1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu tình hình bỏng và kiến thức về sơ cứu bỏng tại đăk lăk, năm 2010

53 222 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 508,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân bỏng được thu dung điều trị tại các cơ sở y tế hiện chỉ hơn 200.000 bệnh nhân/năm, chiếm 1/4 tổng số bệnh nhânthực tế.. Ở bỏng do sức nhiệt tổn thương của da p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA Y DƯỢC

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH BỎNG VÀ KIẾN THỨC VỀ

SƠ CỨU BỎNG TẠI ĐĂK LĂK, NĂM 2010

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA

Người hướng dẫn: ThS Bs Lê Văn Thanh

Trang 2

MỤC LỤC

1.2.3 Tình hình sơ cứu bỏng trên thế giới và tại Việt Nam 13

3.1 Đặc điểm dịch tễ của các ca bỏng điều trị tại Bệnh viện tỉnh ĐăkLăk 23

3.2.2 Kiến thức của người dân về bỏng và sơ cứu bỏng 28

4.1 Đặc điểm dịch tễ của các ca bỏng điều trị tại Bệnh viện tỉnh ĐăkLăk 34

Trang 3

DANH MỤC BẢNG – BIỂU ĐỒ

Danh mục bảng

Bảng 3.2 Phân bố chấn thương bỏng theo nhóm tuổi và giới tính 23

Bảng 3.4 Hoàn cảnh xảy ra bỏng của các bệnh nhân nhập viện 25Bảng 3.5 Tác nhân gây bỏng ở các bệnh nhân nhập viện 25

Bảng 3.10 Tác nhân gây bỏng hay gặp nhất theo nhận thức của người dân 29Bảng 3.11 Phương pháp xử trí vết thương ngay sau tai nạn 30Bảng 3.12 Tác dụng của việc làm mát vết bỏng với nước sạch 30

Biểu đồ 3.4 Nguồn tiếp nhận thông tin của người dân về sơ cứu bỏng 33

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bỏng là một tổn thương gây nên bởi sức nhiệt, hoá chất, điện năng, bức

xạ Đa số trường hợp bỏng chỉ hạn chế ở da, nhưng cũng gặp bỏng sâu tới cáclớp dưới da như: cân, cơ, gân, xương khớp và các tạng

Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 300.000 người chết vì bỏng và rấtnhiều người khác bị thương nặng, tàn tật hoặc bị biến dạng do bỏng Hơn95% các trường hợp bỏng gây tử vong có liên quan đến hỏa hoạn xảy ra ở cácnước có thu nhập thấp và trung bình, trong đó Đông Nam Á chiếm hơn mộtnửa [15] Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra ở 40 tỉnh, thành phố trên toànquốc cho thấy mỗi năm, có khoảng 800.000 - 850.000 bệnh nhân bỏng, chiếm1% dân số Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân bỏng được thu dung điều trị tại các cơ

sở y tế hiện chỉ hơn 200.000 bệnh nhân/năm, chiếm 1/4 tổng số bệnh nhânthực tế Phần lớn nạn nhân bỏng, vì chưa biết những thông tin về điều trị, cấpcứu… nên tự điều trị ở nhà hoặc nhờ thầy lang chữa bỏng [17]

Theo số liệu của Bệnh viện đa khoa tỉnh ĐăkLăk, hàng năm có khoảng

120 bệnh nhân bỏng vào điều trị và tỷ lệ tử vong chiếm khoảng 1% [2]

Kết quả điều trị cho bệnh nhân bỏng đã được cải thiện đáng kể trong 20qua nhưng bỏng vẫn gây ra một tỉ lệ bệnh tật và tử vong đáng kể [14] Cácbiến chứng của bỏng như mất dịch dẫn đến suy thận cấp, rối loạn điều hòathân nhiệt, nhiễm trùng,…thường rất nặng nề không chỉ ngay trước mắt màcòn ảnh hưởng tới tương lai, thậm chí 5-10 năm như sẹo, ảnh hưởng đến tâm

lí, cảm xúc…

Theo thống kê của Viện Bỏng Quốc gia có khoảng 20- 30% bệnh nhânđược xử trí đúng trước khi đến bệnh viện, số còn lại thường làm sai hoặckhông xử trí gì Do đó khoảng 1/3 số ca bỏng đã trở nên trầm trọng hơn khichuyển tuyến [24] Điều này xảy ra không chỉ ở các vùng nông thôn hay

Trang 5

những người có trình độ học vấn thấp mà ngay cả dân thành phố, thậm chí làtri thức cao cấp cũng không biết sơ cứu đúng cách.

ĐăkLăk là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên có 44 dân tộc cùng sinh sốngvới điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, còn nhiều phong tục tập quán ảnhhưởng không tốt đến sức khỏe Việc tìm hiểu kiến thức của người dân về sơcứu đúng ngay tại nơi xảy ra tai nạn là cần thiết để đề ra các biện pháp truyềnthông, giáo dục sức khỏe nhằm giảm thiểu các hậu quả do bỏng gây ra Vì vậy

chúng tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình hình bỏng và kiến thức về sơ cứu

bỏng tại ĐăkLăk năm 2010” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm dịch tễ các trường hợp bỏng điều trị tại Bệnh viện đa khoatỉnh ĐăkLăk năm 2010

2 Tìm hiểu kiến thức về sơ cứu bỏng của người dân tại tỉnh ĐăkLăk năm2010

Trang 6

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về bỏng

1.1.1 Tổ chức học của da [16]

Da là một cơ quan che phủ lớn nhất của cơ thể, có nhiều chức năng,thay đổi theo từng vùng Da gồm 3 lớp:

1.1.1.1.Biểu bì (epidermis): biểu mô lát tầng gồm 4-5 lớp:

- Lớp mầm: gồm một hàng tế bào hình trụ còn gọi là tế bào mầm, có khả năng sinh sản rất cao

- Lớp gai: gồm 3-5 hàng tế bào Các tế bào hình đa diện, nối với nhau bằngcầu nối desmosome

- Lớp hạt: gồm 5-7 hàng tế bào, tế bào dẹt, hình thoi, bào tương nhiều hạtsừng

- Lớp sừng: tế bào sừng thành dải sừng

1.1.1.2.Trung bì hay chân bì (dermis) gồm:

- Các tế bào tổ chức liên kết như nguyên bào sợi, tế bào sợi

- Mạch máu, thần kinh

- Tuyến bã, nang lông và tuyến mồ hôi

- Các chất nền tảng: fibronectin, proteoglukan

- Các sợi tạo keo, sợi lưới, sợi chun…

Trung bì còn chia thành 2 lớp nhỏ: lớp nhú (nằm ngay dưới màng đáytập trung nhiều mạch máu và thần kinh) và lớp lưới

1.1.1.3.Hạ bì (hypodermis) gồm:

- Mô liên kết mỡ

- Mạng lưới mạch máu thần kinh da

- Có ổ mỡ chứa tế bào mỡ, lớp cân nông, mô liên kết lỏng lẻo

Giữa biểu bì và trung bì ngăn cách nhau bởi màng đáy

Trang 7

1.1.2 Khái niệm bỏng: bỏng là tổn thương da và tổ chức dưới da do nhiệt độ,

hóa chất và các tác nhân vật lí khác [21]

1.1.3 Các tác nhân gây bỏng [26]

1.1.3.1 Bỏng do sức nhiệt: đây là loại gặp nhiều nhất, có 2 loại

- Sức nhiệt khô như lửa, tia lửa điện, kim loại nóng chảy

- Sức nhiệt ướt như nước sôi, thức ăn sôi nóng, dầu mỡ sôi, hơi nước nóng

1.1.3.2 Bỏng do hóa chất: có 2 loại do acid và do bazơ.

1.1.3.3 Bỏng do điện

- Luồng điện dẫn truyền qua cơ thể

- Tia lửa điện: là một bỏng nhiệt

1.1.3.4 Bỏng do các tia vật lý

- Tia hồng ngoại, tử ngoại

- Tia X (tia Rơnghen)

- Tia phóng xạ

1.1.4 Sinh bệnh học tổn thưong bỏng [21]

Da là tổ chức che phủ toàn bộ cơ thể đồng thời có nhiều chức phậnnhư: điều hòa nhiệt độ cơ thể, hàng rào bảo vệ cơ thể, cơ quan xúc giác, bài

tiết một số các chất thải (qua mồ hôi)

Khi bị tác dụng của điện, hóa chất, một số loại bức xạ da sẽ bị tổnthương Ở bỏng do sức nhiệt tổn thương của da phụ thuộc vào: sức nhiệt tínhbằng nhiệt độ 0C (nhiệt độ nóng của tác nhân gây bỏng khi tác động lên cơthể), hoặc bằng bức xạ nhiệt tác dụng trên da tính bằng calo/cm, thời gian tác

dụng lên da của sức nhiệt

Tế bào cơ thể bị tổn thương ở nhiệt độ 40-500C

Nếu nhiệt độ cao, thời gian tác động ngắn: các tế bào thượng bì bị tổnthương, nguyên sinh chất bị phình ra, nhân đông Mao mạch trung bì giãn

Trang 8

Tính thấm thành mạch tăng: thoát dịch huyết tương ra gian bào làm tách lớp

thượng bì Dịch huyết tương thoát ra làm thành dịch nốt phỏng

Nếu nhiệt độ cao, thời gian tác động trên da kéo dài, da sẽ bị hoại tửngay Các lớp mạch máu ở trung bì và hạ bì bị hoại tử đông Da bị hoại tử vàkết dính với nhau thành một khối duy nhất Khi bị bỏng do nhiệt khô mà thờigian tác động trên da dài và sức nhiệt cao thì gây hoại tử khô Nếu nhiệt độkhông cao và thời gian tác động trên da ngắn sẽ gây hoại tử ướt Trên một

vùng bỏng có thể có hoại tử khô và hoại tử ướt xen kẽ

Ngoài ra tổn thương bỏng còn phụ thuộc vào độ dày, mỏng của da.Trên cơ thể độ dày mỏng không đều Các diện da ở mặt trong các chi mỏnghơn da ở mặt ngoài chi thể Da đầu, da gan bàn tay, da gan bàn chân dày hơn

ở các vùng khác Trẻ em và người già da mỏng hơn da người lớn, da phụ nữmỏng hơn da nam giới

1.1.5 Đánh giá tổn thương bỏng:

Tình trạng cơ thể khi bị bỏng phụ thuộc 3 yếu tố

1.1.5.1 Diện tích của bỏng : được đánh giá theo [18]:

- Quy luật số 9: dùng đánh giá ở người trưởng thành và trẻ em trên 10 tuổi + Đầu-mặt-cổ: 9%

Trang 9

1.1.5.2 Độ sâu của vết bỏng [18],[27]

Bỏng phân loại theo độ sâu thành 3 độ

- Độ I: tổn thương chỉ ảnh hưởng lớp biểu bì da làm da nơi bị bỏng đỏ ửng lên

và đau rát do đầu mút dây thần kinh bị kích thích Loại bỏng này thường lànhhẳn sau 3 ngày

- Độ II: (Còn gọi là bỏng sâu một phần) thương tổn toàn bộ lớp biểu bì và mộtphần trung bì

+ Bỏng trung bì nông, tổn thương biểu bì, tổn thương tới lớp nhú của trung bì,nhưng các phần phụ của da (gốc lông, tuyến mồ hôi) còn nguyên vẹn

+ Bỏng trung bì sâu, tổn thương đến lớp sâu của trung bì, chỉ còn một phầnsâu của tuyến mồ hôi

Truờng hợp này thì các túi phỏng nước được hình thành, nếu các túi phỏngnước vỡ ra sẽ để lộ một bề mặt màu hồng và cũng rất đau Nếu được giữ sạchvết bỏng sẽ tự lành sau khoảng 1- 4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không

để lại sẹo hoặc sẹo không đáng kể nhưng tổ chức da sau khi lành vết bỏng cóthể đỏ trong một thời gian dài hơn Nhưng nếu bị nhiễm khuẩn thì lớp da dưới

sẽ bị phá hủy và bỏng độ II chuyển thành bỏng độ III

- Độ III: bỏng toàn bộ lớp da, tổn thương toàn bộ lớp biểu bì và trung bì hoặcsâu tới các tổ chức dưới da làm lớp mỡ dưới da cũng có thể bị phân hủy và để

lộ phần cơ Vết bỏng trắng nhợt hoặc xám lại, khô cứng mất cảm giác và cácđầu mút dây thần kinh bị phá hủy Vết bỏng chỉ được lành dần từ phía bờ cácvết bỏng và các vết bỏng rất dễ bị nhiễm khuẫn nên thời gian lành vết bỏngthường kéo dài rất lâu

Độ sâu của một vết bỏng nhiều khi không đều nhau vì nó phụ thuộc vàonhiệt độ, nồng độ hóa chất…và thời gian mà nhiệt độ và hóa chất tác động lên

da Da có xu hướng giữ nhiệt và quần áo bị đốt cháy thành than làm cho vếtthương trở nên nặng nề hơn, do đó việc sử dụng quá nhiều nước để rửa vết

Trang 10

bỏng khi vết bỏng mới xảy ra (trong vòng 30 phút) sẽ có tác dụng làm giảm

độ sâu của bỏng

1.1.5.3.Vị trí của vết bỏng trên cơ thể [27]

Bỏng ở những vùng khác nhau cũng có ý nghĩa rất lớn đối với tínhmạng và quá trình hồi phục

- Bỏng ở vùng mặt, cổ có thể gây phù nề chèn ép đường thở dễ bị sẹo xấu và

1.1.6 Phân loại tổn thương bỏng [18]

1.1.6.1 Bỏng nặng

- Diện tích bỏng trên 25% diện tích da

- Diện tích bỏng sâu trên 10% diện tích da

- Bỏng sâu ở đầu, ở bàn tay, bàn chân hoặc tầng sinh môn

- Bỏng điện cao thế hoặc hoá chất

1.1.6.2 Bỏng vừa

- Diện tích bỏng từ 15 đến 25% diện tích da

- Diện tích bỏng sâu từ 2 đến 10% diện tích da

- Bỏng trung bì nông ở đầu, bàn tay, bàn chân

Trang 11

1.1.6.3 Bỏng nhẹ

- Diện tích bỏng dưới 15% diện tích da

- Diện tích bỏng sâu dưới 2% diện tích da

1.1.7 Sơ cứu bỏng [18]

1.1.7.1 Mục đích: giảm tổn thương tổ chức và hạn chế thấp nhất tiến triển

của vết bỏng bằng sự hạn chế sinh ra các yếu tố trung gian gây viêm

1.1.7.2 Các bước sơ cứu

- Bước 1: Ngưng tiến trình bỏng

Loại trừ tiếp xúc với tác nhân gây bỏng càng sớm càng tốt: nhanh chóng đưanạn nhân ra khỏi nguồn gây bỏng và cởi bỏ quần áo bị cháy, quần áo chật,nhẫn, dây nịt hoặc đồng hồ trước khi phần bỏng sưng nề

- Bước 2: Làm lạnh vết thương bỏng

Ngâm rửa vùng cơ thể bị bỏng vào nước sạch Đây là biện pháp đơn giản,hiệu quả Thời điểm ngâm rửa bằng nước mát tốt nhất trong vòng 30 phút saukhi bị bỏng

Sử dụng nước sạch, nhiệt độ nước tiêu chuẩn là từ 16º C - 20º C Tuy nhiên,

vì là cấp cứu, cần tận dụng nguồn nước sẵn có như nước đun sôi để nguội,nước máy, nước mưa, nước giếng, v.v…

Có thể ngâm rửa phần bị bỏng dưới vòi nước hoặc trong chậu nước mát, cũng

có thể đắp thay đổi bằng khăn ướt, dội rửa liên tục nước sạch lên vùng bỏng Kết hợp vừa ngâm rửa vùng bỏng, vừa cắt bỏ quần áo bị cháy, rửa sạch dị vậthoặc tác nhân gây bỏng còn bám ở vết bỏng

Thời gian ngâm rửa từ 20 - 30 phút (thường cho tới khi hết đau rát) tránh làm

vỡ, trợt vòm nốt bỏng

Giữ ấm phần cơ thể không bị bỏng, đặc biệt với trẻ em, người già, khi thời tiếtlạnh nên rút ngắn bớt thời gian ngâm, đề phòng nhiễm lạnh

Trang 12

- Bước 3: Che phủ tạm thời vết bỏng bằng những vật liệu sạch (băng, gạc hay

vải sạch) Băng ép nhẹ vết bỏng để hạn chế sự hình thành nốt bỏng (tiến hành

sớm và ép nhẹ vừa phải)

- Bước 4: Phòng và chống shock bỏng: giữ ấm bệnh nhân, giảm đau, cho bệnh

nhân uống nước ấm (trà gừng hay quế)

- Bước 5: Chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất Cần lưu ý và sơ cứu

những tổn thương phối hợp (cố định chi gãy, cố định đầu cổ tốt nếu nghi ngờ

+ Lấy đi quần áo ngấm hóa chất

+ Lấy đi hóa chất ở dạng tinh thể

Ngâm rửa vết bỏng với nước sạch (ngoại trừ các nguyên tố Na, K, Lithium),thời gian ngâm rửa thường kéo dài hơn so với bỏng nhiệt

Dùng chất trung hòa đắp lên vết thương bỏng (thao tác này chỉ tiến hành saukhi ngâm rửa vết bỏng bằng nước sạch)

Trang 13

+ Acid: dùng Natri bicarbonat 10-20%, nước xà phòng

+ Kiềm: dùng acid boric 3%, nước giấm, nước chanh

Tổn thương phối hợp có thể đi kèm (xuất huyết nội, gãy xương )

Lưu ý: xử lý vết bỏng chỉ tiến hành sau khi cấp cứu ngưng tim ngưng thở,kiên trì trong việc cấp cứu ngưng tim ngưng thở

1.2 Tình hình bỏng trên thế giới và trong nước

1.2.1 Trên thế giới

Người ta ước tính rằng mỗi năm hơn 300 000 người chết vì bỏng, hàngtriệu người khác bị tàn tật và biến dạng do bỏng gây ra Tỷ lệ tử vong ở cácnước thu nhập thấp và trung bình (4,3 ca/ 100 000 dân mỗi năm) là cao gấp

10 lần so với các quốc gia thu nhập cao (0,4 ca / 100 000 dân mỗi năm) [11]

Ở Mỹ, mỗi năm có từ 1,2- 2 triệu ca bỏng, trong đó 700.000 ca phảiđến cấp cứu tại bệnh viện, 45000-50000 ca phải nằm lại điều trị và 3900trường hợp tử vong do các biến chứng của bỏng Bỏng xảy ra ở mọi lứa tuổi,trong đó trẻ dưới 7 tuổi chiếm 13%, người trên 60 tuổi chiếm 11%, và namgiới chiếm 70% các trường hợp [9]

Ở các nước có thu nhập cao, trẻ em dưới 5 tuổi có nguy cơ bị bỏng caonhất, sau đó là nhóm tuổi từ 15-19 tuổi Gần 75% bỏng ở trẻ nhỏ là từ chấtlỏng nóng, vòi nước nóng hoặc hơi nước Tại tỉnh Ontario (Canada) có hơn6.000 nạn nhân bỏng vào cấp cứu mỗi năm (Có dân số khoảng 12.000.000).Gần một nửa các trường hợp xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi Tỷ lệ này cao hơnrất nhiều ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Tại tỉnh Sơn Đông,Trung Quốc, theo số liệu 5 năm từ các đơn vị bỏng cho thấy trẻ em dưới 10tuổi chiếm tỉ lệ lớn nhất, tiếp theo là nhóm tuổi từ 20- 30 [11]

Trang 14

Bỏng thường xảy ra bất ngờ trong cuộc sống Một nghiên cứu trong 11năm tại Phần Lan cho thấy 42,2% các trường hợp bỏng do sức nóng xảy ra ởtrẻ em, trong đó 100% trẻ dưới 3 tuổi là do nước nóng và nghiên cứu ở 4 quốcgia có thu nhập thấp thấy rằng 65% trường hợp bỏng ở trẻ em xảy ra ở khuvực trong và xung quanh nhà Khu vực nhà bếp là hay xảy ra nhất [11].Nghiên cứu từ năm 1993-2006 trên đối tượng là trẻ dưới 16 tuổi ở Cộng hòaCzech cho thấy 79% các trường hợp xảy ra ở trong nhà, 18% ở xung quanhnhà, 3% ở nơi khác [7].

Trang 15

Sự phân bố giới tính của bỏng khác nhau giữa các nước Một số nướcchâu Phi và châu Á như Angola, Bangladesh, Trung Quốc, Kenya và Nigeria

tỷ lệ bỏng ở nam giới cao hơn Ở những nước khác như Ai Cập và Ấn Độ, tỷ

lệ này lại lớn hơn ở nữ giới [11]

Trong số 1063 nạn nhân bỏng vào cấp cứu tại một Bệnh viện ở HongKong từ 3/1993- 2/1999 thì tỷ số giữa nam: nữ là 1,76: 1 Nạn nhân dưới 15tuổi chiếm tỷ lệ cao (51,7%) và 42,7% trong số đó là trẻ em dưới 2 tuổi Tainạn xảy ra trong nhà chiếm tới 71,1% Và tỷ lệ tử vong chiếm 2,3% [10]

Trong một nghiên cứu tương tự tại Taiwan từ tháng 7/1997 đến tháng6/1999 cho thấy tỷ số giữa nam: nữ là 2,03: 1, 48% các trường hợp xảy ratrong nhà và nguyên nhân chủ yếu là nhiệt ướt [12]

1.2.2.Tại Việt Nam

Theo thống kê của Viện Bỏng Quốc gia mỗi năm Viện nhận điều trịcho khoảng 4.000 bệnh nhân bỏng, và ước tính tỷ lệ tử vong khoảng 3-4%,30% để lại di chứng nặng nề về sức khỏe, chức năng, thẩm mỹ, tâm lý [19]

Theo nghiên cứu của Đỗ Thanh Long về tình hình thu dung bệnh nhânbỏng tại Viện Bỏng Quốc Gia năm 2005 cho thấy có 5319 người đến khám,trong đó có 4457 ca bỏng mới, 1034 ca phải xử lý cấp cứu; 43,28% các đốitượng là trẻ em; nhiệt ướt là tác nhân gây bỏng hay gặp nhất chiếm tỷ lệ51,4% [5]

Theo thống kê của Viện Bỏng Lê Hữu Trác trong năm 2007-2008 có

5814 lượt nạn nhân bỏng vào khám tại bệnh viện, trong đó số nạn nhân điềutrị nội trú là 3782 (chiếm 65%), số lượt cấp cứu chiếm tỷ lệ khá cao 22,7%(1321 trường hợp), có tới 3418 trường hợp cần phải phẫu thuật trong quá trìnhđiều trị (chiếm 58,8%) Trong số những nạn nhân được điều trị, số trường hợpđiều trị do bỏng mới là 2990 trường hợp (chiếm 74%) Số ngày điều trị củabệnh nhân khá dài trung bình 17,6 ngày

Trong số những nạn nhân bỏng nhi vào điều trị thì trẻ em dưới 5 tuổichiếm tới 86,4% Khi phân loại bệnh nhân nhi mới vào điều trị theo tác nhân

Trang 16

gây bỏng cho thấy: Nguyên nhân gây bỏng chính yếu là bỏng ướt chiếm83,2% (chủ yếu do bỏng nước sôi, hơi nước nóng sôi, nước canh nóng ),bỏng khô chiếm 8,8% Bỏng nhiệt khô gặp chủ yếu là lửa do hoả hoạn, lửa ga,lửa cồn, lửa xăng, lửa rơm chiếm tỷ lệ 70,6% tổng số bỏng nhiệt khô, ngoài

ra do bỏng tiếp xúc với bàn là, ống xả, nhựa nóng chảy, bỏng tia lửa điện [23]

Theo thông tin từ Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác, 3 tháng đầu năm

2010, số bệnh nhân bị bỏng nhập viện là trên 1.000 ca, tăng 20% so với cùng

kỳ năm 2009 Trong đó, bệnh nhân bỏng nặng chiếm 30%, tăng 10% [22]

Tại ĐăkLăk, theo một nghiên cứu của Thái Quang Hùng và cs về đặc

điểm dịch tễ học chấn thương do bỏng ở bệnh nhân nhập viện điều trị tại tỉnhĐăkLăk từ 1998- 2002 cho thấy rằng: tỷ suất mắc chấn thương do bỏng là9,6/100.000 người-năm, 50% những ca bỏng là dưới 4 tuổi, nam bị bỏngchiếm tỷ lệ khá cao (61,7%), tỷ số giữa nam: nữ là 1,6: 1 Đa số các ca bỏngxảy ra tại nhà và xung quanh nhà (trên 95%) Nguyên nhân hàng đầu gâybỏng là nước nóng (63,4%), tiếp đến là các chất gây cháy nổ như xăng, dầu(20,4%) Hầu hết diện tích bỏng thuộc nhóm 0-9% (31,7%) và 10-19%(31,9%) Tỷ lệ bệnh nhân được cho là khỏi, đỡ, giảm khi xuất viện là 86,1%

Tỷ suất tử vong là 2,7% Thời gian nằm điều trị tại viện thay đổi từ 1- 95ngày, trung bình là 8 ngày Chi phí trung bình cho một ca bỏng là 362.000đồng, tối thiểu là 20.000 đồng và tối đa là 7.000.000 đồng [2]

Trang 17

1.2.3 Tình hình sơ cứu bỏng trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.2.1 Trên thế giới

Ở các nước có thu nhập cao, các chiến lược phòng chống bỏng đượcthực hiện như: phòng chống cháy thông qua máy phát hiện khói, qui địnhnhiệt độ nước nóng, đảm bảo an toàn của hệ thống dẫn điện đã đạt đượcnhũng thành công đáng chú ý Ví dụ như việc sử dụng máy dò khói đã làmgiảm 61% nguy cơ tử vong từ các vụ cháy nhà ở tại Hoa Kỳ Một nghiên cứukhác cũng tiến hành Hoa Kỳ đã chứng minh rằng với mỗi USD chi cho pháthiện khói thì Mỹ đã tiết kiệm được 28 USD chi liên quan đến sức khỏe Ngoài

ra phát triển song song công tác chăm sóc bỏng cũng góp phần vào việc hạthấp tỷ lệ tử vong và bệnh tật do bỏng ở các quốc gia này: các nạn nhân đượchồi sức tốt hơn, chăm sóc vết thương thông qua các kĩ thuật như ghép da,kiểm soát nhiễm trùng được cải thiện và thực hiện hiệu quả các chương trìnhphục hồi chức năng [8] Bên cạnh đó nhiều khóa đào tạo cách xử trí ngay tạichỗ khi tai nạn bất ngờ xảy ra cũng góp phần làm giảm đáng kể các hậu quả

và biến chứng nặng nề do bỏng gây ra

Điều này là trái ngược với tình hình ở các nước thu nhập thấp và trungbình nên tỷ lệ tử vong cao Để giảm gánh nặng từ bỏng trên toàn thế giới, Tổchức Y tế Thế giới (WHO) đã gia nhập với International Society for BurnInjuries (ISBI) và một số cơ quan đối tác khác để phát triển và ban hành cácchương trình phòng, chống cháy, chăm sóc và các chương trình phục hồi [13]

1.3.2.2 Tại Việt Nam

Phần lớn người bệnh khi bị bỏng, vì không biết những thông tin về điềutrị, cấp cứu… nên tự điều trị ở nhà hoặc nhờ thầy lang chữa bỏng khiến không

ít bệnh nhân buộc phải nhập viện với chi phí điều trị tăng cao và những biếnchứng nặng nề, thậm chí tử vong

Trang 18

Các giải pháp thường được chọn là:

- Bôi nước mắm, dấm, lòng đỏ trứng, xát muối: làm bệnh nhân đau đớn hơn,

dễ bị sốc, nguy cơ nhiễm trùng rất lớn làm cho việc điều trị càng trở nên phứctạp và nguy hiểm hơn

- Bôi kem đánh răng: khiến bệnh nhân đã bỏng lửa lại thêm bị bỏng kiềm.Tổn thương sẽ sâu hơn và dễ hoại tử

- Bôi dầu cá: có tác dụng giữ nhiệt, nhiệt không thoát ra ngoài được, vết bỏngcàng có nguy cơ sâu hơn

- Dùng các thuốc Đông y sai như: Dùng thuốc hoặc chế phẩm có tính tạomàng bôi lên vết bỏng, khi màng thuốc khô, tạo garo tự nhiên gây hoại tử chithể hoặc các thuốc “gia truyền” đều do các ông lang tự chế, không có kiểmnghiệm của cơ quan chức năng Hoặc khi bị bỏng do điện giật, nhiều ông langquan niệm âm – dương phải hòa hợp, nên đã vứt bệnh nhân xuống bùn, gâynhiễm trùng uốn ván… kết quả số ca bỏng mà Viện Bỏng quốc gia tiếp nhận

do dùng thuốc Đông y tăng dần qua các năm: năm 2006 có 163 ca, năm 2007

có 198 ca, năm 2008 có 126 ca [25]

Điều đáng bàn, không chỉ người dân mà ngay cả các y bác sỹ tuyến cơ

sở cũng chưa có hiểu biết trong sơ cứu bỏng Cứ thấy bệnh nhân bỏng nặng,chưa kịp tiến hành sơ cứu đã vội chuyển người bệnh lên tuyến trên là nguyênnhân khiến bệnh nhân bị sốc nặng hoặc để lại những di chứng bỏng nặng nề[20] Kết quả là có khoảng 30% các ca bỏng trở nên trầm trọng hơn khichuyển tới các Bệnh viện tỉnh hoặc Trung ương [19]

Theo Hồ Thị Dung và cs khi điều tra nhận thức của các bà mẹ có condưới 5 tuổi cho thấy có 68,8% biết điều trị bỏng tốn kém, 79% biết bỏng cóthể dẫn đến tử vong và 77,6% cho rằng bỏng có thể để lại sẹo xấu Các bà mẹbiết rằng nhiệt ướt là nguyên nhân gây bỏng nhiều nhất và trẻ chủ yếu bị bỏngtai nhà (75%) nhưng 78,2% số bà mẹ cho rằng do tự ý trẻ gây ra mà chưa thấy

Trang 19

trách nhiệm của người lớn trong việc để trẻ bị bỏng Tỷ lệ các bà mẹ nhậnthức sai về sơ cứu bỏng chiếm tỷ lệ cao, chỉ có 15,4% dùng nước lạnh ngâmrửa vết bỏng, 36,2% cắt bỏ quần áo, 28,6% băng phủ vết bỏng và 37,4% chotrẻ uống nước Tuy nhiên tỷ lệ các bà mẹ cho rằng bỏng điều trị tốt nhất là tạiBệnh viện (33,8%) và Trạm xá (44,8%) chiếm đa số [1],[2].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Lâm và Đặng Thị Bích Hòa (2005)chỉ có 23,19% bệnh nhân bỏng được làm lạnh bề mặt vết bỏng bằng nướclạnh ngay sau tai nạn trước khi chuyển đến điều trị tại Viện Bỏng Quốc Gia.Các vật liệu được bôi vào vết bỏng gồm dầu cá, mỡ trăn, kem đánh răng, lácây các loại thậm chí lẫn bùn, vôi bột… Trong số 198 bệnh nhân được chuyểnđến từ các cơ sở y tế 38,84% số bệnh nhân không được hồi sức dịch thể khicấp cứu, gần một nửa số bệnh nhân không được truyền dịch trên đường vậnchuyển đặc biệt là trẻ em, 63,13% số bệnh nhân không được xử lí vết bỏngtrước khi vận chuyển, chỉ có 24% số trường hợp chẩn đoán diện tích bỏngphù hợp với chẩn đoán của Viện bỏng [4]

Theo nghiên cứu của Hồ Thị Xuân Hương trong 20 năm (1985-2004)

về đặc điểm trẻ em điều trị tại Viện bỏng Quốc gia cho thấy 80,74% trẻ khôngđược xử lý đúng tại gia đình ngay khi bị bỏng [3]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn về tình trạng tai nạn bỏng trẻ

em nhập Viện Bỏng Quốc Gia năm 2006 cho thấy có 42,8% trường hợp ngâmrửa vết bỏng bằng nước lạnh; 35,9% trường hợp không xử trí gì và 21,3% cáctrường hợp xử trí sai, không đúng theo khuyến cáo; chỉ có 1,5% băng che phủvết bỏng [6]

Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác và Quỹ Châu Á triển khai dự án

“Phòng chống tai nạn bỏng cho cộng đồng, tập trung vào đối tượng trẻ em và

nhóm nguy cơ cao” với kinh phí là 125.000 USD, dự án này được triển khai

từ 6/2007 - 6/2008 trên toàn quốc, đặc biệt tập trung ở những khu vực có tỷ lệ

Trang 20

tai nạn bỏng cao nhằm mục tiêu giảm thiểu tai nạn bỏng ở Việt Nam Ngoài

ra, dự án còn hướng tới giảm thiểu tối đa tỷ lệ sai sót do sơ cấp cứu ở tuyến y

và điều trị bỏng cũng như thông tin về các cơ sở y tế điều trị bỏng thông qua

dự án, nên khi bị bỏng, thay vì tự điều trị ở nhà hay thầy lang, nhiều người đãtìm đến viện điều trị…

Tuy nhiên, để đáp ứng điều trị cho khoảng 850.000 bệnh nhân bỏngmỗi năm thì cơ sở y tế còn quá nhiều hạn chế Có đến 95,4% cơ sở y tế thiếu

trang thiết bị điều trị bỏng Do đó thời gian tới, Bộ Y tế cần củng cố, xây

dựng thêm các cơ sở chuyên khoa bỏng, trung tâm bỏng thuộc các bệnh việnlớn, nhất là ở những nơi mà tầm bao phủ của các trung tâm bỏng lớn hiện naykhông đảm bảo được [17]

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

 Toàn bộ bệnh án về bệnh nhân bỏng nhập viện điều trị tại Bệnh viện đakhoa tỉnh ĐăkLăk trong năm 2010

 Chủ các hộ gia đình tại 30 xã/phường/thị trấn thuộc các huyện/thành phố/thị

xã trong toàn tỉnh ĐăkLăk

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm

 Bệnh viện đa khoa tỉnh ĐăkLăk

 Nghiên cứu được tiến hành tại 30 xã/phường/thị trấn của tỉnh ĐăkLăk

2.2.2 Thời gian

Từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

 Nghiên cứu hồi cứu các ca bỏng điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh ĐăkLăknăm 2010

 Nghiên cứu cắt ngang mô tả về kiến thức của người dân về sơ cứu bỏng

Trang 22

2.3.2.1 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỉ lệ:

2

2 2 1

d

q p Z

 Trong đó:

n: Cỡ mẫu cần điều tra

Z: Giá trị thu được từ bảng Z ứng với mức ý nghĩa thống kê  Ởđây ta chọn  = 0,05 ta có Z= 1,96

p: Tỷ lệ ước tính trong quần thể Trong đề tài này chọn p = 0,5 ápdụng để tính cỡ mẫu cho nghiên cứu này

d: Là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệquần thể (P) Khoảng sai lệch này được xác định tùy theo ý tưởng của ngườinghiên cứu Ở đây ta chọn d = 0,05

n = (1.96)2 x 0,5 x 0,5 / (0.05)2 = 384

Như vậy mẫu điều tra sẽ là 384 người

Để tăng độ tin cậy cho mẫu và trong điều kiện cho phép chúng tôi tăng

cỡ mẫu lên khoảng 10% nên số mẫu được chọn là 420 mẫu

xã đó cộng với bước nhảy Cứ lần lượt như vậy để chọn ra 30 cụm nghiêncứu Như vậy, với số mẫu là 420 đối tượng thì mỗi cụm sẽ nghiên cứu 14 đốitượng

Trang 23

Chọn đối tượng nghiên cứu

Tại mỗi cụm nghiên cứu, đối tượng đầu tiên là chủ hộ gia đình ở đốidiện với trạm y tế xã, sau đó điều tra theo kiểu cổng liền cổng (Door to Door )cho tới khi đủ số lượng của từng cụm Mỗi một Hộ gia đình chỉ lựa chọn mộtđối tượng tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng vào mẫu

Các chủ hộ gia đính có hộ khẩu thường trú tại các điểm nghiên cứu,không phân biệt giới tính Chấp thuận tham gia sau khi được hướng dẫn, giảithích các vấn đề của cuộc nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại ra không đưa vào mẫu

Những người từ chối tham gia, những người bị bệnh tâm thần, câm,điếc, không có khả năng giao tiếp, những người vắng mặt tại địa phươngtrong thời điểm điều tra sau 2 lần mời hoặc tiếp xúc mà không gặp được

Không chấp thuận tham gia sau khi được tư vấn các vấn đề của cuộcnghiên cứu

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.3.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

 Tất cả các thành viên của tổ điều tra được tập huấn cách chọn các đối tượngnghiên cứu, và nội dung của bộ câu hỏi

 Để tạo độ tin tưởng cho công tác nghiên cứu, vận động các Chủ hộ gia đình

và nhân viên y tế thôn buôn khuyến khích mọi người tham gia để tìm hiểu thông tin một cách đầy đủ và chính xác

 Những trường hợp đối tượng không biết tiếng Kinh thì có nhân viên y tế xã hoặc nhân viên y tế thôn buôn là người tại chỗ phiên dịch Có giám sát trong quá trình điều tra để đảm bảo việc thu thập số liệu chính xác và các biểu mẫu ghi đầy đủ

Trang 24

2.3.3.3 Biến số nghiên cứu

2.3.3.3.1 Biến số về dịch tễ

Giới tính: có 2 giá trị là nam và nữ.

Tuổi: được chia làm 4 nhóm là dưới 6 tuổi, 6 đến dưới 18 tuổi, 18 đến dưới

60 tuổi và trên 60 tuổi

Nghề nghiệp: bao gồm các nhóm: làm nông, công nhân, buôn bán, đi học,

còn nhỏ, nghề tự do

Thời gian xảy ra bỏng: gồm 12 giá trị từ tháng 1 đến tháng 12.

Nơi xảy ra bỏng: bao gồm: trong nhà, xung quanh nhà, nơi làm việc và nơi khác.

Tác nhân gây bỏng: bao gồm các nhóm: Nước nóng, lửa, chất cháy nổ

(xăng, dầu, ga…), điện, chất hóa học, đồ dùng nấu ăn, cám heo nóng

Diện tích bỏng: được chia làm 10 nhóm: 0-9%, 10-19%, 20-29%, 30-39%,

+ Dân tộc: bao gồm: Kinh, Ê đê, M’Nông, Khác.

+ Nghề nghiệp: bao gồm: nông dân, công nhân, hành chính sự nghiệp, khác + Trình độ học vấn: chia làm 5 nhóm: không biết chữ hoặc chưa hết tiểu

học, tiểu học (cấp 1), trung học cơ sở (cấp 2), trung học phổ thông (cấp 3),trên trung học phổ thông (trung cấp,cao đẳng, đại học, sau đại học)

Các biến số đánh giá kiến thức chung của người dân về bỏng

+ Nhận biết được bỏng độ 2 khi thấy vùng da bị đỏ lựng và phồng lên những túi nước: gồm 2 giá trị có hoặc không.

+ Biết bỏng độ 3 nguy hiểm nhất vì ảnh hưởng đến lỗ chân lông, tuyến

mồ hôi hay lớp mỡ dưới da: gồm 2 giá trị có hoặc không.

Trang 25

+ Biết bỏng có thể gây tử vong: gồm 2 giá trị có hoặc không.

+ Biết bỏng có thể gây hạn chế tầm vận động và ảnh hưởng đến tâm lí:

gồm 2 giá trị có hoặc không

+ Biết điều trị bỏng tốn kém: gồm 2 giá trị có hoặc không.

Tác nhân gây bỏng hay gặp theo nhận thức của người dân: bao gồm các

nhóm: nhiệt ướt (nước sôi, dầu mỡ sôi, canh nóng, cám nóng…), nhiệt khô(lửa, tia lửa điện,…), hóa chất: acid và bazơ, điện, các tia vật lí, khác

Kiến thức về sơ cứu bỏng

+ Bước xử trí đầu tiên nạn nhân bỏng: gồm các nhóm: dội nước lã lên

người nạn nhân, gọi bác sĩ, đưa nạn nhân ra khỏi nguồn gây bỏng

+ Phương pháp xử trí vết thương ngay sau tai nạn: bao gồm các nhóm:

không xử trí gì; bôi kem đánh răng, nước mắm, mỡ trăn; làm lạnh vết bỏngvới nước sạch (160C-200C) trong vòng 20 - 30 phút, băng ép nhẹ vùng bịbỏng, tránh làm vỡ các nốt phồng nước; chườm đá; rắc kháng sinh

+ Tác dụng của việc làm mát vết bỏng với nước sạch: bao gồm các nhóm:

hạ nhiệt tại chỗ khiến tổn thương không ăn sâu vào trong, giảm đau, giảmnguy cơ gây sốc cho bệnh nhân; nốt phồng nước to hơn; không biết

+ Xử trí khi vết bỏng bị áo quần che phủ: bao gồm các nhóm: cởi quần áo;

cắt quần áo; để nguyên quần áo

+ Xử trí bỏng hóa chất: bao gồm các nhóm: Bao gồm các bước: rửa sạch

hóa chất khỏi bề mặt da dưới vòi nước sạch trên 15 phút (chải sạch trước khirửa nếu hóa chất là dạng bột) Cởi quần áo và trang sức bị dính hóa chất Chephủ lên vùng bỏng: băng gạc khô, vô trùng hoặc quần áo sạch; xử trí như cácloại bỏng thông thường; không biết

+ Bước xử trí đầu tiên khi thấy người bị bỏng do điện: bao gồm 2 nhóm:

Ngắt nguồn điện; dùng vật dụng để bảo vệ bạn trước khi ngắt nguồn điện

Trang 26

+ Xử trí nạn nhân bỏng điện: gồm 3 nhóm: Đưa đến bệnh viện ngay; Hô

hấp nhân tạo cho nạn nhân tại chỗ cho đến khi nạn nhân thở lại mới vậnchuyển đến cơ sở y tế; Không biết

Nơi chữa bỏng tốt: gồm các nhóm: tại nhà, trạm xá, thầy lang, bệnh viện,

khác

Nguồn tiếp nhận thông tin của người dân về sơ cứu bỏng: bao gồm các

nhóm: các chương trình trên TV; các chương trình trên Radio; loa phát thanhcủa xã, phường; từ y tế thôn, buôn; từ các hướng dẫn của Trạm y tế xã,phường; từ nguồn khác; chưa nghe nói

2.4 Xử lý số liệu

 Sau khi đã thu thập xong số liệu, chúng tôi sẽ sử dụng những số liệu được

để tổng hợp và phân tích

 Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1

 Xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê y học

2.5 Khía cạnh đạo đức đề tài

Thực hiện việc thu thập số liệu dựa trên sự đồng ý và thống nhất của Sở

Y tế Phỏng vấn hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện và đồng ý tham gia của cácđối tượng được phỏng vấn.Toàn bộ số liệu thu thập được chỉ sử dụng cho mụcđích khoa học và việc phòng chống và sơ cứu bỏng ngày một tốt hơn trongcộng đồng

Ngày đăng: 04/05/2018, 09:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w