1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN kinh nghiệm bồi dưỡng giao lưu“tiếng việt của chúng em” dành cho học sinh dân tộc thiểu số

22 578 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 884,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh dân tộc thiểu số DTTS đã trở thành hoạt động thiết thực của ngành Giáo chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, học tậ

Trang 1

I Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một phong tục,

tập quán và chữ viết riêng, nhưng điểm chung là tất cả các dân tộc đều sử dụng

tiếng Việt để giao tiếp và học tập

Trong những năm gần đây, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho

học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) đã trở thành hoạt động thiết thực của ngành Giáo

chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, học tập và rèn luyện kỹ năng tiếng Việt cho các em

DTTS tại các trường tiểu học trong toàn huyện, toàn tỉnh, mà còn là một sân chơi

bổ ích, góp phần phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, giúp học sinh yêu

thích môn học Tiếng Việt Đồng thời xoá đi rào cản về ngôn ngữ giữa tiếng Việt

và tiếng dân tộc, giúp các em được giao lưu, học hỏi, tự tin, mạnh dạn hơn trong

học tập và sinh hoạt Chính vì vậy, để hoạt động giao lưu “Tiếng Việt của chúng

em” dành cho học sinh DTTS tại các cơ sở có chất lượng đòi hỏi các nhà trường

cần chú trọng, quan tâm giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và công tác bồi

dưỡng các kĩ năng sử dụng tiếng Việt nói riêng là vô cùng quan trọng

Đối với bản thân, nhiều năm được nhà trường cũng như Lãnh đạo Phòng

Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) phân công nhiệm vụ bồi dưỡng các em học sinh

DTTS tham gia giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cấp huyện, cấp tỉnh Mặc dù

đối tượng học sinh khi tham gia giao lưu các cấp đã được chọn lọc trong tổng số

học sinh DTTS của toàn trường (đối với cấp huyện) và từ các đơn vị (đối với cấp

tỉnh) nhưng tôi thấy: phần lớn kĩ năng nói, viết, sử dụng tiếng Việt của các em còn

hạn chế, thiếu tự tin trước tập thể; nhiều em thực sự chưa có năng khiếu về múa,

hát hoặc hùng biện, Đó là khó khăn lớn nhất của bản thân cũng như giáo viên

thực hiện công tác bồi dưỡng Là một cán bộ quản lý, tôi luôn băn khoăn, suy nghĩ

làm thế nào để khắc phục khó khăn trên để luôn giữ vững và phát huy các thành

tích đã đạt được, góp phần nâng cao chất lượng học tập các môn học, giúp các em

DTTS yêu tiếng Việt hơn và mạnh dạn, tự tin trước tập thể Xuất phát từ những lí

do trên, năm học này tôi quyết định chọn đề tài “Kinh nghiệm bồi dưỡng Giao lưu

Tiếng Việt của chúng em dành cho học sinh dân tộc thiểu số” để nghiên cứu

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Giúp học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường phát triển tốt các kĩ năng

nghe, nói, đọc, viết; yêu thích tiếng Việt và mở rộng vốn hiểu biết về tiếng Việt

Trang 2

Giúp học sinh tự tin, mạnh dạn trước tập thể, yêu quý bản sắc văn hóa dân tộc, từ

đó vận dụng tốt vào các môn học và hoạt động giáo dục

Nghiên cứu thực trạng của đơn vị và đưa ra một số biện pháp giúp học sinh

ham thích học tập môn Tiếng Việt, nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học

sinh DTTS và chất lượng môn Tiếng Việt trong trường nhằm đáp ứng yêu cầu đổi

mới hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Công tác bồi dưỡng giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh

dân tộc thiểu số

4 Giới hạn của đề tài

Chất lượng học sinh dân tộc thiểu số tham gia giao lưu “Tiếng Việt của

chúng em” cấp huyện, cấp tỉnh của trường TH Trần Phú qua các năm học 2012 -

2013 đến năm học 2016 - 2017

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp trải nghiệm thực tế

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

II Phần nội dung

1 Cơ sở lý luận

Năm học 2009 - 2010, các Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc

Giang, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai,… đã triển

khai hoạt động giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và đạt được kết

quả đáng khích lệ Các Sở Giáo dục và Đào tạo trên đều nhận thấy: Chương trình

giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” rất bổ ích cho học sinh dân tộc thiểu số cấp

tiểu học, giúp các em được giao lưu học hỏi, nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt

Để tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua học tốt môn Tiếng Việt của học sinh dân

tộc thiểu số, ngày 18/11/2010 đồng chí Mông Ký Slay - Vụ trưởng Vụ Giáo dục

Dân tộc - thay mặt Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai công văn số

7758/BGDĐT-GDDT V/v tổ chức giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cho học

sinh DTTS chỉ đạo yêu cầu các Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục tổ chức hoạt động

giao lưu tiếng Việt cho học sinh DTTS với chủ đề “Tiếng Việt của chúng em”

Hình thức tổ chức là thành lập các đội tham gia giao lưu ở các cấp (cấp trường, cấp

Trang 3

huyện, cấp tỉnh); tiến hành giao lưu giữa học sinh các lớp trong khối, giữa các

trường trong huyện và giữa các huyện trong tỉnh Tổ chức chấm điểm cho mỗi nội

dung giao lưu để tạo không khí thi đua giữa các lớp, các trường, các huyện, các

tỉnh

Đắk Lắk là nơi hội tụ 47 dân tộc anh em cùng chung sống, tạo cho mảnh đất

này có nền văn hóa vô cùng đặc sắc và đa dạng Chiếm hơn 32% tổng dân số trên

địa bàn tỉnh, con em đồng bào dân tộc thiểu số sống trải đều khắp từ nông thôn đến

thành thị.Theo thống kê đầu năm học 2017-2018, tỉ lệ học sinh DTTS cấp tiểu học

chiếm số lượng cao nhất (trên 40% số học sinh toàn tỉnh) Vì thế tỉnh Đắk Lắk đã

có nhiều biện pháp tích cực trong việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

như: chỉ đạo dạy tăng thời lượng môn Tiếng Việt cho học sinh lớp Một từ 350 tiết

lên 500 tiết; tổ chức dạy học theo tài liệu Bài tập bổ trợ tiếng Việt cho học sinh các

lớp 1,2,3; ưu tiên dạy 2 buổi/ngày đối với học sinh lớp 1, Đặc biệt, quan tâm chỉ

đạo các đơn vị trường học từ cấp trường đến cấp tỉnh đẩy mạnh hoạt động giao lưu

“Tiếng Việt của chúng em” Tính đến nay, Sở GD&ĐT Đắk Lắk đã tổ chức nhiều

hoạt động sáng tạo, thiết thực, trong đó có 03 lần tổ chức hoạt động giao lưu

“Tiếng Việt của chúng em” cho học sinh DTTS cấp tỉnh

Hiện nay, toàn ngành đang tiếp tục thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và

toàn diện giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, nâng cao hơn

nữa chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục học sinh dân tộc, Đề án 1008/QĐ-CP về

tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số”

giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 của Chính phủ thực sự có ý

nghĩa Việc đưa tiếng Việt đến với học sinh tiểu học nói chung và học sinh dân tộc

thiểu số nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, góp phần tạo nền tảng vững chắc

để các em tiếp thu kiến thức của những môn học khác và giao tiếp tự tin hơn Để

tiếp thêm tình yêu tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, phát triển cho các em

bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kĩ năng sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo,

giúp các em tự tin, mạnh dạn khi đến trường, hàng năm trường Tiểu học Trần Phú

đã chú trọng hoạt động giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh

DTTS và tổ chức dạy học tăng thời lượng đối với môn Tiếng Việt cho các em học

sinh tại Phân hiệu Buôn Trấp

2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Trường Tiểu học Trần Phú là một đơn vị hàng năm có sĩ số học sinh đông

nhất toàn huyện, trong đó tỉ lệ học sinh DTTS chiếm khá cao (219/721 em, tỉ lệ

33,3%) và có một điểm trường với 100% học sinh là người dân tộc thiểu số tại chỗ

Mặc dù nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, đội ngũ giáo viên có

Trang 4

năng lực chuyên môn vững vàng và đã tổ chức dạy học Tiếng dân tộc (tiếng Ê-đê)

cho các em học sinh từ lớp 3 đến lớp 5 tại phân hiệu Buôn Trấp nhưng chất lượng

môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác của học sinh DTTS hàng năm vẫn còn

thấp so với học sinh toàn trường Ngoài ra, hàng năm việc tổ chức giao lưu “Tiếng

Việt của chúng em” dành cho học sinh DTTS cấp trường và công tác bồi dưỡng đội

tuyển tham gia giao lưu các cấp cũng gặp rất nhiều khó khăn Tất cả những vấn đề

trên đều xuất phát từ một số nguyên nhân sau :

- Đa số học sinh DTTS học tập tại nhà trường khả năng tiếp thu chậm, vốn

tiếng Việt hạn chế, khó khăn về cách phát âm Nhiều em đọc viết chưa thông thạo,

kĩ năng giao tiếp thiếu mạnh dạn trước tập thể Tỉ lệ học sinh lưu ban hàng năm tại

phân hiệu còn cao

- Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt của học sinh DTTS tại gia đình và

cộng đồng hạn hẹp và không thuần nhất

- Nhiều tiết tiếng Việt giáo viên chưa gây được hứng thú học tập cho các em

- Một số giáo viên chưa quan tâm tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa nên

chưa khích lệ, lôi cuốn học sinh tham gia một cách tích cực

- Đội tuyển các khối lớp tham gia giao lưu cấp trường chất lượng chưa cao

Việc tìm kiếm trang phục và các phụ kiện đúng nguồn gốc, đúng nguyên bản của

từng dân tộc xưa kia để lại rất là hiếm hoi

* Những yếu tố tác động các nguyên nhân trên là:

Thứ nhất, nhiều học sinh hoàn cảnh gia đình kinh tế còn khó khăn, bố mẹ đi

làm ăn xa nhà, chưa quan tâm đúng mực về việc học tập của các con, còn giao

khoán cho nhà trường

Thứ hai, thực tế cho thấy học sinh DTTS chỉ sử dụng tiếng Việt khi ở trường,

còn khi về nhà các em giao tiếp với bố mẹ và cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ Đó

chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng

Việt của các em gặp nhiều khó khăn Do đó, việc xây dựng môi trường tiếng Việt

cho học sinh DTTS ngay tại gia đình và cộng đồng là việc làm không thể thiếu

nhằm tăng cường tiếng Việt thực sự hiệu quả

Thứ ba, vì trình độ nhận thức của các em chưa đồng đều, nhiều em bị hổng

kiến thức cơ bản từ các lớp dưới Vì thế, trong tiết học giáo viên vừa giảng lại kiến

thức cũ, vừa hướng dẫn các em lĩnh hội kiến thức mới nên không có thời gian để tổ

chức các phương pháp, hình thức dạy học theo hướng đổi mới

Trang 5

Thứ tư, bản thân một số giáo viên năng khiếu hạn chế, chưa làm tốt công tác

phối hợp với các đoàn thể để tổ chức phong phú hoạt động tập thể Vì thế, chưa

khích lệ, lôi cuốn học sinh tham gia một cách tích cực, dẫn đến các em còn rụt rè,

nhút nhát hoặc chưa hòa đồng với bạn bè

Thứ năm, học sinh DTTS vốn tiếng Việt và năng khiếu hạn chế, thiếu mạnh

dạn trước tập thể nên các em thực hiện các phần chào hỏi hay năng khiếu của cả

đồng đội chưa đều, chưa làm chủ phần trình bày của mình Hơn nữa, các đội chưa

chú ý tuyển chọn học sinh theo hình thức “đa dân tộc” để làm phong phú sắc màu

của đội tuyển Một số giáo viên chưa hiểu rõ phong tục, tập quán của các dân tộc

thiểu số, đặc biệt là dân tộc thiểu số phía Bắc (Tày, Nùng, Mường, Thái) nên trong

công tác bồi dưỡng chưa truyền được cảm hứng để các em thâm nhập một cách

hiệu quả cũng như khó khăn trong tìm kiếm trang phục của mỗi dân tộc

Từ những khó khăn trên, các cơ sở giáo dục trong địa bàn huyện nhiều năm

qua đã tổ chúc tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên về việc tăng cường dạy

tiếng Việt cho học sinh DTTS, tổ chức các hoạt động thiết thực, bổ ích như giao

lưu tiếng Việt, Riêng trường TH Trần Phú cũng đã thực hiện nhiều giải pháp để

nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt và đạt hiệu quả cao trong các đợt giao

lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh DTTS cấp huyện, cấp tỉnh

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

3.1 Mục tiêu của giải pháp

- Tìm ra nguyên nhân cơ bản dẫn đến học sinh dân tộc thiểu số yếu về kỹ

năng nói, viết tiếng Việt và một số biện pháp phù hợp trong việc rèn bồi dưỡng học

sinh dân tộc thiểu số có kĩ năng sử dụng tiếng Việt linh hoạt, chính xác

- Nâng cao chất lượng học tập nói chung; chất lượng nghe, nói, đọc, viết

tiếng Việt của các em học sinh dân tộc thiểu số nói riêng

- Nâng cao chất lượng học sinh tham gia “Tiếng Việt của chúng em” dành

cho HSDTTS ở các cấp

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

a) Nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa của hoạt động giao lưu tiếng

Việt dành cho học sinh dân tộc thiểu số

Một trong những đặc điểm của học sinh DTTS nói chung và học sinh DTTS

Tây Nguyên nói riêng: vốn tiếng Việt và môi trường giao tiếp hạn hẹp, nhất là về

cách phát âm Ở nhà, đa số phụ huynh thường giao tiếp với con em bằng tiếng mẹ

đẻ Do đó, kĩ năng sử dụng tiếng Việt của các em phát triển chậm, vấn đề “rào cản”

Trang 6

ngôn ngữ khiến đa số các em nhút nhát, ngại giao tiếp Đó cũng là nguyên nhân dẫn

đến các em không thích học môn Tiếng Việt và học chưa tốt các môn học khác

Với việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển kĩ

năng cho học sinh như hiện nay và chú trọng nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt

cho học sinh DTTS, trong những năm gần đây các cơ sở giáo dục đã rất quan tâm

tới hoạt động giao lưu tiếng Việt Bởi mục đích của hoạt động này nhằm đẩy mạnh

phong trào thi đua dạy tốt, học tốt môn Tiếng Việt trong các nhà trường; bồi đắp

tình yêu tiếng Việt, nâng cao các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kĩ năng sử dụng

tiếng Việt để học tập, giao tiếp đối với học sinh dân tộc thiểu số Đồng thời tạo sân

chơi trí tuệ, bổ ích giúp các em học sinh DTTS có cơ hội tiếp cận, học hỏi lẫn nhau,

luôn luôn có lòng tự tin và tinh thần hợp tác với tập thể Chính vì vậy, việc tổ chức

giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cho học sinh dân tộc thiểu số là một hoạt động

ngoại khóa bổ ích và thiết thực

Để hoạt động giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cho học sinh dân tộc thiểu

số hàng năm tại đơn vị thực sự có hiệu quả, bản thân đã làm tốt việc nâng cao nhận

thức đến đội ngũ giáo viên: tập trung dạy chắc kiến thức cơ bản các môn học (đặc

biệt là môn Tiếng Việt), chú trọng rèn các kĩ năng cần thiết (nghe, đọc, nói, viết và

kỉ năng sử dụng tiếng Việt), quan tâm giúp các em hiểu thêm nét văn hóa đặc trưng

của dân tộc mình, giáo dục học sinh tinh thần đoàn kết thân ái trong các lớp và toàn

nhà trường, Và yêu cầu tất cả giáo viên xem đây là một hoạt động thường niên,

quan trọng, gắn với tinh thần trách nhiệm của mỗi người

b) Lập kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị

Thông thường nội dung giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học

sinh DTTS gồm có 4 phần: Giao lưu đồng đội; Kiến thức tiếng Việt ; Hùng biện và

Năng khiếu

Bám sát nội dung kế hoạch của các cấp, căn cứ vào tình hình thực tế của đơn

vị, bản thân đã xây dựng nội dung kế hoạch tổ chức như sau:

- Đối với cấp tổ: Giao quyền chủ động cho tổ trưởng tổ chuyên môn lên kế

hoạch, linh hoạt về nội dung và phối hợp với các giáo viên chủ nhiệm trong tổ để tổ

chức Mỗi tổ chọn 05 học sinh nổi trội tiến hành bồi dưỡng tham gia giao lưu cấp

trường

- Đối với cấp trường: Tổ chức giao lưu theo hình thức tập trung, bao gồm

các nội dung sau:

+ Phần 1: Phần giao lưu đồng đội (12 phút)

Trang 7

Các thành viên trong đội tự giới thiệu về mình, về đội mình bằng tiểu phẩm,

múa hát, hò, vè, … mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

+ Phần 2: Phần kiến thức tiếng Việt (20 phút)

Mỗi học sinh nghe - viết một bài thơ hoặc đoạn văn bằng kiểu chữ viết tự

chọn Riêng học sinh lớp 1 viết một số tiếng, từ (cỡ chữ nhỡ) và câu ứng dụng (cỡ

chữ nhỏ) theo mẫu chữ quy định

+ Phần 3: Phần năng khiếu (10 phút)

Các thành viên trong đội tham gia trình bày bằng tiểu phẩm hoặc hát múa

+ Phần 4: Phần hùng biện (5 phút)

Mỗi đội cử 01 đại diện nói về tình cảm của em với thầy cô, bạn bè trong lớp

Các nội dung trên sẽ được linh động trong từng khối lớp Riêng khối 1 và 2

chỉ tham gia ba nội dung đầu, phần hùng biện không bắt buộc Số lượng học sinh

tham gia ít nhất 05 em/khối So với kế hoạch của Phòng GD&ĐT, tôi đã xây dựng

nội dung kế hoạch giao lưu cấp trường theo hướng mở, linh động giữa các khối,

không tạo áp lực thi cử mà chủ yếu giúp các em được giao lưu với bạn bè, được

nói, viết và sử dụng tiếng Việt trước tập thể nhằm tạo một sân chơi bổ ích, lí thú

c) Thành lập đội tuyển và hội đồng bồi dưỡng

- Thành lập đội tuyển :

Để hoàn thành các phần thi khi tham gia giao lưu “Tiếng Việt của chúng em”

đòi hỏi mỗi học sinh DTTS phải đọc thông thạo, phát âm chuẩn, viết đúng lỗi chính

tả, nắm chắc kiến thức cơ bản môn Tiếng Việt và thực sự có năng khiếu về hát hoặc

múa, diễn xuất, Vì thế, việc lựa chọn học sinh đảm bảo đáp ứng các phần thi trên

để bồi dưỡng là vô cùng khó khăn Ngoài ra, trường chúng tôi quan tâm đến việc

thành lập đội tuyển đa sắc màu về cả trang phục, phong tục, tập quán của nhiều dân

tộc thiểu số đến từ các vùng miền khác nhau nhằm tạo sự phong phú, đa dạng trong

phần thi “giao lưu đồng đội”

Chẳng hạn: Toàn trường có 219 em DTTS, trong đó: Ê-đê 154 em, Thái 04

em, Mường 56 em, Nùng 03 em, Sán chỉ 01 em và H’rê có 01 em Song khi thành

lập đội tuyển, chúng tôi không chọn tập trung các em dân tộc Mường, Ê-đê mà

chọn trải đều 06 em với sáu loại hình dân tộc khác nhau và chọn có số dư so với số

lượng quy định để trong quá trình bồi dưỡng có phương án loại trừ một số em

chậm

Trang 8

Căn cứ vào kết quả thực tế tại buổi giao lưu, Ban tổ chức cấp trường tiến

hành thành lập đội tuyển với số lượng học sinh theo quy định (06 em: từ lớp 3 đến

lớp 5, mỗi khối 02 em) và cử giáo viên bồi dưỡng để tham gia giao lưu cấp huyện

Trong những năm qua, trường Tiểu học Trần Phú tổ chức cho học sinh giao lưu cấp

trường bài bản nên các đợt tham gia giao lưu cấp huyện đều đạt kết quả rất cao

Theo tôi, để đạt được kết quả đó là vì các em đã có sự trải nghiệm, trau chuốt về kĩ

năng nói, viết và sử dụng tiếng Việt, kĩ năng hợp tác, kĩ năng đứng trước tập thể,

qua buổi sinh hoạt giao lưu cấp trường

- Thành lập hội đồng bồi dưỡng :

+ Cấp trường:

Chủ tịch hội đồng bồi dưỡng: Hiệu trưởng

Phó chủ tịch hội đồng bồi dưỡng: Phó Hiệu trưởng

Các thành viên hội đồng bồi dưỡng: Các tổ trưởng tổ chuyên môn, giáo viên

dạy Âm nhạc, Mĩ thuật và Chi đoàn thanh niên

+ Cấp huyện :

Phòng Giáo dục và Đào tạo thành lập đội tuyển và hội đồng bồi dưỡng Đội

tuyển học sinh được lựa chọn từ nhiều đơn vị ; hội đồng bồi dưỡng được điều động

một số giáo viên hoặc cán bộ quản lí có năng lực, có kinh nghiệm; giáo viên dạy

Âm nhạc, Mĩ thuật thực sự có năng khiếu làm thành viên Bởi Giao lưu “Tiếng Việt

của chúng em” thực hiện nhiều phần, các phần không những liên quan đến kiến

thức tiếng Việt mà còn đòi hỏi năng khiếu diễn xuất, hát, múa,… Vì thế, các thành

viên trong tổ bồi dưỡng mỗi người một nhiệm vụ khác nhau song luôn hỗ trợ nhau

trong quá trình tập luyện

d) Xây dựng nội dung và quy trình bồi dưỡng tham gia giao lưu các cấp

* Phần giao lưu đồng đội (Chào hỏi):

Lần lượt từng thành viên trong đội tuyển giới thiệu về nét văn hóa cơ bản đặc

trưng của dân tộc mình như: trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, sinh hoạt,…

thông qua đọc vè, đọc thơ Qua phần giao lưu đồng đội giúp các em hình thành kĩ

năng giao tiếp trực tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt, từ đó các em hiểu và yêu mến

dân tộc của mình hơn

- Đầu tiên, xác định hình thức thể hiện: Để viết được kịch bản hay, nội dung

vừa thể hiện rõ nét đặc trưng của từng dân tộc, vừa vui nhộn thì chúng tôi đã chọn

hình thức đọc vè hoặc tiểu phẩm ngắn kết hợp đọc ráp

Trang 9

- Xây dựng nội dung kịch bản: Tìm nét đặc trưng về phong tục tập quán, văn

hóa của từng dân tộc để đưa vào nội dung kịch bản Lựa chọn trang phục phù hợp,

đúng nguồn gốc mỗi DTTS Chẳng hạn:

+ Dân tộc Nùng: có làn điệu dân ca đậm đà bản sắc dân tộc đó là hát Sli

Nghề nghiệp chính là trồng lúa, ngô và cây hồi ; món ăn độc đáo là món "Khau

nhục" Hàng năm, vào độ tháng giêng có lễ hội "Lồng tồng”

+ Dân tộc Mường: Trang phục là váy màu áo pắn Các trò chơi dân gian

gồm: ném còn, bắn nỏ, cồng, nhị, sáo, khèn; lễ hội đầu năm thường múa sạp, hát

đồng dao, hát đối,

+ Dân tộc Ê-đê: là nơi có rừng cà phê bạt ngàn Nghề nghiệp chính là trồng

lúa, hoa màu; lễ hội ăn mừng lúa mới, mọi người đánh cồng chiêng, hát xoan, uống

rượu cần,

+ Dân tộc Thái: Trang phục truyền thống nữ là áo ngắn bó sát người có hàng

xôi nếp, cơm lam Lễ hội thường múa sạp, múa xòe hoa, cá suối nướng than,

- Viết kịch bản: bằng thơ 4 đến 5 chữ (đối với hình thức đọc vè) hoặc bằng

văn xuôi theo lời thoại của các nhân vật kết hợp thơ (đối với tiểu phẩm),

- Thẩm định kịch bản: Lãnh đạo nhà trường góp ý, bổ sung; tổ bồi dưỡng

hoàn chỉnh kịch bản

Trang phục truyền thống các DTTS (tính theo thứ tự từ trái sang phải) :

Mường (số 1&9), Ê-đê (số 2, 7&8), H’rê (số 3), Thái (số 4), Tày (số 5), Nùng (số 6)

Trang 10

- Cuối cùng là khâu tập luyện: Trước khi tập luyện, giáo viên yêu cầu các em

học thuộc kịch bản, phân vai, phân đoạn phù hợp với từng học sinh hoặc cả đồng

hình, cách thể hiện ngữ điệu, biểu cảm trong khi trình bày Phối hợp với giáo viên

phụ trách Công nghệ thông tin của nhà trường tìm một số hình ảnh minh họa phù

hợp với nội dung kịch bản (như: trò chơi ném còn, múa sạp, hát xoan, đánh cồng

chiêng, thồi khèn, sáo, hát sli trong các lễ hội ; các món ăn cơm lam, món khau

nhục, cá suối nướng than, ) Thiết kế chạy trên phần mềm và trình chiếu khi học

sinh hùng biện Hướng dẫn các em biết tương tác với những hình ảnh đã đưa ra

* Phần kiến thức:

Đây là một bài thi viết bao gồm hệ thống câu hỏi, bài tập tự luận và trắc

nghiệm liên quan đến kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, tập làm văn trong

chương trình tiểu học lớp 3,4,5

Vì vậy, chúng tôi chia đội tuyển thành hai nhóm để bồi dưỡng: lớp 3 và lớp

4, 5 Căn cứ vào chương trình môn Tiếng Việt từng khối lớp, tôi tiến hành bồi

dưỡng kiến thức theo chương trình học từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao

Trong quá trình ôn kiến thức, tôi ra bài kiểm tra giấy gồm hai phần: trắc nghiệm

(10 câu thuộc các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu) và tự luận (01 câu

thuộc phân môn Tập làm văn) Qua kiểm tra nhằm đánh giá kĩ năng viết chính tả,

tập làm văn và khả năng nắm bắt kiến thức về môn Tiếng Việt của học sinh DTTS

tại nhà trường, từ đó có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung kiến thức cho các em kịp thời

Phần giao lưu đồng đội năm học 2016 - 2017

Trang 11

hoặc có thể loại dần đối với một số em còn non chưa đáp ứng được trong các đợt

giao lưu các cấp

* Phần hùng biện:

Tương tự như phần “giao lưu đồng đội”, bám vào nội dung ba chủ đề của

Ban tổ chức quy định, tôi phân công nhiệm vụ trong tổ bồi dưỡng viết các bài hùng

biện Tiến hành thẩm định, chỉnh sửa nội dung (nếu có) Trao đổi ý tưởng với đồng

chí phụ trách công nghệ thông tin để thiết kế hình ảnh minh họa phù hợp cho từng

chủ đề

Chọn khoảng 2 đến 3 học sinh có

chất giọng tốt nhất và có kĩ năng học

thuộc nhanh để giao bài cho các em (mỗi

em khoảng 02 chủ đề) Cùng với giáo

viên Âm nhạc tiến hành tập luyện, hướng

dẫn các em cách di chuyển đội hình,

giọng điệu, biểu cảm, cách tương tác với

hình ảnh, với khán giả, trong khi trình

bày Qua phần hùng biện, Ban tổ chức sẽ

đánh giá được khả năng diễn thuyết bằng

tiếng Việt và tính mạnh dạn, tự tin trước

tập thể của từng học sinh

* Phần năng khiếu:

Đây là phần giao lưu thu hút khán giả nhiều nhất Các em được thể hiện năng

khiếu của bản thân qua các phần như: kể chuyện, hát, múa, kịch, tạo nên không

khí vui tươi, giúp các em thêm yêu tiếng Việt, từ đó kích thích sự hứng thú, say mê

học tập môn Tiếng Việt

Đầu tiên, các thành viên trong tổ bồi dưỡng thảo luận, nêu ý tưởng, chọn lựa

nội dung và hình thức giao lưu Tiếp theo, giao nhiệm vụ cho giáo viên dạy Âm

nhạc tập luyện và có sự giám sát của tổ bồi dưỡng

Để xây dựng một màn trình diễn ấn tượng, thuyết phục và lấy được lòng

khán giả, chúng tôi lựa chọn nội dung mang tính thời sự hoặc là điểm “nóng” về

những vấn đề nổi cộm của xã hội để dàn dựng tiết mục Chẳng hạn: Trong đợt giao

lưu tiếng Việt cấp tỉnh năm học 2013 - 2014, tình hình an ninh chính trị ở biển

Đông bất ổn bởi thời điểm đó quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của nước ta và vùng

biển một số nước khác đang nằm trong tầm ngắm của bọn giặc Vì vậy, chúng tôi

mạnh dạn chọn phần thi năng khiếu với hình thức hát múa phụ họa liên khúc

Phần hùng biện của em H’ Trang Byă giao lưu NH 2016 - 2017

Ngày đăng: 04/05/2018, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w