ phận khác vẫn có thể sử dụng được.Quản lý quá trình sử dụng là cơ sở quan trọng nhằm điều chỉnh và sửa chữakịp thời mỗi khi bị hư hỏng Do đó, công tác quản lý quá trình sử dụng TTBYT có
ý nghĩa hết sức lớn trong công tác quản lý TTBYT nói chung Đây là hoạt độngnhằm khai thác tối đa tiềm năng của hệ thống TTBYT trong các bệnh viện Đakhoa cấp tỉnh
c) Quản lý trong khâu sửa chữa thiết bị y tế:
Quản lý TTBYT cần quan tâm đến khâu sửa chữa TTBYT nhằm bảo đảm sửdụng tối ưu hiệu năng của các máy móc, thiết bị đã mua sắm Chế độ quản lý việc
Đại học kinh tế Huế
Trang 28sửa chữa thiết bị y tế nhằm đảm bảo cho việc sử dụng thiết bị tiết kiệm và hiệu quảphục vụ thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.
Quy trình sửa chữa trang thiết bị gồm các bước sau:
- Bước 1: Lập yêu cầu sửa chữa;
- Bước 2: Tiếp nhận yêu cầu sửa chữa và kiểm tra;
- Bước 3: Tổ chức sửa chữa;
- Bước 4: Nghiệm thu, ghi sổ theo dõi sửa chữa và thu hồi trang thiết bị hư hỏng;
- Bước 5: Thanh toánTrong công tác quản lý khâu sửa chữa thiết bị y tế, việc kiểm tra, đánh giá chứcnăng quản lý TTBYT là những hoạt động quan trọng, giúp nâng cao hiệu quả côngtác quản lý TTBYT Công tác kiểm tra, đánh giá chức năng quản lý TTBYT có cáctiêu chí cần bám theo như: i) Tiêu chí 1: Xây dựng quy định và theo dõi việc thực hiệnnhững quy định về việc sử dụng TTBYT; ii) Tiêu chí 2: Theo dõi, kiểm tra kế hoạchmua sắm, bảo quản và bảo dưỡng các TTBYT; iii) Tiêu chí 3: Kiểm tra định kỳ,thường xuyên hồ sơ, việc bảo quản, bảo dưỡng TTBYT; iv) Tiêu chí 4: Tổng kết,đánh giá hiệu quả việc sử dụng TTBYT
d) Quản lý trong khâu khấu hao và thanh lý TTBYT:
Các TTBYT khi kết thúc quá trình sử dụng phải được quản lý chặt chẽ để tránhlãng phí, thất thoát tài sản Khi kết thúc sử dụng, phải thực hiện đánh giá hiện trạngthiết bị y tế cả về vật chất và giá trị, thực hiện kiểm kê, xác định giá trị hiện tại củathiết bị, lập phương án xử lý khác nhau
Các TTBYT tại bệnh viện công lập hiện nay được tính khấu hao theo Thông tư162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 của Bộ Tài chính về Quy định chế độ quản lý, tínhhao mòn tài sản cố định trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các
tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Trang thiết bị Y tế tại bệnh viện
Quản lý TTBYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh là một trong những nội dung cơbản của công tác quản lý Muốn có phương án quản lý TTBYT hợp lý và có hiệuquả, đòi hỏi mỗi khoa, phòng trong Bệnh viện Đa khoa tỉnh phải nghiên cứu, phân
Đại học kinh tế Huế
Trang 29tích sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động dịch vụ khámchữa bệnh tại đơn vị mình.
1.1.3.1 Nhân tố bên ngoài:
a) Các quy định, chính sách của Đảng và Nhà nước:
Mỗi đơn vị y tế dù muốn hay không đều phải thực hiện theo đúng đườnglối, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhànước và Chính phủ Chỉ có làm theo cách này thì phương hướng tổ chức quản lý dịch
vụ khám chữa bệnh tại đơn vị mới đúng đắn Tổ chức quản lý dịch vụ khám chữabệnh trong đơn vị y tế được duy trì, phát triển hay mở rộng phụ thuộc rất lớn vàođường lối chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính phủ.Đối với việc quản lý TTBYT thì các văn bản về đầu tư và khấu hao, sẽ quyết định khảnăng khai thác TTBYT
b) Tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thiết bị máy móc:
Sự phát triển của khoa học, công nghệ trên thế giới đã tạo ra những TTBYT hiệnđại, đa chủng loại và liên tục được cải tiến, hỗ trợ thiết thực cho việc chăm sóc sứckhỏe con người Vì vậy, để có phương án tổ chức quản lý TTBYT hợp lý, bệnh việnphải xác định cho được đơn vị mình nên mua công nghệ, thiết bị máy móc nào là thíchhợp Các dịch vụ khám chữa bệnh nếu được ứng dụng nhanh chóng và kịp thời cáctiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại thì nó cho phép sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệmdược phẩm y tế và sức lao động nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả của hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh
Máy móc thiết bị nếu cập nhật kịp thời công nghệ mới, với tính chất hiện đại vàđầu tư theo chiều sâu thì sẽ nâng cao được trình độ tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệmcủa đội ngũ cán bộ trong đơn vị, tạo ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao, giá thành
hạ, đáp ứng kịp thời nhu cầu khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân Bên cạnh đó,
nó còn giúp cho đơn vị sử dụng hợp lý dược phẩm y tế thay thế và sử dụng hợp lý cácloại dược phẩm, dược liệu
1.1.3.2 Nhân tố bên trong:
a) Chủng loại thiết bị y tế được trang bị sử dụng:
Đại học kinh tế Huế
Trang 30TTBYT sử dụng rất phong phú, đa dạng về chủng loại và chúng còn được gọi làđối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình thực hiện hoạt động dịch
vụ khám chữa bệnh (Thuốc – Thầy thuốc – TTBYT) Giữa TTBYT và tổ chức
quản lý dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện có mối quan hệ hữu cơ với nhau Dịch
vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện là một quá trình liên tục tác động vào đối tượng laođộng để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Giá trị và giá trị sử dụng của dược phẩm y tếđược tăng lên gấp bội khi TTBYT tham gia liên tục vào quá trình hoạt động dịch vụ khámchữa bệnh tại bệnh viện
Chủng loại TTBYT đơn giản hay phức tạp có ảnh hưởng đến tổ chức quản lýdịch vụ KCB tại bệnh viện Ngược lại, tổ chức dịch vụ KCB tại bệnh viện ở trình độcao hay thấp đều đòi hỏi việc sử dụng TTBYT phải đáp ứng được yêu cầu Nhìnchung, mối quan hệ giữa quản lý dịch vụ khám chữa bệnh và TTBYT thay đổi theonhững đặc điểm kinh tế - kỹ thuật TTBYT của mỗi đơn vị và thay đổi theo sự pháttriển của xã hội Vì vậy, để có được phương án tổ chức quản lý TTBYT hợp lý và hiệuquả, mỗi đơn vị phải chú ý và xác định cho được mức độ ảnh hưởng của TTBYT đốivới đơn vị mình
b) Trình độ chuyên môn của cán bộ sử dụng TTBYT tại bệnh viện:
Đội ngũ y bác sĩ, cán bộ ngành y tế nói chung và cán bộ ngành y tế trong cácbệnh viện Đa khoa nói riêng có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý TTBYT.TTBYT là một trong 3 yếu tố quan trọng nhất (Thuốc – Thầy thuốc – TTBYT) trongngành y tế, đồng thời đây cũng là đối tượng đặc thù, là công cụ, dụng cụ có liên quantrực tiếp đến chăm sóc sức khoẻ con người Đầu tư máy móc thiết công nghệ kỹ thuậtcao là điều quan trọng và rất cần thiết Nhưng người sử dụng kỹ thuật cao là yếu tốquyết định Để có thể quản lý và sử dụng TTBYT hiệu quả thì cần phải bồi dưỡng, đàotạo nâng cao trình độ tay nghề của cán bộ sử dụng trong quá trình vận hành sử dụng,bảo dưỡng, bảo quản và sửa chữa TTBYT Ngoài trình độ tay nghề, đòi hỏi cán bộphải luôn có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo quản máy móc thiết bị Có nhưvậy, nó mới duy trì công suất cao trong thời gian dài và sử dụng có hiệu quả hơn trongkhám chữa bệnh
Đại học kinh tế Huế
Trang 311.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện 1.2.1 Các chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế
Trong những năm qua, nền kinh tế đất nước có nhiều phát triển, đời sống nhândân được nâng lên kéo theo nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe tăng cao Đồng thời,việc mở cửa hội nhập sâu rộng về mọi mặt với thế giới và khu vực, cộng với việc nỗlực đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đã tạo cơ hội để các trangthiêt bị y tế nhập khẩu vào Việt Nam một cách nhanh chóng, đa chủng loại, đa chuyênngành, nhiều trang thiết bị y tế kỹ thuật cao, hiện đại (ví dụ như robot phẫu thuật, máycộng hưởng từ, máy CT scanner, máy chụp mạch, PET/CT,…) Nhờ vậy, người dân vàcán bộ y tế được tiếp cận với những phương pháp điều trị mới, tiên tiến, giảm thiểu rủi
ro và tác dụng bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường
Mặt khác, được sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ việc đầu tư trangthiết bị và các công trình y tế được chú trọng, quan tâm hơn Nhiều bệnh viện đượcxây mới, cải tạo đã làm thay đổi bộ mặt bệnh viện, cải thiện đáng kể tình trạng quá tải,nằm ghép của bệnh nhân; trang thiết bị y tế được đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhaugiúp nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị tại các cơ sở y tế công lập, ngang tầm khuvực và thế giới
Ngày 15/5/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 36/2016/NĐ-CP vềquản lý trang thiết bị y tế, đây là hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lýtrang thiết bị y tế đáp ứng yêu cầu hiện nay và hội nhập quốc tế, khu vực Đây làkhung pháp lý giúp các nhà quản lý, các bệnh viện, đơn vị y tế, các doanh nghiệp nắm
rõ các quy định, xác định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ khi tham gia các hoạtđộng trong lĩnh vực TTBYT; đảm bảo chất lượng, hiệu quả đầu tư và tăng cường quản
lý, khai thác sử dụng TTBYT, góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, nângcao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân
Triển khai Nghị định, Bộ Y tế đã có Quyết định số 4125/QĐ-BYT ngày29/7/2016 phê duyệt kế hoạch triển khai các nội dung của Nghị định, Vụ Trang thiếtbị- công trình Y tế (Vụ TTB-CTYT) đã triển khai các nội dung sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện
Đại học kinh tế Huế
Trang 32- Rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để đề xuất các nộidung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Nghị định số 36/2016/NĐ-CP
- Tổ chức các Hội nghị tập huấn triển khai Nghị định và Thông tư hướng dẫnNghị định
- Xây dựng, trình ban hành chương trình đào tạo phân loại TTBYT, chươngtrình đào tạo dịch vụ tư vấn kỹ thuật TTBYT và tổ chức đào tạo cho các đơn vị thamgia thực hiện
- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện nhóm thủ tục hànhchính tại Nghị định số 36/2016/NĐ-CP [10, 1-2]
Với chức năng và nhiệm vụ chính của một Hội nghề nghiệp là tư vấn và phản biện
xã hội, Hội TTBYT – VN trong những năm vừa qua, với sự phối hợp của vụ TTB –CTYT – Bộ Y tế, được sự đồng tâm hiệp lực của nhà tài trợ chính Johnson & JohnsonMedical – Việt Nam, cùng các nhà đồng tài trợ và các nhà tài trợ khác, đã tổ chức thànhcông 4 hội thảo Quốc gia về công tác chuyên ngành kỹ thuật – Thiết bị y tế, đó là 2 Hộithảo tại Nha Trang năm 2010 và 2011 và 2 Hội thảo ở Đà Nẵng năm 2012 và 2013
- Năm 2010 – tại Thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức hội thảo với
chuyên đề: “Những yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả các dự án đầu tư TTBYT” với
12 báo cáo được trình bày
- Năm 2011 – tại Thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức hội thảo với
chuyên đề: “Quản lý TTBYT, cập nhật thông tin về ứng dụng kỹ thuật cao trong y tế”
với 9 báo cáo được trình bày
- Năm 2012, 2013 – tại Thành phố Đà Nẵng đã tổ chức hội thảo với chuyên đề:
“Nâng cao hiệu quả Quản lý, cập nhật thông tin kỹ thuật và công nghệ TTBYT”.
Tại các buổi Hội thảo từ các năm 2010 đến năm 2013, những vấn đề cơ bản, cốtlõi và nóng cần được tập trung giải quyết của chuyên ngành kỹ thuật – TTBYT đãđược đề cập Nếu những nội dung đó được nhà nước, mà trực tiếp là Bộ y tế quan tâm,tiếp thu, chỉ đạo triển khai thực hiện, chắc chắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của các
dự án nâng cấp TTBYT mà nhà nước đã tập trung đầu tư hơn 20 năm qua (từ những
năm 1990 của thế kỷ trước), nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và bảo vệ
sức khỏe toàn dân.[9, 1-9]
Đại học kinh tế Huế
Trang 331.2.2 Những thành tựu đã đạt được
Tại Việt Nam, được sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, trong thời gian qua,
hệ thống y tế cả nước đã đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các cơ sở thuộc các lĩnhvực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo nghiên cứukhoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc và trang thiết bị y tế Ðặc biệtnhiều cơ sở y tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai ứng dụng nhiềutiến bộ khoa học kỹ thuật mới, áp dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám,chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Tạinhiều bệnh viện tỉnh, nhiều chuyên khoa được đầu tư đổi mới trang thiết bị như:chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu Nhiều thiết
bị cơ bản và công nghệ cao được mua sắm như CTscanner, máy Xquang cao tần tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá nhiềuchỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy theo dõi bệnh nhân, sàng lọcHIV, sàng lọc máu Các bệnh viện huyện đã được trang bị những thiết bị chẩnđoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âmchẩn đoán và xe ôtô cứu thương Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị,dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ
-về dân số và kế hoạch hoá gia đình Do được đầu tư trang thiết bị tốt, nhiều bệnhviện tuyến dưới đã có khả năng thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên sâu mà trước đâychỉ Trung ương (TW) mới thực hiện được
Hiện nay chính phủ đã có những bước điều chỉnh các quy định, luật lệ và chínhsách kinh tế vĩ mô cho phù hợp với các quy định quốc tế, tạo ra môi trường đầu tư vàkinh doanh ngày càng thuận lợi, thông thoáng và minh bạch hơn cho tất cả các doanhnghiệp trong đó có doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất TTBYT Nghị định số36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 về quản lý trang thiết bị y tế đã được Chính phủ banhành Đây là khung pháp lý quan trọng giúp các nhà quản lý thiết bị Y tế nước ta trongcông tác quản lý TTBYT hiện nay và trong giai đoạn tới Các nhà quản lý, các bệnhviện, đơn vị y tế, các doanh nghiệp nắm rõ các quy định, xác định rõ quyền tráchnhiệm và nghĩa vụ khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực thiết bị y tế, đảm bảo chất
Đại học kinh tế Huế
Trang 34lượng, hiệu quả đầu tư và tăng cường quản lý, khai thác sử dụng thiết bị y tế, góp phầnnâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Trong nội dung quy địnhcủa Nghị định cũng đã chuyển tải các quy định của Hiệp định ASEAN về thiết bị y tế,
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và chính thức có hiệu lực tại Việt Nam (Tại
Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26/02/2016) để đáp ứng nhu cầu hội nhập khu vực
ASEAN và quốc tế theo đúng quy định thực hiện các điều ước quốc tế Về phân loạitrang thiết bị y tế theo quy định hội nhập là phân nhóm, quản lý trang thiết bị y tế theochu trình vòng đời sản phẩm, thay đổi phương thức quản lý áp dụng chung hình thứcđăng ký lưu hành, ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính,xây dựng môi trường công vụ công khai, minh bạch, hiệu quả, hiệu lực, xác định rõquyền và nghĩa vụ trách nhiệm của các chủ thể, tổ chức cá nhân tham gia trong lĩnhvực trang thiết bị y tế
Bộ y tế phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các nội dung của Phó thủtướng Nguyễn Thiện Nhân và các hoạt động của Ban chỉ đạo về trang thiết bị y tế như:Xây dựng chính sách thuế nhập khẩu linh kiện để lắp ráp, sản xuất TTBYT trongnước; Tích cực, chủ động phối hợp với Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính xây dựng
chính sách Thuế hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất TTBYT, mã số HS (mã phân loại của
hàng hóa, dùng để xác định thuế suất xuất nhập khẩu hàng hóa), áp mã số và áp thuế
đối với danh mục hàng hóa TTBYT nhập khẩu; Xây dựng chính sách, hỗ trợ đầu racho sản phẩm TTBYT; Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật kiểm tra chất lượngTTBYT; Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng đề án: “Xây dựng hệthống kiểm chuẩn trang thiết bị y tế đến năm 2020”; Phối hợp với các đối tác, hãng và
tổ chức Quốc tế tổ chức các hội nghị, hội thảo giới thiệu, phổ biến các quy định quản
lý, hội nhập khu vực và quốc tế lĩnh vực TTBYT…[9, 1-16]
1.2.3 Những hạn chế trong quản lý trang thiết bị y tế ở Việt Nam
* Lãng phí trong khâu mua sắm, sử dụng TTBYT:
Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XI, Kiểm toán Nhà nước đã tổng hợp kết quảbáo cáo Quốc hội các nội dung về quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2015 trênnhiều lĩnh vực, trong đó có chuyên đề công tác đầu tư, mua sắm, quản lý và sử dụng
Đại học kinh tế Huế
Trang 35trang thiết bị y tế Theo đó, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện ra nhiều sai phạm trongviệc mua sắm thiết bị khám chữa bệnh tại rất nhiều bệnh viện và Sở Y tế trên toànquốc Về quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế là tài sản cố định, qua kiểm toán tại Bộ Y
tế cho thấy một số đơn vị sử dụng trang thiết bị y tế kém hiệu quả do xác định nhu cầumua sắm chưa phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực Đáng lưu ý cónhiều thiết bị được đầu tư mới nhưng chưa đưa vào sử dụng hoặc mới đưa vào sử dụng
Sự lãng phí trong việc đầu tư, mua sắm, sử dụng máy móc trang thiết bị y tế có
cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Bởi với đặc thù của ngành y, việcmua sắm trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao rất quan trọng, vì liên quan đến tính mạng,sức khỏe của con người Do đó, việc đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại với nguồn kinhphí lớn là cần thiết nhưng phải sát với thực tế và mang lại hiệu quả
* Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:
Công tác bảo dưỡng, sửa chữa không những chỉ nhằm đảm bảo độ: an toàn,chính xác và ổn định của TTBYT, mà còn có giá trị kinh tế lớn vì nếu thực hiện tốt
công tác công tác bảo dưỡng dự phòng (bảo dưỡng thường kì theo quy định) giảm
thiểu những hỏng hóc lớn, khi sửa chữa sẽ rất tốn kém, thậm chí trường hợp khôngkhắc phục được Tuy nhiên, công tác đào tạo, bảo dưỡng và sửa chữa các trang thiết bị
y tế chưa được các cơ sở y tế thực sự quan tâm đúng mức, xuất phát từ những nguyênnhân sau:
-Đối với tuyến huyện: khi thiết bị gặp sự cố, dù đơn giản cũng không thể khắc
Đại học kinh tế Huế
Trang 36phục vì “run” trước máy mới lại không có tài liệu kỹ thuật; không biết mời đơn vị nào,
ở đâu đến sửa chữa; thiếu kinh phí để sửa chữa; rất khó khăn trong việc tiếp xúc vớinhà cung cấp, các hãng sản xuất thiết bị để yêu cầu hỗ trợ tài liệu kỹ thuật, phụ tùngthay thế, có nhận được sự hỗ trợ từ bệnh viện tỉnh và trung ương qua chương trình
1816 nhưng chưa phải là giải pháp cơ bản, hiệu quả còn hạn chế
-Đối với bệnh viện tuyến tỉnh: đội ngũ cán bộ kỹ thuật của phòng Vật tư –
TTBYT bệnh viện Đa khoa các tỉnh là “thiếu và yếu”; thiết bị công nghệ cao
(CT-Scanner, MRI, Angiography, thiết bị xạ trị, siêu âm màu, các thiết bị xét nghiệm,…)
phải mời chuyên gia, nhà cung cấp Song nhiều thiết bị vẫn không sửa chữa được vìcác cán bộ kỹ thuật của nhà cung cấp thiết bị cũng “thiếu và yếu” Không phải loạimáy nào cũng mời được chuyên gia của hãng tới, nhất là những thiết bị đã cung cấp từtrên 3 năm
-Đối với bệnh viện tuyến trung ương: thiếu tài liệu kỹ thuật phục vụ công tácbảo dưỡng và sửa chữa TTBYT; khó mua vật tư thay thế, phụ thuộc vào nhà cung cấp,giá cao; thiết bị ngày càng nhiều, mức độ càng hiện đại, tính đồng bộ càng cao, trongkhi các phòng Vật tư – TBYT thiếu nhân lực cả về số lượng và chất lượng, thiếu thiết
bị đo chuyên dụng; thiếu kinh phí
Đến nay hệ thống TTBYT tại các cơ sở khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học vàđào tạo trong toàn ngành được cải thiện, có khả năng giải quyết một cách cơ bản nhucầu khám chữa bệnh của người dân tại các cơ sở y tế tuyến dưới, giảm bớt tình trạngquá tải của các cơ sở y tế tuyến trên Tuy nhiên, việc đầu tư và sử dụng TTBYT tạimột số cơ sở y tế hiện nay còn tồn tại một số bất cập như: chưa sử dụng hết hiệu quảcông suất của thiết bị; lạm dụng kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị; một số cơ sở y tế
đã được trang bị thiết bị mới nhưng chưa có cán bộ được đào tạo sử dụng thiết bị; đặcbiệt các cơ sở y tế chưa quan tâm đúng mức đến công tác duy trì, bảo dưỡng, sửa chữađịnh kỳ trang thiết bị do đó chất lượng thiết bị xuống cấp nhanh, tuổi thọ giảm; thậmchí có thiết bị được sử dụng đến khi hỏng nặng mới được sửa chữa, thay thế gây lãngphí về kinh tế và chất lượng khám chữa bệnh; đồng thời, công tác quản lý, kiểm định
và kiểm tra chất lượng TTBYT cũng chưa thực hiện tốt…[9]
Đại học kinh tế Huế
Trang 371.2.4 Bài học kinh nghiệm
Từ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn như đã phân tích ở trên, một số bài họckinh nghiệm có thể được rút ra trong công tác quản lý TTBYT ở Việt Nam hiện nay đó là:
1) Phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành trang thiết bị y tế:
- Tăng cường, tập trung vào hướng đào tạo liên tục và tại chỗ, bởi thực tế cho thấy,sinh viên chuyên ngành Điện tử - Y sinh, Vật lý – Y sinh tại các Trường Đại học Bách
Khoa Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh rất ít người làm việc tại các cơ sở y tế công lập (Khoảng
7–8% theo báo cáo của bộ môn Điện tử - Y sinh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Trường và 15 năm bộ môn Điện tử - Y sinh)
- Mở mã ngành (hoặc bổ sung, hoàn chỉnh chương trình) đào tạo “Trợ lý kỹ
thuật y tế” các chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, phòng mổ và phục hồichức năng Ở nước ta hiện nay trường Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương, cũng đã cócác khoa: Khoa Kỹ thuật hình ảnh, Khoa Vật lý trị liệu, Khoa xét nghiệm, Chuyên
ngành đào tạo này, thuật ngữ quốc tế thường dùng là MTA (Medical Technical
Assistant) Trợ lý kỹ thuật y tế, là những cán bộ vừa được phép tiếp xúc với bệnh
nhân, vừa được phép vận hành thiết bị y tế Họ có trách nhiệm và kiến thức để khẳngđịnh: kết quả xét nghiệm này, điện tâm đồ này, phim CT scanner này là những biểuhiện đúng hiện trạng “thực” của người bệnh Muốn thế họ không những am hiểu vềthiết bị: Bản chất vật lý, Nguyên lý cấu tạo, thế hệ công nghệ, cách vận hành mà cònbiết những thao tác kỹ thuật để lấy được những kết quả thăm khám chính xác, đủthông tin nhất cung cấp cho bác sĩ điều trị
2) Về công tác quản lý Nhà nước:
- Hoàn chỉnh và đổi mới hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về trang thiết
bị y tế từ Trung ương đến địa phương Các cơ sở y tế có cán bộ nghiệp vụ theodõi công tác trang thiết bị y tế Các bệnh viện, các viện Trung ương, bệnh viện đakhoa tỉnh có phòng vật tư kỹ thuật thiết bị y tế Các trung tâm y tế huyện có cán bộchuyên môn theo dõi công tác vật tư thiết bị y tế Từng bước nâng cao năng lựcquản lý trang thiết bị y tế của các cơ sở y tế trong toàn ngành; Thực hiện kiểm chuẩnđịnh kỳ trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở sở y tế cũng như sản phẩmsản xuất trong nước và nhập khẩu
Đại học kinh tế Huế
Trang 38- Bộ y tế cần có quy định cụ thể “mang tính bắt buộc” với các nhà cung cấpTTBYT về việc: cam kết cung cấp tài liệu kỹ thuật phục vụ cho bảo dưỡng, sửa chữa;cam kết cung cấp phụ tùng thay thế ít nhất 5 năm sau khi thiết bị đưa vào khai thác sửdụng; cam kết hỗ trợ đào tạo cán bộ kỹ thuật TTBYT, hỗ trợ chẩn đoán từ xa và cungcấp Pass-word để cán bộ kỹ thuật TTBYT có thể tiếp cận sâu với thiết bị khi thực hiệnbảo dưỡng, sửa chữa thiết bị Bộ y tế cần sớm có quy hoạch xây dựng các trung tâmbảo dưỡng sửa chữa TTBYT cấp trung ương, khu vực và các tỉnh.
- Thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh, xuất nhập khẩu trang thiết bị y
tế từ trung ương đến địa phương Thiết lập hệ thống thanh tra, kiểm tra và giám sátchất lượng trang thiết bị y tế đang lưu hành trên thị trường; Có chính sách hỗ trợ vềvốn và kỹ thuật cho các cơ sở thuộc thành phần kinh tế nhà nước nhằm phát huy vaitrò chủ đạo trong lĩnh vực kinh doanh trang thiết bị y tế
3) Tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành và đơn vị liên quan xây dựng, đề xuất chính sách hỗ trợ các đơn vị sản xuất TTBYT trong nước: khuyến khích các đơn vị
liên doanh, liên kết, vốn đầu tư nước ngoài vào các hoạt động sản xuất, dịch vụ lĩnhvực TTBYT nhằm tranh thủ nguồn lực của các tổ chức quốc tế, chuyển giao công nghệ
để phát triển công nghiệp sản xuất TTBYT trong nước
4) Tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập với khu vực và thế giới trong lĩnh vực trang thiết bị Y tế:
- Tham khảo các quy định về hội nhập và căn cứ thực trạng, yêu cầu quản lýcủa Việt Nam để nghiên cứu, đề xuất ban hành bổ sung, hoàn thiện các văn bản phápquy về quản lý đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh hội nhập và kinh tế thị trường
- Thường xuyên thông báo, cập nhật và lồng ghép qua các hội nghị, hội thảo đểphổ biến, cập nhật các thông tin, quy định trong lĩnh vực TTBYT để mọi người cùngnắm bắt, chủ động thực hiện theo đúng các cam kết trong hội nhập của Việt Nam
- Triển khai các hoạt động Nhóm đối tác kỹ thuật về TTBYT để phối hợp phổbiến các tài liệu, nội dung, xây dựng lộ trình hội nhập trong lĩnh vực TTBYT và liênkết chặt chẽ với Nhóm đối tác y tế Bộ Y tế - HPG, tranh thủ học hỏi, tiếp cận kinhnghiệm chuyên môn, quản lý và các nguồn lực để phát triển lĩnh vực TTBYT
Đại học kinh tế Huế
Trang 395) Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động trang thiết bị y tế: Xây
dựng kế hoạch tổng thể và triển khai từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý trang thiết bị y tế ; Ðịnh hướng thế hệ kỹ thuật - công nghệ của thiết bị y tếcần trang bị cho từng tuyến, từng khu vực để đảm bảo việc nối mạng, truyền số liệuhình ảnh trong từng cơ sở, từng khu vực và trong toàn ngành, đáp ứng nhu cầu tưvấn chẩn đoán, điều trị và đào tạo từ xa
6) Huy động vốn đầu tư trang thiết bị y tế: Kết hợp các nguồn vốn bao gồm
nguồn ngân sách Nhà nước, các dự án ODA, vốn vay ưu đãi và thực hiện xã hội hoátrong công tác đầu tư trang thiết bị y tế; Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự
án, các nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, quốc gia và các tổ chức phi chínhphủ; Xây dựng cơ chế thu hồi vốn để duy trì hoạt động và tái đầu tư trang thiết bị y tế;Ban hành quy định về kinh phí dành cho công tác kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữatrang thiết bị y tế hàng năm.[9]
TÓM TẮT CHƯƠNG 1:
Trong chương này tác giả đã hệ thống hóa các cơ sở khoa học về quản lý trang thiết bị y tế nói chung cũng như luận giải khái niệm về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện Luận văn làm rõ quy trình quản lý trang thiết bị y tế theo quá trình hình thành và sử dụng tài sản công bao gồm quá trình đầu tư mua sắm, khai thác, sử dụng,
kể cả duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa và cuối cùng là thanh lý, khấu hao Các nguyên tắc
cơ bản trong quản lý và sử dụng trang thiết bị y tế Đồng thời luận văn đã chỉ rõ các quy định của Nhà nước cũng như các nhân tố tác động đến công tác quản lý trang thiết bị y tế Tổng kết các thành tựu đã đạt được về công tác quản lý trang thiết bị y tế
ở bệnh viện tại Việt Nam cũng như những hạn chế trong công tác này, từ đó rút ra bài học có thể nghiên cứu tại tỉnh Quảng Trị nói riêng và quản lý trang thiết bị y tế đối với các bệnh viện tại Việt Nam nói chung Chương này làm cơ sở lý luận cho việc phân tích đánh giá thực trạng trong chương 2 và làm cơ sở để xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý trang thiết bị y tế trong chương 3 của luận văn này.
Đại học kinh tế Huế
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1 Giới thiệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị
2.1.1 Lịch sử hình thành
Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị được thành lập theo Quyết định số UBND ngày 05/8/1989 của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Trị với quy môbệnh viện hạng II và có 300 giường bệnh Ngày 21/9/2015, công trình Bệnh viện đakhoa tỉnh, với quy mô hơn 500 giường bệnh được khánh thành Công trình được khởicông vào năm 2010, trên khu đất rộng 21 ha tại phường Đông Lương, TP Đông Hà;thay thế trụ sở cũ (đóng trên đường Lê Lợi) được đưa vào sử dụng từ năm 1997, nay
113/QĐ-đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân nên luônrơi vào tình trạng quá tải Tổng vốn đầu tư của công trình là 535 tỷ đồng từ nguồn tráiphiếu Chính phủ và ngân sách của địa phương
Ngày 01/02/2016, Bệnh viện được nâng lên bệnh viện hạng I theo quyết định số1401/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Bệnh viện có tổng diện tích 21
ha, 1178 giường bệnh, 553 cán bộ viên chức, 32 khoa phòng (7 phòng chức năng, 7khoa cận lâm sàng và 18 khoa lâm sàng) Chất lượng Bệnh viện năm 2016: theo bộtiêu chí chất lượng của Bộ Y tế đạt mức 3,34/5 của bậc thang chất lượng
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị là bệnh viện tuyến tỉnh và là bệnh viện vệ tinhcủa Bệnh viện TW Huế, với số lượt khám bệnh trung bình 400 - 500 bệnh nhân/ngày
và số lượt điều trị nội trú 900 - 1200 bệnh nhân/ngày Để khẳng định năng lực đúngvới tầm vóc của bệnh viện đa khoa hạng I trong việc khám chữa bệnh cho nhân dântỉnh nhà, các tỉnh lân cận và nước bạn Lào, bệnh viện đã đẩy mạnh phát triển các dịch
vụ kỹ thuật cao trên đầy đủ các lĩnh vực: nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, phụ sản,chuyên khoa và cận lâm sàng Đội ngũ nhân viên y tế giàu kinh nghiệm, tay nghề vàtrình độ cao (2 Tiến sĩ, 14 Bác sĩ CKII, 17 Thạc sỹ, 36 Bác sĩ- Dược sĩ CKI), phươngtiện kỹ thuật hiện đại, thái độ phục vụ tận tình Tất cả nhằm hướng tới một mục đíchchung là đem lại kết quả điều trị tốt nhất cho người bệnh.[16]
Đại học kinh tế Huế