Quản lý việc lập kế hoạch, chương trình giảng dạy của CBGV Vào năm học mới, nhà trường yêu cầu các giáo viên, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch, trên cơ sở đó Ban giám hiệu tổng hợp, xây
Trang 1Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 1
PHÒNG GD & ĐT KRÔNG ANA TRƯỜNG THCS BĂNG ADRÊNH
MỘT SỐ KINH NGHIỆM:
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS BĂNG ADRÊNH,
HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐĂK LĂK
Họ và tên : Nguyễn Anh Tuấn Đơn vị công tác: Trường THCS Băng Adrênh Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm Môn đào tạo : Toán
Krông Ana, tháng 03 năm 2018
Trang 2Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 2
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình phát triển của loài người là quá trình phân công lao động xã hội Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội càng cụ thể, rõ ràng hơn Trong mỗi thời kỳ lịch sử, nền giáo dục Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp trồng người Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (NQ 29-NQ/TW) đề ra, Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra phương hướng: Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát triển GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội (KT – XH), xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học, công nghệ; phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD & ĐT; phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực
Hiện nay, chúng ta đang khẩn trương tiến hành một “cuộc cách mạng” về giáo dục, bảo đảm cho giáo dục Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
Sự nghiệp GD có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chăm lo phát triển Giáo dục và Đào tạo
là chìa khoá để phát huy nguồn nhân lực con người, là yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh, bền vững Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” Vấn đề nâng cao chất lượng DH ở các trường
trung học cơ sở (THCS) đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khoa học khác nhau Tuy nhiên, ở huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện
Từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu vấn đề: “Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
3 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
4 Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học và công tác quản lý hoạt động dạy học
ở trường THCS Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
Thời gian : Từ năm học 2016 – 2017 đến HK I năm học 2017- 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 3
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học trường trung học cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở
và thu thập thêm những thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê và các phần mềm để xử lý các kết quả nghiên cứu
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
Chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới thì giáo dục luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Trong Giáo dục và Đào tạo quản lý là nhân tố giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học cần có rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng không thể thiếu được nó quyết định tới chất lượng giáo dục
và sự phát triển giáo dục đó chính là các chế định giáo dục là những văn bản có tính pháp quy của Nhà nước như: Chỉ thị số 14/2001/CT- TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Chỉ thị số 33/2006CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực trong thi cử và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục; Điều lệ trường THCS và THPT ban hành kèm theo thông tư số 12/2011/TT-BGD&ĐT; phân phối chương trình, Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập Thông tư số 30/2009/TT-BGD&ĐT ban hành Quy chế Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS; Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục; Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT; Công văn số 1392/BGDĐT-GDTrH về việc đánh giá học sinh THCS mô hình trường học mới từ năm học 2016-2017; Công văn số 5333/ BGDĐT-GDTrH về việc triển khai đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn Tiếng Anh cấp trung học từ năm học 2014 – 2015
Trong công tác quản lý các hoạt động giáo dục ở nhà trường đòi hỏi sự chỉ đạo của CBQLphải mang tính toàn diện Đặc biệt quản lý hoạt động dạy học phải được coi
là khâu đột phát để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) có hiệu quả được xem là khâu đột phá để nâng cao chất lượng học tập của người học, đây cũng chính là vấn đề cấp thiết được quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
+ Trường THCS Băng Adrênh được thành lập năm 2006 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2010, trường có quy mô nhỏ, với 8 lớp và trên 180 học sinh Đặc điểm của trường là hầu hết giáo viên là mới ra trường, không phải là người địa phương
Trang 4Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 4
nên thường xuyên luân chuyển, số lượng học sinh đồng bào chiếm trên 40% nên khó khăn cho việc quản lý hoạt động dạy và học
So với năm học 2016-2017 số lớp tăng thêm 01 lớp, số học sinh tảng 14
em so với sĩ số đầu năm, lý do số lượn học sinh lớp 6 tuyển mới tăng hơn cùng
kì năm trước
Xuất phát điểm của trường là đứng ở tốp cuối so với các trường trong huyện Trong những năm gần đây trường đã phấn đấu đạt danh hiệu trường tiên tiến, chi bộ Đảng đạt TSVM Hàng năm, tỷ lệ bình quân chất lượng mũi nhọn của trường có những tiến bộ rõ rệt
2.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên
2.1.1 Quản lý việc lập kế hoạch, chương trình giảng dạy của CBGV
Vào năm học mới, nhà trường yêu cầu các giáo viên, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch, trên cơ sở đó Ban giám hiệu tổng hợp, xây dựng chỉ tiêu của các mặt hoạt động
và định hướng các biện pháp thực hiện trong đó kế hoạch giảng dạy là nội dung quan trọng Sau đó kế hoạch được đưa về các tổ chuyên môn, các đoàn thể trong trường bàn, thảo luận và đóng góp ý kiến Khi các tổ chuyên môn, các tổ chức trong nhà trường đã bàn kỹ về các chỉ tiêu, biện pháp thực hiện các hoạt động của nhà trường trong năm học sẽ tiến hành thảo luận chung trong hội nghị công nhân viên chức đầu năm học
Với quy trình như trên, các kế hoạch được thảo luận một cách công khai, dân chủ, mỗi thành viên trong nhà trường đều có trách nhiệm thực hiện Khi kế hoạch đã được thống nhất trong hội nghị công nhân viên chức, các tổ chuyên môn sẽ căn cứ vào tình hình thực tế của tổ chức để lên kế hoạch chi tiết của tổ cho phù hợp với kế hoạch chung của nhà trường Mỗi tổ viên căn cứ vào nhiệm vụ giảng dạy được giao lên kế hoạch cho riêng mình sát với tình hình thực tế công việc mà mình đảm nhận và hướng theo kế hoạch chung của tổ, của trường
Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo cán bộ giáo viên lập kế hoạch nhiệm vụ năm học theo mẫu thống nhất gọi là: “Kế hoạch công tác cá nhân năm học 20…-20…” Tuy nhiên khoảng 10% cán bộ giáo viên lập kế hoạch nhiệm vụ năm học chất lượng chưa cao, chủ yếu là giáo viên trẻ mới ra trường Điểm yếu, tồn tại của các bản kế hoạch thể
Trang 5Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 5
hiện ở chỗ người lập kế hoạch chưa có hệ thống biện pháp thực hiện mục tiêu chất lượng giáo dục, đăng kí chỉ tiêu chất lượng còn thụ động, máy móc, tính khả thi thấp
Bảng 2.1: Kết quả đánh giá thực trạng lập kế hoạch năm học
Chất lượng xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ năm học
2.1.2 Quản lý việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của giáo viên
Qua điều tra phỏng vấn các đồng chí giáo viên, tìm hiểu tình hình thực tế ở trường cho thấy: Giáo viên rất chú trọng khâu bài soạn trước khi lên lớp, xuất phát từ quan niệm rằng một kế hoạch bài dạy tốt là cơ sở vững chắc cho một giờ dạy tốt Trên cơ sở quy định chung về mẫu bài soạn do Phòng GD&ĐT thống nhất, quản
lý chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn cụ thể hoá quy định đối với những loại bài soạn
có đặc trưng riêng như tiết thực hành, tiết ôn tập, tiết kiểm tra, tiết tự học có hướng dẫn…Đồng thời cũng thống nhất quy định chất lượng đối với từng loại bài
Quản lý thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị bài soạn đầy đủ trước khi lên lớp, bài soạn phải theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy, phù hợp với yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa Bài soạn phải có đủ các bước lên lớp thể hiện được các hoạt động của thầy và trò, phù hợp với nội dung bài học và khả năng tư duy của học sinh đồng thời có phương án hướng dẫn học sinh tự đọc, tự học, tự tìm hiểu để chủ động tiếp thu kiến thức Bài dạy của giáo viên phải bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng qui định của chương trình, không tự ý cắt xén nội dung bài dạy, tăng cường sử dụng thiết bị thí nghiệm đồ dùng dạy học, phát huy trí thông minh sáng tạo của học sinh
Kết quả kiểm tra giáo án được lưu trên sổ theo dõi riêng của ban giám hiệu và tổ trưởng chuyên môn Mỗi lần kiểm tra đều kèm theo đánh giá xếp loại về chất lượng giáo án và lời nhận xét để giáo viên điều chỉnh
Thực trạng việc soạn bài lên lớp của giáo viên đã thực hiện nghiêm túc: Soạn bài đầy đủ trước ít nhất ba ngày khi lên lớp, các bài soạn đều theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và phù hợp yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa Các bài soạn có
đủ các bước lên lớp, thể hiện được các hoạt của thầy và trò, phù hợp với nội dung bài học và khả năng tư duy của học sinh, có phương án hướng dẫn học sinh tự đọc, tự học,
tự tìm hiểu chủ động tiếp thu kiến thức Tuy nhiên việc soạn bài lên lớp của giáo viên còn một số hạn chế nhất định: Hệ thống câu hỏi chưa lôgíc, chưa thật sự sát đối tượng học sinh, chưa thể hiện đổi mới phương pháp giảng dạy; một số giáo án soạn quá dài, tham kiến thức chưa có nội dung củng cố từng phần, chốt vấn đề làm nổi bật trọng tâm của bài giảng…
2.1.3 Quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV
Thông qua việc tìm hiểu thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy của giáo viên, cho thấy:
- GV bộ môn đã nghiêm túc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, không
có hiện tượng cắt xén, dồn ép chương trình giảng dạy
- Qua theo dõi hệ thống hồ sơ quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy của giáo viên gồm: thời khóa biểu, sổ báo giảng, sổ đầu bài, vở ghi học sinh với giáo án của GV
Trang 6Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 6
bộ môn đã chứng tỏ việc thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy khá phù hợp với kết quả đánh giá của các cấp quản lý giáo dục
- Hồ sơ theo dõi dạy thay, kiểm tra việc thực hiện chương trình của giáo viên
được các nhà trường lưu giữ đầy đủ
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy của giáo viên theo đánh giá của đoàn kiểm tra Phòng GD-ĐT năm học 2016 – 2017
- Việc phân công dạy thay khi giáo viên nghỉ ốm hoặc đi công tác nhiều khi mới chỉ là “lấp chỗ trống”, tức là giáo viên dạy thay chỉ quản lớp chứ không dạy được nên dẫn đến việc chậm chương trình hoặc sau đó giáo viên phải dạy dồn tiết để bù
2.1.4 Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên
+ Về phương pháp dạy học: CBQLthông qua tổ nhóm chuyên môn đã quán triệt đầy đủ cho giáo viên về định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Tổ chức cho giáo viên học tập, bồi dưỡng nắm vững về các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực Tổ chức các chuyên đề về PPDH, phân công giáo viên cốt cán dạy minh họa
ở các tổ chuyên môn để các giáo viên khác học tập Đưa việc đổi mới phương pháp thành một tiêu chí thi đua để đánh giá tổ, nhóm chuyên môn và mỗi giáo viên Thực tế thực hiện ở các trường cho thấy hầu hết các đồng chí giáo viên đã căn cứ vào điều kiện thiết bị hiện có, bám sát vào yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, nội dung sách giáo khoa để vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với bộ môn và nội dung chương trình, sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực tư học của học sinh Đa số giáo viên đã đổi mới cách dạy, có ý thức khai thác các thiết bị và đồ dùng dạy học đối với các môn học có thí nghiệm, thực hành đã qui định trong chương trình Tuy vậy, việc sử dụng PPDH vẫn còn nhiều hạn chế, đó là:
- Còn một bộ phận không nhỏ giáo viên không theo kịp các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, không có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
do tuổi đã cao lại quá quen với lối dạy truyền thống
- Một số giáo viên khác lại do ý thức chưa tập trung cao cho chuyên môn, chưa chú ý tự học tập bồi dưỡng nên hiểu và thực hiện một cách hời hợt, hình thức, đối phó chưa mang lại hiệu quả thực sự
- Điều kiện cơ sở vật chất (CSVC), thiết bị dạy học (TBDH), thiết bị công nghệ thông tin (CNTT) của trường chưa đáp ứng đủ yêu cầu sử dụng của giáo viên
Trang 7Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 7
- Công tác quản lý HĐDH chưa thật hiệu quả
+ Về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học:
Các biện pháp quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thông qua các phương thức chủ yếu:
- Tiết kiệm chi phí để mua sắm thiết bị thông tin tối thiểu, khai thác và sử dụng Internet phục vụ cho công tác dạy học, khuyến khích giáo viên sử dụng các phần mềm dạy học ở các bộ môn đặc biệt là các bộ môn có thí nghiệm thực hành như: Hóa học, Sinh học, Vật lý
- Tổ chức tập huấn cho toàn thể giáo viên về Tin học căn bản, cách sử dụng các phần mềm dạy học, cách thiết kế bài giảng tử, cách sử dụng các TBDH…
Về kết quả thực hiện của giáo viên trên thực tế, cho thấy: Đa số giáo viên nhận thức rõ tác dụng, sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT vào dạy học và có ý thức học hỏi nghiên cứu để nắm bắt sử dụng Hầu hết, các giáo viên trẻ đã sử dụng thành thạo máy tính với các phần mềm thông dụng bằng trang thiết bị tự có của mình Việc khai thác, sử dụng, tự tích lũy, giao lưu trao đổi tài liệu dạy học qua mạng thực sự tích cực, hiệu quả Nhà trường đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu mỗi giáo viên có ít nhất 2 bài giảng điện tử trong năm học vào các đợt hội giảng cấp trường và đã thực hiện đảm bảo chỉ tiêu trên Một số giáo viên có tuổi đã rất cố gắng để tiếp cận, sử dụng CNTT vào dạy học Việc sử dụng CNTT vào dạy học đã thực sự làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn
và hiệu quả hơn
Tuy nhiên kết quả thực hiện còn nhiều hạn chế:
- Trang thiết bị CNTT của trường còn quá ít so với nhu cầu sử dụng (trường chỉ
có 1 máy chiếu projetor) nên mỗi khi hội giảng hoặc có đoàn thanh tra các đồng chí giáo viên phải đi mượn trường khác để sử dụng rất vất vả, do đó việc sử dụng thường xuyên bị hạn chế
- Do quan niệm và cách hiểu chưa đầy đủ ở một bộ phận giáo viên nên việc áp dụng CNTT chạy theo hình thức dẫn đến lạm dụng trình chiếu hạn chế việc rèn kỹ năng kỹ xảo hoặc còn sao chép bài giảng một cách vội vã dẫn đến sai sót về kiến thức, chưa phù hợp với đối tượng
+ Về hội giảng, hội học: Giáo viên và học sinh đều coi hội học, hội giảng là động
lực để động viên khích lệ phong trào dạy tốt học tốt là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên trong năm học Ở trường THCS Băng Adrênh, các thầy cô giáo và học sinh tham gia hội giảng vào 2 đợt trong năm nhân dịp các ngày kỷ niệm: Đợt I từ 15/10 -20/11; đợt II từ 3/2-26/3 Trong mỗi đợt hội giảng các thầy cô giáo đều chọn các bài khó để dạy, từ đó rút kinh nghiệm trong tổ nhóm chuyên môn, chọn ra các giờ dạy tốt tham gia hội thi GV dạy giỏi cấp huyện hàng năm do Phòng GD-ĐT tổ chức + Về sử dụng thiết bị thí nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học của giáo viên:
- Hệ thống sổ sách đăng kí sử dụng thiết bị đồ dùng, thí nghiệm được ghi chép rõ ràng, phân kì việc sử dụng theo tuần, tháng và kì học
- Mỗi giáo viên đều phải lập kế hoạch sử dụng TBDH cho từng môn dạy theo từng tháng, tuần và cả năm học ngay từ đầu năm Kế hoạch này được lưu ở ban giám hiệu (để kiểm tra) và nhân viên thiết bị (để hỗ trợ giáo viên chuẩn bị theo kế hoạch)
Trang 8Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 8
- Giáo viên bộ môn đã khai thác khá đầy đủ thiết bị đồ dùng hiện có kết hợp với thiết bị đồ dùng tự làm của giáo viên và học sinh
- Giáo viên sử dụng thiết bị đồ dùng, thí nghiệm trên giờ lên lớp đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng bài giảng, gây hứng thú, phát huy trí lực của học sinh
Tuy nhiên thực trạng sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm còn có nhiều hạn chế đáng lo ngại, ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục, đến việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy trí thông minh sáng tạo của học sinh, đó là do:
Sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm của giáo viên chủ yếu là các thí nghiệm chứng minh giờ học trên lớp Học sinh được tham gia làm thí nghiệm trên phòng thực hành
bộ môn còn ít do điều kiện CSVC, phòng thực hành, phòng học bộ môn của nhà trường không đủ đáp ứng yêu cầu giảng dạy Do tâm lý giáo viên ngại vất vả khi phải chuẩn bị cho một giờ thực hành, sợ không thành công khi thực hiện…nên nhiều giờ có
đủ điều kiện thực hiện giáo viên vẫn “dạy chay”.Thông qua tìm hiểu, phỏng vấn CBGV và học sinh, tôi thu nhận được kết quả đánh giá việc sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm của GV như sau:
Bảng 2.3: Đánh giá thực trạng sử dụng thiết bị dạy học
TT Thực trạng sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm của giáo viên Xếp
loại
Ghi chú
1 Việc lập kế hoạch sử dụng thiết bị của giáo viên Tốt
2 Sổ sách theo dõi sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm dạy học của
3 Đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên và học sinh Khá
4 Sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm dạy học của giáo viên
5 Tỷ lệ học sinh được sử dụng thiết bị đồ dùng thí nghiệm trong
2.1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của HS
CBQLcùng với ban giám hiệu thông qua các tổ trưởng chuyên môn thống nhất tới giáo viên bộ môn các quy định về nội dung, hình thức, quy trình biên soạn đề kiểm tra… Quy định cho giáo viên thời hạn chấm trả bài sau một tuần đối với các bài kiểm tra thường xuyên và sau hai tuần đối với các bài kiểm tra định kỳ có trong phân phối chương trình Cách ra đề kiểm tra hướng người học phải hiểu bài, biết vận dụng kiến thức, hạn chế ghi nhớ máy móc, loại bỏ hiện tượng quay cóp, gian lận khi học sinh làm bài kiểm tra Việc chấm bài cho điểm của giáo viên chính xác, khoa học có tác dụng thiết thực giúp đỡ học sinh học tập, có tác dụng giáo dục Đối với các bài kiểm tra phải đảm bảo 30% trắc nghiệm, 70% tự luận, bài kiểm tra định kỳ theo phân phối chương trình nhất thiết phải có lời phê ưu điểm, nhược điểm của học sinh về kiến thức, kỹ năng vận dụng, cách trình bày
CBQLcoi việc đánh giá chất lượng học sinh là một biện pháp giáo dục quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Việc thực hiện có những ưu điểm sau:
- Việc thực hiện kế hoạch kiểm tra, thời hạn trả bài, quy định về cách chấm, chữa, ghi lời phê… đa số giáo viên thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
- Hình thức, nội dung đề kiểm tra đã bám sát yêu cầu đổi mới
Trang 9Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 9
- Việc tổ chức coi chấm bài đã ngày càng đi vào nền nếp, đảm bảo công bằng, khách quan và kỷ cương trường học
Bên cạnh đó, việc kiểm tra đánh giá học sinh còn nhiều hạn chế, đó là:
- Một số giáo viên có tuổi khó khăn trong việc nắm bắt, vận dụng quy trình và kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra
- Chất lượng nhiều đề kiểm tra chưa cao: đề chưa bao quát kiến thức, chưa phân hóa được học sinh, chưa cân đối giữa các mức độ nhận thức thậm chí còn sai sót về kiến thức, ra đề vào phần đã được cắt bỏ …
- Giáo viên các môn xã hội còn ngại ra đề với các câu hỏi mở đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức kỹ năng, phải biểu đạt chính kiến của bản thân mình
vì sợ mất nhiều thời gian công sức
2.1.6 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Ban giám hiệu nhà trường rât chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên, coi đó
là động lực để nâng cao chất lượng dạy học Vào trước mỗi năm học, nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên gồm bồi dưỡng thường xuyên (theo chu kỳ, nâng chuẩn…), bồi dưỡng tại chỗ (thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chức các chuyên đề, hội thảo…), hoạt động nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm…Đồng thời, khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về giảng dạy Kết quả thực hiện có nhiều ưu điểm:
+ Nhà trường quan tâm tạo điều kiện việc bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên,
tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng dần qua các năm
+ Việc triển khai các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên, tổ chức thảo luận khá thường xuyên tích cực đã giải quyết kịp thời các khó khăn trong giảng dạy ở mỗi đơn vị
+ Đa số giáo viên nhất là GV trẻ có ý thức học hỏi đồng nghiệp qua dự giờ thăm lớp Đồng thời cũng rất tích cực tự đọc, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm thông tin qua mạng Internet để phục vụ cho chuyên môn của mình Đây chính là hoạt động bồi dưỡng quan trọng nhất để nâng cao trình độ, năng lực GV
+ Việc bồi dưỡng giáo viên đặc biệt là giáo viên trẻ trở thành giáo viên dạy giỏi cấp huyện và cấp tỉnh được các nhà trường rất quan tâm Các giáo viên đăng ký dự thi giáo dạy giỏi cấp huyện được tổ chuyên môn, tổ tư vấn tập trung góp ý xây dựng bài, được tạo điều kiện tối đa về các TBDH…
Tuy vậy, công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ vẫn còn những hạn chế, đó là:
+ Số lượng giáo viên ít, đa phần là giáo viên trẻ và gia đình thì cách xa trường nên chưa tạo ra môi trường thuận lợi để giáo viên giao lưu trao đổi chuyên môn
+ Một bộ phận giáo viên trong đó có cả giáo viên trẻ có tâm lý ỷ lại, không có ý thức phấn tự học tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề
+ Các chuyên đề được tổ chức ở cấp trường chất lượng chưa cao, do khả năng của giáo viên có hạn, do các trường chưa động viên xứng đáng, chưa huy động sức mạnh tập thể cùng tham gia
+ Lãnh đạo nhà trường chưa tạo được không khí thi đua, động lực phấn đấu nâng cao tay nghề trong đội ngũ
Trang 10Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 10
2.1.7 Quản lý hoạt động tổ nhóm chuyên môn
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành của nhà trường, là một đầu mối quản lý
mà quản lý nhất thiết phải dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là HĐDH Sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn là một hình thức hoạt động chuyên môn giúp nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên có hiệu quả Theo quy định, tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất 2 đợt/ tháng trong đó sinh hoạt nhóm chuyên môn được quan tâm đặc biệt: Ngoài việc kiểm điểm việc thực hiện quy chế chuyên môn, giáo viên bộ môn trong nhóm trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, thống nhất nội dung và phương pháp dạy các tiết trong tuần, xác định trọng tâm bài dạy, tổ chức rút kinh nghiệm các tiết thao giảng Đặc biệt là tổ chuyên môn phải lập kế hoạch và thực hiện các chuyên đề trong suốt năm học để tháo gỡ, thống nhất các vấn đề mới, các vấn đề khó thường gặp trong quá trình giảng dạy các bộ môn Thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, Ban giám hiệu (BGH) quản lý thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, công tác soạn giảng, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá cho điểm học sinh, thao giảng xếp loại tay nghề GV
Mặc dù vậy, hoạt động tổ chuyên môn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đó là:
- Thời gian sinh hoạt tổ đặc biệt là nhóm chuyên môn còn eo hẹp
- Năng lực của một số tổ trưởng, tổ phó còn hạn chế chưa phát huy hết vai trò tác dụng trong công tác
- Công tác quản lý HĐDH của quản lý chưa tạo điều kiện, chưa động viên được
tổ chuyên môn thực hiện hết chức năng nhiệm vụ đặc biệt là việc giúp quản lý quản lý nâng cao chất lượng dạy học
2.1.8 Quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học:
Hàng năm, trước khi bắt đầu năm học mới, nhà trường đều có sự rà soát lại các điều kiện CSVC, trang TBDH của trường để có kế hoạch mua sắm, sửa chữa đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập Để đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên, các trường thường để giáo viên tự kê khai những TBDH thiếu hoặc bị hỏng ở môn mình dạy, những sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cần thiết cho từng giáo viên, từng môn Căn cứ vào đó, nhà trường lập kế hoạch mua sắm, sửa chữa và dự trù kinh phí cần thiết Nhà trường đã sử dụng tối đa nguồn ngân sách cho phép để mua sắm, sửa chữa TBDH, tài liệu tham khảo, Vì nguồn kinh phí Nhà nước cấp rất eo hẹp Các phòng học, phòng thực hành bộ môn, phòng Tin học, thư viện của nhà trường đã được khai thác, sử dụng thường xuyên Việc quản lý khai thác, sử dụng CSVC, TBDH vẫn còn những hạn chế, đó là:
- Nhân viên phụ trách công tác thư viện, thiết bị nghiệp vụ còn hạn chế nên việc sắp xếp, bảo quản, hướng dẫn, tạo điều kiện cho giáo viên sử dụng còn chưa tốt
- Công tác quản lý giám sát việc thực hiện của giáo viên chưa sâu sát nên vẫn còn hiện tượng “dạy chay” khi có đủ điều kiện thực hành
- Công tác tham mưu với chính quyền địa phương và huy động các nguồn lực của
xã hội còn chưa tốt nên CSVC chậm được đầu tư nâng cấp
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh
2.2.1.Quản lý hoạt động học tập trên lớp
Trang 11Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 11
CBQLxác định rõ tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học của học sinh trên lớp và có nhiều biện pháp tác động khá hiệu quả Việc lựa chọn và phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm được các nhà trường quan tâm hàng đầu Giáo viên làm chủ nhiệm là những giáo viên nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có kinh nghiệm và phương pháp quản lý học sinh tốt Kế hoạch chủ nhiệm của mỗi giáo viên được nhà trường duyệt vào đầu năm học, trong đó căn cứ vào kết quả năm trước đã đạt của lớp
để xây dựng chỉ tiêu học lực và hạnh kiểm Hàng tháng lãnh đạo nhà trường họp giao ban với giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình các lớp chủ yếu là đạo đức và thái
độ học tập Nhà trường đã xây dựng nội quy nhà trường, trong đó có nội quy học tập được để tổ chức cho học sinh học tập, thảo luận ngay từ tuần đầu của năm học Nội quy quy định rõ về: chuyên cần; tinh thần thái độ học tập; tổ chức học tập; chuẩn bị đồ dùng học tập; khen thưởng, kỷ luật việc thực hiện nội quy học tập Đồng thời, CBQLcũng đã phát huy tốt vai trò chức năng của tổ chức Đoàn, Đội trong trường học
để giáo dục ý thức học tập cho các em thông qua các hoạt động đội Việc thực hiện các cuộc vận động và các phong trào thi đua của ngành, đặc biệt là phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được nhà trường cụ thể hoá bằng những việc làm thiết thực để giáo dục ý thức trong học tập, gắn bó với thầy cô, với trường lớp Trong năm học, nhà trường đã tổ chức nhiều hội nghị, chuyên đề trao đổi học hỏi kinh nghiệm giữa giáo viên về phương pháp quản lý học sinh trong giờ học, về công tác chủ nhiệm lớp, về kinh nghiệm xây dựng tập thể lớp thành tập thể tự quản Việc theo dõi tình hình học tập của các lớp được Ban giám hiệu hết sức quan tâm thông qua nhận xét trên sổ đầu bài của giáo viên bộ môn, qua theo dõi của đội cờ
đỏ và qua kiểm tra của ban giám hiệu.Việc đánh giá thi đua các lớp được tiến hành hàng tuần vào buổi chào cờ đầu tuần Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (TNTP HCM) của trường, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn trực tiếp quản lý nền nếp học tập trên lớp của học sinh, quản lý việc thực hiện 15 phút truy bài đầu giờ Đội ngũ cán bộ lớp kiểm tra đôn đốc các bạn trong lớp về ý thức học bài cũ, làm bài tập trước khi đến lớp, nhắc nhở tư vấn về phương pháp học tập có hiệu quả cho các bạn cùng lớp
Trong tiết dạy, giáo viên thực hiện nghiêm túc các bước lên lớp: kiểm tra sĩ số học sinh đầu tiết học, kiểm tra việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới để giáo dục ý thức
tự giác cho học sinh Những học sinh ý thức học tập chưa tốt, không chú ý học, làm việc riêng, nói chuyện trong giờ được các thầy cô giáo nhắc nhở, động viên và ghi lại trong sổ đầu bài khi cần thiết Những thông tin này giúp cho giáo viên chủ nhiệm, giúp cho nhà trường có biện pháp điều chỉnh kịp thời công tác quản lý học sinh
Kết quả tự học ở nhà được thể hiện bằng việc học bài cũ và làm bài tập trước khi đến lớp Điều này được ban cán sự lớp nắm bắt trong khi truy bài và việc kiểm tra bài
cũ của GV bộ môn trong giờ lên lớp
Trang 12Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 12
Trong các cuộc họp phụ huynh, GV chủ nhiệm đã tư vấn cho phụ huynh cách theo dõi, kiểm soát kết quả học tập của con em trên lớp và việc học ở nhà Song nhìn chung việc phối hợp với cha mẹ học sinh để quản lý việc tự học kết quả chưa cao, vì một số lý do sau:
+ Một số gia đình chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em, thậm chí không đi họp phụ huynh Một số khác, tuy có quan tâm nhưng phương pháp chưa hợp lý hoặc không có đủ thời gian để thực hiện
+ Một bộ phận học sinh có kết quả học lực yếu, kém vẫn chưa tự tin khi thực hiện việc học tập ở nhà, các em rất lúng túng trong việc tham khảo tài liệu, tự ti khi nhờ bạn bè Mặc dù đã có nhiều học sinh quyết tâm và có những hành động cụ thể khắc phục tình trạng học tập yếu kém của mình, song do không có sự chỉ bảo động viên nên hiệu quả chưa cao Cá biệt còn có những học sinh có hành động đối phó với các thầy cô giáo và ban nề nếp của nhà trường
3 Nội dung và hình thức của giải pháp:
3.1 Mục tiêu của giải pháp
Giúp cho cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên nhận thức được tầm quan trọng và
sự cần thiết của việc đổi mới quản lý HĐDH trong nhà trường là để đáp ứng sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục Đổi mới quản lý HĐDH chính là để quản lý
“sự thay đổi” diễn ra thường xuyên trong công cuộc phát triển giáo dục của đất nước, của địa phương và ngay trong mỗi nhà trường Đổi mới quản lý HĐDH chính là thể hiện tầm nhìn chiến lược, là thực hiện sứ mạng của mỗi nhà trường, là để tạo ra thương hiệu cho nhà trường Từ việc hiểu đúng, mọi người sẽ có hành động phù hợp đúng chức năng nhiệm vụ của mình để thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường trở thành “nhà trường chất lượng”, “nhà trường hiệu quả”
Giúp CBQL, giáo viên nắm được những quan điểm của Đảng, Nhà nước và của địa phương về vai trò, vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển giáo dục trong đó có giáo dục THCS Đồng thời, cũng hiểu một cách đầy đủ các chế định của ngành từ Luật giáo dục, Quy chế, Điều lệ, Thông tư cho đến các văn bản hướng dẫn của ngành đối với HĐDH của bậc học
Đối với học sinh các em cần hiểu bản thân nằm trong tổ chức lớp, của trường, của chi đội và liên đội nên phải chấp hành sự quản lý của cán bộ lớp, của cán bộ Đội TNTP, của thầy cô, của nhà trường Từ việc hiểu và chấp hành kỷ luật đó, dần dần biến thành ý thức tự giác thực hiện nghĩa vụ học tập, chấp hành nội quy học tập của lớp, của trường, có động cơ ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện
Chỉ đạo tổ chuyên môn phát huy tốt vai trò, chức năng trong tổ chức hoạt động, thông qua việc nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn để:
- Nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ năm học của cán bộ giáo viên trong tổ chuyên môn, đưa tổ chuyên môn vào họat động có nền nếp, kỷ cương, yêu cầu mọi thành viên trong tổ nghiêm túc thực hiện chương trình kế hoạch năm học, thực hiện đầy đủ qui chế chuyên môn: soạn bài, ra vào lớp, kiểm tra đánh giá học sinh, đổi mới phương pháp dạy học, tự học, tự bồi dưỡng góp phần hoàn thành nhiệm vụ năm học của tổ, nhà trường
- Nâng cao trình độ chuyên môn - nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho đội ngũ cán
bộ, giáo viên để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân
Trang 13Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 13
lực, làm căn cứ cơ sở động viên đãi ngộ giáo viên, đề bạt, quy hoạch CBQL cho nhà trường, tạo tiền đề để nhà trường xây dựng kế hoạch trong những năm tiếp theo
Mục đích kiểm tra đánh giá HĐDH của giáo viên nhằm phát hiện và giúp giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục và giảng dạy, giữ vững kỉ luật, khuyến khích sự cố gắng của giáo viên, giúp quản lý và các cấp quản lý giáo dục, sử dụng bồi dưỡng, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lý
Quản lý chặt chẽ hoạt động học tập của học sinh giúp các em có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện cho các em tính kỷ luật, tự giác trong học tập
Quản lý tốt HĐDH để phân loại học sinh, từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp Phát hiện kịp thời những học sinh khá giỏi để có kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi; phụ đạo học sinh yếu kém
Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng luôn gắn liền với các yêu cầu về CSVC, TBDH phù hợp yêu cầu của chương trình TBDH không chỉ là phương tiện minh họa cho những điều trình bày, giảng giải của giáo viên mà chính là nguồn tri thức, phương tiện truyền tải thông tin, phương tiện tư duy, nghiên cứu học tập, tiếp cận
tự nhiên và xã hội của học sinh, giúp học sinh tự tìm kiếm kiến thức
Đối với các bộ môn khoa học thực nghiệm như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ và Tin học cần thiết phải tiến hành dạy học ở các phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, phòng máy
Tăng cường CSVC, trang TBDH của nhà trường chính là tăng cường khả năng vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá vào thực tiễn, xây dựng môi trường sư phạm, tạo điều kiện giúp giáo viên tiếp cận với xu thế dạy học hiện đại, phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở các trường THCS
Trong điều kiện hiện nay, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động giáo dục còn rất eo hẹp và phải mua sắm tập trung Điều kiện kinh tế của địa phương còn nghèo, nên nếu chỉ trông vào ngân sách nhà trường hoặc địa phương hỗ trợ thì có thể phải rất lâu mới có được CSVC như mong muốn Vì vậy, nhà trường cần chủ động, sáng tạo tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng xã hội khác để củng cố, tăng cường CSVC, TBDH đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho CBQL, CBGV và học sinh về tầm quan trọng
và sự cần thiết của việc đổi mới quản lý HĐDH trong nhà trường
Tổ chức phổ biến kịp thời các chế định giáo dục cho cán bộ giáo viên, nhân viên vào đầu mỗi năm học và mỗi khi có văn bản mới để thống nhất cách hiểu và cách thực hiện
Thông qua chiến lược phát triển nhà trường, chia sẻ với giáo viên về tầm nhìn,
sứ mạng, những mục tiêu và cam kết chất lượng của nhà trường để mọi người hiểu và cộng đồng trách nhiệm thực hiện
Nâng cao nhận thức cho CBQL, giáo viên, học sinh về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới quản lý HĐDH trong nhà trường Hình thành ý thức tự giác chấp hành các quy định, điều lệ, quy chế, nội quy… về hoạt động giảng dạy của GV, hoạt động học tập của HS Thông qua việc chỉ đạo, kiểm tra của ban giám hiệu và tổ trưởng chuyên môn để các hoạt động đó được tiến hành một cách tự giác, có nề nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao
Trang 14Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 14
Xây dựng và phổ biến cho học sinh nắm được nội quy học tập của trường, của lớp, điều lệ của Đội, tiêu chí đánh giá phong trào thi đua học tập giữa các lớp, tiêu chí đánh giá giờ học qua sổ đầu bài để từ đó các em có hành vi phù hợp theo quy định
Hình thành ý thức tự quản, tự giác chấp hành kỷ luật học tập của học sinh thông qua quản lý của giáo viên chủ nhiệm, của cán bộ lớp, cán bộ đội
3.2.1.1 Cách thức thực hiện biện pháp
-Tổ chức cho giáo viên học tập các nghị quyết của Đảng về giáo dục, về nâng cao chất lượng dạy và học; học tập, nghiên cứu chỉ thị nhiệm vụ năm học.Trong quá trình học tập cần khắc sâu các vấn đề mới và tham gia viết thu hoạch, nêu nhận thức của mình về những nội dung được bồi dưỡng, để phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy Từ đó, GV thấy được vai trò, vị trí của mình trong nhà trường để không ngừng phấn đấu, rèn luyện trở thành người thầy có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm
vụ giáo dục thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước
- Tổ chức học tập, nghiên cứu đầy đủ, kịp thời các chế định của ngành GD&ĐT đặc biệt là các văn bản mới như: tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường THCS, chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, tiêu chuẩn trường trung học đạt chuẩn quốc gia, phòng học bộ môn, thư viện chuẩn để mọi người hiểu cần đổi mới quản lý HĐDH để hướng tới chuẩn hoá trường học một cách toàn diện
- Tổ chức cho CBQL, giáo viên , học sinh trong nhà trường thực hiện tốt các chế định giáo dục
+ Các quy định này được phổ biến đến từng CBGV để thống nhất cách hiểu và thực hiện Việc thực hiện chế độ điểm đối với từng môn học, cách tính điểm, dạy học
tự chọn, dạy đúng, đủ theo phân phối chương trình phải được CBQL, giáo viên thực hiện nghiêm túc BGH nhà trường thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chế định, tránh để tình trạng vi phạm rồi mới xử lý
- Tuyên truyền cho giáo viên hiểu được mục đích, ý nghĩa của các cuộc vận động, các phong trào thi đua do ngành phát động, đó là: Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo
dục); cuộc vận động "Hai không" với 4 nội dung: Nói không với tiêu cực trong thi cử
và bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp; Chỉ thị số 06/CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"; cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" Gắn việc thực hiện các cuộc vận động, các phong
trào thi đua với những việc làm cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ giáo viên trong việc thực hiện kỷ cương, nền nếp, nâng cao chất lượng dạy học Thường xuyên sơ kết, nhân rộng điển hình tiên tiến trong mỗi học kỳ, mỗi năm học
- Đối với học sinh cần tuyên truyền cho các em hiểu và tổ chức ký cam kết
trách nhiệm thực hiện cuộc vận động “Hai không” vào đầu mỗi năm học Tuyên
truyền để các em nắm được mục đích, ý nghĩa phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đặc biệt là trách nhiệm của các em trong việc học tập hiệu quả, biết cách biểu đạt chính kiến của bản thân mình trong học tập đối với thầy cô và nhà trường
3.2.1.2 Điều kiện thực hiện có hiệu quả biện pháp
Trang 15Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 15
- Nhà trường cụ thể hoá các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm
vụ của ngành học, bậc học, các chỉ thị của địa phương và kế hoạch của nhà trường về quản lý HĐDH bằng từng công việc cụ thể gắn liền với mỗi cá nhân, các tập thể trong nhà trường
- Nội dung tuyên truyền phải ngắn gọn, thiết thực Hình thức tuyên truyền phải phù hợp với điều kiện về thời gian của giáo viên và học sinh trong trường Để tiết kiệm thời gian, có thể cung cấp thêm tài liệu hoặc hướng dẫn để giáo viên tự tìm đọc, nghiên cứu Khuyến khích cán bộ giáo viên tự tìm kiếm thông tin qua mạng Internet để nâng cao hiểu biết chung
- CBQL phải là người đi đầu trong việc nắm bắt các vấn đề mới của ngành, chủ động tìm kiếm các văn bản mới qua mạng Internet và phổ biến, hướng dẫn để đông đảo giáo viên tìm đọc nâng cao hiểu biết chung
- Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội TNTPHCM và các tổ chức khác trong trường phải xác định quản lý HĐDH là một trong những nhiệm vụ chính trị chủ yếu của nhà trường
3.2.2 Đẩy mạnh hoạt động tổ chuyên môn thông qua đó đảm bảo nền nếp dạy học, bồi dưỡng phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV
- Ban hành các quyết định thành lập các tổ chuyên môn vào đầu năm học
- Chỉ đạo tổ chuyên môn lập và thực hiện kế hoạch hoạt động theo đúng các chức năng quy định, thường xuyên kiểm tra thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch
- Thông qua tổ chuyên môn chỉ đạo việc lập và duyệt kế hoạch cá nhân của cán
bộ giáo viên, theo dõi kiểm tra, giúp đỡ giáo viên thực hiện kế hoạch dạy học, đảm bảo
kỷ cương chuyên môn
- Phối hợp với tổ chuyên môn rà soát, phân loại trình độ chuyên môn để căn cứ vào đó lập kế hoạch cụ thể bồi dưỡng trình độ nhận thức, năng lực chuyên môn nghiệp
vụ cho đội ngũ giáo viên
- Giao cho tổ chuyên môn thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn tại chỗ thông qua các chuyên đề, việc dự giờ rút kinh nghiệm, việc hỗ trợ chuyên môn giữa các thành viên trong tổ Thông qua tổ chuyên môn dấy lên phong trào trào tự học, tự bồi dưỡng để khẳng định uy tín trong nghề nghiệp của mỗi giáo viên
- Tập trung các điều kiện hỗ trợ để tổ, nhóm chuyên môn tổ chức chuyên đề, hội giảng, viết sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm với những nội dung thiết thực, có hiệu quả, thường xuyên
- Phân công giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng giúp đỡ giáo viên mới ra trường hoặc giáo viên còn hạn chế về kiến thức, năng lực sư phạm Xây dựng tổ chuyên môn thành tổ chức học hỏi, biết chia sẻ, cộng đồng trách nhiệm vì
uy tín, thương hiệu của tổ
- Đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” thông qua tổ chức tốt các đợt hội giảng Phát động mỗi giáo viên đăng ký và thực hiện một đổi mới trong năm học
3.2.2.1 Cách thức thực hiện biện pháp
a) Ban hành các quyết định thành lập các tổ chuyên môn vào đầu năm học
Trang 16Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 16
Đầu mỗi năm học, tham mưu BGH nhà trường ra quyết định bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó chuyên môn Theo căn cứ Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường trung học cơ
sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Hướng dẫn số 30/HD-PGDĐT-TCCB ngày 5 tháng 8 năm 2015 về việc hướng dẫn công tác thành lập tổ, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó các tổ chuyên môn và tổ văn phòng trong các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện;
Việc bổ nhiệm cần cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở quy hoạch đội ngũ của nhà trường, nhận định của BGH và quan trọng là tín nhiệm của các thành viên trong tổ Về nguyên tắc, nên ổn định đội ngũ tổ trưởng để phát huy kinh nghiệm công tác Nhưng nếu xét thấy, tổ trưởng chuyên môn chưa đủ năng lực và tâm huyết để thực hiện hết chức trách nhiệm vụ mà trong tổ lại có người có đủ khả năng đó thì cần mạnh dạn thay đổi Tổ trưởng chuyên môn phải thật sự là người dẫn đầu trong hoạt động chuyên môn,
có năng lực quản lý, nhiệt tình công tác, có năng lực chuyên môn từ khá trở lên, có khả năng tập hợp quần chúng, được thành viên trong tổ tín nhiệm cao
Ổn định biên chế giáo viên mỗi tổ ngay từ đầu năm học để tổ chủ động trong việc dự kiến phân công giảng dạy, xây dựng kế hoạch hoạt động
Việc phân công chuyên môn cho các thành viên trong tổ phải đảm bảo các yêu cầu về năng lực chuyên môn, nguyện vọng cá nhân, mục tiêu đào tạo của các khối lớp, đảm bảo tính liên thông trong giảng dạy, đảm bảo tính công bằng trong phân công lao động, phát huy dân chủ Tổ trưởng chuyên môn dự kiến phân công, tổ chức họp tổ bàn bạc thống nhất giữa các thành viên trong tổ, lập văn bản đề nghị BGH ra quyết định phân công chuyên môn
b) Quản lý kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn
+ Chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn, phải theo một qui trình chặt chẽ: Quán triệt các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm học của ngành, điều lệ nhà trường, luật giáo dục, phân phối chương trình, qui chế đánh giá xếp loại học sinh, đánh giá thi đua giáo viên Phân tích đặc điểm nhà trường, tổ chuyên môn để chỉ ra mặt mạnh, yếu, việc đã làm được, chưa làm được của tổ ở năm học trước từ đó dự thảo các chỉ tiêu đăng ký xây dựng hoạt động tổ chuyên môn cho năm học mới
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch tổ chuyên môn: Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn theo dõi, kiểm tra tiến trình thực hiện kế hoạch của các tổ chuyên môn Phó hiệu trưởng làm trưởng ban chuyên môn, trực tiếp điều hành việc thực hiện kế hoạch tổ chuyên môn Tổ trưởng chuyên môn quản lý toàn diện hoạt động tổ chuyên môn về các mặt xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá các thành viên trong tổ, chỉ đạo đánh giá xếp loại thi đua cuối năm, đề nghị khen thưởng, kỷ luật, nâng lương của mọi thành viên trong tổ
+ BGH nhà trường quản lý kế hoạch tổ chuyên môn thông qua hệ thống hồ sơ của tổ trưởng, các cá nhân và thời khóa biểu Thời khóa biểu là công cụ quan trọng nhất để quản lý hoạt động chuyên môn của nhà trường, của từng giáo viên và tổ chuyên môn Thời khóa biểu phải đảm bảo được các yêu cầu tối thiểu: tính khoa học, tính sư phạm, đặc điểm tâm lý, chế độ chính sách đối với giáo viên Thời khóa biểu phải đảm bảo có giờ sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, họp tổ chuyên môn, ban giám hiệu Thời khóa biểu còn phải đảm bảo tính ổn định, ít xáo trộn, trình bày khoa học, rõ
Trang 17Nguyễn Anh Tuấn – Trường THCS Băng Adrênh – Krông Ana 17
ràng không trùng giờ đảm bảo cho mọi hoạt động dạy và học của nhà trường diễn ra bình thường theo biên chế năm học
c) Quản lý sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn
+ Mục đích làm cho mọi thành viên trong tổ nắm vững qui chế chuyên môn, kế hoạch quản lý của nhà trường theo từng tuần, tháng và kỳ học, đảm bảo nội dung công việc đã được đề ra trong kế hoạch
+ Tổ chức chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn: Xếp lịch tổ nhóm chuyên môn định
kỳ theo tuần, tháng theo đó tổ sinh hoạt ít nhất 2 buổi/tháng Tổ trưởng chuyên môn triển khai nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn cần ngắn ngọn, giảm bớt thủ tục hành chính ở phần kiểm điểm thực hiện công tác, qui chế chuyên môn tuần trước và đề ra kế hoạch hoạt động của tổ trong tuần tới.Thời gian chủ yếu dành cho báo cáo chuyên đề, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi, thảo luận tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn trong giảng dạy…
d) Quản lý thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn
Việc thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy của từng thành viên trong tổ phải được tổ trưởng chuyên môn, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn theo dõi tiến
độ thực hiện Mỗi thành viên trong tổ, hàng tháng báo cáo tiến độ thực hiện chương trình cho tổ trưởng và chuyên môn nhà trường Từ đó tổ trưởng đề nghị với chuyên môn nhà trường kịp thời điều chỉnh việc thực hiện chương trình nhanh - chậm đúng với kế hoạch thời gian từng kỳ và cả năm
Trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông, chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh theo hướng tăng cường kĩ năng vận dụng kiến thức, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương và khả năng học tập của học sinh, theo khung thời gian 37 tuần thực học (học kỳ I: 19 tuần, học kỳ II: 18 tuần), đảm bảo thời gian kết thúc học kỳ I, kết thúc năm học theo Quyết định QĐ-UBND tỉnh, bố trí hợp lí thời lượng dành cho luyện tập, ôn tập, thí nghiệm, thực hành, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kiểm tra định kỳ
Nhà trường thực hiện nghiêm túc kế hoạch, thời gian năm học Căn cứ vào gợi
ý chương trình dạy học bộ môn, chỉ đạo các tổ chuyên môn:
GV chủ động lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp, liên môn, trải nghiệm sáng tạo đồng thời xây dựng kế