1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

279 176 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 279
Dung lượng 16,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGUYỄN THỊ HẢI NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN THỊ HẢI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG MỘT SỐ LOÀI CÓ GIÁ TRỊ Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA

HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN THỊ HẢI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG MỘT SỐ LOÀI CÓ GIÁ TRỊ Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA

HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Thực vật học

Mã số: 9.42.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Huy Thái

2 PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận án đã được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ

-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng nhất tới PGS.TS Trần Huy Thái và PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt - những người thầy đã tận tâm hướng dẫn khoa học, động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, phòng Thực vật, phòng Tài nguyên thực vật, bộ phận Đào tạo; Viện Hóa sinh biển, phòng Hoạt chất sinh học; Ban lãnh đạo Trường Đại học Tân Trào, khoa Khoa học Tự nhiên – Kỹ thuật & Công nghệ, khoa Nông – Lâm – Ngư nghiệp; Sở Khoa học và Công nghệ Tuyên Quang; Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Minh Hợi, PGS.TS Nguyễn Khắc Khôi, TS Nguyễn Thế Cường, TS Nguyễn Anh Tuấn, TS Bùi Văn Thanh, TS Nguyễn Hải Đăng, ThS Hà Thị Vân Anh, ThS Nguyễn Thị Hiền; ThS Dương Thị Hoàn; ThS Phạm Hữu Hạnh đã cố vấn, định hướng và có những góp ý quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới toàn thể gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn quan tâm, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đề tài Nghiên cứu: Mã số:

VAST.NĐP.18/15-16 do PGS.TS Trần Huy Thái làm chủ nhiệm, đã hỗ trợ để tôi thực hiện thành công luận án này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Hải

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Huy Thái và PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt

Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần

đã được công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế và quốc gia và

đã được sự đồng ý của các đồng tác giả

Phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Hải

Trang 5

MỤC LỤC

1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới 3

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trên thế giới 3 1.1.2 Đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây

thuốc trên thế giới

7

1.1.2.1 Đánh giá về giá trị sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc 7 1.1.2.2 Đánh giá về giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc 9 1.1.3 Tình hình nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các

dân tộc trên thế giới

11

1.2 Khái quát về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 13

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 13

1.2.2 Khái quát giá trị sử dụng và giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây

cây thuốc ở Việt Nam

16

1.2.3 Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc các dân tộc ở

Việt Nam

17

1.2.4 Những nghiên cứu về Hệ thực vật và cây làm thuốc tại Na Hang 20

1.3 Vấn đề bảo tồn và nghiên cứu nhân giống tài nguyên cây thuốc 21

1.4 Cây thuốc và hoạt tính kháng ung thư từ cây thuốc 26 1.5 Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khu Bảo tồn thiên

nhiên Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

30

Trang 6

2.2.1 Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên

Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

35

2.2.2 Kết quả thử hoạt tính sinh học và phân tích cấu trúc hóa học 36 2.2.3 Các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài cây

thuốc có giá trị tại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, huyện Na

Hang, tỉnh Tuyên Quang

glucosidase, α-amylase) của một số loài thông dụng và có triển vọng

43

3.1 Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên

Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

BTTN Na Hang

56

3.1.2.1 Thành phần cây thuốc được sử dụng bởi hai dân tộc Tày và Dao tại

khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang

56

3.1.2.2 Bộ phận sử dụng cây thuốc của hai dân tộc Tày và Dao tại khu Bảo

tồn thiên nhiên Na Hang

58

3.1.2.3 Cách sử dụng cây thuốc của hai dân tộc Tày và Dao tại khu Bảo tồn 60

Trang 7

thiên nhiên Na Hang

3.1.2.4 Kinh nghiệm điều trị các nhóm bệnh của hai dân tộc Tày và Dao tại

khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang

61

3.1.3 Kết quả thử hoạt tính sinh học và phân tích cấu trúc hóa học 66

3.1.3.2 Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học mẫu TQ02 từ

loài Ba bét quả nhỏ (Mallotus microcarpus Pax & K Hoffm.)

69

3.1.3.3 Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học mẫu TQ13 từ

loài Song môi tàu(Miliusa sinensis Fin.& Gagnep.)

87

3.2 Các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài cây

thuốc có giá trị tại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, huyện Na

Hang, tỉnh Tuyên Quang

93

3.2.1.1 Các tiêu chí lựa chọn các loài cây thuốc có triển vọng phát triển 93 3.2.1.2 Đề xuất một số loài cây thuốc có triển vọng cần nghiên cứu tại khu

Bảo tồn thiên nhiên Na Hang

94

3.2.2 Thăm dò khả năng nhân giống của hai loài cây thuốc có tiềm năng

khai thác và sử dụngtại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang

112

3.2.2.1 Nhân giống loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) tại khu Bảo tồn

thiên nhiên Na Hang

112

3.2.2.2 Nhân giống loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) tại khu

Bảo tồn thiên nhiên Na Hang

118

3.2.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững một

số loài cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang 125 3.2.3.1 Vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc của người dân tại khu

3.2.3.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững một số loài

cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, huyện Na Hang,

tỉnh Tuyên Quang

126

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 132

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

135

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DLĐCTVN Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam

Khu BTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên

IIA Nhóm thực vật hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương

mại trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ IAA Axit Indol – Axetic

α-NAA Axit α-Napthalen Axetic

CR Critically Endangered - Cực kỳ nguy cấp

LC Least concern - Ít lo ngại

NT Near threatened - Gần bị đe dọa

DMEM DMEM-Dulbecco's Modified Eagle Medium

EtOAc Là một loại este thu được từ êtanol và axít axetic

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc - Food

and Agriculture Organization of the United Nations GIS, GPS GIS (Geographic Information System) - Hệ thống thông tin địa lý

GPS (Global Positioning System) - Hệ thống định vị toàn cầu

IC50 Inhibitory concentration 50% - Nồng độ ức chế 50% cá thể

IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources - Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

Trang 10

IUCN Red List IUCN Red List of the threatened species - Danh lục đỏ IUCN

KB Human epidemic carcinoma - ung thư biểu mô

LU Human lung carcinoma – ung thư phổi

MCF7 MCF7 Ardeno carcinoma - Ung thư vú

NF-ĸB Nuclear Factor kappa B

PI3K Phosphatidylinositol 3-kinase

RPMI 1640 Rose-Peake RPMI Medium

USD United States dollar

WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới

WWF World Wide Fund For Nature - Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Toàn

cầu

13C-NMR Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy - Phổ

cộng hưởng từ hạt nhân cacbon 13

1H-NMR Proton Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy - Phổ cộng

hưởng từ hạt nhân proton

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc của từng ngành thực vật tại khu BTTN

Na Hang

46

Bảng 3.2 Phân bố các taxon (lớp, họ, chi, loài) trong ngành Mộc lan lan

(Magnoliophyta) tại khu BTTNNa Hang

48

Bảng 3.3 Các chỉ số đa dạng cây thuốc ở từng ngànhcủa khu Hệ Thực vật

tại khu BTTN Na Hang

48

Bảng 3.4 Thống kê 10 họ đa dạng cây thuốc nhất tại khu BTTN Na Hang 49

Bảng 3.5 Các chi giàu loài cây thuốc nhất tại khu BTTN Na Hang 50

Bảng 3.6 Danh sách các loài cây thuốc quý, hiếm tại khu BTTN Na Hang 51

Bảng 3.7 Tọa độ các loài thực vật quí, hiếm tại khu BTTN Na Hang 53

Bảng 3.8 Số lượng loài cây thuốc được sử dụng bởi hai dân tộc Tày và

Dao tại khu BTTN Na Hang

56

Bảng 3.9 Dạng sống của các loài cây thuốc được hai dân tộc Tày và Dao

sử dụng tại khu BTTN Na Hang

57

Bảng 3.10 Các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc của hai dân tộc

Tày và Dao tại khu BTTN Na Hang

59

Bảng 3.11 Các cách sử dụng cây thuốc của hai dân tộc Tày và Dao tại khu

BTTN Na Hang

60

Bảng 3.12 Các bệnh, chứng có thể chữa trị bằng cây thuốc bởi hai dân tộc

Tày và Dao tại khu BTTN Na Hang

62

Bảng 3.13 Tác dụng gây độc tế bào của các mẫu thu thập được tại khu

BTTN Na Hang

67

Bảng 3.14 Tác dụng ức chế α-glucosidase và α-amylase của các mẫu thu

thập được tại khu BTTN Na Hang

68

Bảng 3.15 Danh sách các hợp chất phân lập mẫu TQ02 từ loài Ba bét quả

nhỏ ( Mallotus microcarpus Pax & K Hoffm.)

71

Bảng 3.16 Tác dụng gây độc tế bào của các chất sạch (IC50, µM) 86

Bảng 3.17 Danh sách các hợp chất phân lập mẫu TQ13 từ loài Song môi

tàu(Miliusa sinensis Fin & Gagnep.)

89

Bảng 3.18 Độ gặp, khả năng phát triển và tình hình khai thác một số loài

cây thuốc tại khu BTTN Na Hang

94

Bảng 3.19 Thị trường và giá bán của một số loài cây thuốc tại huyện Na 97

Trang 12

Hang, tỉnh Tuyên Quang

Bảng 3.20 Các loài cây thuốc có triển vọng phát triển tại khu BTTN Na

Hang

111

Bảng 3.21 Ảnh hưởng của thời vụ và loại hom giống đến tỷ lệ nảy chồi, tỷ

lệ ra rễ của loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) sau 60 ngày

112

Bảng 3.22 Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ

của chúng đến tỷ lệ nảy chồi của hom giống từ phần thân củ ở

loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) sau 15 ngày, 30 ngày, 45

ngày và 60 ngày

114

Bảng 3.23 Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ

của chúng đến tỷ lệ ra rễ của hom giống từ phần thân củ ở loài

Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) sau 15 ngày, 30 ngày, 45

Bảng 3.26 Sinh trưởng của cây con loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre)

nhân giống từ hạt trong giai đoạn vườn ươm

117

Bảng 3.27 Ảnh hưởng của thời vụ và loại hom đến tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy

chồi ở loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) sau 60 ngày

118

Bảng 3.28 Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ

đến tỷ lệ ra rễ của hom thân ở loài Hoàng đằng (Fibraurea

tinctoria Lour.) sau 20, 40, 60 ngày

120

Bảng 3.29 Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ

đến số rễ trung bình, chiều dài trung bình rễ của hom thân ở loài

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) sau 60 ngày

121

Bảng 3.30 Kết quả theo dõi sự nảy mầm của nhân giống bằng hạt ở loài

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.)

122

Bảng 3.31 Sinh trưởng của cây con ở loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria

Lour.) sau khi nhân giống trong giai đoạn vườn ươm

124

Trang 13

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 3.1 Tỷ lệ số lượng các họ, chi và loài cây thuốc thuộc 4 ngành tại

khu BTTN Na Hang

46

Hình 3.2 Mười họ giàu loài cây thuốc nhất tại khu BTTN Na Hang 50

Hình 3.3 Bản đồ phân bố một số loài thực vật quí, hiếm tại khu BTTN Na

Hang

56

Hình 3.4 So sánh số lượng cây thuốc được sử dụng bởi hai dân tộc Tày và Daoại khu

tại khu BTTN Na Hang

57

Hình 3.5 So sánh dạng sống của các loài cây thuốc được hai dân tộc Tày

và Dao sử dụng tại khu BTTN Na Hang

58

Hình 3.6 So sánh các bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc của hai

dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN Na Hang

59

Hình 3.7 So sánh các cách sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày

và Dao tại khu BTTN Na Hang

61

Hình 3.8 Sơ đồ phân lập các hợp chất sạch mẫu TQ02 từ loài Ba bét quả

nhỏMallotus microcarpus Pax& K Hoffm

70

Hình 3.9 Sơ đồ phân lập các hợp chất sạch mẫu TQ13 từ loài Song môi

tàu Miliusa sinensis Fin & Gagnep (cặn Methanol)

88

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Na Hang được thành lập theo Quyết định 274/UB-QĐ ngày 9 tháng 5 năm 1994 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang Tại đây, có khoảng 68% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con người Trong đó, khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, số cònlại là những vùng rừng thường xanhtrên các đai thấp [1],[2] Cho đến nay đã xác định được tại khu BTTN Na Hang có 1.162 loài thực vật (Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, 2006) [3], trong đó có nhiều loài được ghi

trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) như: Trai (Garcinia fragraeoides), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Đinh (Markhamia stipulata), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Hoàng đàn (Cupressus torulosa)…[4]

Ngoài các kết quả nghiên cứu của một số tác giả ở Viện Điều tra Qui hoạch rừng và Chương trình Birdlife international “Thông tin về các khu bảo vệ hiện có và

đề xuất ở Việt Nam” (2001), cùng đề tài nghiên cứu về “Đa dạng thực vật khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” của Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến (2006) [3]; cũng như các nghiên cứu về loài Biến hóa núi cao

(Asarumbalanse) của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2012) [5]; cho đến nay, vẫn

chưa có công trình nghiên cứu tổng thể nào về tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là các loài cây thuốc có giá trị và triển vọng phát triển tại khu BTTN Na Hang Mặt khác, nguồn tài nguyên cây thuốc hiện ngày càng khan hiếm, một số loài quí đã và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, do khai thác bừa bãi, thiếu kế hoạch Bên cạnh

đó, đồng bào các dân tộc ở Tuyên Quang có vốn tri thức bản địa khá phong phú về

sử dụng các loài thực vật làm thuốc Nhiều bài thuốc khá nổi tiếng của đồng bào các dân tộc Tày và Dao nơi đây vẫn đang được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Tiềm năng và triển vọng của nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Na Hang rất phong phú, rất đa dạng; song những nghiên cứu về chúng còn rất ít và chưa đầy đủ Vì thế, nghiên cứu các cơ sở khoa học để bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững tính đa dạng của các loài cây thuốc tại khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang là vấn đề thời sự, mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và giá trị kinh tế,

xã hội cao Từ thực tiễn trên, tác giả tiến hành đề tài “Nghiên cứu nguồn tài

nguyên cây thuốc nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị ở khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang"

Trang 15

2 Mục tiêu của luận án

Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài có triển vọng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

* Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng của nguồn tài nguyên

cây thuốc tại khu BTTN Na Hang; Đề xuất một số giải pháp bảo tồn một số loài cây thuốc có giá trị khoa học và kinh tế

* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho các cơ quan

quản lý, sản xuất, kinh doanh hoạch định chính sách phát triển, đầu tư sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu dược ổn định và sử dụng bền vững; đồng thời bảo tồn có hiệu quả những loài có giá trị và tiềm năng; các kết quả nghiên cứu sàng lọc các loài có hoạt chất sinh học, nhằm góp phần định hướng cho việc tạo chế phẩm sinh học mới làm thuốc

4 Bố cục của luận án

Luận án gồm 146 trang: Mở đầu - 02 trang; Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - 32 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu -11 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và Thảo luận - 86 trang; Kết luận và kiến nghị - 02 trang; Tài liệu tham khảo - 11 trang

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trên thế giới

Lịch sử phát triển các dân tộc, các quốc gia cũng như sự phát triển của xã hội loài người trên toàn thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc Cây thuốc là một trong những nhóm tài nguyên thực vật có giá trị quan trọng hàng đầu và đây là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ưu đãi cho nhân loại Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc để chữa bệnh được nghiên cứu ở nhiều mức dộ khác nhau, tùy thuộc vào sự phát triển của từng châu lục, từng quốc gia và từng dân tộc Nhưng việc sử dụng cây thuốc, những kinh nghiệm và tri thức quý báu đó chỉ được truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác một cách hạn hẹp và không được ghi chép lại, vì vậy có nguy cơ bị mai một, nhiều loại thuốc, vị thuốc đã

bị thất truyền, đồng thời nhiều tri thức quý báu đã mất đi cùng với sự biến mất của các bộ tộc người cổ đại hay sự suy giảm và tuyệt chủng các loài cây thuốc Đây là những vấn đề cần phải coi trọng, cần phải khai thác, tìm hiểu, ghi chép lại và giữ gìn Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các sách chuyên khảo về cây thuốc trên quy

mô toàn quốc hoặc từng vùng lãnh thổ Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước đã được ứng dụng rộng rãi, cùng các giá trị khoa học và thực tiễn lớn

Dược thảo châu Á được ghi nhận từ rất sớm Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời và phong phú bậc nhất trong nền dược học châu Á Ở Trung Quốc, dược thảo được phát triển như một phần văn hóa của quốc gia này Khoảng 5000 năm về trước (2.737 TCN - 2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc đã mô tả về giá trị và đặc điểm của hơn 70 loại thảo mộc [6] Nhiều loại thảo mộc đã được sử dụng thường xuyên cho việc chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc cổ đại và các kiến thức đó đã được lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế kỷ Các loài thảo mộc được mô tả một cách chính thức trong cuốn sách “Shennong Bencao Jing” [7] Cuốn sách này đã đề cập đến 364 loại dược liệu; bao gồm 252 bộ phận của cây,

67 loại bộ phận động vật và 46 loại khoáng vật làm thuốc; đồng thời cũng mô tả tác dụng chữa bệnh của chúng [8] Chính cuốn sách này đã tạo nền tảng cho sự phát triển của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến ngày nay Cũng vào thời gian này, tài liệu ghi chép lại tri thức sử dụng cây thuốc sớm nhất của người Sumarian

được viết bằng chữ tượng hình vào năm 2000 TCN, “Materia Medica” đã ghi chi

Trang 17

tiết tác dụng chữa bệnh của 250 loại cây thuốc Tiếp đến, hơn 240 loại dược thảo và

52 đơn thuốc đã được mô tả trong cuốn sách “52 Bing - Fang” được khai quật ở một

ngôi mộ cổ vào năm 168 TCN tại Trung Quốc [9] Đến năm 659, trong “Xin Xiu

Ben Cao” đã ghi lại 850 loại thảo dược, là cuốn dược điển nổi tiếng của Trung Quốc

và trên thế giới [8] Năm 1596, Li đã ghi nhận 1892 loại thảo dược và 11.096

phương thức chữa bệnh trong cuốn “Ben Cao Gang Mu” [10]; trong cuốn

“Taiwanese native medicinal plants”, Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được

sắp xếp theo bảng chữ cái tên Latinh [11] Đến năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản

cuốn “Đại từ điển Đông dược” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc Gần đây,

trong cuốn “Dược thảo toàn thư” của Xu J & Yang Y (2009) đã đề cập đến bộ sách

“Cây thuốc Trung Quốc” liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh được biết từ

trước tới nay [6]

Ấn Độ cũng là quốc gia có truyền thống sử dụng các loại dược thảo lâu đời

Tài liệu ghi chép sớm nhất về sử dụng cây thuốc được tìm thấy trong sách

Rig - Veda vào khoảng 4500 - 1600 TCN Đây được xem là cuốn sách cổ nhất về sử

dụng cây thuốc trong lịch sử loài người Cuốn sách này cung cấp nhiều thông tin về

sử dụng cây thuốc ở Tiểu Ấn Hiện tại, có hơn 8.000 loài thực vật sử dụng làm

thuốc đã được biết đến ở Ấn Độ và một số loài vẫn còn được dùng tới ngày nay như

Nhục đậu khấu, Hạt tiêu, Đinh hương Nền y học cổ truyền Ấn Độ được gọi là

Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa Cách đây 6.000 năm, tại Ấn Độ, y học

Ayurveda đã sử dụng bột nghệ làm thuốc chữa bệnh [12,[13] Khoảng 5000 năm

trước, các dẫn liệu lâu đời về việc sử dụng cây thuốc được tìm thấy của người

Sumer ở Nagpur, Ấn Độ, bao gồm 12 phương thức chữa bệnh có đề cập đến hơn

250 loài cây khác nhau [14] Hai thầy thuốc nổi tiếng của y học Ấn Độ là Charaka

(thế kỷ II) và Surhruta (thế kỉ IV) đã thừa kế nhiều kết quả của nền y học Ayurveda

để mô tả nhiều loại thảo dược và khoáng vật sử dụng làm thuốc trong tác phẩm của

họ Charaka trong tác phẩm “Charaka Samhita” đã mô tả 341 loại thảo dược cũng

như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng vật Surhruta trong tác phẩm

“Surhruta Samhita” cũng mô tả 760 loại dược liệu; trong đó có Gai đầu (Cannabis)

và Hyoscyamus [15] Gần đây, y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức

bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng hiệu quả, theo thống kê có

khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc [16] Dãy Himalaya hùng vĩ, cho

đến nay đã tìm thấy khoảng 8.000 loài thực vật Hạt kín, 44 loài thực vật Hạt trần;

Trang 18

trong đó có 1.748 loài được sử dụng như là cây thuốc Hiện nay, lĩnh vực dược liệu

ở Ấn Độ sử dụng khoảng 280 loài cây thuốc, trong đó có 175 loài được tìm thấy ở Himalaya [17]

Không chỉ ở châu Á mà việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện tại các nước châu Âu Việc sử dụng cây thuốc ở đây cũng rất đa dạng và góp phần tạo ra nền tảng của y học truyền thống cổ điển Tuy y học phương Tây phải chịu thiệt thòi theo sự suy tàn của đế quốc La Mã, nhưng nhờ vào sự phát triển của nền văn hóa Ả Rập, sự thu thập kiến thức y học trong thời Hy Lạp và La Mã cổ đã được giữ gìn và soạn thảo công phu Người Ả Rập là những dược sỹ thông thạo và sự giao lưu của

họ với cả y học cổ truyền của Ấn Độ lẫn Trung Quốc nên họ có một trình độ đáng

kể về y học và sự hiểu biết thảo dược Từ năm 400 TCN, người Hy Lạp và La Mã

đã biết đến Gừng (Zingiber officinale) để chữa bệnh cảm lạnh, kém ăn, viêm

khớp… Nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử của khoa học Hy Lạp Theophrastus (371 - 287 TCN), là “cha đẻ của thực vật học”, ông có công lớn trong việc phân loại

và mô tả cây thuốc Khoảng thời gian (350 - 28 TCN), theo Phrastus đã viết hai cuốn sách “De causis plantarium” và “De historia plantarium”, trong đó đề cập đến hơn 500 loài cây thuốc [18] Dioscorides (40-90), là một thầy thuốc người Hy Lạp, ông đã viết cuốn sách dược thảo “De material medical” Quyển sách này bao gồm

500 loài thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương tây, là sách tham khảo chính ở châu Âu và Trung Đông trong hơn 1.500 năm và do đó cuốn sách là tiền thân của các dược điển hiện đại [19] Pliny the Elder (23-79) là một nhà tự nhiên học, nhà triết học La Mã, ông đã viết cuốn “Naturalis historia” đề cập đến khoảng 1.000 loài cây khác nhau [20] Galen (131-200), một thầy thuốc của Hoàng

đế La Mã Marcus Aurelius có ảnh hưởng sâu sắc tới các vị thuốc bào chế từ thảo mộc [21] Charles Đại đế hay Charles I (742-814), vua của Ý từ năm 774, người sáng lập ra trường y có uy tín ở Salerno, trong tác phẩm “Capitularies” đã trích dẫn

100 cây thuốc khác nhau, trong đó có loài Xô thơm (Salvia officinalis) được đánh

giá rất cao [22] Khoảng thế kỷ thứ XI, tại Scotland các thầy tu đã sử dụng cây

Thuốc phiện (Papaver somniferum) và cây Gai đầu (Cannabis sativa) để làm thuốc

giảm đau, thuốc gây mê [16] Các công trình tiêu biểu trong thời kì này là cuốn “De

re madica” của John Mesue; cuốn “canon medicine” của Avicenna và cuốn “Liber magnae collectionis simplicum et medicamentorum” của Ibn Baitar, trong đó có hơn 1.000 cây thuốc đã được mô tả [23] Dược thảo châu Âu không chỉ mang tính

Trang 19

bản xứ như: cây Kin sa (Arnica montana) được dùng nhiều trong các bài thuốc dân

gian ở châu Âu; uống trà Kin sa sẽ làm giảm chứng viêm họng ở tuổi già; Bạch đầu

ông (Anemone pulsatilla) được dùng nhiều trong ngành thảo dược Thụy Sỹ, Đức, Ý, Pháp; còn Hoa chuông (Symphytum officinale) đặc biệt được ưa chuộng ở Anh,…;

mà còn mang tính ngoại nhập như Bạch quả (Ginkgo biloba) có tác dụng cải thiện

hệ tuần hoàn máu lên não, giúp bồi bổ trí nhớ [16]

Ở châu Phi, việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã có từ thời xa xưa Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc, trong đó có Lô hội, Kỳ nam, Gai đầu[23] và họ đã tư liệu hóa cây thuốc bằng cách ghi chép lại những công thức chữa bệnh khác nhau lên bức tường ở các ngôi đền Tác phẩm điển hình là “Ebers papyrus in Egypt” (năm 1550 TCN) đã liệt

kê 876 đơn thuốc có sử dụng 328 loài thực vật Vào khoảng năm 800 TCN, trong thiên sử thi Iliad và Odyssey của Homer có 63 loài thực vật từ Minoan, Mycenae và Assyrian ở Ai Cập đã được giới thiệu Trong đó, một số loài được lấy theo tên của

các nhân vật thần thoại trong sử thi như: cây Thủy dương (Inula helenium) được đặt

theo tên của Elena, người là trung tâm cuộc chiến thành Troy Liên quan đến các

loài thực vật chi Artemisia, tên của chi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “artemis” có

nghĩa là khỏe mạnh, được tin là dùng để khôi phục sức mạnh và bảo vệ sức khỏe [24] Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VIII, các thầy thuôc Ả Rập là những người có công đầu trong ngành y Vào giữa thế kỷ thứ VIII, nhà thực vật học Ibn El Neitar đã xuất bản cuốn sách “Các vấn đề về y khoa” thống kê các chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi Khắp châu Phi, hàng ngàn loài thảo dược khác nhau mọc ở vùng dân cư hoặc hoang dã đã được bày bán trên thị trường Một số loại được kê toa để điều trị trong

gia đình; một số loài như cây Kanna và và cây Iboga (Tabernanthe ibola) dùng để

nhai chống sự mệt mỏi; sử dụng như chất kích thích trong lê hội tôn giáo; cây Thổ

mật (Bridelia ferruginea) và Chàm (Indigofera arrecta) có khả năng trong việc điều

trị tiểu đường [16]

Các nền văn minh cổ đại ở châu Mỹ như Maya, Aztec, Inca đều có nền y học

cổ truyền về dược thảo bản địa với những kiến thức uyên thâm.Theo văn bản truyền miệng về nền văn hóa Inca, các thầy thuốc địa phương ở vùng Bolivia chữa bệnh rất giỏi và họ triết được penicinin từ vỏ chuối xanh Vào năm 1552, Martin de la Cruz

đã viết cuốn “Badianus”, là cuốn sách đầu tiên về dược thảo ở châu Mỹ, liệt kê 251

Trang 20

loài dược thảo Mexico dùng để trị bệnh Cuốn sách này chỉ ra rằng, người Aztec có nhiều bác sỹ giàu kinh nghiệm với các truyền thuyết về y học của người da đỏ [25],[26] Cũng từ lâu người Haiti (Dominic - Trung Mĩ) dùng cây cỏ Lào

(Eupatorium odoratum) làm thuốc đắp vào các vết thương bị nhiễm khuẩn để cầm

máu, chữa đau nhức răng, làm lành các vết loét lâu ngày không liền sẹo… Khắp vùng biển Caribe, dược thảo được sử dụng rộng rãi như dùng Sả chanh

(Cymbopogon citratus) để điều trị sốt, Khổ qua (Momordica charantia) làm giảm

độ đường trong máu Vào thế kỷ XVI, bệnh thiếu vitamin C đã được một người đứng đầu thổ dân da đỏ chữa bằng nước ép và mủ của một loại cây Thế kỷ XVIII

và XIX, ở Bắc Mỹ, các thầy thuốc đã biết sử dụng các loài cây để trị vết thương và vết cắn ngoài da Hiện nay, ở châu Mỹ chủ yếu đi sâu nghiên cứu các loại thảo dược bản xứ để sản xuất các loại thuốc chữa bệnh, trong đó nổi tiếng là trung tâm Belem

ở Đông Bắc Brazil và Bogota ở Colombia [16]

1.1.2 Đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới

1.1.2.1 Đánh giá về giá trị sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc

Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, việc sử dụng các loài cây cỏ làm thuốc chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe được coi như truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc Trên toàn thế giới, ước tính có tới 70.000 loài cây cỏ đã được sử dụng trong dân gian [27] WHO thông báo có hơn 21.000 loài thực vật được sử dụng cho mục đích chăm sóc sức khỏe [28] Trong đó Ấn Độ sử dụng khoảng 7.500 loài [29] Tính đến năm 1997, Trung Quốc sử dụng trên 6.000 loài [30] Tại châu Phi, hơn 5.000 loài thực vật được sử dụng cho mục đích y tế [24] Ở châu Âu, với truyền thống lâu đời trong việc sử dụng thực vật, cũng có khoảng 2.000 dược liệu và hương liệu được sử dụng trong lĩnh vực thương mại…[31] Như vậy ta có thể thấy nhu cầu sử dụng thực vật làm thuốc của các quốc gia trên thế giới là rất lớn

Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – năm 1985, có gần 20.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới châu Á

có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được làm thuốc [32] Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng cây cỏ làm thuốc cũng ngày càng cao Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, lại có nền y học phát triển, nên trong số những loài cây thuốc đã biết hiện này có tới 80% số loài được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các

Trang 21

dân tộc [32] Điều này chứng tỏ, đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc

là loại cây kinh tế, chúng là thành phần trong nhiều bài thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người (Theo tuyên ngôn Chiang Mai, 1988)

Trong khoảng 30 năm ngần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc chữa bệnh ung thư [33], 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính

mạnh được điều chế từ loại Dừa cạn (Cantharanthus roseus); đặc biệt ở Madagasca

người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng và tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên 90% [34] Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược Ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước khác, ít nhất có 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe [33]

Một bước phát triển lớn của ngành y học là các sản phẩm và dịch chiết tự nhiên liên quan đến chữa bệnh đã được quan tâm nghiên cứu nhiều, đặc biệt là việc xác định thành phần hóa học và cấu trúc hóa học của các hợp chất Đánh giá về danh sách một số dược phẩm ở một số nước cho thấy, ít nhất có khoảng 120 hợp chất khác nhau từ thực vật được sử dụng như những loại biệt dược để cứu sống con người [35] Các hợp chất này được sàng lọc mới chỉ khoảng 6% tổng số các loài thực vật Như vậy, nguồn tài nguyên thực vật chưa khai thác cần được điều tra để chữa các bệnh hiểm nghèo như AIDS, ung thư, đái đường… là vô cùng lớn Những hợp chất được tách ra từ các bài thuốc cây cỏ của Trung Quốc đã được đưa vào thị trường Tây

Âu là ephedrin, tiếp theo là artemisinin được tách ra từ Thanh hao hoa vàng, có tính năng lớn trong điều trị sốt rét Năm 2003, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thực hiện giai đoạn 2 thử nghiệm hiệu quả của các loại thuốc có tên là Kanglaite từ Ý dĩ

(Coix Iachryma – jobi), để điều trị các tế bào ung thư phổi [36] Đây là những loại

thuốc đầu tiên từ y học cổ truyền Trung Quốc được đưa vàothử nghiệm điều trị bệnh ở Mỹ Năm 2002, người ta thống kê được có khoảng 1.141 loại thuốc thực vật truyền thống khác nhau có hoạt tính chữa bệnh, trong đó có một số hoạt chất mới từ thực vật như artemisinin (chống sốt rét), indirubin (chống ung thư)…

Trang 22

Các nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu các cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây cỏ như Tokin, Klain, Penneys đều công nhận rằng hầu hết cây cỏ đều có tính kháng sinh, đây là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên, do các hợp chất hay gặp như: Phenolic, antoxyan, dẫn xuất quinine Theo Anon, cho đến năm 1982, đã có ít nhất 121 hợp chất hóa học tự nhiên con người đã nắm được cấu trúc được chiết xuất từ cây cỏ và tổng hợp nên các loại thuốc trị bệnh hiệu quả Ví

dụ như cây Lô hội (Aloe vera) theo Gotthall 1950 đã phân lập được chất glusit

barbaloin có tác dụng diệt vi khuẩn lao ở người Lucas và Lewwis đã chiết xuất từ

Kim Ngân (Lonicera tataria) một hoạt chất tiêu diệt được các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị Các nhà khoa học cũng đã chiết xuất được berberin từ Hoàng liên (Coptis

teeta) chữa bệnh đường ruột [37] Ở Campuchia và Malaysia, người ta dùng Hương

nhu tía (Ocinum sanctum) trị đau bụng, sốt rét, lá tươi ép lấy nước giúp long đờm,

giã nát trị bệnh đau khớp Tại vùng Á Đông, cách đây hơn 6000 năm người ta đã

biết dùng củ Nghệ (Curcuma longa) vừa làm chất màu gia vị, vừa bảo quản thức ăn

tốt Phụ nữ Philippin dùng củ Nghệ chữa kinh nguyệt không đều, lá cùng hoa chữa

ho, giúp tiêu hóa tốt Ngải cứu (Artemisia vulgaris) dùng để trị thổ huyết, chữa trực

tràng, tử cung xuất huyết, bế kinh, động thai…Người dân Thái Lan dùng nhựa mủ cây Đại cùng dầu dừa bôi ngoài da trị viêm khớp [38]

Ở châu Phi, dân số tăng nhanh và đô thị hóa phát triển mạnh, tuy nhiên việc chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống y học truyền thống mà đến 95% cây thuốc bị thu hái từ hoang dại Thu hái cây thuốc kiểu tận thu, không chú ý đến tái sinh vẫn diễn ra khốc liệt, nên nguồn tài nguyên cây thuốc đã suy giảm nghiêm trọng

Ngày càng nhiều cây thuốc được khoa học hiện đại nghiên cứu, sàng lọc, kiểm chứng và đã được công nhận là một trong các công cụ chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe hữu ích Những năm gần đây, cây thuốc dành được sự quan tâm rất lớn từ các tổ chức chính phủ các nước nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa Y học cổ truyền

1.1.2.2 Đánh giá về giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc

Mặc dù, chiếm tỷ lệ nhỏ hơn thuốc có nguồn gốc từ hoá học và công nghệ sinh học, nhưng cây cỏ làm thuốc vẫn được buôn bán khắp nơi trên thế giới Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc ước tính khoảng 16 tỉ Euro mỗi năm Đã có 119 chất tinh khiết được chiết tách từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc trên toàn thế giới, trong đó có tới 74% chất có mối quan hệ với kinh nghiệm sử dụng của các cộng

Trang 23

đồng, ví dụ như:Theophylline từ cây Chè (Camellia sinensis L.), reserpinetừ cây Ba gạc (Rauvolfia canescens L.), rotundin từ cây Bình vôi (Stephania glabra (Roxb.) Miers.),

v.v

Trong những năm 1990, báo cáo nhập khẩu cây thuốc trên toàn thế giới hàng năm trung bình trên 4.000 tấn với trị giá 1,224 triệu USD Trong đó, có đến 80% giá trị xuất nhập khẩu là của 12 quốc gia châu Á và châu Âu.Nhật Bản và Hàn Quốc là hai quốc gia tiêu thụ cây thuốc nhiều nhất.Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia cung cấp cây thuốc hàng đầu; Hồng Kông và Mỹ là các trung tâm thương mại quan trọng [39]

Xuất nhập khẩu cây thuốc của Ấn Độ tăng 3 lần, trong thập niên 90 của thế

kỉ XX; doanh thu từ hoạt động buôn bán dược thảo trong nước và xuất khẩu đạt 1 tỷ USD/năm [40] Sản xuất dược liệu tại Ấn Độ tăng hàng năm, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới Mặc dù có tiềm năng

về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng do khai thác quá mức và không đúng kỹ thuật nên đã làm mất đi nhiều loại cây thuốc Trong đó, có tới 90 - 95% cây thuốc được thu hái từ hoang dại và đến 70% cây thuốc có giá trị thương mại bị thu hái theo kiểu tận thu, thiếu tính khoa học

Nhu cầu cây thuốc ngày càng tăng cao được thể hiện thông qua thị trường thương mại nhộn nhịp trên toàn cầu Nhiều cây thuốc không những bị khai thác để

sử dụng tại chỗ, mà còn được xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới Một lượng lớn cây thuốc ở châu Á và châu Phi, ngoài việc được khai thác để sử dụng nội địa, chúng còn được dùng để xuất khẩu Có tới 80% cây thuốc được xuất khẩu từ các nước châu Á và nhập khẩu vào các nước châu Âu Nhu cầu về cây thuốc tăng

15 - 25% hằng năm và theo ước tính của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì vào năm

2050 nhu cầu tiêu thụ cây thuốc tăng hơn 5 nghìn tỷ USD

Doanh số thuốc sử dụng trong y học cổ truyền Inđonesia tăng nhanh, năm

1996 là 12,4 triệu USD, nhưng đến năm 2000 đã tăng lên 130 triệu USD Đã lựa chọn khoảng hơn 100 loài cây thuốc dùng trong phòng và chữa bệnh thường gặp để đưa vào trồng trọt Indonesia tập trung và ưu tiên phát triển 9 loài có nhu cầu lớn (trên 100 tấn/tháng) như: Xuyên tâm liên, Nghệ, Nghệ sâm, Thục địa, Nhàu, Tiêu dội, Ổi, Sắn thuyền, Gừng để sản xuất các loại thuốc chống lão hoá, tiểu đường, huyết áp cao, thấp khớp, kích thích miễn dịch

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới

Trang 24

Trên thế giới, ở mỗi quốc gia đều có nhiều dân tộc sinh sống mang những nét văn hóa truyền thống khác nhau Vì vậy kinh nghiệm sử dụng thảo dược ở mỗi dân tộc cũng mang nhiều nét đặc trưng riêng

Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc sinh sống, với tri thức bản địa về việc

sử dụng các các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người trong các khu vực khác nhau như: Thực vật học dân tộc Kani/Kanikaran ở miền tây nam Ghats của Ấn Độ đã được ghi nhận có 54 loài thuộc 26 họ; trong đó sử dụng chủ yếu để chữa các bệnh về da, rắn độc cắn, vết thương và bệnh thấp khớp [41] Có 35 loài thực vật được cộng đồng Chhota Bhanhal ở phía tây Himalaya sử dụng trong việc chữa các bệnh khác nhau Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn đề cập sự ảnh hưởng giữa các hoạt động kinh tế, xã hội với các kiến thức dược thảo truyền thống [42] Khi nghiên cứu việc sử dụng cây thuốc ở huyện Kancheepuram của Tamil Nadu, các tác giả đã xác định 85 loài thực vật thuộc 76 chi, 41 họ để điều trị các bệnh khác nhau về da, rắn độc cắn, đau bụng

và rối loạn thần kinh [43]

Quá trình khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn Quốc đã thu thập được 171 loài thực vật thuộc 141 chi, 68 họ và 777 cách sử dụng các loài cây làm thuốc của người dân bản địa Nghiên cứu cũng chỉ ra các họ có nhiều cây làm thuốc là: Cúc (Asteraceae), Hoa hồng (Rosaceae), Cam (Rutaceae), Hoa tán (Apiaceae) [44] Nghiên cứu khác về tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc tiến hành ở VQG Gayasan, Hàn Quốc đã phát hiện 200 loài thuộc 168 chi, 87 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: Rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ

hô hấp, bệnh gan và các vết thương [45] Việc điều tra cây thuốc từ rừng thiêng và nương rẫy của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã xác định được 365 loài thực vật thuộc 224 chi và 82 họ sử dụng để làm thuốc, trong đó dùng nhiều nhất là các cây họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Long não (Lauraceae) [46]

Khai thác kinh nghiệm sử dụng thực vật của người dân địa phương ở Banda Daud Shah, Karak, Pakistan đã ghi nhận 58 loài thuộc 52 chi, 34 họ được sử dụng cho các mục đích khác nhau, trong đó có 40 loài dùng để chữa bệnh và nhiều nhất

là các bệnh về dạ dày-ruột, long đờm và hạ sốt [47] Gần đây, khi tiến hành khảo sát nguồn cây thuốc được sử dụng bởi tộc Deb Barma của bộ tộc Tripura ở huyện Moulvibazar, Bangladesh đã chỉ ra có 44 cây thuốc thuộc 34 họ được các thầy lang

sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: Đau, ho, cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa,

Trang 25

vết thương, bệnh tiểu đường, sốt rét, bệnh về tim và tê liệt [48] Tìm hiểu về sử dụng cây thuốc dân tộc ở khu vực Swat, Bắc Pakistan đã thu thập 106 loài thuộc 54

họ được người dân bản địa sử dụng để điều trị bệnh [49] Trong năm 2014, 161 loài thảo dược thuộc 144 chi, 86 họ được ghi nhận đã dùng để điều trị các bệnh khác nhau trong cộng đồng người Tamang ở huyện Makawanpur, Nepan [50] Người Di

là nhóm dân tộc thiểu số đứng thứ 6 ở Trung Quốc, trong đó tập trung chủ yếu ở Vân Nam Nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng bởi dân tộc Di đã tìm thấy 116 loài thuộc 58 họ, điều trị các bệnh liên quan đến chấn thương, rối loạn tiêu hóa, cảm lạnh Trong đó có 25 loài được tìm thấy có tác dụng chữa bệnh mới [51]

Y học dân gian châu Âu phát triển từ rất sớm, cũng như các nước châu Á, những tri thức dân gian được truyền lại cho thế hệ sau bằng việc ghi chép hoặc truyền miệng qua nhiều thế kỷ [52] Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc sử dụng các loài thực vật chữa trị các loại bệnh của người dân bản địa được thực hiện như: Nghiên cứu về cây thuốc ở Serra de São Mamede, Bồ đào Nha đã cung cấp thông tin của 165 loài thực vật làm thuốc [53]

Đã có trên 518 loài thực vật thuộc 335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau ở khu vực Alps Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia [54]; 98 loài thực vật thuộc 39 họ được người dân ở Alpe Abania, Kosovo sử dụng

để điều trị các bệnh khác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Cúc (Asteraceae) và họ Bạc hà (Lamiaceae) [55]

Ở châu Mỹ những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũng được thực hiện ở nhiều nơi: Nghiên cứu về cây thuốc ở miền Bắc Peru xác định có 510 loài dùng để điều trị bệnh [56] Khi nghiên cứu cây thuốc ở một cộng đồng khác của Peru là Asháninka tại Bajo Quimiriki, Junín đã xác định được 402 loài dùng để điều trị các bệnh, trong đó chủ yếu thuộc các họ như: Cúc (Asteraceae), Ráy (Araceae), Cà phê (Rubiaceae) [57]

Người dân châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa từ rất lâu để bảo vệ sức khỏe Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người dân bản địa châu Phi rất đa dạng Cộng đồng dân tộc Mt Nyiru, Nam Turkana, Kenya đã ghi nhận 448 loài cây thuốc được người dân sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh [58] Kết quả điều tra cây thuốc ở Babungo, phía Bắc Cameroon đã ghi nhận

107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ được người dân địa phương sử dụng [59]

Trang 26

Những kiến thức truyền thống về cây thuốc và kinh nghiệm về cây thuốc bản địa trong việc sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn mở ra một triển vọng cho việc phát triển nhiều loại thuốc mới

1.2 Khái quát về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Đất nước ta nằm trên bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng Bắc Nam hơn 1600 km, ngoài đất liền còn có các đảo lớn nhỏ ven bờ và các quần đảo ở ngoài khơi xa như Trường Sa, Hoàng Sa Tổng diện tích của cả nước là 321.210 km2

Việt Nam có 54 dân tộc, trong quá trình tồn tại và phát triển, từ lâu đời cộng đồng các dân tộc đã biết sử dụng nhiều loài cây cỏ có sẵn để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe Vốn kinh nghiệm quý báu với bề dày lịch sử mấy ngàn năm của các dân tộc đã góp phần tạo dựng nền Y học cổ truyền Việt Nam [60]

Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước (năm 2900 TCN), tổ tiên ta đã biết sử dụng Riềng, Gừng để làm gia vị ăn cho ấm cơ thể; uống nước Vối, nước Chè vằng giúp sản phụ “thông máu, ngon cơm” Theo Long Úy ghi lại, đầu thế kỷ thứ II TCN, có hàng trăm vị thuốc đã được phát hiện và sử dụng ở nước ta như quả Giun (Sử quân tử), Sắn dây (Cát căn)…

Nguồn cây thuốc ở Việt Nam đặc biệt phong phú và đa dạng về thành phần loài.Dường như tất cả các nhóm và ngành thực vật (kể cả Nấm) đều có các loài được sử dụng để làm thuốc; đặc biệt là trong các ngành Thực vật bậc cao có mạch Trong số 10.386 loài đã biết thì cây làm thuốc chiếm tới trên 37,26% So với một số nhóm cây có ích khác như: cây gỗ cho 700 loài; cây chứa tinh dầu 657 loài; song mây và tre nứa trên 130 loài rõ ràng số loài cây được sử dụng làm thuốc lớn hơn

Trang 27

rất nhiều Ngay từ thời cổ xưa nhân dân đã biết sử dụng thực vật làm thuốc chữa bệnh.Ngày nay nền y học cổ truyền của ta đã phát triển khá mạnh [61] Tuệ Tĩnh sinh ra vào đời Trần, trong lúc triều đình và giới quan lại quyền quý sính dùng thuốc Bắc thì thầy thuốc Tuệ Tĩnh với tinh thần độc lập tự chủ đã đề xưởng ra quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” qua tác phẩm “Nam dược thần hiệu” (được bổ sung

và in lại vào 1761) với những phương thuốc giản dị và có sẵn ở Việt Nam [61] Với

11 quyển, nói tới công dụng của 496 vị thuốc Nam trong đó có 241 vị thuốc là thực vật, 3.873 bài thuốc chữa 182 chứng bệnh Ông được coi là “vị thánh thuốc nam” và

để lại cho đời sau nhiều bộ sách y thư quý giá như: “Tuệ Tĩnh y thư”, tiếp theo là tác phẩm “ Hồng Nghĩa Giác Tư Y” với 2 bài Hán - Nôm, trong đó tóm tắt của 130

loài cây thuốc cùng cách trị 37 chứng sốt khác nhau (Thương hàn tam thấp trùng

pháp) Đến thế kỷ XVIII đại danh y Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác

(1720 – 1791) đã dày công sưu tầm và bổ sung 305 vị thuốc Nam, thu thập hơn

2854 phương thuốc hay và bài thuốc các vị tiền bối đã lưu tryền trong dân gian

Ông để lại bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển nói về lý luận

cơ bản, phương pháp chuẩn đoán, trị bệnh với các phương thuốc Đông Y- Tây Phương do ông sáng chế cùng các phương thuốc dân tộc Ngoài ra, ông còn mở trường dạy nghề y, truyền bá tư tưởng của mình Ông được mệnh danh là người sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [62]

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), sau nhiều năm điều tra, hai nhà thực vật người Pháp Crévost và Pétélot đã công bố cuốn “Danh mục các sản phẩm ở Đông

Dương” Catalogue desproduits de l’Indochine (1928 – 1935) Đến năm 1952,

Pétélot đã bổ sung dẫn liệu và hoàn chỉnh bộ sách trên gồm 4 tập Bộ sách thống kê

có 1842 vị thuốc thảo mộc trên toàn Đông Dương [63]

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Y dược cổ truyền được đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế, cùng với y học hiện đại chăm lo sức khỏe cho nhân dân Kế thừa

Y học cổ truyền dân tộc, phát huy, phát triển dược liệu và dược học dân tộc đã có nhiều cuốn sách cũng như các công trình nghiên cứu về cây thuốc ra đời với nhiều

công trình tiêu biểu như: Đỗ Tất Lợi (1957) đã biên soạn bộ sách “Dược liệu học và

các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập; năm 1961 tái bản thành hai tập, trong đó tác giả

mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 – 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Năm

1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu thêm 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo

Trang 28

mộc, động vật và khoáng vật Cuốn sách được bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình tái bản nhiều lần Ông đã mô tả tỷ mỷ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả các cây đó theo công dụng khác nhau [64] Đến nay, đã tái bản có bổ sung tới lần thứ 9 (năm 2000) với khoảng 800 cây

và vị thuốc Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại.Vũ Văn Chuyên (1966) đã xuất bản cuốn

“Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” để phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, được in lần thứ hai vào năm 1976 [65] Cuốn sổ tay cây thuốc Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương (1980) đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện [66]

Nói đến dược thảo hiện đại không thể không kể đến tác phẩm “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, cuốn sách đã giới thiệu 3.200 loài cây thuốc chỉ

rõ tên cây, mô tả, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng, đơn thuốc đơn giản [67] Đến năm 2012, ông tái bản có bổ sung bộ “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ mới, gồm 2 tập) mô tả tỷ mỷ về khoảng 4.700 loài được sử dụng ở Việt Nam [68] Ngoài ra, ông còn biên soạn cùng Trần Hợp cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như cây lấy gỗ, cây lương thực, cây làm thuốc [69]

Từ năm 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm đến cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: Cuốn “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” đề cập đến 327 cây thuốc thường dùng trong thực tế [70].Bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” gồm 2 tập, chứa đựng những thông tin toàn diện, đầy đủ và cập nhật nhất đến năm 2006, giới thiệu 1.165 loài cây thuốc và gần chục ngàn bài thuốc [71] Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002), các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam [72] Lã Đình Mỡi và cộng sự (2005) đã giới thiệu công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” Đây là tài liệu đầu tiên trình bày có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính sinh học được sử dụng làm thuốc ở nước ta [73]

Gần đây nhất, cuối năm 2016, Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn “Danh lục cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 5.117 loài có công dụng làm thuốc ở nước ta Trong cuốn sách cũng chỉ ra rằng, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên của ta không chỉ phong

Trang 29

phú về số lượng loài mà còn phong phú cả về xuất xứ địa lý, khả năng khai thác cũng như về nhiều giá trị nguồn gen khác nhau [74]

Ngoài những cuốn sách được xuất bản, nhiều đề tài nghiên cứu được thực hiện điều tra nguồn tài nguyên cây thuộc ở những khu vực cụ thể như: Nguyễn Văn

Dư (2015) đã ghi nhận ở khu vực Tây Nguyên có 1.633 loài cây được dùng làm thuốc và 363 bài thuốc [75]; Lê Thanh Hương (2015) đã ghi nhận 745 loài cây làm thuốc tại tỉnh Thái Nguyên [76]

1.2.2 Khái quát giá trị sử dụng và giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Cùng với việc điều tra, nghiên cứu sử dụng cây thuốc truyền thống theo các khu vực, một số tác giả lại định hướng nghiên cứu vào mục đích chữa bệnh cụ thể như Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), đã tiến hành điều tra, sàng lọc các cây thuốc dân tộc có khả năng chữa bệnh ung thư từ kinh nghiệm chữa bệnh truyền thống của dân tộc [77] Các nhà khoa học của trường Đại học Y Dược Hà Nội đã sản xuất

thành công thuốc chữa bệnh đau dạ dày từ cây Chè dây (Ampelopsis cantonensis),

Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên sản xuất được thuốc chữa bệnh viêm loét dạ

dày từ củ Nghệ (Curcuma longa); các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên

sinh vật cũng đã có những thành công bước đầu trong việc nghiên cứu chữa ung thư tiền liệt tuyến từ bài thuốc truyền thống của người Tày ở Cao Bằng, Viện Y học cổ truyền Trung ương cũng đang có nhiều nghiên cứu về các bài thuốc dân tộc như: Bài thuốc chữa sỏi thận, chữa viêm gan [78]

Số liệu thống kê của ngành Y tế gần đây cho biết, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30.000 - 50.000 tấn các loại dược liệu khác nhau Trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm Tuy vậy, khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm khoảng 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh đó, còn nhiều loài cây thuốc khác vẫn được thu hái sử dụng tại chỗ trong cộng đồng, hiện chưa có con số thống kê

cụ thể Mặt khác, nghiên cứu về giá trị kinh tế của cây thuốc ở Việt Nam hiện nay, cho thấy trong những năm gần đây, dược liệu để xuất khẩu mỗi năm từ 5.000 đến gần 10.000 tấn, với giá trị khoảng 15 triệu USD

Việt Nam còn xuất khẩu một số bán thành phẩm thuốc dưới dạng hoạt chất như: Berberin, palmatin, rotundin, rutin,… Một số doanh nghiệp đã xuất khẩu được

Trang 30

thuốc hoạt chất như: Artemisinin, artesunat,… và nhiều dạng thuốc Đông dược khác Trong khối công nghiệp dược, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, tư nhân) đang sản xuất 1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23% số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành từ năm

1995 - 2000, sử dụng 435 loài cây cỏ Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn/năm và cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm Theo số liệu năm 1998, Tổng công ty Dược Việt Nam đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng xuất khẩu dược liệu có thể đạt 40 - 50 triệu USD

1.2.3 Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc các dân tộc ở Việt Nam

Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, trong đó cộng đồng người Kinh (Việt) có tỷ lệ dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, có thành phần đa dạng, bao gồm các nhóm dân tộc Tày - Thái, Hmông - Dao, Tạng - Miến ở miền núi phía Bắc; các nhóm dân tộc sinh sống ở miền Trung và miền Nam chủ yếu thuộc nhánh ngôn ngữ Môn - Khmer; nhóm các dân tộc Cơ tu, Ê đê - Gia Rai – Mơ nông… sinh sống dọc ven biển miền Trung và Tây Nguyên Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc khác nhau [79] Điều này dẫn đến sự đa dạng về tri thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam Nhiều công trình điều tra về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm vừa qua

Nhìn nhận được tầm quan trọng trong việc sử dụng thuốc dân tộc, việc nghiên cứu cây thuốc dân tộc cũng được quan tâm hơn Năm 1993, trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc cổ truyền (CREDEP) đã hợp tác với trường Đại học Dược Hà Nội và các tổ chức khoa học trong nước và quốc tế tiến hành điều tra, nghiên cứu về cây thuốc dân tộc, đã triển khai dự án về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây có ích, đặc biệt là cây thuốc của các dân tộc thiểu số như: Tày, Dao, H’Mông ở VQG Ba Bể (Bắc Kạn); Sán Dìu ở VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Dao ở Ba Vì (Hà Tây); Mường ở Cúc Phương; Tày và Dao ở 2 xã Yên Ninh

và Yên Đổ, huyện Phú Lương (Thái Nguyên); Cao Lan ở Đội Cấn, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) [79]

Trang 31

Dự án Bảo tồn cây thuốc cổ truyền hoạt động từ năm 1997, trải qua 12 năm thực hiện các công trình nghiên cứu trong dự án đã tiến hành điều tra, khảo sát thu thập các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân tộc ở nhiều vùng trên cả nước: Người Dao ở VQG Ba Vì với 579 loài và 125 bài thuốc; người Mường ở xã Cẩm Liên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa với 136 loài và 102 bài thuốc…[80]

Theo công bố của Viện Dược liệu, gần đây đã xác định được 5.117 loài có công dụng làm thuốc được biết đến ở Việt Nam hiện nay, nhiều loài được sử dụng theo kinh nghiệm trong dân gian Số loài được xác minh khoa học về giá trị, cơ chế chữa bệnh (kể cả nguồn tài liệu của nước ngoài) chỉ chiếm khoảng 20 - 30% Chúng được sử dụng để điều trị từ các chứng bệnh thông thường mắc phải trong cuộc sống hàng ngày, như: Cảm sốt, cảm lạnh, cầm máu - làm lành vết thương, ăn uống khó tiêu, bong gân - sai khớp do ngã, bó - nắn gãy xương,… cho đến cả một số bệnh nan

y khó chữa như bệnh tim mạch, gan, thần kinh, tiểu đường, Trong một số công bố gần đây về 920 loài cây thuốc, các tác giả của công trình đã liệt kê ra được 64 loại bệnh chứng đã được điều trị bằng cây thuốc theo cách cổ truyền Đối với một số loại bệnh nan giải về: Gan, thận, đau dạ dày, thấp khớp, gãy xương, rắn cắn… Nhìn chung, người dân tỏ ra có tín nhiệm hơn khi điều trị bằng cây thuốc theo kinh

nghiệm của Y học cổ truyền

Trong thời gian từ 2010 - 2015, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộc H’Mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày, Nùng tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang…

đã đạt được một số kết quả Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự (2001) đã điều tra đánh giá, về tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một số dân tộc (Dao, Tày, Hoa) tại Yên Tử - Quảng Ninh đã thu thập được 326 loài thực vật làm thuốc Tiếp theo, Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự (2009) đã điều tra, đánh giá tài nguyên cây thuốc của người Mường và Dao tại Chiềng Sinh – Mộc Châu (Sơn La) đã thống kê được 209 loài cây thuốc được người Mường sử dụng và 176 loài cây thuốc được người Dao sử dụng [81]

Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc trên khắp cả nước đã góp phần làm phong phú kho tàng tri thức y học dân tộc Khi nghiên cứu về cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở Con Cuông, Nghệ An đã ghi nhận 551 loài thuộc 364 chi, 120 họ thực

Trang 32

vật [82] Kết quả điều tra kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào Dao tại vùng đệm VQG Ba Vì đã xác định được 503 loài Nguồn cây thuốc ở huyện Củ Chi

đã ghi nhận có 162 loài, 135 chi, 63 họ, 10 loài thuộc diện bảo tồn [83] Năm 2011, nhóm tác giả nghiên cứu về thực vật có giá trị làm thuốc của dân tộc Thái ở hai huyện Quỳ Hợp và Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã được xác định có 287 loài thuộc

204 chi, 87 họ của 4 ngành thực vật [84] Tiến hành điều tra về tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ Tu và Vân Kiều tại vùng đệm VQG Bạch

Mã, các nhà khoa học dã chỉ ra người Cơ Tu sử dụng 249 loài cây thuốc thuộc 82 họ; người Vân Kiều sử dụng 27 loài thuộc 21 họ thực vật [85] Năm 2015, trong một nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng đã chỉ ra được 214 loài được sử dụng, trong đó: Người dân tộc Dao sử dụng 121 loài, dân tộc H’mông sử dụng 50 loài và dân tộc Tày - Nùng sử dụng 207 loài Tập trung chữa các bệnh về tiêu hóa, bệnh ngoài da, mẩn ngứa, các bệnh liên quan đến hệ vận động, xương khớp [86] Khi tìm hiểu về tri thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng tại VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình đã chỉ ra được 342 loài thuộc 104 họ thực vật được biết đến để chữa các loại bệnh khác nhau Các loài làm thuốc tập trung chủ yếu ở một số

họ như: Thầu dầu (Euphorbiaceae), Cúc (Asteraceae), Cà phê (Rubiaceae)… Trong đó có

21 loài thuộc diện cần bảo tồn [87]…

Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc thường được truyền miệng từ đời này sang đời khác và chỉ lưu giữ trong một cộng đồng nhỏ Nhưng hiện nay, do ảnh hưởng của đời sống hiện đại cũng như quá trình đô thị hóa mà những kinh nghiệm quý báu dần mai một Nhiều cây thuốc quý hiếm chỉ xuất hiện ở miền núi đang có nguy cơ tàn phá và mất dần do lạm dụng khai thác Vì vậy, phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hóa thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để có biện pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1.2.4.Những nghiên cứu về Hệ thực vật và cây làm thuốc tại Na Hang

Các công trình nghiên cứu về thực vật ở Na Hang chưa có nhiều Theo Mike Hill & Nevill Kemp (1996, 1997) thống kê Hệ thực vật Na Hang có 607 loài thuộc

123 họ phân bố trong khu bảo vệ nghiêm ngặt Bản Bung; khu bảo vệ nghiêm ngặt Tắt Kẻ có 918 loài thuộc 135 họ [1],[2] Theo Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết

Trang 33

Chiến (2006) [3], Hệ thực vật tại khu BTTN Na Hang có 1.162 loài, thuộc 604 chi,

159 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch; trong đó có 558 loài thực vật được ghi nhận có giá trị làm thuốc.Nguyễn Anh Tuấn, Trần Huy Thái (2012) [5], tiến hànhnghiên cứu về bảo tồn các loài Hoa tiên quí hiếm và đặc hữu trong chi Hoa tiên

(Asarum) ở Na Hang, Tuyên Quang; trong đó có các đặc điểm về thực vật, về sinh thái và phân bố của loài Biến hóa núi cao (Asarum balansae Franch.) tại Bản Bung Nghiên cứu cũng ghi nhận bổ sung thêm 01 loài (Asarum yunnanense T Sugaw.,

Ogisu & C Y Cheng) cho Hệ thực vật Việt Nam.Phan Kế Lộc, Phạm Văn Thế, L.V Averyanov và cộng sự (2013) [88], đã tiến hành đánh giá giá trị bảo tồn của thực vật ở khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Kết quả đã chỉ ra hiện trạng bảo tồn của 189 loài được nhận mặt trong 720 số hiệu mẫu vật thu thập được ở khu BTTN Na Hang và 2 điểm lân cận trong khoảng 15 năm gần đây (chiếm nhiều nhất chưa tới 20% tổng số loài thực vật bậc cao có mạch dự kiến có mặt) cho thấy: đã ghi nhận được 31 loài (16%) bị đe dọa tuyệt chủng trong đó có 01 loài đang bị tuyệt chủng trầm trọng (Lan hài hằng) 12 loài đang bị tuyệt chủng (4 loài cây gỗ: Nghiến, Trai, Đinh vàng và Thông hai lá đá vôi; 3 loài Lan kim tuyến: Kim tuyến thật, Kim tuyến đá vôi và Kim tuyến giả; 3 loài Lan hài khác: Lan hài xanh, Lan hài trần liên và Lan hài tíavà 2 loài khác: Tỏi lào chuông và Thu hải đường Na Hang);

18 loài sắp bị tuyệt chủng Ba loài mới cho khoa học có mẫu chuẩn thu ở khu BTTN Na Hang (Tuế lá dài, Tỏi lào chuông và Thu hải đường Na Hang), trong đó 2 loài sau là đặc hữu rất hẹp, chỉ mới biết ở điểm thu mẫu chuẩn Ba quần xã thực vật nguyên sinh (Rừng ưu thế Nghiến và có khi cả Trai trên sườn núi đá vôi, rừng Thông đuôi chồn và rừng thuần loại Thông hai lá đá vôi trên đường đỉnh đá vôi) là những đối tượng cần ưu tiên bảo tồn này như các hệ sinh thái nguyên vẹn, nơi sống

từ lâu đời của các loài bị đe dọa tuyệt chủng đã biết, chưa biết cùng các yếu tố tại chỗ khác

1.3 Vấn đề bảo tồn và nghiên cứu nhân giống tài nguyên cây thuốc

Nhu cầu ngày càng cao về cây thuốc không những ở các nước đang phát triển

mà còn ở các nước phát triển Nguồn tài nguyên cây thuốc không phải vô hạn song việc khai thác quá mức trong tự nhiên lại không bao giờ dừng, trên toàn thế giới ước tính có khoảng 9.000 loài cây thuốc đang bị đe dọa [39], nhiều loài cây đã bị

tuyệt chủng như loài Saussurea costus ở Pakistan Một cây thuốc quý khác nữa là

Trang 34

cây Taxus wallichiana Zucc, do khai thác quá mức nên đang được Nepal bảo vệ

nghiêm ngặt và hiện đang được ưu tiên bảo tồn; còn ở Trung Quốc cây này đang bị xếp vào bậc nguy cấp Trong Sách Đỏ Trung Quốc đã thống kê có 168 loài cây thuốc nguy cấp và trong Chương trình hành động quốc gia về Bảo tồn đa dạng sinh học, nước này đã liệt kê 19 loài cây thuốc cần phải bảo vệ khẩn cấp Do đó năm

2004, quốc gia này đã thiết lập được 2.194 khu bảo vệ được hơn 50% cây thuốc Ngoài ra, các nước chú trọng đến bảo tồn cây thuốc là Nepal, Bhutan, Pakistan…

Tại Hội nghị lần thứ 40 của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tháng 5 năm 1987

đã tái xác định những quan điểm chính được đưa ra ở hội nghị Alma – Ata từ năm

1979 là “Cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc” [89] Sự cần thiết trong việc hợp tác liên ngành để có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo tồn cây thuốc đã gây chú ý đến toàn thế giới Năm 1993, WHO đã phối hợp với IUCN

và WWF xuất bản cuốn tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” Những hướng dẫn này sẽ giúp ích cho các thành viên WHO, cũng như các cá nhân liên quan, như các nhà thực vật học, cộng đồng, người tiêu dùng…[90]

Cường độ tiêu thụ cây thuốc ngày càng cao nhưng hầu hết cây thuốc trên thị trường đều được thu hái từ hoang dại, nhiều loài quý hiếm theo kiểu tận thu đã rơi vào tình trạng nguy cấp, thậm chí đã bị tuyệt chủng Đặc biệt ở các nước có sử dụng

và xuất khẩu một lượng lớn cây thuốc đang phải đối mặt với sự mất đa dạng sinh học, dẫn đến khan hiếm, cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc bởi có tới 80% - 90% cây thuốc được thu hái từ hoang dại, thậm chí lên tới 99% ở Nam Phi Tại Mỹ, hơn 1.500 loại thuốc thảo dược có giá trị hàng tỷ USD được bán hàng năm Trung Quốc, ước tính sử dụng 700.000 tấn và xuất khẩu 32.600 tấn dược liệu thô mỗi năm và có tới 80% trong số đó được khai thác ngoài tự nhiên Nhiều loài trước đây rất phổ biến nhưng do thu hái không chú ý đến tái sinh đã rơi vào tình trạng nguy cấp như

loài Coptis teeta vốn mọc tự nhiên rất nhiều ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, nhưng cũng

do khai thác quá mức để xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á nên đang là loài cực kỳ nguy cấp Đứng trước những thách thức về bảo tồn đa dạng sinh học trên,

Ấn Độ đã xây dựng chương trình hành động quốc gia Uttaranchal, nhằm xác định hai vùng chính trong mỗi khu rừng là: vùng bảo tồn và vùng phát triển Tại các khu

bảo tồn, các loài cây thuốc sẽ được lựa chọn, đánh dấu tại chỗ (in - situ) và tiến

Trang 35

hành bảo vệ nghiêm ngặt Tại khu vực phát triển, bên cạnh việc bảo vệ nguồn tài nguyên sinh học hiện có thì các cây thuốc ở khu vực lân cận cũng được tập trung trồng với quy mô lớn Đối với các khu vực còn lại trong rừng, các loài cây thuốc được tiến hành khai thác bền vững Một hội đồng gồm các chuyên gia về cây thuốc, lâm nghiệp, người dân địa phương sẽ lựa chọn quyết định mức độ khai thác hàng năm đối với các loài cây thuốc [91] Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ đã tập trung vào việc phát triển các vùng phân bố cây thuốc Các phạm vi trong kế hoạch thực hiện bao gồm: (1) Lập bản đồ và kiểm kê các loài dược thảo; (2) Bảo

tồn tại chỗ (in - situ) và tiến hành trồng (ex - situ) các cây thuốc được lựa chọn; (3)

Sản xuất giống cây chất lượng; (4) Truyền bá kiến thức thông qua giáo dục và truyền thông; (5) Thúc đẩy hệ thống thị trường trong nước và toàn cầu; (6) Tăng cường nghiên cứu, phát triển và tăng nguồn nhân lực Hiện tại, phần chính của chương trình nghiên cứu về bảo tồn cây thuốc đang được chuyển dịch từ mức độ hệ sinh thái sang mức độ loài [92]

Không chỉ Ấn Độ, mà Trung Quốc cũng nhìn thấy vấn đề suy giảm nghiêm trọng đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Nhiều loài cây thuốc đang bị đe dọa hoặc

đã trở nên hiếm gặp hoặc có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quy mô lớn Trong khi đối mặt với những thách thức này, chính phủ Trung Quốc đã có hành động kịp thời, điển hình như việc ban hành “Hướng dẫn phát triển y học hiện đại Trung Quốc giai đoạn 2002 - 2010” Hướng dẫn này đề cập đến vấn đề sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc gắn liền với việc bảo vệ môi trường; bảo vệ sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái, đặc biệt là để phục hồi và tái sinh các loài thực vật đang bị kiệt quệ và có nguy cơ tuyệt chủng Việc bảo vệ và sử dụng bền vững dược thảo Trung Quốc được coi là “một trong sáu nhiệm vụ then chốt” do chính phủ đề ra [93]

Theo IUCN, 2002 nhiều tổ chức đã hỗ trợ hàng chục triệu đô la để bảo tồn thiên nhiên như WWF đã chi 18,4 triệu USD, Botanic Gardens Conservation International (BGCI) chi 11,6 triệu USD và Earthwatch chi 16 triệu USD để đào tạo nhân lực bảo tồn và cứu vãn được 20.000 loài thực vật quý hiếm thoát khỏi tuyệt chủng trong số đó cây thuốc chiếm tỷ lệ không nhỏ

Bảo tồn đa dạng sinh học trong đó có tài nguyên cây thuốc trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia Như vậy, trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia

đã có nhiều nỗ lực và hành động thiết thực nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài

Trang 36

nguyên cây thuốc Hiện nay, ước tính trên thế giới có khoảng 2.000 vườn thực vật (chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ, châu Á) bảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng như cây thuốc nói riêng

Việt Nam cũng không nằm ngoài trong vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học cũng như nguồn gen cây thuốc quý, vì vậy các hoạt động bảo tồn cây thuốc cũng được quan tâm rất nhiều Trong khuôn khổ chương trình “Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc Việt Nam” kết hợp với các chương trình, dự án khác, Viện Dược liệu, Bộ

Y tế (2009) đã tiến hành hợp tác với các VQG và khu BTTN điều tra đánh giá hệ cây thuốc, xây dựng phương án bảo tồn tại chỗ [80] Từ lâu Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong đó có bảo vệ sự đa dạng các loài sinh vật của đất nước Chưa đến 10 năm, sau cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, năm 1962, Chính phủ nước ta đã kí quyết định thành lập vườn quốc gia đầu tiên của đất nước - VGQ Cúc Phương và Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên ký vào công ước Quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh vật tại Hội nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Brazil) vào năm 1992 Đến tháng 5 năm 2005, số lượng VQG và khu BTTN trong cả nước đã lên tới 130 Đồng thời với điều đó, chính sách đóng cửa rừng cũng đã được công bố nhằm góp phần bảo vệ đa dạng sinh vật, bảo vệ tài nguyên và môi trường của đất nước

Từ năm 1988, Viện Dược liệu đã được Ủy ban Khoa học công nghệ, nay là

Bộ Khoa học - Công nghệ giao nhiệm vụ đầu mối trong việc bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc ở Việt Nam Từ đó đến nay, đã xây dựng được hệ thống gồm 15 đơn vị tham gia vào công tác bảo tồn Đến thời điểm này, các đơn vị trong hệ thống

đã bảo tồn và lưu giữ được gần 1.000 loài cây dược liệu ở các vùng sinh thái khác nhau như: Hà Nội, Sa Pa, Tam Đảo, Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt,

đã có trên 1.500 nguồn gen được lưu giữ tại vườn cây thuốc trong hệ thống Bên cạnh đó, Viện Dược liệu và các đơn vị cũng đã phối hợp với 16 vườn quốc gia và các đơn vị khác triển khai bảo tồn tại chỗ Hiện trong hệ thống đang lưu giữ và bảo tồn gần 100 loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

Trong thời gian gần đây, Viện đã triển khai phát triển nhiều nguồn gen để phục vụ phát triển bền vững như: trồng Sâm Ngọc linh ở Quảng Nam và Kon Tum; Actiso ở Sa Pa (Lào Cai) và Sìn Hồ (Lai Châu); Đương quy Nhật bản ở Bắc Hà (Lào

Trang 37

Cai), Quản Bạ (Hà Giang); Địa liền ở Bắc Giang; Sa nhân ở Thái Nguyên; Đảng sâm Việt Nam ở Kon Tum; Ba kích, Cà gai leo, Nghệ và Sâm báo ở Thanh Hóa

Để bảo tồn và phát triển bền vững và có hiệu quả nguồn gen dược liệu Việt Nam cần có sự tham gia của nhiều bộ, ban ngành từ Trung ương đến địa phương và người dân Trước mắt, Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các đơn vị triển khai tốt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó có nhiệm vụ về điều tra đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu và triển khai chương trình bảo tồn, xây dựng một số vườn cây thuốc để phục vụ cho công tác bảo tồn trong thời gian tới Trong nội dung của Quy hoạch tổng thể nêu trên có các nhiệm vụ quy hoạch các vùng khai thác, vùng trồng dược liệu

Bên cạnh đó cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động để các cấp, các ngành, các địa phương và người dân nâng cao nhận thức về giá trị nguồn tài nguyên dược liệu Có như thế, công tác bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên dược liệu trong thời gian tới mới vững chắc, nguồn tài nguyên dược liệu của Việt Nam sẽ không bị đứng trước nguy cơ cạn kiệt Nguyễn Tập (2007), trong công trình

“Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam [94], tác giả đã thống kê 144 loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, kèm theo cấp phân hạng cần được bảo vệ

Song song với bảo tồn, Viện Dược liệu đã tiến hành nghiên cứu phát triển khoảng 30 loài cây thuốc có tiềm năng để phục vụ khai thác, thông qua các nghiên cứu

về nhân giống, xây dựng quy trình trồng trọt cũng như xây dựng các mô hình phát triển dược liệu tại Việt Nam Có thể nhân giống dược liệu bằng hom hoặc bằng hạt

a Nhân giống bằng hom

Giâm hom là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng sử dụng thân cây (bao gồm các dạng thân như thân củ, thân rễ, thân cành), cành và lá, rễ cây để tạo ra cây mới gọi là cây hom Cây hom có đặc tính di truyền giống như cây mẹ

Nhân giống bằng hom có hệ số nhân giống lớn, giữ được đặc tính tốt của cây

mẹ và tương đối rẻ tiền nên được sử dụng rộng rãi trong nhân giống cây trồng, cây cảnh và cây ăn quả Nhân giống bằng hom là làm cho hom ra rễ, còn thân cây sẽ được hình thành từ các chồi bên hoặc chồi bất định Đặc điểm ra rễ phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài và các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài trong quá trình giâm hom Do đó, khi giâm phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cho hom ra rễ

Trang 38

Khi hom bị cắt, các tế bào sống ở vết cắt bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được hở ra và gián đoạn, quá trình tái sinh sẽ diễn ra theo các bước là các tế bào mặt ngoài chết, hình thành lớp bao bọc, mạch gỗ được đậy lại bằng lớp keo để mặt cắt khỏi bị thoát nước Sau đó, các tế bào bên trong phân chia

và hình thành lớp mô mềm Các tế bào ở vùng lân cận của tượng tầng mạch và libe bắt đầu hình thành rễ bất định Các rễ này thường được hình thành bên cạnh và sát ngoài lõi trung tâm của mô mạch và ăn sâu vào trong thân tới gần ống sát bên ngoài tượng tầng

Nhìn chung, với việc giâm hom từ thân, cành, để hom hình thành một bộ rễ mới là vấn đề quan trọng nhất Tuy nhiên, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ

ra rễ, chồi Chúng bao gồm các nhân tố nội sinh và ngoại sinh [95],[96],[97]

b Nhân giống bằng hạt

Nhân giống bằng hạt là phương thức nhân giống truyền thống và tự nhiên nhất đối với thực vật Nhân giống bằng hạt cho hệ số nhân giống cao, đồng thời có thể bảo quản và vận chuyển giống một cách dễ dàng Yếu tố quyết định tới hiệu quả của nhân giống bằng hạt đó chính là hạt giống Hạt giống là vật tư kỹ thuật, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của nghề trồng cây thuốc Do đó việc đầu tiên là phải có tiêu chuẩn xác định số lượng giống, đối với nhiều loại cây thuốc, bảo quản hạt giống yêu cầu những điều kiện hết sức chật chẽ, vì hạt giống cây thuốc rất dễ mất sức nảy mầm Các loại cây thuốc họ Hoa tán hạt giống chứa hàm lượng tinh dầu cao như: Đương qui, Độc hoạt Nếu ở điều kiện nhiệt độ hơn 30oC sau một tuần tỉ lệ nảy mầm của hạt có thể giảm từ 70% - 80% xuống còn 10 - 15% thậm chí còn 1 - 2% Các cây thuốc họ Cúc có xuất xứ ôn đới như Bạch truật, Cúc gai dài Nếu nhiệt độ không khí nơi bảo quản cao hơn 35oC sau 10 ngày tỉ lệ nảy mầm có thể bị giảm trên 50% [98]

Hạt giống tốt là các hạt giống có độ ổn định cao, đồng đều cả về độ nảy mầm, kích thước, trọng lượng… Kết quả của sản suất dược liệu bị ảnh hưởng rất nhiều bởi chất lượng hạt giống không tốt Kiểm tra độ nảy mầm của hạt trước khi gieo trồng để tránh được sự thất thu do không biết trước được khả năng nảy mầm của giống tránh lãng phí hạt giống trên đơn vị diện tích Đồng thời, trọng lượng 1.000 hạt thể hiện tính đồng đều, sức khỏe của hạt… Vì vậy một trong những chỉ

Trang 39

tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hạt giống là độ nảy mầm và trọng lượng 1.000 hạt của hạt giống

Độ nảy mầm của hạt giống là khả năng hạt mọc mầm tối đa ở trong điều kiện gieo trồng thích hợp và trong một thời gian nhất định, được biểu thị bằng phần trăm(%) giữa số cây mầm khỏe mạnh trên tổng số hạt gieo Để nghiên cứu về sự nảy mầm của hạt giống, người ta có thể dùng nhiều cách khác nhau, các phương pháp được chia thành hai nhóm, thử nghiệm trên giấy thấm nước và thử nghiệm trên cát [99]

1.4 Cây thuốc và hoạt tính kháng ung thƣ từ cây thuốc

Cùng với công tác điều tra, thống kê các loài cây có tác dụng làm thuốc, các nhà khoa học còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Việc thu thập các dữ liệu liên quan đến tác dụng của cây thuốc lưu truyền trong cộng đồng đến việc nghiên cứu chiết xuất các chất có hoạt tính dược học từ thực vật đang trở thành trọng điểm trong nền y dược học hiện đại của nhiều quốc gia trên thế giới, đáng chú ý một số nước châu Á như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ

Dược liệu cổ truyền đóng một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.Giá trị y học của nó đã được ghi nhận qua hàng ngàn đời và những tri thức đó vẫn được lưu giữ cho tới ngày nay Trong đó có rất nhiều bệnh có thể được điều trị bởi cây cỏ theo phương pháp truyền thống và có cả những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư Tổ chức Nghiên cứu quốc tế về bệnh ung thư đã ghi nhận chỉ riêng trong năm 2012 có 14,1 triệu trường hợp mắc mới; 8,2 triệu người chết và 32,6 triệu người sống cùng với ung thư [100] Cũng theo ước tính của tổ chức này thì tới năm 2030 sẽ có 26 triệu trường hợp mắc mới và 17 triệu người sẽ chết mỗi năm vì ung thư [101] Mặc dù, nhiều loại thuốc kháng ung thư tổng hợp đã được phát triển và sử dụng; tuy nhiên một thực tế là hầu hết các liệu pháp hóa học hiện nay không có khả năng tiêu diệt tận gốc tế bào ung thư, đồng thời có độc tính cao, gây nhiều tác dụng phụ, làm suy giảm nhanh chóng sức khỏe của bệnh nhân trong quá trinh điều trị Xuất phát từ những tiền đề là những kiến thức y học cổ truyền, nhiều hợp chất hóa học được tách chiết từ thực vật đã sử dụng trong điều trị bệnh ở người Sử dụng thực vật theo phương thức truyền thống để điều trị ung thư

đã được ghi nhận ở Trung Quốc từ 3.000 năm trước Tại Ấn Độ, Ayurveda được biết đến như một hệ thống y học cây cỏ cổ xưa vẫn được lưu truyền tới tận ngày nay

Trang 40

trong việc sử dụng để điều trị ung trị ung thư Ngày nay, nhiều nghiên cứu về thảo dược đã chứng minh sự tồn tại của các thành phần kháng ung thư từ cây cỏ [102]

Những năm gần đây, các sản phẩm có nguồn gốc thực vật được đặc biệt chú

ý với tiềm năng ngăn ngừa và điều trị ung thư [103] Nhiều nỗ lực tìm kiếm các hợp chất mới có nguồn gốc từ thực vật đã được thực hiện, 16 hợp chất mới có nguồn gốc thực vật đang được kiểm tra lâm sàng, trong đó flavopiridod được phân lập từ

cây Huỳnh đàng hai tuyến (Dysoxylum binectariferum) ở Ấn Độ và hợp chất meisoindigo phân lập từ cây Chàm nhuộm (Indigofera tinctoria) ở Trung Quốc đã

thể hiện khả năng kháng ung thư cao nhưng lại ít độc so với các thuốc kháng ung thư tổng hợp đang được sử dụng hiện nay [104] Sử dụng các hợp chất được tìm thấy trong thực vật để trị liệu ung thư được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3.000 loài thực vật được báo cáo là có khả năng chống ung thư Viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ đã thu thập 35.000 mẫu thực vật

từ 20 quốc gia khác nhau và sàng lọc khoảng 114.000 dịch chiết với hoạt tính kháng ung thư [105] Từ sàng lọc này, hai hợp chất có hoạt tính kháng ung thư quan trọng nhất đang được sử dụng hiện nay đã được xác định là: Taxol và camptothecein Nhiều loại thực vật có khả năng kháng ung thư đã được xác định như: Hướng

dương (Helianthus annuus), Lá khôi (Ardisia gigantifolia), Tỏi (Allium sativum), Trà (Camellia sinensis), Cà chua (Solanum lycopersicum), Tiêu lốp (Piper longum), Việt quất (Vaccinium myrtillus), Xáo tam phân (Paramignya trimera), Bán hạ roi (Typhonium flagellifome), Kim cang (Smilax china), Thiên môn đông (Asparagus

cochinchinensis), Xạ đen (Celastrus hindsii), Nghệ (Curcuma longa ),…

Trong số các thực vật có khả năng kháng ung thư tiêu biểu phải kể đến các

loài thực vật như: Tỏi (Allium sativum) có các hợp phần hữu cơ Allyl sulfur đóng

vai trò quan trọng trong ức chế sự tăng trưởng của khối u [106]; Cam thảo nhẵn

(Glycyrrhiza glabra) có thành phần hóa học là axit glycyrrhetic với hoạt tính kháng

lại khả năng phân chia của dòng tế bào ung thư vú MCF-7 Điều này đã chỉ ra một

tiềm năng cao trong việc phát triển ung thư từ loại axit này [107]; Nghệ (Curcuma

longa) là loài thực vật quen thuộc được sử dụng trong điều trị nhiều bệnh khác

nhau, đặc biệt là các nhóm bệnh liên quan đến đường tiêu hóa Các nghiên cứu khác nhau cho thấy, Nghệ có khả năng kháng lại ung thư đường ruột, ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư các tế bào thần kinh dựa trên khả năng ức chế hoạt tính của

Ngày đăng: 04/05/2018, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w