1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thu hồi đất và vai trò của vốn con người đối với sinh kế của hộ gia đình nông thôn thành phố Cần Thơ

246 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 246
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án được thực hiện với ba mục tiêu cụ thể như sau: Mục tiêu cụ thể thứ nhất: Phân tích sự thay đổi các tài sản sinh kế của các hộ gia đình khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ khi bị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

LÊ THANH SƠN

THU HỒI ĐẤT VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

LÊ THANH SƠN

THU HỒI ĐẤT VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 62 31 01 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS.Trần Tiến Khai

TS Lê Ngọc Uyển

TP.HỒ CHÍ MINH –NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận án là trung thực, và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Lê Thanh Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

DANH MỤC PHỤ LỤC ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 7

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 8

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 9

1.5.1 Ý nghĩa về mặt phương pháp 9

1.5.2 Ý nghĩa về thực tiễn nghiên cứu 10

1.5.3 Ý nghĩa về mặt chính sách 10

1.6 Cấu trúc luận án 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 13

2.1 Đất đai, sở hữu đất đai và thu hồi đất 13

2.1.1 Sở hữu và sử dụng đất đai ở Việt Nam 13

2.1.2 Qui trình thu hồi đất của Việt Nam được áp dụng trong tình huống nghiên cứu 16 2.2 Hành vi ra quyết định của nông hộ 19

2.2.1 Lý thuyết nông hộ tối đa hóa lợi nhuận 19

2.2.2 Lý thuyết nông hộ tối đa hóa lợi ích 20

2.2.3 Lý thuyết nông hộ ghét rủi ro 22

2.2.4 Đánh giá chung về nhóm lý thuyết ra quyết định của nông hộ 23

2.3 Sinh kế hộ gia đình 24

2.3.1 Sinh kế 24

2.3.2 Các tài sản sinh kế 27

2.3.3 Bối cảnh tổn thương 28

Trang 5

2.3.4 Chuyển đổi cấu trúc và tiến trình 29

2.3.5 Chiến lược sinh kế 30

2.3.6 Kết quả sinh kế 30

2.3.7 Các phương pháp phân tích sinh kế 31

2.4 Vốn con người 32

2.4.1 Khái niệm về vốn con người 32

2.4.2 Đo lường vốn con người 34

2.4.3 Mối quan hệ vốn con người và sinh kế 34

2.5 Nông thôn, đất đai và và sinh kế hộ gia đình nông thôn: nhìn từ các nghiên cứu thực nghiệm 36

2.5.1 Nông thôn 36

2.5.2 Đất đai và sinh kế của hộ gia đình khu vực nông thôn ở các nước 37

2.5.3 Đất đai và sinh kế của hộ gia đình khu vực nông thôn ở Việt Nam 41

2.6 Kết luận 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53

3.1 Khung phân tích của Luận án 53

3.2 Quy trình nghiên cứu: 54

3.2.1 Lược khảo lý thuyết 54

3.2.2 Sơ khảo thực địa 54

3.2.3 Thu thập dữ liệu 56

3.2.3.1 Mô tả cấu trúc dân cư ở các dự án khảo sát, các đặc trưng của tổng thể 56

3.2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 58

3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 60

3.2.4.1 Phương pháp phân tích câu hỏi nghiên cứu thứ 1: 60

3.2.4.2 Phương pháp phân tích câu hỏi nghiên cứu thứ 2: 61

3.2.4.3 Phương pháp phân tích câu hỏi nghiên cứu thứ 3: 69

3.2.4.4 Phương pháp phân tích câu hỏi nghiên cứu thứ 4 79

3.4.5 Kiểm chứng dữ liệu bằng nghiên cứu định tính 83

3.4.6 Báo cáo tổng hợp 83

CHƯƠNG 4: SỰ THAY ĐỔI CÁC TÀI SẢN SINH KẾ 85

CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 85

TRƯỚC VÀ SAU QUÁ TRÌNH THU HỒI ĐẤT 85

Trang 6

4.1 Bối cảnh nghiên cứu 85

4.1.1 Sơ lược về thành phố Cần Thơ 85

4.1.2 Khu vực nông thôn và huyện Vĩnh Thạnh – thành phố Cần Thơ 86

4.1.3 Nhu cầu sử dụng đất của thành phố Cần Thơ 87

4.2 Sự thay đổi về các tài sản sinh kế của hộ gia đình trước và sau quá trình thu hồi đất 89

4.2.1 Vốn tự nhiên 89

4.2.2 Vốn con người 93

4.2.3 Vốn xã hội 95

4.2.4 Vốn tài chính 98

4.2.5 Vốn vật chất 102

4.2.6 Tổng hợp chung về các tài sản sinh kế 103

4.3 Kết luận chương 4 105

CHƯƠNG 5: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP 107

VÀ CHI TIÊU CỦA HỘ GIA ĐÌNH KHU VỰC NÔNG THÔN 107

5.1 Sự thay đổi về thu nhập và cơ cấu thu nhập sau khi bị thu hồi đất 107

5.2 Tác động của việc thu hồi đất đến tỉ lệ các nguồn thu nhập của HGĐ 110

5.3 Chi tiêu của HGĐ khu vực nông thôn trước và sau khi bị thu hồi đất 118

5.4 Tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của các hộ gia đình 122

5.5 Kết luận Chương 5 126

5.6 Hàm ý chính sách 128

CHƯƠNG 6: VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH CÁC CHIẾN LƯỢC SINH KẾ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN TRONG TÌNH HUỐNG TỔN THƯƠNG 130

6.1 Sự thay đổi về nghề nghiệp của các thành viên trong hộ gia đình 130

6.2 Vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh kế của hộ gia đình 133

6.3 Ảnh hưởng của vốn con người đến các kết quả sinh kế của hộ gia đình trong bối cảnh tổn thương 140

6.4 Kết luận chương 6 147

CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN – HÀM Ý CHÍNH SÁCH 148

7.1 Kết luận 148

Trang 7

7.2 Hàm ý chính sách 152

7.3 Các đóng góp của đề tài 153

7.4 Hạn chế của đề tài 154

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 170

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

CARE : Cooperative for American Remittances to Europe

DFID : Department for International Development

FLM : Fractional logit model

FMLM : Fractional multinomial logit model

IFAD : International Fund for Agricultural Development

OXFAM : Oxford Commitee for Famine Relief

PRA : Kỹ thuật đánh giá nhanh nông thôn (Rural Rapid Appraisal) TBKD : Thu nhập từ tự kinh doanh

TNCT : Hưởng lương chính thức

TNLT : Làm công hưởng lương thời vụ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1: Định nghĩa và đo lường các biến trong mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến cấu

trúc thu nhập hộ gia đình 66

Bảng 3 2: Phương pháp khác biệt trong khác biệt 73

Bảng 3 3: Định nghĩa và đo lường các biến trong mô hình tác động của thu hồi đất đến thu nhập và chi tiêu người dân khu vực nông thôn 75

Bảng 4 1:Diện tích đất của các hộ gia đình 89

Bảng 4 2:Diện tích đất của các hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất 90

Bảng 4 3: Sự thay đổi về diện tích đất của hộ gia đình theo ngũ phân vị theo diện tích đất 91

Bảng 4 4: Diện tích đất hộ gia đình cho thuê 92

Bảng 4 5: Diện tích đất canh tác hộ gia đình đi thuê 92

Bảng 4 6: Đặc điểm nhân khẩu học và giáo dục của các hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 94

Bảng 4 7: Ngũ phân vị theo số năm đi học bình quân của những thành viên có đi làm của hộ gia đình 95

Bảng 4 8: Sự tham gia các tổ chức CT-XH của các thành viên hộ gia đình trên 15 tuổi 96

Bảng 4 9: Tiền và vàng của các hộ dân 99

Bảng 4 10: Các nguồn vay, mượn của hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất 101

Bảng 4 11: Tài sản sản xuất và tài sản tiêu dùng 103

Bảng 5 1: Sự thay đổi về thu nhập của hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất 108

Bảng 5 2: Sự thay đổi về cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình (%) 109

Bảng 5 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ thu nhập từ nông nghiệp bằng ước lượng FLM 112

Bảng 5 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu nhập phi nông nghiệp của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất bằng phương pháp FMLM 113

Bảng 5 5:Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu nhập phi nông nghiệp của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất bằng phương pháp FMLM(tiếp theo) 114

Bảng 5 6: Chi tiêu hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất 119

Bảng 5 7: Chi tiêu cho lễ tết, đám tiệc và ngoài ăn uống của hộ gia đình 121

Bảng 5 8: Tác động của THĐ khu vực nông thôn đến thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của các HGĐ 124

Bảng 6 1: Tuổi và học vấn của các lao động trong hộ gia đình 132

Bảng 6 2: Phân loại lao động tạo ra thu nhập của hộ gia đình 133

Bảng 6 3: Mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ 138

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2 1: Quy trình thu hồi đất theo NĐ 69/2009/NĐ-CP 18

Hình 2 2: Mô hình gia đình nông dân của Chayanov 21

Hình 2 3: Phân tích khung sinh kế của DFID 26

Hình 2 4: Tác động của của chương trình sau thời gian 71

Hình 3 1: Khung phân tích sinh kế hộ gia đình khu vực nông thôn TP.Cần Thơ 53

Hình 3 2: Quy trình nghiên cứu 55

Hình 3 3: Phân bố dân cư ở khu vực nghiên cứu 57

Hình 3 4: Vùng bị thu hồi đất và lấy mẫu khảo sát 58

Hình 4 1: Vị trí địa lý của Thành phố Cần Thơ, Việt Nam 86

Hình 4 2: Sự tham gia các tôn giáo của các thành viên hộ gia đình trên 15 tuổi trước và sau khi bị thu hồi đất 97

Hình 4 3: Tỉ lệ có vay nợ của các hộ dân khu vực nghiên cứu 100

Hình 4 4: Mục đích sử dụng vốn vay 102

Hình 4 5: Mối quan hệ giữa mục đích sử dụng vốn vay và các nhóm khảo sát 102

Hình 4 6: Điểm trung bình các nguồn vốn sinh kế của các hộ gia đình bị thu hồi đất bởi dự án đường cao tốc trước và sau khi bị thu hồi đất 104

Hình 4 7: Điểm trung bình các nguồn vốn sinh kế của các hộ gia đình bị thu hồi đất bởi dự án Khu dân cư vượt lũ trước và sau khi bị thu hồi đất 104

Hình 4 8: Điểm trung bình các nguồn vốn sinh kế của các hộ gia đình không bị thu hồi đất trước và sau quá trình nhà nước thu hồi đất các hộ khác trên địa bàn 104

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 4 1: Kiểm định diện tích đất của hai nhóm hộ bị thu hồi đất 170 Phụ lục 4 2: So sánh đặc điểm nhân khẩu học của các hộ gia đình bị thu hồi đất và không

bị thu hồi đất 170 Phụ lục 4 3: Mối quan hệ của vốn con người và phúc lợi hộ gia đình 172 Phụ lục 4 4: So sánh trung bình số tiền bồi thường của hai nhóm hộ gia đình 173

Phụ lục 5.1: Kiểm định sự thay đổi về thu nhập của các hộ gia đình dự án đường cao tốc: 2013-2015 – Nhóm đối chứng 174 Phụ lục 5.2: Kiểm định sự thay đổi về thu nhập của các hộ gia đình dự án đường cao tốc: 2013-2015 – Nhóm bị tác động 175 Phụ lục 5 3: Kiểm định sự thay đổi về thu nhập của các hộ gia đình dự án KDC vượt lũ: 2011-2015– Nhóm đối chứng 176 Phụ lục 5.4: Kiểm định sự thay đổi về thu nhập của các hộ gia đình dự án KDC vượt lũ: 2011-2015– Nhóm bị tác động 177 Phụ lục 5 5: Ma trận hệ số tương quan các biến trong hô mình 178 Phụ lục 5 6: Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ thu nhập từ nông nghiệp bằng ước lượng FLM 179 Phụ lục 5 7: Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu nhập phi nông nghiệp của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất bằng phương pháp FMLM 180 Phụ lục 5 8: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu của các hộ bị thu hồi đất bởi dự án cao tốc giữa trước và sau khi bị thu hồi đất 182 Phụ lục 5 9: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu của các hộ bị thu hồi đất bởi dự án vượt lũ giữa trước và sau khi bị thu hồi đất 183 Phụ lục 5 10: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu của các hộ bị KHÔNG thu hồi đất 184 Phụ lục 5 11: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu LỄ, TẾ VÀ NGOÀI ĂN UỐNG của các

hộ bị thu hồi đất bởi dự án cao tốc giữa trước và sau khi bị thu hồi đất 185 Phụ lục 5 12: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu LỄ, TẾ VÀ NGOÀI ĂN UỐNG của các

hộ bị thu hồi đất bởi dự án vượt lũ giữa trước và sau khi bị thu hồi đất 186 Phụ lục 5 13: Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu LỄ, TẾ VÀ NGOÀI ĂN UỐNG của các

hộ KHÔNG bị thu hồi đất 188 Phụ lục 5 14: Kiểm định mối liên hệ giữa trình độ học vấn và nhóm hộ nghiên cứu 189 Phụ lục 5 15 : Kiểm định sự khác biệt về chi tiêu cho giáo dục và y tế của các nhóm hộ gia đình 190 Phụ lục 5 16: Tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập của các hộ gia đình 191 Phụ lục 5 17: Tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến chi tiêu của các hộ gia đình 191 Phụ lục 6 1: Trung bình các tài sản sinh kế theo nguồn thu nhập chính HGĐ năm 2015 192

Trang 12

Phụ lục 6 2: Kiểm định mối quan hệ giữa thu nhập của hộ và số nguồn thu nhập của hộ gia đình (Kruskal-Wallis Test) 194 Phụ lục 6 3: Kiểm định mối quan hệ giữa thu nhập, chi tiêu của hộ và số nguồn thu nhập của hộ gia đình (ANOVA) 195 Phụ lục 6 4: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và số nguồn thu nhập của hộ gia đình (ANOVA) 196 Phụ lục 6 5: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và số nguồn thu nhập của hộ gia đình (KRUSKAL-WALLIS) 198 Phụ lục 6 6: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và nguồn thu nhập từ nông nghiệp 199 Phụ lục 6 7: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và nguồn thu nhập từ làm thuê hưởng lương không cố định 200 Phụ lục 6 8: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và nguồn thu nhập từ làm thuê hưởng lương cố định 201 Phụ lục 6 9: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và nguồn thu nhập chính từ tự kinh doanh 202 Phụ lục 6 10: Kiểm định mối quan hệ giữa vốn con người và nguồn thu nhập khác 203 Phụ lục 6 11: Kiểm định mối quan hệ giữa nghề chính của hộ gia đình và thu nhập, chi tiêu bình quân đầu người của hộ (ANOVA) 204 Phụ lục 6 12: Kiểm định mối quan hệ giữa nghề chính của hộ gia đình và thu nhập, chi tiêu bình quân đầu người của hộ (Kruskal-Wallis Test) 204 Phụ lục 6 13: Kiểm định mối quan hệ giữa trình độ học vấn trung bình của hộ và việc mua đất nông nghiệp 205 Phụ lục 7 1: Bảng phỏng vấn hộ gia đình 206 Phụ lục 7 2 Danh sách các hộ gia đình được phỏng vấn 230

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu

“Tấc đất tấc vàng” là một thành ngữ rất phổ biến nói về giá trị đất đai ở Việt

Nam Với tổng diện tích khoảng 33 triệu ha và dân số 86 triệu người (năm 2009), Việt Nam là một trong những nước có diện tích đất bình quân trên đầu người thấp nhất thế giới Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người chưa đầy 0,3 ha (WB, 2011a) Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng trong hai thập niên qua, chính phủ đã thu hồi một lượng lớn đất ở khu vực nông thôn để phục vụ cho sự phát triển của các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, khu dân cư và các mục đích công cộng khác Trong giai đoạn 2001-2010, đã có gần

một triệu ha đất nông nghiệp (chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất nông nghiệp

của cả nước) được Nhà nước thu hồi và chuyển sang mục đích sử dụng phi nông

nghiệp (WB, 2011c) Trong khi đó, nông nghiệp là nghề chính cho những hộ nông dân nghèo (WB, 2013) Vì vậy, việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các hộ gia đình sống bằng nghề nông

Bên cạnh đó, không phải hộ dân nào sống khu vực nông thôn cũng có đất nông nghiệp Ở Việt Nam có đến 9,6% dân số ở vùng nông thôn không có đất sản xuất, đặc biệt các các tỉnh phía Nam Tỷ lệ hộ nông dân không có đất ở Đồng bằng sông Cửu Long có tỉ lệ cao hơn bình quân cả nước Do ruộng đất ít nên các hộ gia đình vùng nông thôn phải đa dạng hóa sinh kế để gia tăng thu nhập Tỉ trọng thu nhập từ lĩnh vực nông nghiệp khoảng 50%, còn lại là làm công ăn lương, phi nông nghiệp và khai thác tài nguyên (CIEM, 2013) Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất ở khu vực nông thôn, không chỉ tác động đến việc mất tư liệu sản xuất của nông dân

mà còn ảnh hưởng đến nơi ở, việc làm của các nhóm đối tượng khác Việc thu hồi đất sẽ có ảnh hưởng đến các sự lựa chọn sinh kế, bởi sẽ có nhiều cơ hội mới mở ra

từ việc làm phi nông nghiệp và sự thay đổi của các tài sản sinh kế Một bộ phận hộ dân sẽ có lợi ích cao hơn nhờ có các nguồn lực và nắm được cơ hội Các hộ gia đình

Trang 14

khác có thể sẽ bị thất nghiệp, tổn thương, công việc không ổn định sau khi tiêu dùng hết tiền bồi thường cho thu hồi đất

“Thu hồi đất” là khái niệm được nêu trong Luật đất đai (Quốc hội, 2003) cho phép Nhà nước có quyền thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế1 Khi Nhà nước thu hồi đất sẽ bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng và tái định cư cho người

bị thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền

sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi2 Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ

Tuy nhiên, việc bồi thường theo cách giao đất mới có cùng mục đích sử dụng rất ít khi được áp dụng vì rất khó để tìm được “đất mới có cùng mục đích sử dụng” Thay vào đó là Nhà nước sẽ bồi thường bằng “giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi” Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ di dời, tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp cũng rất đa dạng Chính quyền địa phương có thể linh động

hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp gấp từ 3 đến 5 lần giá trị bồi thường đất nông nghiệp Vì vậy, trong thực tế, việc áp dụng Luật đất đai cũng đa dạng khác nhau theo các chiều không gian lẫn thời gian Để đánh giá các tác động của quá trình thu hồi đất này đến cuộc sống của người dân, rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước

đã được tiến hành và cho thấy:

Công tác triển khai Luật đất đai về thu hồi đất của người dân được vận dụng

và thực hiện một cách linh hoạt ở nhiều địa phương khác nhau, khái niệm thu hồi đất cho phát triển kinh tế xã hội được sử dụng một cách không rõ ràng giữa việc cho lợi ích công hay lợi ích tư Các nghiên cứu của ADB (2007), WB (2011b) cho thấy chính sách thu hồi đất rất đa dạng Cùng là mục đích thu hồi đất nông nghiệp để giao cho nhà đầu tư chuyển đổi thành đất ở và phân lô bán nền, nhưng có thể áp dụng luật theo hướng cưỡng chế thi hành hoặc thỏa thuận với người dân Hoặc cùng

Trang 15

bị cưỡng chế thu hồi nhưng có bồi thường “tương đương thị trường” với giá do Nhà nước quyết định và người dân thật sự không thể mua lại phần đất tương tự bị Nhà nước lấy đi ở nơi khác (Phuc, 2015) Việc phân loại đất nông nghiệp hay vườn tạp

để được hưởng chế độ hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp – thường gấp 3 đến 5 lần giá trị bồi thường cũng không rõ ràng, dẫn đến có sự khác biệt rất lớn về tổng số tiền bồi thường mà người dân nhận được, ngay cả khi các dự án khác nhau được diễn ra trên cùng một xã, huyện

Sau khi bị thu hồi đất, sinh kế một số hộ gia đình tốt hơn nhờ vào việc phát triển các ngành nghề mới phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và người dân có thể hưởng lợi Các hộ gia đình bị thu hồi đất đã có lợi ích từ việc cư trú ở gần các trung tâm đô thị và các trường đại học ở vùng ven đô Hà Nội bằng cách xây nhà trọ cho thuê, bán tạp hóa nhỏ (Nguyễn Văn Sửu, 2008) Bên cạnh đó,

có bằng chứng cho thấy việc mất đất sản xuất nông nghiệp không có tác động tiêu cực đến người dân mà ngược lại là người dân có cuộc sống tốt hơn, thu nhập cao hơn nhờ đa dạng hóa nguồn thu nhập và chuyển đổi nghề nghiệp (Tran Quang Tuyen và cộng sự, 2013)

Bên cạnh đó, việc thu hồi phương tiện kiếm sống dẫn đến việc người dân phải di chuyển chỗ ở và tìm kế mưu sinh mới nhưng đa phần là không thành công Trong nghiên cứu về trường hợp của vùng ven đô Hà Nội, nơi mà 2/3 diện tích đất được thu hồi để xây dựng hạ tầng và khu đô thị mới, Nguyễn Văn Sửu (2008) đã tìm thấy bằng chứng rằng nhiều hộ gia đình chỉ có thu nhập tạm bợ và nhiều hộ gia đình khác trở nên thất nghiệp, đặc biệt là người già và người có học vấn thấp Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ở một số tỉnh của Việt Nam cho thấy khoảng 1/3 hộ gia đình bị tác động xấu đến sinh kế của họ, đặc biệt là các

hộ gia đình mất toàn bộ đất nông nghiệp, có trình độ học vấn thấp hay không được đào tạo kỹ năng để tìm công việc mới (ADB, 2007) Nghiên cứu của Lê Du Phong (2007) tại tám tỉnh, thành phố có tốc độ đô thị hoá cao nhất cho thấy tỉ lệ thất nghiệp gia tăng 8%, việc làm lĩnh vực nông nghiệp giảm 18,17 %, và việc làm

Trang 16

trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại chỉ tăng 2%, trong khi tỉ lệ việc làm hưởng hương và các công việc khác tăng 6,7%

Ở các nước đang phát triển, việc chính phủ thu hồi một lượng lớn đất nông nghiệp và cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với qui mô lớn cũng mang lại nhiều bất lợi cho cộng đồng dân cư địa phương Người dân bản địa ở Ethiopia, không được lợi ích gì từ việc chuyển giao công nghệ,

cơ hội nghề nghiệp, năng suất, phát triển cơ sở hạ tầng Hơn nữa, họ còn bị bất lợi bởi việc mất các cánh đồng cỏ nuôi gia súc tự nhiên, đất đai bị xói mòi, nguồn nước

bị cạn kiệt (Dheressa, 2013) Nghiên cứu của Mi Zhou (2012) cho thấy người dân khu vực nông thôn ở Chongqing và Changsha, Trung Quốc đã không thành công trong việc tìm kiếm việc làm, phúc lợi xã hội thấp, yếu kém trong hỗ trợ của các mạng lưới xã hội bởi quá trình thu hồi đất Vì vậy, nông dân bị mất đất chính là những người bần cùng tiềm tàng trong tương lai và là nhóm người dễ bị tổn thương nhất Rất khó có thể chuyển đổi nông dân thành những công dân thành thị, trong dài hạn nên có những hỗ trợ như là một phần của chính sách an sinh xã hội (Zhang

&Lu, 2011)

Như vậy, sự thành công hay thất bại của việc thích ứng với bối cảnh tổn thương bị thu hồi đất gắn liền với sự đa dạng chiến lược sinh kế Hộ gia đình mất đất thường có sự thích ứng về sinh kế và có sự khác biệt giữa các hộ gia đình về chiến lược sinh kế Bằng chứng đã được tìm thấy ở một số xã của tỉnh Hưng Yên, nơi có 70% đất nông nghiệp bị thu hồi cho việc chuyển đổi thành các khu công nghiệp trong giai đoạn 2001-2006 (Nguyễn Thị Diễn và cộng sự, 2007) Các hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp đã đa dạng các hoạt động để đưa ra chiến lược sinh kế phù hợp Trong số các hộ gia đình mất đất, những hộ gia đình với nền tảng làm nghề nông trước khi bị mất đất thường có xu thế trở nên bất lợi trong các hoạt động có thu nhập cao Nghiên cứu này kết luận rằng sự khác biệt trong thu nhập với

sự khác nhau về chiến lược sinh kế là một trong những nguyên nhân làm tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Vậy điều gì quyết định chiến lược sinh kế của hộ gia đình; Nhà nước, đất đai, hay chính hộ gia đình là người quyết định chiến lược

Trang 17

sinh kế của hộ? Và phải chăng yếu tố con người chính là nhân tố quyết định sự thành bại trong chiến lược sinh kế của hộ gia đình?

Nhìn chung, trong bối cảnh đa dạng về chính sách thu hồi đất, một số nghiên cứu trên chỉ tập trung vào vấn đề “thu hồi đất” và ảnh hưởng của nó đến nghề nghiệp, thu thập, cuộc sống của người dân bị thu hồi đất Tuy nhiên, thu hồi đất là một khái niệm rộng, đi kèm với nó là hàng loạt chính sách đền bù, hỗ trợ khác nhau cho người dân.Trong thực tế, việc đền bù và hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất, đặc biệt trên cùng địa bàn, có sự khác biệt rất lớn về giá trị đền bù (có thể hơn 3 lần) Kết quả là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngày càng nhiều người bị thu hồi đất khiếu nại, khiếu kiện Như vậy, sự khác biệt về các chính sách bồi thường và ảnh hưởng của nó đến sinh kế của người dân là một vấn đề cần làm rõ để cho các nhà hoạch định chính sách cần lưu tâm trước khi ra quyết định Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên đã phản ảnh được sự thay đổi nghề nghiệp qua thời gian, nhưng không làm rõ quá trình hình thành và lựa chọn chiến lược sinh kế mới, đặc biệt là vai trò của vốn con người và vai trò của vốn con người trong việc phối hợp với các tài sản sinh kế khác để lựa chọn chiến lược sinh kế, tạo thu nhập cho gia đình

Là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đang hướng tới mục tiêu trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại, xanh, sạch đẹp, là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại – dịch vụ, trung tâm giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của vùng Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền thành phố rất quan tâm hỗ trợ và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao nhất Do đó, cần

có một quỹ đất rất lớn để xây dựng hệ thống hạ tầng, khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, dân cư, chỉnh trang đô thị là điều kiện hết sức cấp thiết để thực hiện mục tiêu trên Kết quả của quá trình này là bộ mặt đô thị đã thay đổi hoàn toàn, những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây mới, đời sống của nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, cũng có những người phải chịu hi sinh lợi ích vì sự phát triển chung đó Theo báo cáo của Trung tâm Phát triển Quỹ đất Thành Phố,

Trang 18

hằng năm có hàng trăm dự án đầu tư với tổng diện tích thu hồi đến hàng ngàn hecta

và hàng chục ngàn hộ gia đình bị ảnh hưởng cần phải di dời, tái định cư và thay đổi nghề nghiệp (TTPTQĐTPCT, 2013) Người được hưởng lợi đồng tình, người bị thiệt hại khiếu nại Chỉ tính từ tháng 8/2011 đến tháng 8/2012 các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố đã tiếp 1.788 lượt công dân đến khiếu nại mà, trong đó

đa số liên quan đến lĩnh vực đất đai (UBND Thành phố Cần Thơ, 2012)

Từ các nguồn tin trên cho thấy, cùng chịu tác động của việc thu hồi đất nhưng kết quả sinh kế đối với các hộ gia đình bị mất đất lại khác nhau Nhiều hộ có cuộc sống tốt hơn, nhưng cũng không ít hộ bị thiệt thòi hơn Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố đằng sau việc Nhà nước thu hồi đất là nhân tố quyết định đến cuộc sống người dân Trải qua bốn lần thay đổi Luật đất đai và hơn 10 lần sửa đổi, bổ sung các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai, giá đất được đền bù và các mức được hỗ trợ tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp thay đổi rất nhiều, đến mức có hiện tượng hai mảnh đất nằm cạnh nhau nhưng thuộc hai địa phương khác nhau quản lý, có giá bồi thường chênh lệnh gấp hai lần Cũng có trường hợp trên cùng một ấp, một xã, giá thu hồi và hỗ trợ năm sau gấp ba lần năm trước, đó là những minh chứng cho tính phức tạp và thay đổi liên tục trong chính sách thu hồi đất Các yếu tố trên đã dẫn đến sự không đồng thuận trong dân chúng và tỉ lệ khiếu nại ngày càng tăng cao

Cụ thể, ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, khi Nhà nước thu hồi đất ở thì được bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị đất ở và giá trị của vật kiến trúc còn lại, đồng thời được mua suất tái định cư trong khu dân cư tập trung Đối với các

hộ dân bị thu hồi đất trồng lúa thì được bồi thường với giá tương đương trên thị trường và được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp gấp ba lần giá bồi thường Hay nói cách khác, khi Nhà nước thu hồi đất ở, thì người dân đủ tiền mua lại đất, cất lại nhà như trước khi bị thu hồi, còn nếu Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì mua được diện tích đất gấp bốn lần bị thu hồi Điều này có dẫn kết kết quả sinh kế khác nhau giữa hai nhóm hộ này không? Phải chăng các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp sẽ dùng tiền hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp hay tiếp tục mua đất nơi khác để canh tác?

Trang 19

Các hộ bị di chuyển nơi ở có ảnh hưởng đến việc làm không? Với các cú sốc như trên thì các hộ sẽ lựa chọn các chiến lược sinh kế ra sao? Các sự khác biệt trên có liên quan gì đến con người? Có phải chăng nguồn vốn con người chính là yếu tố quyết định cho sự thành bại trong việc thích ứng với các cú sốc về tài sản sinh kế?

Để có thể đưa ra khuyến nghị đối đối với các nhà hoạch định chính sách, các khuyến nghị không những phải có cơ sở khoa học mà còn phải có khả năng thực thi trong thực tế Trong bối cảnh dân số ngày càng tăng, diện tích lãnh thổ quốc gia không tăng thì các khuyến nghị nhà nước tăng giao nhiều hơn đất nông nghiệp cho nông dân là vấn đề hết sức khó khăn Tương tự, trong điều kiện ngân sách quốc gia còn hạn chế và hiệu quả của nhiều chương trình cấp vốn, cho vay xóa đói giảm nghèo bền vững còn nhiều tranh luận thì việc khuyến nghị chính sách hỗ trợ đối với vốn vật chất, vốn tài chính của hộ gia đình bị thu hồi đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Vì vậy, nếu nguồn vốn con người có ý nghĩa và có mối quan hệ nhân quả đến kế quả sinh kế hộ gia đình thì sẽ có tính khả thi cao trong việc thực thi chính sách Bởi

vì nếu đầu tư cho giáo dục là nguồn đầu tư mang tính minh bạch, mang lại lợi ích cho cộng đồng từ nhiều khía cạnh hơn nữa nếu tác động chính sách từ giáo dục sẽ công bằng cho đa số người dân Vì vậy, nghiên cứu tác động của thu hồi đất vùng nông thôn gắn với vai trò của vốn con người sẽ có ý nghĩa cả ba phương diện: cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và khả năng thực thi của chính sách

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến sinh kế của hộ gia đình vùng nông thôn; tìm hiểu vai trò của vốn con người

và những nguyên nhân dẫn đến khác biệt về kết quả sinh kế

Luận án được thực hiện với ba mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu cụ thể thứ nhất: Phân tích sự thay đổi các tài sản sinh kế của các

hộ gia đình khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ khi bị thu hồi đất

Mục tiêu cụ thể thứ hai: Đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến sự thay

đổi về thu nhập, chi tiêu của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất

Trang 20

Mục tiêu cụ thể thứ ba: Phân tích vai trò của vốn con người đối với các

chiến lược sinh kế của các hộ gia đình khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ khi bị thu hồi đất

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu thứ nhất, luận án có câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Các tài sản sinh kế của các hộ gia đình khu vực nông thôn thay đổi như thế nào trước và sau quá trình thu hồi đất?

Từ mục tiêu thứ hai, luận án có hai câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 2: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến cấu trúc nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn sau khi bị thu hồi đất?

Câu hỏi 3: Tác động của việc thu hồi đất có ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình nông thôn?

Từ mục tiêu thứ ba, luận án có câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 4: Vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh kế và ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ gia đình nông thôn trong tình huống tổn thương do thu hồi đất như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sinh kế của hộ gia đình nông thôn

trước và sau khi chính quyền địa phương thu hồi đất cho các mục tiêu phát triển Các khía cạnh liên quan đến sinh kế của hộ gia đình được nghiên cứu bao gồm vốn con người, chiến lược sinh kế trước và sau khi thu hồi đất, năng lực thích ứng với bối cảnh tổn thương, và kết quả sinh kế

Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình khu vực nông thôn huyện Vĩnh

Thạnh, thành phố Cần Thơ

Phạm vi nghiên cứu: luận án sẽ tập trung vào các dự án phát triển có thu hồi

đất được thực hiện trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ trong giai

Trang 21

đoạn 2011 – 2013, và tác động về sinh kế hộ gia đình bị ảnh hưởng của các dự án này đến năm 2015 Thành phố Cần Thơ có 05 quận (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt) và 03 huyện (Thới Lai, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh) Thời điểm tiến hành nghiên cứu có nhiều dự án diễn ra trên địa bàn thành phố Cần Thơ nhưng tiến độ thực hiện dự án chậm, nhiều hộ bị giải tỏa trắng, phải di chuyển chỗ ở xa nơi

cũ và khả năng tìm được hộ gia đình để lấy mẫu lặp lại lần 2 rất khó khăn Tại huyện Vĩnh Thạnh, trên cùng địa bàn xã Thạnh Quới, Dự án Khu dân cư vượt lũ đã hoàn thành bồi thường vào năm 2011, Dự án đường cao tốc được thực hiện từ vốn vay ODA của Hàn Quốc nên khả năng thực hiện đúng tiến độ rất cao trong năm

2013, hơn nữa các hộ dân vẫn sẽ tái định cư trong xã nên sẽ thuận lợi cho việc lấy mẫu lần 2 vào năm 2015 Vì vậy, đề tài chọn 02 dự án trên làm mẫu khảo sát cho nghiên cứu

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ cung cấp các thông tin về tác động của việc thu hồi đất vùng nông thôn đến các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế của các hộ gia đình Đặc biệt, nghiên cứu sẽ chỉ ra sự khác biệt về kết quả của các chính sách khi thu hồi đất khu vực nông thôn trong hai trường hợp: nhóm hộ bị thu hồi chủ yếu đất trồng lúa

và nhóm hộ bị thu hồi đất ở, vườn tạp chiếm đa số

1.5.1 Ý nghĩa về mặt phương pháp

Dựa trên khung phân tích về sinh kế bền vững của khu vực nông thôn, kết hợp với các phương pháp định lượng, định tính; nghiên cứu sẽ góp phần kiểm định lại tính phù hợp và tin cậy của lý thuyết sinh kế bền vững trong việc dùng lý thuyết này để tiếp cận và đánh giá tác động của chính sách thu hồi đất đến sinh kế của người dân, đặc biệt là xem xét vai trò của vốn con người trong việc ứng phó với bối cảnh tổn thương và xây dựng các chiến lược sinh kế của người dân khu vực nông thôn

Trang 22

1.5.2 Ý nghĩa về thực tiễn nghiên cứu

Đây là nghiên cứu đầu tiên trên địa bàn thành phố Cần Thơ cung cấp các thông tin định lượng, định tính về tác động của việc thu hồi đất vùng nông thôn đến các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế của các hộ gia đình Đặc biệt, nghiên cứu

sẽ chỉ ra sự khác biệt về kết quả của các chính sách khi thu hồi đất trong hai trường hợp: nhóm hộ gia đình bị thu hồi đất ở, đất vườn tạp và nhóm hộ gia đình bị thu hồi chủ yếu đất trồng lúa của huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Thông qua hai trường hợp nghiên cứu này, nghiên cứu kỳ vọng sẽ rút ra được các bài học chính sách để đề xuất, khuyến nghị bổ sung, chỉnh sửa chính sách thu hồi đất, đền bù và tái định cư bảo đảm sinh kế bền vững cho hộ gia đình nông thôn Việt Nam

1.5.3 Ý nghĩa về mặt chính sách

Nghiên cứu này giúp cho các nhà hoạch định chính sách của thành phố Cần Thơ biết được các tác động cụ thể của việc thu hồi đất đến cuộc sống người dân trong trong hai trường hợp: nhóm hộ bị thu hồi đất trồng lúa và nhóm hộ bị thu hồi đất ở, vườn tạp chiếm đa số ở khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ; đồng thời nghiên cứu cũng xác định được vai trò của vốn con người trong việc thích ứng với bối cảnh tổn thương do thu hồi đất, từ đó có những giải pháp chính sách cụ thể để

ổn định sinh kế người bị thu hồi đất, phân tích và lập kế hoạch dài hạn cho các chương trình phát triển khác trong quá trình phát triển kinh tế địa phương

1.6 Cấu trúc luận án

Chương 1: Giới thiệu

Chương này sẽ mô tả sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu… đặc biệt nêu bật lên việc các chính sách Nhà nước thu hồi rất đa dạng, khác nhau trong nhiều thời kỳ Nghiên cứu này chỉ làm rõ thêm về

sự khác biệt trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất khu vực nông thôn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn

Chương này khái quát các lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng quan hệ thống về các chính sách liên quan đến thu hồi đất của Việt Nam, các

Trang 23

yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, hành vi ra quyết định của hộ gia đình nông thôn, vai trò của vốn con người trong việc xây dựng các chiến lược sinh kế của hộ gia đình và phương pháp nghiên cứu trong việc đánh giá các tác động của chính sách

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này sẽ trình bày về khung phân tích của luận án, trình bày chi tiết các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu cho từng mục tiêu cụ thể

Chương 4: Sự thay đổi về các tài sản sinh kế của các hộ gia đình khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ trước và sau quá trình thu hồi đất

Chương này sẽ mô tả sự thay đổi của năm nhóm tài sản sinh kế (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tài chính) của ba nhóm hộ gia đình (hộ bị thu hồi đất bởi dự án khu dân cư vượt lũ, hộ bị thu hồi đất bởi dự án đường cao tốc và các hộ không bị thu hồi đất) khu vực nghiên cứu trước và sau khi

bị thu hồi đất

Chương 5: Đánh giá tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập

và chi tiêu của các hộ gia đình

Chương này sẽ mô tả và giải thích sự thay đổi về cấu trúc các nguồn thu nhập của các hộ gia đình từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp: làm công hưởng lương thời vụ, hưởng lương chính thức, tự kinh doanh và thu nhập khác sau hai đến bốn năm kể từ khi bị thu hồi đất và cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến

cơ cấu các nguồn thu nhập của hộ gia đình Đồng thời, chương 5 sẽ phân tích sự thay đổi trong chi tiêu hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất, đánh giá tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình trong giai đoạn từ hai đến bốn năm sau khi bị thu hồi đất

Chương 6: Vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh

kế và ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ gia đình nông thôn trong tình huống tổn thương do thu hồi đất

Trang 24

Phần này được bắt đầu bằng việc cung cấp các thông tin về sự thay đổi nghề nghiệp của của các thành viên trưởng thành của hộ gia đình Phần tiếp theo sẽ phân tích vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh kế của hộ gia đình và cuối cùng là phân tích ảnh hưởng của vốn con người với các kết quả sinh kế của hộ gia đình trong bối cảnh tổn thương

Chương 7: Kết luận và kiến nghị

Dựa trên kết quả phân tích ở các chương 4,5 và 6, chương 7 sẽ kết luận lại các nội dung đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và kiến nghị chính sách phù hợp cho quá trình hoạch định và phát triển các dự án liên quan đến thu hồi đất phục vụ

lợi ích công ở Việt Nam nói chung và Thành phố Cần Thơ nói riêng

Trang 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

Chương này sẽ bắt đầu bằng việc trình bày khái quát các lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu, các lược khảo về chính sách thu hồi đất ở Việt Nam, hành vi ra quyết định của hộ gia đình, sinh kế hộ gia đình, khu vực nông thôn và vốn con người Tiếp đó, là khung lý thuyết về đánh giá tác động và cuối cùng là xem xét mối quan hệ giữa đất đai và sinh kế hộ gia đình nông thôn: nhìn từ các nghiên cứu thực nghiệm

2.1 Đất đai, sở hữu đất đai và thu hồi đất

Ở mọi quốc gia, mọi thời đại, đất đai luôn được xem là tài sản cực kỳ quan trọng Đất đai là một trong những nguồn lực khan hiếm Đất đai cũng là một trong những thành phần của tài sản tự nhiên, có vai trò quan trọng trong hình thành và quyết định sinh kế của cư dân nông thôn, và nhất là đối với nông dân Trong bối cảnh đất chật, người đông và ngành công nghiệp, dịch vụ ở các vùng đô thị chưa phát triển mạnh thì ngành nông nghiệp vẫn còn tạo ra phần lớn việc làm; và nông thôn vẫn là vùng có phần lớn cư dân cư trú Vì vậy, đất đai có vai trò trung tâm trong xã hội nông thôn, và có vai trò quyết định đối với sinh kế của hộ gia đình nông dân và cư dân nông thôn Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời về nền nông nghiệp lúa nước thì đất đai nói chung, đặc biệt là đất ở khu vực nông thôn đóng vai trò thiết yếu đến sinh kế của người dân Như nhiều tài sản khác, việc xác lập quyền sở hữu đối với đất đai rất quan trọng đối với việc quản lý, khai khác và sử dụng một cách hiệu quả

2.1.1 Sở hữu và sử dụng đất đai ở Việt Nam

Sau hội nghị Genève năm 1954, Miền Nam đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, công nhận quyền tư hữu trong sở hữu đất đai Với mục tiêu củng cố quyền lực chính trị bằng những chính sách “phân chia ruộng đất”, “Luật người cày có ruộng” của các đời tổng thống nối tiếp nhau, đã dần chia bớt ruộng của các địa chủ về người nông dân Đến trước năm 1975, số địa chủ ở

Trang 26

miền Nam chỉ còn chiếm 0,17% số hộ và 0,41% ruộng đất trong khi nông dân chiếm tới trên 70% dân số và sở hữu 80% ruộng đất Tầng lớp trung nông thực sự chính là bộ phận nắm giữ quyền sở hữu ruộng đất Tại Miền Bắc, từ năm 1945-

1958, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục công nhận quyền tư hữu trong đất đai của giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thừa nhận đất đai của địa chủ, chỉ tiến hành giảm tô, giảm tức và chia ruộng đất của đế quốc, tay sai cho dân cày, chia lại công điền công thổ hợp lý Sau khi ban hành luật “Cải cách ruộng đất” năm

1953 và đặc biệt là giải phóng hoàn toàn Miền Bắc, Nhà nước không công nhận quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ và đem chia cấp cho nông dân cá thể, chủ yếu

là trung, bần nông (Nguyễn Văn Khánh, 2013)

Sau năm 1959, Nhà nước xác nhận có 3 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu

Nhà nước (sở hữu toàn dân), sở hữu tập thể (sở hữu hợp tác xã) và sở hữu của người lao động riêng lẻ (sở hữu tư nhân) Khuyến khích hình thức sở hữu Nhà nước

và sở hữu tập thể, còn sở hữu tư nhân bị tiêu giảm dần Như vậy trên danh nghĩa là

sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể do hợp tác xã quản lý, xã viên (người dân) chỉ là người làm thuê cho hợp tác xã Sau năm 1975, khi thống nhất đất nước, quyền tư hữu về đất đai ở Miền Nam không được duy trì do Nhà nước triển khai phong trào cải tạo nông nghiệp theo đúng mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc Hậu quả là sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng khủng hoảng rất nghiêm trọng Sản lượng lương thực bình quân một vụ chỉ đạt 20,3 tạ/ha (Nguyễn Đức Khả, 2003)

Từ năm 1986 về sau, dù không công nhận quyền tư hữu về đất đai nhưng Nhà nước đã dần dần tăng các quyền tài sản trên đất đai cho người dân Khởi đầu từ việc giao khoán đất đai cho hộ gia đình sử dụng (năm 1986); sau đó công nhận đất đai có giá và giá đất do Nhà nước quy định Các hộ gia đình, cá nhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp đất đai Chỉ áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc để tạo đất cho các dự án đầu tư phát triển Tổ chức kinh tế chỉ có thể tiếp cận đất đai bằng cách thuê đất của Nhà nước (năm 1993); hay công nhận giá đất đai trên thị trường (năm 2003)

Trang 27

Bảng 2.1: Sự phát triển của luật pháp và chính sách có liên quan tới đất đai

Luật Đất đai

Quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được bảo đảm Tất cả các giao dịch đất đai đều thực hiện theo quyết định của Nhà nước, đất không có giá trị, thị trường đất đai chưa được công nhận

Sở hữu toàn dân về đất đai, nhưng đất đai được công nhận là có giá

và giá đất do Nhà nước quy định Các hộ gia đình, cá nhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp đất đai Chỉ áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc để tạo đất cho các dự án đầu tư phát triển Tổ chức kinh tế chỉ có thể tiếp cận đất đai bằng cách thuê đất của Nhà nước

Luật sửa đổi,

Luật Đất đai

Sở hữu toàn dân về đất đai, nhưng đã quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Công nhận giá đất trên thị trường Các tổ chức kinh tế trong nước được lựa chọn hình thức Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất Cải thiện sự bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và

Trang 28

Văn bản

pháp luật Năm Những điểm chính liên quan đến đất đai

nước ngoài Hạn chế áp dụng biện pháp thu hồi đất bắt buộc và vận hành hình thức chuyển dịch đất đai tự nguyện Quy định cụ thể về giải quyết bồi thường và tái định cư Hệ thống quản lý đất đai được cải thiện, cơ chế giám sát được nâng cao, đổi mới hệ thống giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

Nguồn: Ngân hàng thế giới (2011b) và Quốc hội (2013)

2.1.2 Qui trình thu hồi đất của Việt Nam được áp dụng trong tình huống nghiên cứu

Luật đất đai 2003 và 2013 đều qui định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”3 Nhà nước có quyền thu hồi đất để phục vụ vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế4 Nhà nước sẽ bồi thường bằng cách giao đất mới có cùng mục đích sử dụng và tái định cư cho người bị thu hồi, việc bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi được áp dụng trong trường hợp không có đất để bồi

Trang 29

thường5 Giá đất để tính bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ

Ngoài việc được bồi thường bằng tiền, Nhà nước sẽ hỗ trợ trong trường hợp

hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất Các khoản hỗ trợ bao gồm: di chuyển khi phải di chuyển chỗ ở, ổn định đời sống và ổn định sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm6 (Chính phủ, 2004) Mức hỗ trợ bằng tiền mặt từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với phần diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi7(Chính phủ, 2009) Việc xác định mức hỗ trợ cụ thể bằng 1,5 lần, 2 lần hay gấp bao nhiêu lần là do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện làm Chủ tịch Như vậy, về mặc lý thuyết, người làm nông nghiệp sau khi bị thu hồi một ha đất trồng lúa có thể mua lại từ 2,5 – 6,5 ha đất tương tự Đồng thời sẽ có sự khác biệt rất lớn về tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ giữa những hộ có tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp với những hộ không nhận được nhận hỗ trợ

Dựa vào nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư, các nhà đầu tư

có thể yêu cầu chính quyền hỗ trợ đất cho dự án theo quy trình hình 2.1

Cơ sở để Nhà nước giới thiệu địa điểm đầu tư là dựa vào quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước xét duyệt Trong trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất hoặc kế hoạch sử dụng đất thì căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được Nhà nước ban hành

Theo quy trình này, ta thấy nếu một tổ chức, cá nhân (chủ đầu tư) có nhu cầu

sử dụng đất thì có thể đề nghị chính quyền địa phương thu hồi quyền sử dụng đất của một tổ chức, cá nhân khác thông qua hình thức là quy hoạch sử dụng đất, sau khi quy hoạch được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua thì Chính quyền sẽ tiến

Trang 30

hành thu hồi và giao đất cho nh

nghĩa vụ thi hành quyết định của chính quyền các cấp Nếu không chấp h

Nhà nước sẽ dùng quyền lực của Nh

Quy trình điều tra, khảo sát giá đất tr

thể để xây dựng bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố h

vậy, giá đất do Nhà nước quy định

kiện bình thường nếu các cơ quan có liên quan th

đủ quy định của pháp luật Bên c

Bước 1

• Chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án đầu tư nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ về đầu tư tại địa phương.

Bước 2

• Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan đến

dự án đầu tư để xem xét giới thiệu địa điểm theo thẩm quyền hoặc trình UBND thành phố xem xét giới thiệu địa điểm.

• Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư, giao đất, cho thuê đất.

Bước 6

• Cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ không giao đất (nếu có)

ất cho nhà đầu tư Tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất phải có

ết định của chính quyền các cấp Nếu không chấp h

ền lực của Nhà nước để cưỡng chế thu hồi

: Quy trình thu hồi đất theo NĐ 69/2009/NĐ-CP

ồn: Tác giả cập nhật theo Chính phủ, 2009

ịnh giá đất được Chính phủ quy định áp dụng tại Nghị

CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP, bao gồm phương pháp

, phương pháp thu nhập và phương pháp chi

ều tra, khảo sát giá đất trên thị trường đã có các quy định pháp lý

ể xây dựng bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố hàng năm

ịnh sẽ phù hợp với giá đất trên thị trường trong điều

ơ quan có liên quan thực hiện đúng, khách quan v

ên cạnh giá trị về kinh tế của đất đai, các đặc tr

Chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án đầu tư nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ về đầu tư tại địa phương.

Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan đến

dự án đầu tư để xem xét giới thiệu địa điểm theo thẩm quyền hoặc trình UBND thành phố

UBND thành phố thông báo thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND quận, huyện thông báo thu hồi đất ngay sau khi giới thiệu địa điểm đầu tư.

Cho phép nhà đầu tư được tiến hành khảo sát, lập dự án đầu tư.

Lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định

Cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ không giao đất (nếu có)

ổ chức, cá nhân bị thu hồi đất phải có

ết định của chính quyền các cấp Nếu không chấp hành thì

ại Nghị phương pháp

và phương pháp chiết trừ

pháp lý khá cụ àng năm Vì ờng trong điều

ực hiện đúng, khách quan và đầy

ặc trưng về

Chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án đầu tư nộp hồ sơ tại cơ quan

Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan đến

dự án đầu tư để xem xét giới thiệu địa điểm theo thẩm quyền hoặc trình UBND thành phố

UBND thành phố thông báo thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND quận, huyện thông báo

Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định

Trang 31

dân tộc, văn hóa, xã hội… đã làm cho việc xác định giá đất để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trở nên rất phức tạp Người Việt có quan niệm cần phải có đất như một tài sản an toàn để làm của, để dành cho con cháu hoặc đất hương quả lập nhà thờ của gia tộc rất thiêng liêng và được coi như vô giá (WB, 2011b)

Đối với đất nông nghiệp, sẽ phức tạp hơn khi định giá và thu hồi đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực có nhiều hộ gia đình cư trú để phục vụ cho các mục đích thương mại Vấn đề phức tạp ở đây nảy sinh từ sự khác nhau giữa việc người dân có quyền sử dụng đất nông nghiệp nhưng đang dùng cho các mục đích khác có lợi nhuận cao hơn khi làm nông nghiệp hoặc chênh lệch của giá trị hiện tại, giá trị

dự kiến trong tương lai và phương thức chia sẻ lợi ích Các mâu thuẫn và phức tạp trên đều có thể được giải quyết nếu biết vận dụng các phương pháp định giá, phân chia lợi ích, công khai, minh bạch thông tin về dự án đầu tư Bên cạnh đó số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp từ 3-5 lần tiền bồi thường, chỉ cần thay đổi hỗ trợ chuyển đổi nghề gấp 3 lần hay 4 lần đã là một sự chênh lệch rất lớn trong tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

2.2 Hành vi ra quyết định của nông hộ

Một khi bị thu hồi đất, người trực tiếp sử dụng đất sẽ có những phản ứng Trong trường hợp nông hộ, họ sẽ phản ứng như thế nào? Nói cách khác, hành vi kinh tế của họ sẽ thay đổi ra sao, họ sẽ ra quyết định như thế nào, và các yếu tố gì tác động đến hành vi ra quyết định của họ? Trên góc độ lý thuyết, hiện nay có nhiều

mô hình để nghiên cứu về hành vi ra quyết định của nông hộ Theo Mendola (2007), có thể hệ thống các mô hình trên thành ba nhóm: (1) nhóm mô hình tối đa hóa lợi nhuận, (2) nhóm mô hình nông hộ tân cổ điển hỗn hợp sản xuất và tiêu dùng

(mô hình tối đa hóa lợi ích), và (3) nhóm mô hình nông hộ ghét rủi ro

2.2.1 Lý thuyết nông hộ tối đa hóa lợi nhuận

Lý thuyết của Schultz (1964) cho rằng các nông hộ ở các nước đang phát triển là nghèo nhưng hiệu quả đã gợi lên sự tranh luận của các nhà kinh tế học và nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để kiểm chứng Hoàn toàn dựa

Trang 32

vào quan điểm hiệu quả phân phối và hiệu quả kỹ thuật, Schultz mô tả mô hình sản xuất của nông hộ như là hành vi tối đa hóa lợi nhuận Ở đó, hiệu quả được định nghĩa trong bối cảnh của thị trường cạnh tranh hoàn toàn (với các giả định giá cả đồng nhất, lương được chi trả theo sản phẩm biên của lao động, doanh nghiệp kém hiệu quả phải rời khỏi thị trường và doanh nghiệp không phân biệt hữu dụng biên của thu nhập tiền tệ)

Một vài nghiên cứu đã áp dụng nguyên tắc hiệu quả phân phối để kiểm chứng các nông hộ có thật sự ra quyết định sản xuất vì tối đa hóa lợi nhuận hay không Kết quả là đã có nhiều bằng chứng ngược lại (Bliss và Stern, 1982; trích trong Mendola (2007) Vì vậy, nhóm mô hình này thường bị phê phán là chưa làm

rõ được khía cạnh đặc thù của các hộ là hành vi tự sản tự tiêu, sự đánh đổi giữa tối

đa hóa lợi nhuận và các mục tiêu khác của hộ gia đình và tính không chắc chắn và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp

Trong điều kiện sản xuất của vùng nông thôn Việt Nam hiện nay thì hộ gia đình thường bán phần lớn lúa sản xuất ra, chỉ dành lại phần nhỏ để ăn; có hộ lại bán toàn bộ lúa và mua gạo để ăn, các thành viên trong hộ không chỉ trồng lúa mà còn làm nhiều nghề khác nhau để tạo thêm thu nhập cho gia đình Vì vậy, mô hình nông dân tối đa hoá lợi nhuận không phù hợp để giải thích hành vi thực tế của hộ gia đình nông dân ở ĐBSCL

2.2.2 Lý thuyết nông hộ tối đa hóa lợi ích

Một số lý thuyết tối đa hóa lợi ích đã được áp dụng trong hành vi sản xuất của nông hộ Điểm khác biệt chính của lý thuyết này với lý thuyết tối đa hóa lợi nhuận là phối hợp được tính lưỡng thể của nông hộ, nghĩa là các hộ vừa là người tiêu dùng, vừa là người sản xuất

Từ thập niên 1920, Chayanov đã nhấn mạnh đến quy mô và cấu trúc của hộ gia đình có ảnh hưởng đến hành vi của nông hộ Mở rộng mô hình Chayanovian và giả định thị trường hoàn hảo, mô hình nông hộ tân cổ điển phổ biến ở thập niên

1960 đã mô tả hành vi của các nông hộ trong việc ra quyết định sản xuất và tiêu dùng Mô hình này kết hợp chặt chẽ khái niệm thu nhập hộ gia đình một cách đầy

Trang 33

đủ và quan niệm hộ gia đình như là một đơn vị sản xuất, mà có thể chuyển đổi việc mua các loại hàng hóa và dịch vụ, cũng như các nguồn lực riêng khác thành giá trị

sử dụng hay lợi ích khi tiêu dùng Vì vậy, hộ gia đình tối đa hóa lợi ích thông qua

việc tiêu dùng tất cả hàng hóa có thể (tự sản xuất, mua, nghỉ ngơi) với ràng buộc bởi ngân sách (tiền mặt, hiện vật) và tổng quỹ thời gian (gồm cả nghỉ ngơi và

Mô hình cũng cho thấy rằng nếu toàn bộ thị trường tồn tại và tất cả hàng hóa

có thể trao đổi được thì giá cả là biến ngoại sinh và quyết định sản xuất độc lập với quyết định tiêu dùng (Mendola, 2007)

I1 I2

Trang 34

Trong điều kiện không có thị trường lao động (như mô hình Chayanovian)

hoặc bất cứ sự khiếm khuyết thị trường nào khác, quyết định có thể không tách ra được bởi vì các hộ gia đình sẽ không phải cân nhắc phân bổ thời gian giữa làm việc

và nghỉ ngơi mà chỉ còn phân bổ tất cả cho sản xuất Khi đó, không có sự phân biệt giữa sản xuất và tiêu dùng Quá trình quyết định thành một vòng tròn: tiêu dùng ảnh hưởng đến thu nhập và thu nhập ảnh hưởng đến tiêu dùng Hơn nữa, hộ gia đình ở các nước đang phát triển thường đối mặt với thị trường không hoàn hảo Janvry và cộng sự (1991) đã phát triển một mô hình trong đó hộ có thêm các ràng buộc về sự thiếu vắng một số thị trường

Về tổng thể, các mô hình của Janvry đã lý giải được hành vi tiêu dùng và sản xuất của hộ với những đặc trưng của khu vực nông nghiệp Tuy nhiên, những lý thuyết này cũng có những thiếu sót nghiêm trọng trong việc mô tả kinh tế của nông

hộ là bỏ qua hành vi của nông hộ trong điều kiện không chắc chắn và đầy rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và cả trong bối cảnh kinh tế - xã hội mà người nông dân đang sinh sống Hầu hết các mô hình là tĩnh và giả định rằng các viễn cảnh xảy ra là chắc chắn hoặc các hộ gia đình trung lập với rủi ro Những chỉ trích với khung phân tích này thường cho rằng tính không chắc chắn và sự ghét rủi ro đóng vai trò quan trọng trong sự ra quyết định sản xuất của hộ gia đình

2.2.3 Lý thuyết nông hộ ghét rủi ro

Theo Ellis (Ellis, 1988), hộ gia đình nông dân sản xuất trong điều kiện rất không chắc chắn bao gồm các mối nguy hiểm từ thiên nhiên (thời tiết, sâu bệnh, thảm họa thiên nhiên); sự dao động của thị trường và tính không chắn chắn của xã hội (sự kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất canh tác, sự tham gia của chính phủ và chiến tranh) Những điều kiện đó đặt ra các rủi ro cho các nông hộ và người nông dân rất bối rối khi ra quyết định Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta giả định rằng nông dân là những người ghét rủi ro

Có hai cách để mô tả khái niệm về sự ghét rủi ro của hộ gia đình: lý thuyết

về lợi ích kỳ vọng và cách tiếp cận tránh thảm họa (Mendola, 2007) Theo cách tiếp cận trước đây, các nông hộ ra quyết định dựa trên các khả năng rủi ro có thể xảy ra,

Trang 35

dựa vào sở thích của họ ứng với mỗi kết quả đạt được và niềm tin vào khả năng xảy

ra của nó Cách tiếp cận chuẩn này dựa vào một tập hợp các giả định và giả thuyết ngầm rằng hộ gia đình ra quyết định để tối đa hóa lợi ích Cả hành vi hộ gia đình và thái độ với rủi ro được thể hiện qua hàm lợi ích Khi những yếu tố khác không thay đổi, hộ gia đình ghét rủi ro thích điều chắc chắn xảy ra hơn là sự dao động

Mặc khác, sự phức tạp của các rủi ro mà các nông hộ phải đối mặt đã dẫn tới việc các nhà phân tích phát triển các mô hình lựa chọn phân bổ mà không cần phụ thuộc vào việc tính toán kỳ vọng thu nhập của các xác suất có thể xảy ra với các kết quả của nó Nhiều nhà phân tích đã dựa vào cách tiếp cập theo kinh nghiệm (rules

of thumb) hay an toàn là trên hết (safety first) để nghiên cứu về hành vi của hộ gia đình

Các nông hộ thường có các đặc điểm chung: nghèo, điều kiện sống chỉ trên mức sống sót một chút Họ sợ sự thay đổi và mong muốn giữ nguyên phương thức sản xuất, cách sống để đảm bảo điều kiện sống hiện tại, thay vì chuyển đổi mô hình cách tác mới có thể có lợi ích cao hơn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể làm cuộc sống họ sẽ tệ hơn Vì vậy, cho dù lợi nhuận kỳ vọng của một phương thức sản xuất mới cao hơn, nhưng việc e ngại với các rủi ro tiềm ẩn khiến họ không dám đầu

tư (Dasgupta, 1993) Cách tiếp cận này thường được gọi là cách lựa chọn “an toàn

là trên hết” (safety first) trong môi trường rủi ro (Mendola, 2007)

Trong lĩnh vực nông nghiệp nơi thị trường bảo hiểm khó phát triển, nên tác động của rủi ro là rất lớn Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý của người nông dân ở khu vực nông thôn rất ngại sự thay đổi và làm chậm quá trình mở rộng sản xuất

và đầu tư (Nguyễn Đức Thành, 2008) Ví dụ ở Ghana: nghề trồng dứa có thể mang lại lợi nhuận cao hơn, nhưng người nông dân ở đây chỉ chuyển sang trồng loại sản phẩm này sau khi đã dành nhiều thời gian để quan sát các hộ đã thành công (Goldstein và Urdy, 1990)

2.2.4 Đánh giá chung về nhóm lý thuyết ra quyết định của nông hộ

Nhóm nhóm mô hình nông hộ ghét rủi ro và mô hình tối đa hóa lợi ích có thể xem là các khung lý thuyết nền cho các phân tích về hành vi ra quyết định sản xuất

Trang 36

của hộ gia đình khu vực nông thôn Tuy nhiên, mỗi nhóm mô hình chỉ ứng với mỗi điều kiện nhất định, do đó, việc áp dụng mô hình cần lưu ý rõ các điều kiện giả định của mô hình đó vào từng điều kiện cụ thể

Xét trong bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ gia đình nông dân là những hộ sản xuất nhỏ, không thuần nông và nông dân làm nhiều nghề khác nhau

Vì vậy, việc đối đa hóa lợi nhuận không chỉ là tối đa hóa lợi nhuận trong nguồn thu

từ nông nghiệp mà còn là tối đa hóa thu nhập của hộ gia đình từ các nguồn thu khác nhau Nguồn lực đất đai là khan hiếm và việc tìm kiếm việc làm cũng không dễ dàng, vì việc người nông dân dành thời gian cho làm việc hoặc nghỉ ngơi để tối đa hóa lợi ích còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, họ không thể ra quyết định độc lập

là làm việc hay nghỉ ngơi

Yếu tố rủi ro được xét đến trong khả năng có thể dự báo được Tuy nhiên, với sự biến đổi của khí hậu thì có yếu tố không tiên lượng được và người nông dân rất khó có thể đưa vào các tình huống để phân tích hành vi ra quyết định ứng với các yếu tố có thể xảy ra trong tương lai

Như vậy, việc giả định hộ gia đình ra quyết định vì tối đa hóa lợi nhuận, tối

đa hóa lợi ích hay ghét rủi ro là không phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng nông thôn Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu hành vi ra quyết định hộ gia đình cần có những mô hình gần với thực tế, ít giả định và xem xét trong mối qua hệ có sự tác động qua lại của hành vi ra quyết định của hộ gắn với môi trường chính sách và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể

2.3 Sinh kế hộ gia đình

2.3.1 Sinh kế

Từ giữa thập niên 1980, Chambers đã đưa ra cách tiếp cận sinh kế và sau đó được chính ông, Conway và nhiều học giả khác tiếp tục nghiên cứu, phát triển Đến nay, các tổ chức quốc tế như CARE, DFID, IFAD, OXFAM, UNDP đã phát triển khung phân tích theo tính đặc thù của mỗi tổ chức để áp dụng trong thực hiện và đánh giá các dự án phát triển của họ trên toàn thế giới (Carney & cộng sự, 1999)

Trang 37

Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cần thiết để đảm bảo

cuộc sống của con người Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi những cú sốc và duy trì hoặc nâng cao năng lực và tài sản của mình trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm ảnh hưởng và phá hoại tài nguyên thiên nhiên (Chambers & Conway, 1991; Carney, 2002) Khái niệm sinh kế được UNDP định nghĩa là các phương tiện, hoạt động, quyền được phép làm và tài sản mà con người có thể sử dụng để tạo ra cuộc sống

Tính bền vững của sinh kế phụ thuộc vào việc con người sử dụng các tài sản trong cả ngắn và dài hạn Sự tương tác giữa các thuộc tính trên xác định những chiến lược sinh kế mà hộ gia đình sẽ theo đuổi

Các tài sản sinh kế được xem là trung tâm của cách tiếp cận sinh kế Các tài sản

có thể bị phá hủy hoặc tạo ra từ kết quả của các xu hướng, cú sốc và thay đổi mùa

vụ trong bối cảnh dễ tổn thương mà con người sinh sống Những chính sách, thể chế

và tiến trình có thể có ảnh hưởng lớn trong việc tạo lập và tích lũy tài sản Các bối cảnh dễ tổn thương này thông thường là nhân tố bên ngoài hộ gia đình và phụ thuộc vào những chính sách, chể chế và tiến trình có tác động trực tiếp các tài sản người dân Tuy nhiên, không phải tất cả xu hướng đều bất lợi – kỹ thuật mới, phương pháp phòng ngừa bệnh cây trồng, vật nuôi… có thể cải thiện sinh kế người dân (Haider, 2009) Tác động của các cú sốc thường dẫn đến cấu trúc của tài sản sinh kế thay đổi và chuyển dịch của các nhóm tài sản sinh kế Ví dụ: khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và bồi thường bằng tiền cho người dân thì đã diễn ra quá trình sự tăng, giảm và chu chuyển giữa các tài sản sinh kế Tài sản tự nhiên (đất đai) giảm đi

và tài sản tài chính tăng lên Sự dịch chuyển này có thể tiếp tục thay đổi khi người dân dùng tiền bồi thường để mua sắm các công cụ sản xuất hoặc học nghề thì nguồn vốn vật chất và vốn con người sẽ tăng lên

Sự thay đổi các tài sản sinh kế này đặt trong một môi trường chính sách kinh tế -

xã hội và thể chế cụ thể, bị chi phối ở các góc độ khác nhau từ chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc, chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân, các thiết chế công dân, chính trị, kinh tế và văn hoá, v.v, đã thúc đẩy hình

Trang 38

thành chiến lược sinh kế mới với đầu ra có thể là: tăng thu nhập, giảm thiểu sự tổn thương, gia tăng phúc lợi, cải thiện về an ninh lương thực, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững

Hình 2 3: Phân tích khung sinh kế của DFID

Nguồn: (DFID, 1999) Kết quả sinh kế được đánh giá là rất quan trọng bởi vì nó giúp chúng ta hiểu được kết quả sinh kế của hộ gia đình trong một chiến lược sinh kế cụ thể, biết được nguyên nhân vì sao họ đeo đuổi chiến lược sinh kế và mọi người có thể đáp ứng với những cơ hội mới và những hạn chế như thế nào?

Hình 2.3 mô tả khung phân tích sinh kế theo DFID (1999) Theo đó, năm nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội Năm nguồn vốn này được đặt trong bối cảnh chính sách, thể chế cụ thể của từng địa phương khác nhau Họ có thể bị tác động bởi các cú sốc, xu thế, thời vụ khác nhau Bằng cách phối hợp các tài sản sinh kế trong bối cảnh chính sách cụ thể, các hộ gia đình sẽ hình hành các chiến lược sinh kế khác nhau để tạo thành các nguồn thu nhập và đảm bảo phúc lợi cho hộ gia đình

nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc

-Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân -Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)

Các chiến lược sinh kế

-Các tác nhân

xã hội (nam,

nữ, hộ gia đình, cộng đồng …) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên -Cơ sở thị trường

- Đa dạng -Sinh tồn hoặc tính bền vững

Các kết quả sinh kế

-Thu nhập nhiều hơn -Cuộc sống đầy đủ hơn

-Giảm khả năng tổn thương

-An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên

-Giá trị không sử dụng của tự nhiên được bảo vệ

Tự nhiên

Tài chính

Xã hội

Vật chất Con người

Trang 39

2.3.2 Các tài sản sinh kế

Khung phân tích sinh kế của Oxfam, DFID, EC, WB, WFP đều ghi nhận 5 loại tài sản chính: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính

Các tài sản trên không được phân phối một cách công bằng trong hộ gia đình, làng xã và cả quốc gia Giai cấp, đẳng cấp, tuổi, giới tính, dân tộc… ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các nguồn tài sản trên

(1) Vốn con người: theo DFID (1999), vốn con người bao gồm các kỹ năng,

kiến thức, khả năng lao động và sức khỏe tốt cùng nhau cho phép mọi người để theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ

(2) Vốn xã hội là tất cả nguồn lực xã hội mà có thể giúp con người kiếm

sống được (Ellis, 1999) Như vậy vốn xã hội có thể hiểu là: mạng lưới mối quan hệ

mà con người có thể làm tăng sự tin cậy lẫn nhau, cơ hội việc làm hay sự biết đến các cơ quan, tổ chức một cách rộng rãi hơn Việc tham gia các tổ chức xã hội nghề nghiệp và có mối quan hệ rộng giúp các cá nhân dễ dàng tiếp nhận thông tin mới, tăng độ tin cậy và hiểu biết lẫn nhau cũng như giảm chi phí giao dịch (DFID, 1999)

(3)Vốn tự nhiên là cụm từ để chỉ các nguồn lực tự nhiên sẵn có mà con

người có thể khai thác và sử dụng nó Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn lực tạo nên nguồn vốn tự nhiên, từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí và đa dạng sinh học đến các tài sản có thể sử dụng trực tiếp cho sản xuất như cây cối, đất đai, sông, suối, ao hồ… (DFID, 1999) Ở các nước đang phát triển, nông nghiệp là nghề chính cho những hộ nông dân nghèo (WB, 2013) Vì vậy, nếu không có hoặc

có đất nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các hộ gia đình sống bằng nghề nông

(4) Vốn vật chất bao gồm tài sản mà con người tạo ra, như sự sẵn có của cơ

sở hạ tầng, chẳng hạn như mạng lưới đường bộ, điện, trạm xá và bệnh viện, trường học, điện, và thị trường (DFID, 1999)

(5) Vốn tài chính tức là nguồn tiền mà hộ gia đình có thể dùng để tạo ra thu

nhập cho gia đình của họ Nguồn vốn có thể có từ việc hộ gia đình đã tích luỹ qua

Trang 40

nhiều năm dưới dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu hoặc bằng vàng Vốn tài chính có thể cũng là dòng tiền thu nhập đều đặn trong tương lai như trợ cấp của chính phủ, người thân cho, tặng (DFID, 1999)

Trong năm nguồn vốn này, đất đai (vốn tự nhiên) được xem một tài sản tự

nhiên rất quan trọng đối với sinh kế ở khu vực nông thôn Quyền sử dụng đất đai đóng một vị trí quan trọng và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận, sử dụng các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế (Hanstad, Nielsen & Brown, 2004)

Đối với tổ chức CARE, do mối quan tâm chính của an toàn lương thực trong thập niên 1970-1980, CARE đã mở rộng trọng tâm về lương thực, sức khoẻ của người mẹ và trẻ em Vì vậy điểm xuất phát trong khung phân tích của CARE là hộ gia đình An toàn lương thực của hộ gia đình dựa vào ba nền tảng cơ bản:

(1) Năng lực con người (như giáo dục, kỹ năng, sức khỏe, tâm lý);

(2) Tiếp cận tài sản hữu hình và vô hình;

(3) Các hoạt động kinh tế hiện hữu

Tài sản sinh kế theo UNDP bao gồm: tự nhiên/sinh học (ví dụ đất, nước, tài nguyên sở hữu chung, hệ thực vật, động vật); xã hội (ví dụ cộng đồng, gia đình, các mạng lưới xã hội); chính trị (ví dụ sự tham gia, quyền lực); con người (ví dụ giáo dục, lao động, sức khỏe, dinh dưỡng); vật chất (ví dụ đường giao thông, trạm xá, chợ, trường học, cầu cống); và kinh tế (ví dụ công việc, tiết kiệm, tín dụng)

Như vậy, UNDP xác lập 4 tài sản sinh kế: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên; vốn vật chất tương tự như Oxfam và DIFD nhưng đưa thêm khái niệm nguồn vốn kinh tế bao gồm vốn tài chính, đồng thời quan tâm thêm đến tình trạng làm việc Thêm vào đó, thỉnh thoảng UNDP đưa vào yếu tố chính trị

2.3.3 Bối cảnh tổn thương

Bối cảnh tổn thương chỉ ra cách thức mà môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến từng cá nhân hoặc của hộ gia đình Bối cảnh tổn thương được phân thành ba loại Loại thứ nhất là những cú sốc, là những sự cố mang tính bất định và khách quan bên ngoài, không tiên đoán trước được như động đất, lũ lụt, bệnh tật, mất việc

Ngày đăng: 04/05/2018, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm