Sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh nhiễm trùng hàngđầu trẻ em nhập viện và tử vong ở các vùng Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương trong những thập kỷ qua.. Để góp phần cho việcđá
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virusDengue gây nên Virus Dengue có 4 type là DEN-1, DEN-2, DEN-3 vàDEN-4 Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt Muỗi
Aedes aegypti là vec tơ truyền bệnh chủ yếu.
Sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh nhiễm trùng hàngđầu trẻ em nhập viện và tử vong ở các vùng Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương trong những thập kỷ qua Hiện nay, theo Tổ chức Y tế Thếgiới, bệnh xảy ra ở khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn như Châu Phi,châu Mỹ, Tây Địa Trung Hải… Tuy nhiên, Đông Nam Á và Tây Thái BìnhDương vẫn là hai nơi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Ước tính hàng năm, cótrên 50 triệu người nhiễm virus Dengue trên toàn thế giới trong đó có hơn500.000 bệnh nhân cần phải nhập viện Việt Nam là một trong những nước
có tỉ lệ bệnh nhân sốt xuất huyết cao trong khu vực
Ở Việt Nam, bệnh bắt đầu xuất hiện vào những năm của thập niên
1960 tại Đồng bằng sông Cửu Long Bệnh phát thành dịch nhanh chóng vàlan nhanh đến các vùng Trước đây theo chu kỳ mỗi 3 – 5 năm, bệnh phátthành dịch lớn mà cao điểm vào mùa mưa các tháng 6 đến tháng 10
Trong hơn một thập niên qua, năm 1998 là năm có dịch lớn nhất, cảnước có 234.866 ca mắc và 383 ca tử vong ở 56/61 tỉnh/ thành phố Bệnhxảy ra chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ và duyên hải miền Trung, riêng ở TâyNguyên, cả khu vực có 14.652 ca mắc và 10 ca tử vong, dịch đều xảy ra cả
3 tỉnh (Đăk Lăk – Gia Lai – Kon Tum )[6]
Khu vực Tây nguyên, virus Dengue lưu hành quanh năm, dịch Sốt
Trang 2xuất huyết ở Tây nguyên những năm qua không có quy luật thành chu kỳ
rõ rệt, hàng năm bệnh xảy ra rãi rác, lẻ tẻ, khi dịch bệnh bùng phát thườngphát triển mạnh ở các thị xã, thị trấn đông dân, các năm có dịch lớn là:
1983, 1987, 1991, 1995, 1998 và 2004 với số mắc từ 54,80 – 553.38 /100.000 dân, số chết từ 0,08 – 1,34 / 100.000 dân [13], [14], [8] Giai đoạn
2005 – 2009 dịch diễn biến phức tạp hơn, dịch xảy ra tập trung ở một sốhuyện/thị trấn chưa xảy ra dịch trong hơn 10 năm qua và ở một số huyệnmới thành lập; 4 năm liền 2006, 2007, 2008, 2009 đều xảy ra vài vụ dịch ởqui mô huyện
Năm 2010, dịch bùng phát mạnh ở cả khu vực Tây nguyên ( ĐăkLăk – Đăk Nông - Gia Lai – Kon Tum ) với số mắc 13255, tử vong 5trường hợp Dịch tập trung chủ yếu tại 4 thành phố, thị xã và một số huyệnđông dân , có mật độ giao lưu lớn
Gia Lai là tỉnh có địa bàn rộng, đông dân cư, dịch bệnh lưu hànhthường xuyên Năm 2010, dịch sốt xuất huyết Dengue diễn biến phức tạpvới nhiều ổ dịch quy mô xã/phường, quận/huyện Để góp phần cho việcđánh giá diễn biến tình hình, mức độ lưu hành dịch, một số đặc điểm dịch
tễ học của bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Gia Lai chúng tôi tiến hành nghiên
cứu, tổng kết đề tài: Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Gia Lai năm 2010 với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Gia Lainăm 2010
2 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Denguetại tỉnh Gia Lai năm 2010
Trang 3Lâm sàng bệnh SXHD được biết từ trên 200 năm nay Đầu tiên là 2
vụ dịch ở Cairo và Batavia – Indonesia năm 1777 và Philadelphia năm1780
Năm 1906 Bancroft đã chứng minh vectơ truyền bệnh là Aedes aegypti.
Từ năm 1920 nhiều dịch lớn không gây tử vong xảy ra ở Hy Lạp,Nam Phi, Châu Úc, Nhật, Mỹ
Năm 1944 – 1945, Sabin phân lập ra virus ở Hawaii và New Guinea(type 1 và 2)
Năm 1945 Florancis Quintos và cộng sự mô tả bệnh Philippines, làbệnh ở thành phố, đa số trường hợp mắc là ở khu người nghèo, bệnh chỉxảy ra vài tháng trong một năm
Năm 1965, dịch lớn xảy ra ở Manila, trẻ em mắc nhiều, bắt đầu bằngsốt, có hội chứng xuất huyết và suy sụp về hệ tuần hoàn, tỷ lệ tử vongkhoảng 10% Ở Thái Lan dịch xảy ra nặng ở Băng Cốc Cũng năm nàyHammon và Sather phân lập 2 type mới – type 3 và 4
Trang 4Từ năm 1953 – 1964 dịch phát triển ở vùng Đông nam Á: Philippine,Thái Lan (năm 1985, chết 8,3%), Malaysia chết 8,2%, Việt Nam,Singapore, Miến Điện, Campuchia, Lào, Calcutta (Ấn Độ), Indonesia vàcác đảo ven Thái Bình Dương.
Từ thập kỷ 80 đến nay, dịch phát triển tăng dần lên ở Đông Nam Ánhiệt đới, bao gồm bán đảo Đông Dương và Ấn Độ dương, ở Trung vàNam Mỹ, các bán đảo Thái Bình dương và các đảo Caribee (đặc biệt làCuba)
Ngày nay dịch SXH là 1 trong 10 nguyên nhân chính phải vào bệnhviện và là tử vong ở trẻ em ở phần lớn các nước nhiệt đới Đông Nam Á vàtây Thái Bình dương [6]
1.2 Tình hình SD/SXHD trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á
Virus Dengue lan truyền rộng rãi ở trên 100 nước trên toàn cầu, ranhgiới từ 40o vĩ tuyến Bắc đến 40o vĩ tuyến Nam, căn cứ vào môi giới truyền
bệnh chủ yếu là Ae aegypti Bệnh lưu hành ở nhiều thành phố, từ đó lan
dần ra các thành phố, thị xã và khu dân cư nhỏ khác và gần đây bệnh cókhuynh hướng lan ra vùng rừng núi [10]
Bệnh đe doạ sức khoẻ của khoảng 2,5 tỷ người sống ở thành phố vànông thôn vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hơn 20 năm qua, số mắc SXH
do virus Dengue không ngừng gia tăng trên thế giới, đặc biệt ở các nướcĐông Nam Á và châu Mỹ La Tinh Số mắc hàng năm khoảng 50 triệungười, trong đó 500.000 trường hợp phải nhập viện Có tới 90% các trườnghợp bị nhiễm ở độ tuổi dưới 15 tuổi Tỷ lệ chết trung bình khoảng 5% vớikhoảng 24.000 trường hợp mỗi năm
Năm 1953 ở Manila, Philippin, xảy ra một vụ dịch sốt đi kèm biểuhiện xuất huyết truỵ mạch dẫn đến tử vong ở trẻ em Căn bệnh này lúc đó
Trang 5được gọi tên là “SXH Philippin”, sau đó đã lan ra nhiều thành phố lớn khác
ở Đông Nam Á
Trước đây SXHD/SSD hầu như mới chỉ được ghi nhận ở Đông Nam
Á, cho đến tận năm 1981, khi xảy ra các trường hợp sốt Dengue nặng, cóxuất huyết, truỵ mạch, sốc và tử vong ở Cu Ba Năm 1989 một vụ dịchSXHD/SSD xảy ra ở Venezuela và sau đó ở nhiều nước vùng Trung vàNam Mỹ
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, từ năm 1956 đến 1995, tìnhhình sốt xuất huyết trên thế giới, một số quốc gia trong khu vực và ViệtNam như sau:
Trang 6Nam Á 218.859 2.075 55.405 471 57.997 542 119.707 452Châu Mỹ 720.572 83 322.256 98 400.514 92 406.206 44
Địa Trung
Châu Phi Không có trường hợp mắc Dengue nào được báo cáo cho WHO
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, từ năm 1956 đến 1995, tìnhhình sốt xuất huyết ở Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực như sau(Bảng 1.3):
Bảng 1.3 Tình hình SXH ở một số quốc gia trong khu vực và Việt
1985 300.253 3.334 227.586 1.577 1.835 35 12.771 1.092 6.753 4681986-
1990 563.717 3.438 437.722 2.131 6.900 164 17.216 1.032 5.361 1661991-
Trang 7tháng đầu năm 1998 đã có 32.665 trường hợp mắc với 774 trường hợp tửvong do sốt xuất huyết.
Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tìnhhình SXH năm 2007 ở các nước trên thế giới và trong khu vực diễn biếnphức tạp được trình bày ở (bảng 1.4) dưới đây
Bảng 1.4 Tình hình SXH các nước trong khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương 9 tháng đầu năm 2007 (theo WHO) [4]
Ở Singapore, tỷ lệ tử vong trong các trường hợp mắc bệnh cao nhất là
ở nhóm tuổi từ 15 – 24 tuổi, tỷ lệ nam / nữ là 1,7 / 1 Dịch thường xảy ra từ
Trang 8tháng 8 – 11 Vectơ truyền bệnh chính là Aedes aegypti và Aedes albopictus [17].
Ở Băng Cốc (Thái Lan) : 1962 cho thấy lứa tuổi mắc bệnh SXHDnhiều nhất là 1 – 3 tuổi Ở Thái Lan dịch SXHD xảy ra theo chu kỳ 3 – 4năm Cao điểm của dịch từ tháng 6 – 10 [6]
Về vectơ, có nhiều loại muỗi Aedes có thể truyền virus cho người.Nhưng các dịch SXHD trên lục địa châu Á và quần đảo Nam dương xảy ra
thường phù hợp với sự có mặt của muỗi Ae aegypti, chứ không phù hợp với sự phân bố của Ae albopictus Con người có khả năng nhiễm với cả 4
type virus Dengue, tuỳ theo mức độ nhiễm virus, có thể chỉ là nhiễm trùngkhông triệu chứng hoặc SD hay SXHD, SSD hoặc tử vong
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng Dengue có thể nhẹ hoặc nặng:
• Hình thái nhẹ của Dengue là sốt Dengue cổ điển
• Thể nặng là sốt xuất huyết Dengue hoặc Dengue xuất huyết cóchoáng
Tỷ lệ tử vong do SXHD tại các vùng lưu hành Dengue từ < 1% đến >20%, thường gặp ở những bệnh nhân SXHD độ 3 và 4, nếu không đượcchẩn đoán đúng và điều trị kịp thời [6]
Từ tháng 5/1993, tổ chức Y tế thế giới đã coi SXHD như một bệnhnghiêm trọng cần phải ưu tiên phòng chống và năm 1995 chính thức thôngqua chiến lược toàn cầu phòng chống SXHD
1.3 Tình hình SD/SXHD và nghiên cứu về SD/SXHD ở Việt Nam
Những năm đầu, ở nước ta dịch sốt xuất huyết chỉ xuất hiện ở một vàiđịa phương với các ổ dịch nhỏ, số người mắc ít, tỷ lệ tử vong cao Dịch chỉkhu trú ở các thành phố, thị xã đông dân ở đồng bằng, nhưng càng về saudịch càng lan rộng, với số người mắc bệnh ngày càng nhiều, ngày nay dịch
đã lan tràn về nông thôn, trừ một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Hà Tuyên
Trang 9(cũ), Hòang Liên Sơn (cũ), Lai Châu, Sơn La ở phía Bắc Đỉnh cao là các
vụ dịch 1983, 1987, 1991, 1995, 1998 với qui mô toàn quốc
Các kết quả giám sát dịch tễ học từ 1979 - 1985 cho thấy bệnh xảy rahàng năm, với tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả nước từ 41,02 (1981) đến462,24/100.000 dân (1987) Do công tác điều trị đạt được nhiều tiến bộ nên
tỷ lệ tử vong giảm từ 2,7 (1983) xuống còn 0,16 (1994) / 100.000 dân Tỷ
lệ mắc bệnh giao động rất khác nhau giữa các năm, giữa các miền và giữacác tỉnh, ở miền Trung và miền Nam tỷ lệ mắc bệnh thường cao hơn nhiều
lần so với miền Bắc Kết quả theo dõi những năm có dịch lớn (1983, 1987, 1991) cho thấy, trong khu vực sốt xuất huyết lưu hành, bệnh tập trung chủ
yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển, các huyện lỵ, tỉnh lỵ Miền Nam có87,2% số huyện, thị xuất hiện bệnh, tỷ lệ này ở miền Trung là 58,7%, miềnBắc là 59,5% [9] Đặc biệt càng về sau bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnhmiền Nam, năm 1995 - 1996 tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam chiếm 66 - 67%
so với 2 - 3% ở miền Bắc [7]
Theo số liệu của hệ thống giám sát, số mắc, số chết do sốt xuất huyếtliên tục gia tăng kể từ năm 1994 trở lại đây, trở thành vấn đề nghiêm trọngđối với y tế cộng đồng ở nước ta Năm 1997, sốt xuất huyết xảy ra ở 50/61tỉnh/thành phố với số mắc 107.188/266 chết Số mắc tăng 19% so với năm
1996, 64% so với số mắc trung bình của 10 năm 1988 - 1997 Trong năm
1998, cả nước đã có 234.866 trường hợp mắc, chết 383 trường hợp ở 56/61tỉnh/thành phố; số mắc tăng 2,19 lần so với năm 1997 Bệnh xảy ra chủ yếu
ở các tỉnh Nam Bộ và duyên hải miền Trung với số mắc chiếm 81%, sốchết chiếm 95% so với số mắc, chết trong cả nước Đây là một trong số cácdịch bệnh gây mắc và chết cao nhất cho trẻ em trong các bệnh truyềnnhiễm gây dịch hiện nay
Trang 10Nhóm tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ em < 15 tuổi, nhưng nhiều nhất là
7 tuổi Trong cả nước, nhóm trẻ em < 15 tuổi là 69,8%, nhưng tỷ lệ này ở
miền Nam là 96,7%, miền Trung 71,6%, miền Bắc là 41,1% [6], [7], [9]
Nam và nữ đều có thể mắc bệnh như nhau
Sốt xuất huyết phát triển theo mùa rõ rệt, tính tần số mắc trung bìnhhàng tháng trong 5 năm (1991-1995) cho thấy bệnh xảy ra quanh năm,
nhưng dịch thường bùng phát mạnh vào mùa mưa, từ tháng 6-10, đỉnh cao
của dịch thường vào tháng 7,8,9 Giám sát biến động mật độ muỗi Ae.
aegypti (là vec tơ chủ yếu) cho thấy sự tăng các ca bệnh trong mùa mưa
phù hợp với sự gia tăng mật độ muỗi Ae aegypti Thường mật độ muỗi Ae.
aegypti tăng trước tháng 6, sau đó dịch sốt xuất huyết phát triển mạnh.
Vùng ôn đới và những vùng núi cao thường không có bệnh do thời tiết khí
hậu lạnh, không phù hợp cho sự sinh sản, phát triển và hoạt động của muỗi
Ae aegypti nên những nơi này thường không thấy xuất hiện sốt xuất huyết.
Loài muỗi này sống gần người, ở trong nhà sự phân bố của Ae aegypti
chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu, khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sự sinh
sản và phát triển của vec tơ truyền bệnh và dịch phát triển là: lượng mưa
trung bình từ 200 - 230 mm, nhiệt độ không khí trung bình 20 - 300C và
Tử vong Mắc
Tử vong Mắc
Tử vong Mắc
Tử vong Miền
Trang 11Trung 71.490 41 10.965 8 7.172 5 6.383 1 6.964 10 7.650 6Miền
(*) Năm 1998 và 2004 là năm đỉnh cao dịch [1], [2], [11]
Năm 2007, số mắc SXH cả nước trong 9 tháng đầu năm là 75.233trường hợp, (tỷ lệ mắc/100.000 dân là 90,05), trong đó có 64 trường hợp tử
vong, (tỷ lệ chết/mắc là 0,085%) So với cùng kỳ năm 2006, số mắc tăng
51%, tử vong tăng 45% So với trung bình giai đoạn 1999 – 2006, số mắc
tăng 115% So với năm 2004 là năm có số mắc cao, số mắc tăng 22% [4]
Từ năm 1999 đến nay, dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia bắtđầu được triển khai Hệ thống giám sát và phòng chống sốt xuất huyết ngày
càng được chủ động chú trọng ở các tỉnh thành
1.4 Tình hình sốt xuất huyết ở Tây Nguyên
Từ 1983-2004, bệnh xảy ra hàng năm và những năm có dịch lớn là
1983, 1987, 1988, 1995, 1997, 1998 và 2004 Bệnh nhân được ghi nhận
có quanh năm, dịch thường xảy ra từ tháng 6-10, cao điểm là các tháng
7,8,9, trùng với mùa mưa tại Tây Nguyên, tương ứng với các tháng có
lượng mưa lớn nhất trong từng năm, thuận lợi cho sự sinh sản và phát
triển của quần thể muỗi
Bảng 1.6 Tình hình mắc và chết do SXH ở Tây Nguyên từ 1983 –
2009 [5], [8], [12], [13]
Trang 12Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em từ 1-14 tuổi và nhóm tuổi 20-29 Vec tơ
truyền bệnh chỉ phát hiện thấy sự có mặt của Ae aegypti, muỗi Ae aegypti
có mặt hàng tháng, nhưng số lượng tăng dần vào những tháng đầu mùa
mưa, đặc biệt từ tháng 6, các chỉ số vec tơ Ae aegypti tăng cao trùng với số
lượng bệnh nhân tăng cao từ những tháng này
Trang 13Ở Tây Nguyên, dịch không có quy luật thành chu kỳ rõ rệt, giữa cácdịch lớn này hàng năm bệnh xảy ra rải rác, dịch bệnh chỉ tập trung ở thànhphố và các thị xã, thị trấn huyện lỵ là những nơi tập trung đông dân nhất.Những năm có dịch lớn ở Tây Nguyên thường trùng với các năm có dịchtrên toàn quốc, đặc biệt trùng với đỉnh dịch ở các tỉnh phía Nam Địa phương
có số mắc cao là các thành phố, thị xã , cao nhất là Tp Pleiku (Gia Lai), Tp.Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk), là những nơi đông dân nhất
Hiện nay, các yếu tố làm tăng sự lan tràn của bệnh như: đô thị hoá và
du lịch ngày một phát triển, cung cấp nước sạch còn rất nhiều tồn tại, didân xây dựng các vùng kinh tế mới, các vectơ kháng thuốc đang có xuhướng gia tăng, hiểu biết của nhân dân về bệnh SXH chưa cao nên việc dựphòng cho bản thân, gia đình và cộng đồng chưa được thực hiện thườngxuyên, triệt để
1.5 Bệnh SD/SXHD ở Gia Lai
Dịch xảy ra cũng không có quy luật chu kỳ rõ rệt
Địa phương có số mắc cao nhất là Tp Pleiku, Các huyện khác trongtỉnh bệnh xảy ra lẻ tẻ, rải rác không thành dịch Năm 1998 dịch phát triểnlan rộng ra 10/18 huyện, thành phố, toàn tỉnh có số mắc /100.000 dân từ278,52 – 2174,35, dịch bệnh tập trung ở các thành phố và các thị trấn,huyện lỵ là những nơi tập trung đông dân nhất, các trường hợp tử vong tậptrung chủ yếu ở Tp Pleiku
Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, khu vực TâyNguyên Chưa có thuốc chữa đặc hiệu, chưa có vaccine dự phòng Do vậytiếp tục nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh SD/SXHD nhằm gópphần dự báo, định hướng và triển khai các biện pháp phòng chống thíchhợp, có hiệu quả cao là cần thiết
Trang 14CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sử dụng số liệu thống kê hàng tháng năm 2010: số mắc và chết doSD/SXHD của TTYTDP tỉnh Gia Lai
- Số liệu xét nghiệm huyết thanh và phân lập virus của TTYTDP tỉnhGia Lai và Labo Virus của Viện VSDT Tây Nguyên
- Số liệu điều tra vec tơ hàng tháng của TTYTDP tỉnh Gia Lai vàKhoa Côn trùng - Kiểm dịch, Viện VSDT Tây Nguyên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hồi cứu: Giám sát hàng tháng:
- Số bệnh nhân SD/SXHD được ghi nhận và báo cáo hàng tháng
- Giám sát huyết thanh, virus
Trang 15- Giám sát vec tơ
2.2.1 Xác định ca bệnh: Dựa theo các tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm
của “Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt Dengue / Sốt xuất huyết Dengue” của Bộ Y tế [1]:
SD: Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2 – 7 ngày, là một thể giốngnhư cúm, có thể biểu hiện da sung huyết, phát ban Hematocrit bìnhthường, tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm, ít gây tử vong
SXHD:
• Về lâm sàng: (4 tiêu chuẩn)
- Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2 – 7 ngày
- Xuất huyết: ít nhất phải có dấu hiệu dây thắt dương tính (Lacet (+)).
- Gan to
- Choáng
• Về xét nghiệm:
- Giảm tiểu cầu: Tiểu cầu ≤ 100.000 mm3
- Hiện tượng cô huyết: Hematocrit tăng 20% hoặc hơn
2.2.2 Về phân độ lâm sàng: Dựa theo các tiêu chuẩn lâm sàng và xét
nghiệm của “Giám sát, chẩn đoán và iều trị bệnh sốt Dengue / Sốt xuất huyết Dengue” của Bộ Y tế [1]:
Trang 16- Độ III: Có dấu hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp hayhuyết áp kẹp (≤ 20mmHg), kèm theo da lạnh ẩm, người bồn chồn,vật vã hoặc li bì.
- Độ IV: Sốc sâu, mạch nhỏ, khó bắt, huyết áp không đo được
2.2.3 Số liệu về vec tơ chính truyền bệnh hàng tháng tại các điểm giám sát
của TTYTDP tỉnh Gia Lai và khoa Côn trùng Kiểm dịch, ViệnVSDT Tây Nguyên thực hiện theo thường quy của TCYTTG
2.2.4 Chẩn đoán huyết thanh:
• Lấy huyết thanh lúc bệnh nhân nhập viện tuần đầu, ở những bệnhnhân sốt từ ngày thứ 5 trở đi (Lấy máu tĩnh mạch về ly tâm, chắthuyết thanh)
• Lấy máu bệnh nhân sốt từ ngày 1 – 4 của bệnh
• Phương pháp nuôi cấy tế bào Ae albopictus dòng C6/36 theo thường
quy của Viện VSDT Trung ương, Hà Nội
• Phát hiện virus Dengue bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quangtrực tiếp với các IgG anti – Flavivirus và xác định type virus Denguebằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA) với các khángthể đơn dòng (Dengue 1, Dengue 2, Dengue 3, Dengue 4) tại laboArbovirus Viện VSDT Tây Nguyên
Trang 172.3 Xử lý thống kê số liệu:
Bằng phương pháp thống kê dịch tễ học thông thường
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
3.1.1 Số mắc và chết do SD/SXHD tại tỉnh Gia Lai năm 2010
Bảng 3.1 Số mắc và chết phân theo địa phương (Huyện, thành phố) tại
tỉnh Gia Lai năm 2010