Thời Lý – Trần là giai đoạn đầy hiển hách mở đầu cho lịch sử 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ở thời này, lịch sử dân tộc đã ghi nhân những đóng góp to lớn, quan trọng có tính nền tảng đối với sự phát triển của đất nước sau này. Nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với các bước đi vũng vàng của dân tộc được xác lập rất sớm, ngay trong giai đoạn đó:Dưng chùa Diên Hưu (chùa Một cột), lập văn miếu Quốc Từ Giám – Trường Đại học chính quy đầu tiên của nến giáo dục nước nhà, những chiến thắng lẫy lừng trước quân xâm lược Thống – Nguyễn trên sông như Nguyệt mỡ bờ cõi về phương Nam. Đặc biệt chính thời sinh ra những người vĩ đại, làm nền những nhân cách lớn như lý Thường Kiệt..., những bậc triết vương như lý Nhân Tông... Thử hỏi điều gì đã hun đúc nêu phẩm chất củ thời đại như vậy? Ngoài những tư liệu lịch sử, khảo cổ, một trong những cách tiếp cận để trả lời cho câu hỏi trên là đi thẳng vào những sáng tác của các tác giả văn học thời bấy giờ một kho tăng tư liệu vô giá và hiếm hoi của một thời đại vàng son được lịch sử gìn giữ cho đến bây giờ. Có nhiều ý kiện cho rằng, thời đại nhà Lý – Trần đã chịu ảnh hưởng sâu đâm của tư tưởng phật giáo. Phật giáo từ Án Độ, Trung Hoa du nhập nước ta 1000 năm được đó đã thấm sâu vào văn hóa bản địa, ảnh hưởng đến đời sống trí thức, dấu ấn để lại nhật là lĩnh vực văn học. Có thể thấy di sản văn học qua giai đoạn này: Phật giáo Thiền chính là khuynh hướng chủ đạo của văn chương, hầu hết các tác giả là thiền sư, đặc biệt là thời nhà Lý. Cảm hướng tư tưởng sáng tác từ phật giáo là Thiền nhưng không phải vì thế mà trở nên đơn điệu, và kém giá trí thẩm mỹ. Ngược lại, thời đại này đã để lại cho nền văn học nước ta nhiều tác phẩm bất hủ, những áng thi ca diễm lệ, thanh thoát có sức sống vượt thời gian. Làm sao để hình dung cách suy nghĩ, của tổ tiên ông cha ta xưa khi mà khoảng cách thời gian cả ngàn năm? Không có gì khác hơn bằng cách tìm hiểu, các sáng tác văn học – nơi chất giữ tư tưởng của tiền nhân. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Âm hưởng phật giáo trong một số bài thơ thiền thời lý”.
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nghi quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “ Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã hợp tác xã làvấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Chuyển đổi hợp tác xã kiểu cũ theo luật hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực, phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với quá trình CNH – HĐH ”
Như vậy nghị quyết đại hội đảng toàn quốc rõ ràng đã là sáng tỏ một điều rằng: Nền kinh tế Việt nam trong thời kỳ bao cấp hay thay đổ mới nói chung và nên nông nghiệp Việt nam nói riêng thì Hợp tác xã vấn là nền tảng của nền kinh tế bền vững phát triển thực tế đã cho ta thấy rất rõ phòng trào hợp tác hóa ở nước ta trái qua nhiều bước thăng trầm tuy vậy, sau một thời gian họt động đặc biệt là giai đoạn xây dựng đất nước thời bình mô hình hợp tác xã kiểu cũ càng ngày càng tỏ là không phù hợp với yêu cầu lịch sử phát triển kinh tế trong điều kiện mới số hợp tác xã làm ăn có hiệu quả chi còn chiến tỷ lệ thấp, đa số không thích ứng được với nền kinh tế thị trường sôi động, nhạy bén Từ thực tế đó, vấn đề đạt ra là: làm thế nào để mô hình kinh
tế hợp tác xã, Hợp tác xã thích ứng được với nền kinh tế thị trường, đem lại hiệu quả cho những người trực tiếp tham gia hợp tác xã nói riêng và góp phân thúc đẩy cho nền nông nghiệp Việt nam phát triển nói chung đang trở thành một đề tài quan trọng, cần thiết phải nguyên cứu, để tìm ra lời giải đáp thực sự sáng tạo và tính thuyết phục nhất Như vậy qua sự phân tích trên cho thấy: việc nguyên cứu mô hình kinh tế hợp tá, hợp tác xã là nhiệm vụ của tất
cả mọi người đặc biệt là đối với bán bộ và sinh viên thuộc chuyên ngành nông nghiệp để phục vụ cho cho kết quả học tập được tốt hơn, đồng thời để góp phần làm phong phú hơn cho quỹ những ý tưởng đã được các cơ quan nhà nước xem xét và thực hiện em sẽ trình bày một số ý kiến của mình về việc phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp ở thời kỳ đổi mới
Vì vậy đây là lần đầu tiên thực hiện nguyên cứu một đề tài “ Địa vị pháp lý của hợp tác xã ” để làm cho ta hiểu rõ hơn.
Trang 22 Mục đích nguyên cứu
Nhằm nhiều rõ những quy định của pháp luật về đăng ký thành lập và kinh doanh hợp tác xã Qua đó Đưa ra những nhận xét, đánh giá về mô hình hợp tác xã và để xuất những giải pháp cải thiện pháp luật và chính sách cho loại hình kinh tế này
3 Phạm vi nguyên cứu
Luật hợp tác xã năm 2003 quy định rất nhiều vấn đề về hợp tác xã, trong niên luật này, chi tập chung nguyên cứu một cách khái quát về những vấn đề chung nhất của hợp tác xã và những nội dung quy định cụ thể về đăng ký thành lập và kinh doanh hợp tác xã Để từ đó, có cái nhìn tổng quan
và đề ra các giải pháp phát triển kinh tế hợp tác xã
4 phương pháp nguyên cứu
Trong quá trình nguyên cứu niên luận do thu thấp nhiều nguồn tài liệu khác nhau, nên sử dụng nhiều phương pháp nguyên cứu khác nhau như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, so sánh và phân tích luật viết
5 Bố cụ
Bố ục đề tài niên luận “ Tìm hiểu về địa vị pháp lý của hợp tác xã ” gồm ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
+ lý luận chung về hợp tác xã
+ Tổ chức quản lý hợp tác xã
+ Thực tiễn thành lập và quản lý hợp tác xã hiện nay
- Kết luận
Trang 3B Nội dung Chương 1 Lý luận chung về hợp tác xã
Là việc chung sức, chung vốn để cùng tiến hành một công việc một lĩnh vực hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ nào đó theo kế hoạch đã định nhằm mục đích là mang lại lợi Ých cho cả tập thể và cho từng cá nhân tham gia
Đó là hình thức liên kết cộng đồng, các thành viên có quan hệ đồng sở hữu: từ việc góp chung vốn, chung tài sản của cá nhân để tạo nên tài sản cho tập thể, chung sức để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh và sử dụng đồng vốn có hiệu quả, nhằm giúp quá trình sản xuất ổn định và phát triển, từ đó tạo ra thu nhập cho tập thể và bản thân
1.1 Khái niệm, đặc điểm
Khái niệm Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2003:"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng
xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tàichính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹvà các nguồn vốn khác của hợptác xã theo quy định của pháp luật.”
Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau:"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã
Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng
Trang 4nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã"
So với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ được bản chất của hợp tác xã là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể thành lập trên tinh thần tự nguyện,nhằm lợi ích chung của các thành viên. Luật hợp tác xã năm 2012 đã bỏ quy định “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy định này đã gây ra hai luồng ý kiến Đa số ý kiến cho rằng, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ
do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu chung của mình mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn Một số ít ý kiến khác cho rằng: Cần khẳng định “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” như được quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2003 vì thực chất hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần được bảo đảm hoạt động bình đẳng với mọi loại hình doanh nghiệp khác và có quyền kinh doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm
Theo ý kiến chúng tôi, chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ nhất và nhận thấy quan điểm thứ hai là chưa phù hợp Hợp tác xã với quan niệm thứ hai không có tác dụng đối với hàng chục triệu hộ nông dân, hàng triệu hộ sản xuất nhỏ phi nông nghiệp, hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vấn đề đối với họ không phải là góp vốn để tìm kiếm lợi nhuận, mà là cần một loại hình tổ chức phù hợp liên kết họ lại với nhau, đáp ứng nhu cầu chung của họ về cung ứng và tiêu thụ những sản phẩm, dịch vụ chung để giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế, cải thiện thu nhập và đời sống của mình
“ Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên kết lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua mét xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”
Năm 1995 trong tuyên bố của mình ICA đã bổ xung định nghĩa như sau:
“Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức và tính
Trang 5trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”
- Theo điều 1 Luật hợp tác xã Việt Nam năm 2003, đã định nghĩa:
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hé gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi Ých chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật”
Hợp tác xã là hình thức kinh tế tập thể của những lao động tự nguyên lập lên trên cơ sở góp vốn, góp sức lao động để cùng tham gia hoạt động, sản xuất kinh doanh Cascc hợp tác xã đầu tư xuất hiện vào năm 1844 tại thị trấn Rochdale, nước anh Trong hơn 160 năm qua, các hợp tác xã đã tồn tại và phát triển rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến của nhân dân lao động Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã
Đặc điểm
Xét về góc độ kinh tế, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội Tính xã hội của hợp tác xã thể hiện ở chỗ:
Nguyên tắc phân chia lợi nhuận: Một phần lợi nhuận trong hợp tác
xã dùng để trích lập các quỹ, được phân chia cho việc đáp ứng nhu cầu giáo dục, huấn luyện, thông tin cho xã viên, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa – xã hội chung của cộng đồng dân cư địa phương … Một phần lợi nhuận khác cần được phân phối lại cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch
Trang 6vụ Do vậy mà kể cả những thành viên góp vốn ít nhưng vẫn có cơ hội được nhiều lợi nhuận hơn người góp nhiều
Tổ chức quản lí: thành viên hợp tác xã có quyền biểu quyết ngang nhau
Hợp tác xã được thành lập để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo việc làm cho các thành viên, thúc đẩy sự phát triển và góp phần hạn chế thất nghiệp trong xã hội
- Hợp tác xã được tổ chức dưa trên quan hệ sở hữu tập thể của các xã viên hợp tác xã, từ đó phát sinh các quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối tượng ứng
- Số lượng thành viên tối hiểu là 7
- Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư các pháp nhân
- Hợp tác xã mang tính chất xã hội sâu sắc
- Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Hợp tác xã thực hiện phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ
1.2 Quy chế pháp lý xã viên tác xã
Xã viên hợp tác xã có thể là cá nhân, hộ gia định hoặc pháp nhân Điều kiện để trở thành xã viên đối với các chủ thể này như sau:
a Đối với cá nhân:
Cá nhân muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có đơn xin gia nhập hợp tác xã; tán thành Điều lệ, Nội quy, Quy chế của hợp tác xã;
- Góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; góp sức dưới các hình thức trực tiếp quản lý, trực tiếp tham gia lao động sản xuất, tư vấn cung cấp kiến thức, kinh doanh và khoa học kỹ thuật cho hợp tác xã tuỳ thuộc vào nhu cầu của hợp tác xã;
Cá nhân không có đủ các điều kiện nói trên, cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cá nhân đang phải chấp hành hình phạt tù, cá nhân bị Tòa án tước quyền hành nghề do phạm các tội theo quy định của pháp luật
Trang 7và cá nhân đang trong thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh không được là xã viên hợp tác xã
b Đối với cán bộ, công chức:
Cán bộ, công chức muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Được sự đồng ý bằng văn bản của thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản
lý cán bộ, công chức;
- Có đơn xin gia nhập hợp tác xã; tán thành Điều lệ, Nội quy, Quy chế của hợp tác xã;
- Góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; góp sức dưới các hình thức trực tiếp quản lý, trực tiếp tham gia lao động sản xuất, tư vấn cung cấp kiến thức, kinh doanh và khoa học kỹ thuật cho hợp tác xã tuỳ thuộc vào nhu cầu của hợp tác xã;
- Không được giữ các chức danh: Trưởng Ban quản trị và thành viên Ban quản trị; Trưởng Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát; Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm hợp tác xã; kế toán trưởng hoặc kế toán viên và các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của hợp tác xã;
Cán bộ, công chức không có đủ các điều kiện quy định nói trên; cán bộ, công chức đang làm việc trong các lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được là xã viên hợp tác xã
c Đối với hộ gia đình:
Hộ gia đình muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Là hộ gia đình mà các thành viên trong hộ có cùng tài sản chung để hoạt động kinh tế như: diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; những tài sản cố định khác phục vụ sản xuất, kinh doanh của
hộ gia đình;
- Hộ gia đình phải cử người đại diện bằng giấy uỷ quyền Người đại diện của hộ phải có đủ các điều kiện như đối với cá nhân quy định của pháp luật và theo quy định của Điều lệ hợp tác xã Khi muốn thay đổi
Trang 8người đại diện, hộ gia đình phải có đơn đề nghị Ban quản trị xem xét, quyết định;
Hộ gia đình không có đủ các điều kiện trên không được là xã viên hợp tác xã
d Đối với pháp nhân:
Pháp nhân muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Là các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) theo quy định của Bộ luật Dân sự và theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;
- Có đơn xin gia nhập hợp tác xã Người đứng tên trong đơn phải là đại diện theo pháp luật của pháp nhân và tham gia vào hoạt động của hợp tác
xã, thực hiện các nghĩa vụ của một xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho
cá nhân khác là người trong bộ máy lãnh đạo của pháp nhân làm đại diện tham gia hợp tác xã nếu Điều lệ hợp tác xã không quy định khác;
- Góp vốn, góp sức theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;
Cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân không được sử dụng tài sản của Nhà nước và công quỹ để góp vốn vào hợp tác xã;
Pháp nhân không có đủ các điều kiện trên không được là xã viên hợp tác xã
Để tạo điều kiện cho người lao động có thể phát huy những tiềm năng
về tư liệu sản xuất, tiền vốn, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của họ và tăng thu nhập cho họ, Luật hợp tác xã quy định cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trong trường hợp Điều lệ hợp tác xã không cấm
1.3 Thành lập hợp tác xã
Sáng lập viên hợp tác xã là cá nhân, hộ nhà đình,pháp nhân tự nguyện cam kết sáng lập, tham gia thành lập hợp tác xã
Sáng lập viên vận động, tuyên tuyền thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, dự thảo điều lệ;
Trang 9thực hiện casccoong việc để tổ chức hội nghị thành lập hợp tsc xã, liên hiệp hợp tác xã
Tổ chức hội nghị thành lập hợp tác xã Hội nghị thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã do sáng lập viên tổ chức theo quy định của luật này
Thành phần tham gia hội nghị thành lập hợp tác xã bao gồm sáng lập viên là cá nhân, người đại diện hợp pháp của sáng lập viên; người đại diện hợp pháp của hộ gia đình, pháp nhân và cá nhân khác có nguyện vọng gia nhập hợp tác xã
Hội nghị thảo luận về dự thảo luận về dự thảo điều lệ, phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã, và dự kiến danh sách thành viên
Hội nghị thông qua điều lệ những người tán thành điều lệ và đủ điều kiện theo quy định tại điều 13 của luật này thì trở thành thành viên hợp tác
xã Các thành viên tiếp tục thảo luận và quyết định các nội dung sau đây:
- Phương án sản xuất, kinh doanh;
- Bầu hội động quản trị và chủ tích hội đồng quản trị; quyết định việc lựa chọn giám đốc ( tổng giám đốc ) trong số thành viên của hợp tác xã thành viên hoặc thuê giám đốc ( tổng giám đốc );
- Bầu ban kiếm soát, trưởng ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên;
- Các nội dung khác có liên quan đến việc thành lập và tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
Nghị quyết của hội nghị thành lập về những nội dung quy định tại khoản 3 điều này phải được biểu quyết thông qua theo nguyên tắc đa số
Trang 10Chương 2 Tổ chức quản lý hợp tác xã
2.1 Đại hội thành viên
- Đại hội thành viên có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Đại hội thành viên gồm đại hội thành viên thường niên
và đại hội thành viên bất thường Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu (sau đây gọi chung là đại hội thành viên) Đại hội thành viên có quyền và nhiệm vụ theo quy định tại Điều 32 của Luật này
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có 100 thành viên, hợp tác xã thành viên trở lên có thể tổ chức đại hội đại biểu thành viên
- Tiêu chuẩn đại biểu và trình tự, thủ tục bầu đại biểu tham dự đại hội đại biểu thành viên do điều lệ quy định
+ Số lượng đại biểu tham dự đại hội đại biểu thành viên do điều lệ quy định nhưng phải bảo đảm:
+ Không được ít hơn 30% tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có từ trên 100 đến 300 thành viên, hợp tác xã thành viên;
+ Không được ít hơn 20% tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có từ trên 300 đến 1000 thành viên, hợp tác xã thành viên;
+ Không được ít hơn 200 đại biểu đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã có trên 1000 thành viên, hợp tác xã thành viên
Đại biểu tham dự đại hội đại biểu thành viên phải thể hiện được ý kiến, nguyện vọng và có trách nhiệm thông tin về kết quả đại hội cho tất
cả thành viên, hợp tác xã thành viên mà mình đại diện