1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện tỉnh Nam Định

115 185 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong quá trình hoạt động tại Thư viện tỉnh Nam Định cùng với những giải pháp cụ thể, thiết thực sẽ phần nào giúp đơn vị nhìn nhận chính xác những thành công cũng như những hạn chế trong việc ứng dụng CNTT, từ đó đưa ra biện pháp khắc phục những tồn tại và đề ra phương hướng để có thể triển khai mạnh mẽ CNTT vào tất cả hoạt động của Thư viện, giúp cho Thư viện phát triển nhanh, mạnh, đúng như mong đợi của tập thể cán bộ, nhân viên Thư viện.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

-

VŨ THÀNH TÂN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI

THƯ VIỆN TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện

Mã số: 60320203

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN – THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Viết Nghĩa

Năm,2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện tỉnh Nam Định” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện nghiêm túc dưới

sự hướng dẫn của TS Nguyễn Viết Nghĩa Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Vũ Thành Tân

Trang 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện 131.1.1 Một số khái niệm liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin 13 1.1.2 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện tỉnh, thành phố tại Việt Nam 18 1.1.3 Điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện 19 1.1.4 Tiêu chí đánh giá ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện 24

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định 27 1.2.2 Giới thiệu chung về Thư viện tỉnh Nam Định 28 1.2.3 Nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện tỉnh Nam Định 38

1.3 Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện tỉnh

2.2 Quá trình tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin 502.2.1 Trước năm 2006 50 2.2.2 Sau năm 2006 52

2.3.1 Ứng dụng trong công tác bổ sung 53

Trang 4

2.3.2 Ứng dụng trong công tác biên mục 56 2.3.3 Ứng dụng trong lưu thông tài liệu 66 2.3.4 Ứng dụng trong tra cứu tài liệu 69 2.3.5 Ứng dụng trong quản lý thư viện 70 2.3.6 Xây dựng website của Thư viện 73

2.4 Đánh giá chung về ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện 752.4.1 Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin 75 2.4.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ 76 2.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong phục vụ người dùng tin 76 2.4.4 Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin 77 2.4.5 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin 79 2.4.6 Cơ chế chính sách về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin 79

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

3.1 Nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ và người dùng tin 833.1.1 Nâng cao chất lượng, trình độ cán bộ quản lý, nghiệp vụ 83 3.1.2 Tăng cường cán bộ công nghệ thông tin và quản trị mạng 87 3.1.3 Tổ chức đào tạo, hướng dẫn người dùng tin 89

3.2 Hoàn thiện quy trình công tác của Thư viện 923.2.1 Nâng cao hiệu quả xử lý tài liệu 92 3.2.2 Phân công lao động hợp lý 94

3.3 Tăng cường cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 943.3.1 Phần cứng 94

Trang 5

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

I Các từ viết tắt tiếng Việt

Cơ sở dữ liệu Đăng ký cá biệt Người dùng tin

II Các từ viết tắt tiếng Anh

Quy tắc biên mục Anh - Mỹ (Anglo American Cataloguing Rules)

Mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Bibilographic Description)

Phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp Ilib Mạng toàn cầu

Mạng nội bộ (Local Area Network) Khổ mẫu biên mục đọc máy

Mục lục trực tuyến (Online Public Access Catalog) Trang thông tin mạng

Mạng không dây (Wireless Fidelity)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện tỉnh Nam Định 30

2 Hình 1.2: Tỷ lệ môn loại sách của Thư viện tỉnh Nam Định 33

3 Hình 1.3: Thành phần người dùng tin theo thống kê năm 2014 35

4 Hình 2.1: Sơ đồ mạng LAN của Thư viện tỉnh Nam Định 44

5 Hình 2.2: Màn hình giao diện chính phần mềm Ilib 4.0 46

6 Hình 2.3: Giao diện modun Bổ sung của phần mềm Ilib 4.0 53

7 Hình 2.4: Giao diện modun Biên mục của phần mềm Ilib 4.0 56

8 Hình 2.5: Bảng so sánh nhãn trường cần hiệu đính 59

9 Hình 2.6: Giao diện modun Lưu thông của phần mềm Ilib 4.0 66

10 Hình 2.7: Giao diện tra cứu của modun OPAC 69

11 Hình 2.8: Giao diện Modun Quản lý kho của phần mềm Ilib 4.0 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ 21, loài người bước vào kỷ nguyên thông tin, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đã kéo theo

sự phát triển nhanh chóng của công nghệ xử lý, bao gói và truyền tin CNTT đã được ứng dụng mạnh mẽ và sâu rộng vào đời sống xã hội và được coi là chìa khóa thành công của mọi hoạt động sáng tạo, là yếu tố quan trọng của năng lực đổi mới Chính vì thế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ thị cần thiết về ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khác nhau Việc ứng dụng CNTT vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là một điều kiện hết sức quan trọng và cấp thiết cho sự phát triển của đất nước, trong đó có lĩnh vực thông tin – thư viện

Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền thông đặt ra cho ngành thông tin – thư viện những cơ hội và thách thức CNTT giúp cho thư viện tổ chức và khai thác hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên của

xã hội tiếp nhận được nhiều thông tin phong phú, kịp thời và chính xác hơn mà không bị hạn chế thời gian và không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý

Trước tình hình phát triển chung của hoạt động thông tin - thư viện, các thư viện tỉnh, thành phố có vai trò và nhiệm vụ hết sức quan trọng bởi các thư viện không chỉ cung cấp, trang bị kiến thức cho cộng đồng dân cư đông đảo mà còn góp phần quan trọng thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của tỉnh, thành phố Ứng dụng CNTT là sự lựa chọn hàng đầu của các thư viện tỉnh, thành phố nói riêng và hệ thống thư viện nói chung, làm thay đổi cơ bản các hoạt động của thư viện, chuyển từ thao tác thủ công sang tự động hóa và giúp các thư viện thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình

Thư viện tỉnh Nam Định là trung tâm văn hóa, thông tin của tỉnh Nam Định,

có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu thông tin, văn hóa cho tất cả đối tượng người dùng tin trong tỉnh Để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, Thư viện đã mạnh dạn tiến hành ứng dụng CNTT vào các hoạt động nghiệp vụ của mình từ năm 1993 với việc

Trang 8

sử dụng phần mềm tư liệu CDS/ISIS Năm 2006, được sự quan tâm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Nam Định, Thư viện tỉnh Nam Định đã triển khai dự án hiện đại hóa thư viện với việc trang bị cơ sở hạ tầng trang thiết bị và phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp ILib Đến nay Thư viện đã thu được một số thành tựu đáng khích

lệ, đó là xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ và ứng dụng CNTT vào hầu hết các công tác nghiệp vụ xử lý tài liệu và tra tìm thông tin Tuy nhiên,

hiện nay vấn đề ứng dụng CNTT vào các khâu công tác khác nhau tại Thư viện tỉnh

Nam Định vẫn còn một số hạn chế thể hiện ở một số vấn đề sau:

- Việc đầu tư về hạ tầng, cơ sở vật chất còn thiếu và không đồng bộ, hệ thống mạng máy tính nội bộ trong cơ quan bị xuống cấp trầm trọng, một số máy tính được Thư viện Quốc gia Việt Nam tài trợ từ năm 2006 có cấu hình thấp, hiện nay đã hỏng nhiều, số máy còn lại không đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại, các thiết bị để phần mềm hoạt động hết các tính năng còn thiếu

- Trình độ công nghệ thông tin của cán bộ trong thư viện chưa đồng đều, đa

số cán bộ chưa được đào tạo bài bản, việc học tập kiến thức về công nghệ thông tin

là tự học nên còn thiếu tính đồng bộ, hệ thống và không thường xuyên

Những tồn tại nêu trên làm cho việc ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Nam Định chưa mang lại kết quả như mong đợi, điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu một cách tổng thể để tìm ra hướng đi mới cho việc úng dụng CNTT Xuất phát

từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện

tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn đưa ra các giải

pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT tại Thư viện, thúc đẩy hoạt động Thư viện phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhanh chóng và kịp thời nhu cầu của NDT

2 Tình hình nghiên cứu

Ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện là đề tài đã được nhiều người quan tâm và nghiên cứu

Trang 9

Cho tới nay, đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, hay trong các hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT, trong đó đáng chú ý có các công trình sau:

- “Ứng dụng CNTT trong quản lý vận hành thư viện” của PGS,TS Nguyễn Duy Hoan, đăng trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Liên hiệp thư viện đại học khu vực phía Bắc tháng 12/2010 [7, tr.132] Trong công trình của mình, tác giả đề cập tới mô hình thư viện hiện đại của Trung tâm học liệu Thái Nguyên khi ứng dụng CNTT trong quá trình quản lý và vận hành thư viện

- “Thư viện Đại học Ngoại thương với việc ứng dụng CNTT” của ThS Kiều Hương đăng trên Kỷ yếu hội thảo khoa học của Liên hiệp thư viện đại học khu vực phía Bắc tháng 12/2010 Tác giả đề cập đến kết quả của quá trình ứng dụng CNTT tại Thư viện trường Đại học Ngoại thương, các hoạt động thông tin thư viện được hiện đại hóa theo mô hình thư viện điện tử, nâng cao năng lực quản lý và chất lượng phục vụ người dùng tin, phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học tại trường

Ngoài ra, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đề cập tới vấn đề ứng dụng CNTT tại một số cơ quan thông tin - thư viện, cụ thể như sau:

- Tác giả Vũ Thị Xuân Hương bảo vệ năm 2000, với đề tài “Ứng dụng tin học trong hoạt động Thư viện tỉnh Bắc Giang: Thực trạng và tương lai phát triển”,

đã đi sâu nghiên cứu ứng dụng phần mềm tư liệu CDS/ISIS với mục đích tạo ra và khai thác các cơ sở dữ liệu cùng với việc tham gia mạng thông tin diện rộng của thư viện công cộng

- Tác giả Chu Văn Khánh bảo vệ năm 2006, với đề tài: “Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” Trong luận văn của mình, tác giả đã khảo sát, đánh giá thực trạng quá trình triển khai ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 trong hoạt động thư viện trên các phân hệ của phần mềm tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 10

- Tác giả Dương Hồ Diệp bảo vệ năm 2007 với đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện Viện Kinh tế Việt Nam” đã nghiên cứu quá trình tin học hóa, xây dựng các CSDL và hệ thống tra cứu tìm tin điện tử tại Thư viện Viện Kinh tế Việt Nam bằng phần mềm CDS/ISIS của UNESCO

- Tác giả Nguyễn Phương Cương bảo vệ năm 2011 với đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin thư viện tại Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự”, đã đề cập đến việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động thư viện bằng phần mềm ILib, DLib, nêu lên các giải pháp để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện tại Viện Khoa học và Công nghệ quân sự

- Tác giả Lê Thị Tuyết Mai bảo vệ năm 2012 với đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội”, đã đi sâu nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng quá trình triển khai ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 6.0 trong hoạt động thư viện trên các phân hệ của phần mềm tại Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Tuy nhiên, trong các luận văn nêu trên, các tác giả chủ yếu nghiên cứu, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT tại các thư viện chuyên ngành, nơi mà các tác giả đang công tác, căn cứ vào những nét đặc thù riêng và điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị cũng như triển khai ứng dụng các phần mềm khác nhau: CDS/ISIS, Libol, ILib, Dlib,…Các quy trình công nghệ thư viện được triển khai ứng dụng tại các thư viện chưa đồng bộ đúng với quy trình làm việc thực tế của thư viện hoặc chỉ ứng dụng một phần công việc do hạn chế kinh phí triển khai cũng như tính năng của phần mềm Các luận văn chưa làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến công nghệ thông tin cũng như vai trò, mục tiêu, lợi ích của ứng dụng CNTT, những cơ hội và thách thức của các cơ quan thông tin, thư viện trước xu hướng phát triển mạnh mẽ của CNTT, đặc biệt chưa đề xuất, áp dụng một tiêu chí đánh giá cho việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin - thư viện Trong số các luận văn nêu trên, chỉ có luận văn của tác giả Vũ Thị Xuân Hương nghiên cứu về Thư viện tỉnh Bắc Giang thuộc hệ thống thư viện công cộng của Việt Nam Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh

mẽ của CNTT nên hiện nay đã có nhiều thay đổi trong việc ứng dụng CNTT vào

Trang 11

hoạt động thông tin - thư viện Do đó, cần có sự nhìn nhận, đánh giá và tổng hợp lại những vấn đề ứng dụng CNTT đối với thư viện công cộng cấp tỉnh

Về hướng nghiên cứu hoạt động thông tin - thư viện tại Thư viện tỉnh Nam Định, cho đến nay mới chỉ có 01 đề tài luận văn cao học, đó là luận văn “Nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin tại Thư viện tỉnh Nam Định” của tác giả Ngô Thị Thơm bảo vệ năm 2011 tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội Trong luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu, khảo sát mảng phục vụ NDT mà không đề cập sâu đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin

Việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động thư viện tại Thư viện tỉnh Nam Định

đã được triển khai từ năm 1993 và đã dần đi vào hoàn hiện, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng kết những kết quả đã làm được, đánh giá những vấn đề còn tồn tại để đưa ra hướng hoàn thiện công tác ứng dụng CNTT tại thư viện này Chính vì thế, vấn đề nêu trên chưa được nhìn nhận dưới góc độ lý luận cũng như những khảo nghiệm, đánh giá, nhận định, phân tích trên cơ sở thực tiễn của quá trình áp dụng CNTT Có thể khẳng định, đề tài nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong quá trình hoạt động tại Thư viện tỉnh Nam Định cùng với những giải pháp

cụ thể, thiết thực sẽ phần nào giúp đơn vị nhìn nhận chính xác những thành công cũng như những hạn chế trong việc ứng dụng CNTT, từ đó đưa ra biện pháp khắc phục những tồn tại và đề ra phương hướng để có thể triển khai mạnh mẽ CNTT vào tất cả hoạt động của Thư viện, giúp cho Thư viện phát triển nhanh, mạnh, đúng như mong đợi của tập thể cán bộ, nhân viên Thư viện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin – thư viện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 1993 (là năm Thư viện bắt đầu ứng dụng CNTT) đến nay

- Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Thư viện tỉnh Nam Định

Trang 12

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin - thư viện tại Thư viện tỉnh Nam Định

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm vấn đề lý luận chung về ứng dụng CNTT, xu thế ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin – thư viện

- Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT trong các hoạt động thông tin - thư viện tại Thư viện tỉnh Nam Định từ năm 1993 đến nay

- Đánh giá những thành công và tồn tại trong việc ứng dụng CNTT và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin – thư viện tại Thư viện tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm chỉ đạo, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về ứng dụng CNTT và công tác thông tin - thư viện

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận, chủ trương, chính sách liên quan đến đề tài,

kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước

- Phương pháp thống kê đối chiếu và so sánh số liệu

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp với cán bộ thư viện và NDT

- Phương pháp quan sát các quy trình, phương thức, kết quả, các chuẩn nghiệp vụ và tổ chức hoạt động thư viện

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Trang 13

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện, nêu lên vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các thư viện công cộng cấp tỉnh, thành phố

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu việc ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Nam Định, làm rõ thực trạng ứng dụng CNTT trong các khâu công tác nghiệp vụ và hoạt động thông tin - thư viện phục vụ nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền và phổ biến kiến thức Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Nam Định

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý trong công tác chỉ đạo tổ chức ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin - thư viện và cho các cán bộ chuyên môn của thư viện nắm bắt kịp thời xu thế, hiệu quả rõ rệt của việc ứng dụng CNTT để góp phân nâng cao chất lượng hoạt động thông tin - thư viện

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện tỉnh Nam Định

Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện tỉnh Nam Định

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện tỉnh Nam Định

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TẠI THƯ VIỆN TỈNH NAM ĐỊNH

1.1 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin

1.1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Khái niệm “Công nghệ thông tin” (Information Technology)

Theo “Từ điển Bách khoa toàn thư”: “CNTT là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lý thông tin” [32]

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, trong khoản 1, điều 4 phần thuật ngữ,

đã chỉ rõ: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [20, tr.1]

Như vậy, công nghệ thông tin là ngành khoa học bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính điện tử, mạng truyền thông, nhằm tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của con người

Hạt nhân của CNTT là tin học và viễn thông [15] Cơ sở công nghệ của CNTT là công nghệ số nhị phân hay còn gọi là kỹ thuật số, cho phép chuyển các thông tin dưới dạng chữ viết, âm thanh, hình ảnh thành thông tin dưới dạng kết hợp hai con số 0 và 1 Sau khi được xử lý, thông qua các công cụ điện tử, thông tin này được chuyển thành dạng thông tin mà người bình thường có thể tiếp nhận được mà không giảm chất lượng của thông tin ban đầu

1.1.1.2 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin

- Khái niệm “Ứng dụng”

Trong các cuốn “Từ điển từ và ngữ Hán Việt có chú giải từ tố” của tác giả Nguyễn Lân (2002), “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên (1999)

Trang 15

đều giải thích: “Ứng dụng là đưa lý thuyết áp dụng vào thực tiễn Ứng dụng các thành tựu khoa học, ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất” [16],[34]

- Khái niệm “Ứng dụng công nghệ thông tin”

Tại điều 4, khoản 5 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 cũng đã chỉ rõ:

“Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tể,

xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”’ [20, tr.2]

Chỉ thị 58 CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng nêu rõ:

Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá [1, tr.l] Trong lĩnh vực thông tin thư viện, ứng dụng CNTT đã làm thay đổi căn bản mối quan hệ giữa CBTV với NDT, phương thức phục vụ, thu thập, xử lý tài liệu, đồng thời tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin điện tử đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT Việc ứng dụng CNTT còn làm thay đổi bộ mặt của thư viện truyền thống, từ đó hình thành những loại hình thư viện mới: thư viện điện tử, thư viện đa phương tiện, thư viện số

Liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện, ta cũng cần biết tới khái niệm thư viện điện tử, thư viện số:

Thư viện điện tử, theo Philip Barker (1997), thư viện điện tử là thư viện mà ở

đó có sử dụng rộng rãi máy tính và các phương tiện hỗ trợ khác để xử lý và khai thác tài liệu Tác giả nhấn mạnh đặc trưng của thư viện điện tử là sử dụng phổ biến các phương tiện điện tử trong lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin Theo ông, trong thư viện điện từ, ngoài ấn phẩm điện tử vẫn còn tồn tại cả sách truyền thống

Trang 16

Như vậy, thư viện điện tử là thư viện có cả tài liệu điện tử và tài liệu truyền thống nhưng môi trường chủ yếu là các tài liệu điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp thông tin thông qua các máy tính và cảc mạng viễn thông

Thư viện số, theo quan điểm của Liên đoàn Thư viện số (1993) “Các thư viện

số là các tổ chức cung cấp các nguồn lực - tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia

để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng NDT xác định luôn có thể sử dụng một

cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế” [8]

Từ những điều trình bày trên, có thể hiểu là “Ứng dụng công nghệ thông tin

trong hoạt động thông tin thư viện” là việc sử dụng CNTT như máy tính điện tử; các

phương tiện truyền thông, thiết bị kĩ thuật hiện đại và mạng viễn thông vào các hoạt động trong dây chuyền thông tin thư viện nhằm cung cấp các giải pháp toàn thế để

xử lý, tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thông tin, tiến tới xây dựng thư viện điện tử, thư viện số

Nói một cách cụ thể hơn, ứng dụng CNTT trong thư viện có thể hiểu là việc

sử dụng các thành tố của CNTT như phần cứng, phần mềm vào hoạt động thư viện, trong đó:

Phần cứng bao gồm: hệ thống máy tính, mạng máy tính và thiết bị ngoại vi,

hệ thống an ninh, giám sát, hệ thống mạng LAN, đường truyền Internet, Wifi

Phần mềm bao gồm: các chương trình điều khiển máy tính, ngôn ngữ lập trình, các chương trình ứng dụng, chương trình tiện ích,…

Ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện gồm các hoạt động:

- Xây dựng CSDL

- Tự động hóa công tác phục vụ bạn đọc

- Xây dựng thư viện số, tạo khả năng truy cập từ xa

- Lưu trữ dữ liệu với số lượng lớn, không gian nhỏ, an toàn

Trang 17

Các hoạt động ứng dụng CNTT nhằm:

- Giảm giá thành sản phẩm - dịch vụ trong thư viện

- Tăng chất lượng sản phẩm - dịch vụ của thư viện

- Tăng năng suất lao động của CBTV

- Giảm sức lao động do tài liệu nhiều, số lượng CBTV hạn chế không thể xử

lý nếu làm thủ công

1.1.1.3 Xu hướng phát triển công nghệ thông tin

Những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại trong CNTT và truyền thông, cùng với sự bùng nổ thông tin và xu hướng toàn cầu hoá, sự ra đời của nền kinh tế tri thức, máy tính cá nhân và Internet đã làm thay đổi mọi hoạt động của con

người trong đó có hoạt động thông tin - thư viện [25, tr.19] Xu thế giao lưu văn hoá

toàn cầu trong đó có nguồn lực thông tin dẫn tới sự thay đổi về chất trong truyền tải, tiếp nhận và xử lý thông tin Đồng thời, xu thế toàn cầu hoá có tác động sâu sắc đến

sự phát triển, giao lưu của ngành văn hóa, đặc biệt là hệ thống thư viện công cộng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập thế giới và khu vực

Xu hướng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh chóng, đặc biệt là công nghệ điện toán đám mây góp phần hình thành xã hội thông tin, kinh tế tri thức, tỷ trọng các ngành nghề cũng dịch chuyển dần từ sản xuất vật chất sang xử lý thông tin

Sự phát triển mạnh mẽ và hội tụ của CNTT và truyền thông đã và đang đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin thư viện Trong tương lai gần, CNTT dẫn tới xu hướng:

- Hình thành các loại dịch vụ mới, tạo khả năng mới và tiếp cận mới, công nghệ mới (như RFID) cho phép cung cấp thông tin tới NDT nhanh chóng, kịp thời, chính xác ở bất kì nơi nào Đặc biệt sự hội tụ của các mạng truyền thông băng thông rộng với các dịch vụ thông tin di động sẽ cung cấp các giải pháp mới cho con người

- Bùng nổ các giải pháp dịch vụ thông tin vô tuyến Cơ sở hạ tầng thông tin sẽ thay đổi mạnh do sự bùng nổ của dịch vụ thông tin không dây kết hợp với các công

Trang 18

cụ tìm kiếm và các CSDL trực tuyến Công nghệ vô tuyến mới băng thông rộng như WLAN, Wifi sẽ có tốc độ truy cập lên tới hàng trăm Mb/giây cùng tồn tại và cạnh tranh với công nghệ 3G, 4G

Sự phát triển của CNTT, truyền thông và nguồn tin điện tử sẽ dẫn tới xu

hướng hình thành và phát triển thư viện điện tử, thư viện số và thư viện lai, làm

biến đổi mạnh mẽ hoạt động thông tin thư viện truyền thống, thậm chí có thể dẫn đến suy giảm vai trò của mô hình thư viện truyền thống Thư viện điện tử được hình thành và phát triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, trong đó phần quan trọng nhất của thư viện điện tử là bộ sưu tập số có tổ chức, đảm bảo sự truy cập và khai thác có hiệu quả cho NDT

Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các thư viện ở các nước phát triển trên thế giới nhờ có ứng dụng CNTT, đã và đang xây dựng thư viện điện tử, thư viện số Ở các nước đang phát triển, cho đến nay hầu hết các thư viện đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại, thư viện lai Sự phát triển mạnh

mẽ của Internet với các nguồn tin điện tử và các dịch vụ thông tin thư viện đã đem lại nhiều lợi ích cho NDT Ở Việt Nam, hầu hết các thư viện đều sử dụng Internet, thiết kế website như là một công cụ để cung cấp thông tin tới NDT

Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và giao lưu văn hoá toàn cầu là một tất yếu, dẫn tới sự liên kết mạnh mẽ giữa các thư viện, hình thành các liên hợp thư viện

để chia sẻ nguồn tin điện tử Liên hiệp thư viện là sự hợp tác của các thư viện ở một vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách có hệ thống và hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin chuyên biệt của thư viện vả các trung tâm thông tin nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ cho NDT

Mặc dù có sự xuất hiện của các nguồn tin điện tử và khả năng truy cập tới các nguồn tin điện tử ngày càng nhanh và mạnh nhưng văn hoá đọc và nhu cầu về đọc sách vẫn tồn tại và phát triển Vì vậy, việc duy trì và phát triển các dịch vụ truyền thống cũng như các tài liệu trên giấy vẫn tồn tại ở thư viện khi NDT không

có nhu cầu sử dụng các thiết bị máy tính hiện đại, không đọc tài liệu trực tuyến…

Trang 19

Như vậy, trong thời đại của thông tin điện tử và công nghệ số, hoạt động của các cơ quan thông tin, thư viện dựa trên nền tảng của công nghệ hiện đại, ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện không còn là mới mẻ nữa, những kết quả đạt được của các cơ quan thông tin, thư viện đã chứng minh tầm quan trọng của ứng dựng CNTT trong thu thập, xử lý thông tin, tài liệu tạo ra các sản phẩm thông tin, tổ chức các dịch vụ phổ biến thông tin có giá trị cao và quan trọng là làm thay đổi cách thức phục vụ NDT từ thủ công truyền thống sang hiện đại Xây dựng hệ thống thông tin tự động hoá, thư viện điện tử, thư viện số là yêu cầu mang tính tất yếu khách quan đối với các cơ quan thông tin, thư viện nhằm tạo ra điểm truy cập thông tin ở mọi lúc, mọi nơi; định hướng cho NDT tới các nguồn tin điện tử nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của NDT; đồng thời có thể chia sẻ, sử dụng chung nguồn lực thông tin giữa các thư viện trong phạm vi quốc gia và trên toàn thế giới, tiến tới xây dựng nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá

1.1.2 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thư viện tỉnh, thành phố tại Việt Nam

Vào thập niên 80-90 của thế kỷ 20, các thư viện Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện, tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT mới chỉ tập trung vào các khâu xử lý, xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL), lưu trữ và tìm kiếm thông tin Dưới sự hỗ trợ của Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Khoa học và Công nghệ Quốc gia), cùng với sự chỉ đạo chuyên môn của Thư viện Quốc gia Việt Nam, Vụ Thư viện, các thư viện tỉnh, thành phố đã

sử dụng phần mềm tư liệu CDS/ISIS để xây dựng các cơ sở dữ liệu thư mục, thực hiện chức năng lưu trữ tài liệu và tạo ra sản phẩm thư mục như in phích, in phiếu

Bước sang đầu thế kỷ 21, các thư viện tỉnh, thành phố đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong việc ứng dụng CNTT bằng việc mở rộng ứng dụng sang các khâu khác như bổ sung tài liệu, quản lý NDT, quản lý lưu thông tài liệu Trong giai đoạn này việc sử dụng một phần mềm tư liệu đối với các thư viện là chưa đủ Các thư viện đã tiến tới sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp như Libol (ở Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh và ở các thư viện trường học, các cơ quan), ILib (tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và nhiều thư viện tỉnh, thành phố)…

Trang 20

- Sự kết hợp giữa tin học và viễn thông cho phép các thư viện liên kết với nhau trong các mạng thông tin để chia sẻ nguồn lực thông tin và phục vụ tìm tin từ

xa Kết quả của giai đoạn này là hình thành nên hệ thống mục lục công cộng trực tuyến, thực chất đây là các CSDL thư mục của các thư viện đã được đưa ra khai thác trên mạng, giúp người sử dụng có thể truy cập tới thông tin thư mục trực tiếp

Quá trình ứng dụng CNTT trong các thư viện nói chung và Thư viện tỉnh Nam Định nói riêng diễn ra như là tất yếu trước yêu cầu của NDT Tuy vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra xoay quanh quá trình này như áp dụng các chuẩn hoá, liên thông, bảo mật thông tin, nhưng chúng ta hi vọng trong một tương lai không xa khi quá trình ứng dụng CNTT hoàn thành, sẽ có những thư viện điện tử đích thực, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu về thông tin và tài liệu của người sử dụng

1.1.3 Điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện

1.1.3.1 Cơ sở pháp lý

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc ứng dụng và phát triên CNTT trong mọi hoạt động của đất nước nói chung và hoạt động thông tin - thư viện nói riêng được chỉ rõ trong hệ thống các văn bản pháp lý như:

- Quyết định số 16/2005/QĐ-BVHTT ngày 4/5/2005 của Bộ Văn hoá - Thông tin về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trang 21

- Chương trình Quốc gia áp dụng CNTT, chiến lược phát triển Thông tin - Thư viện đến 2010, 2020

- Luật Công nghệ thông tin năm 2006

Nhìn chung các văn bản này đều khẳng định vai trò to lớn của các hoạt động thông tin khoa học công nghệ và thư viện đối với sự phát triển của một đất nước Đặc biệt trong những năm qua, sự xuất hiện của thư viện điện tử tại Việt Nam là một hệ quả tất yếu sau rất nhiều sự chuẩn bị về phát triên hành lang pháp lý, phát triển cơ sở hạ tầng, kinh phí, nhân lực cho các thư viện - cơ quan thông tin

1.1.3.2 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu [20, tr.1]

Cơ sở hạ tầng thông tin của thư viện được thiết kế tổng thể trong hệ thống thông tin chung của mạng lưới thư viện công cộng Đây là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động của toàn bộ hệ thống và các ứng dụng liên quan đến CNTT như hệ điều hành của các máy chủ, phần mềm nền tảng và các phần mềm ứng dụng

- Hệ thống máy tính và các thiết bị ngoại vi

+ Hệ thống máy tính gồm hệ thống các máy chủ, máy trạm và các thiết bị liên quan khác được kết nối với nhau trong hệ thống đường truyền mạng

+ Các thiết bị ngoại vi

Máy in là một thiết bị giúp tạo ra các bản tài liệu cứng từ tài liệu được lưu trữ trong các thiết bị điện tử

Máy quét là một thiết bị chuyển ánh sáng thành những mức tín hiệu số dạng

0 và 1 để máy tính có thể đọc được Nói một cách khác máy quét chuyển đổi dữ liệu dạng tương tự hình ảnh thành dữ liệu dạng số

Máy đọc mã vạch: Mã vạch là sự thể hiện thông tin trong các dạng nhìn thấy trên các bề mặt mà máy có thể đọc được Mã vạch lưu trữ dữ liệu theo bề rộng của

Trang 22

các vạch được in song song cũng như của khoảng trống giữa chúng Máy đọc mã vạch là thiết bị quét quang học để có thể đọc được mã vạch

+ Camera giám sát:là một công cụ an ninh cần thiết cho thư viện để bảo vệ các cơ sở vật chất, nguồn lực thông tin, giúp không gian thư viện an toàn để NDT yên tâm sử dụng thư viện

- Hệ thống mạng LAN, đường truyền kết nối Internet,

Mạng cục bộ LAN là một hệ thống truyền thông tốc độ cao được thiết kế để kết nối các máy tính và thiết bị ngoại vi, xử lý dữ liệu khác hoạt động cùng với nhau trong một phạm vi

Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau

Wifi (Wireless Fidelity) là hệ thống mạng không dây phổ biến được sử dụng trên các thiết bị như điện thoại di động, máy tính xách tay và nhiều thiết bị điện, điện tử tiêu dùng

- Website

Website có rất nhiều cách gọi như là trang web, trang thông tin mạng Cấu trúc của nó là một tập hợp các trang web bao gồm văn bản, hình ảnh, video, flash Mỗi website khi đưa nên Internet thường phải có tên miền như là một địa chỉ

để cho khách hàng tìm đến và một dịch vụ hosting để lưu trữ dung lượng website

Những lợi ích của thư viện khi có website

+ Chi phí thấp so với các ấn phẩm quảng cáo thông thường

Trang 23

+ Website hiển diện mọi lúc mọi nơi không giới hạn về mặt địa lý

+ Giúp thư viện gia tăng tính liên kết, phục vụ 24/7 và 365 ngày, tăng thêm giá trị gia tăng và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tin của NDT

1.1.3.3 Phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp

Trong quá trình ứng dụng CNTT tại thư viện, quan trọng nhất, cơ bản nhất là việc lựa chọn phần mềm quản trị thư viện tích hợp Có ba hướng tiếp cận khi thư viện lựa chọn phần mềm quản trị thư viện tích hợp [18]:

- Tự phát triển các ứng dụng riêng rẽ

- Hệ thống chìa khóa trao tay

- Dùng hệ quản trị thư viện tích hợp có sẵn

Để xác định được hướng tiếp cận, phần mềm đó cần đạt các tiêu chí sau:

* Các tiêu chí về chuẩn công nghệ thông tin và truyền thông

- Các máy chủ và máy trạm được xây dựng theo mô hình khách/chủ

- Sử dụng nhiều hệ điều hành khác nhau

- Tuân thủ chặt chẽ các chuẩn giao thức TCP/IP, giao diện 100% trên Web với toàn bộ giao diện của các phân hệ phần mềm được xây dựng trên Web, đảm bảo khả năng kết nối, khai thác và chia sẻ nguồn tin điện tử với các cơ quan thông tin thư viện trong nước và thế giới

- Phần mềm phải quản lí được CSDL lớn với nhiều triệu biểu ghi, với tốc độ tra cứu nhanh, chạy ổn định

- Hệ thống an ninh, bảo mật: đảm bảo tính mã hoá, tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về bảo mật phân quyền

- Phần mềm quản lí thư viện điện tử phải được xây dựng theo kiến trúc nhiều lớp, bao gồm các phân hệ: bổ sung, biên mục, quản lí NDT, tra cứu trực tuyến, lưu thông tài liệu, quản lí ấn phẩm định kì, quản trị hệ thống, mượn liên thư viện, sưu tập số

Trang 24

- Tính tích hợp: các phân hệ của bộ phần mềm phải được tích hợp trong một

hệ thống với CSDL chung, giao diện nhất quán và đặc biệt có các mối liên kết theo chu trình hoạt động phản ánh đúng logic của các chu trình thực tế trong hoạt động của thư viện

- Tính mở và tuỳ biến

- Có khả năng cập nhật, sao lưu, khôi phục dữ liệu

- Hỗ trợ xây dựng dữ liệu số, tra cứu toàn văn

- Hỗ trợ đa ngôn ngữ và đa bảng mã tiếng Việt

- Hỗ trợ mã vạch, công nghệ RFID, hỗ trợ WAP

* Các tiêu chí về chuẩn nghiệp vụ thư viện

Các chuẩn nghiệp vụ thư viện được tích hợp phải đảm bảo tính tương thích với các tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện của quốc tế và Việt Nam, phù hợp với điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Cụ thể:

- Hỗ trợ chuẩn MARC, hỗ trợ đồng thời nhiều khung phân loại

- Có khả năng chuyển đổi CSDL từ phần mềm ISIS sang

- Hỗ trợ các quy tắc chuẩn biên mục quốc tế ISBD, AACR2 Chuẩn Z39.50, ISO 2709, OCLC

- Kiến trúc kho linh hoạt, có thể tạo nhiều cấu trúc kho, kiểu kho khác nhau, phù hợp với cả kiến trúc kho đóng và kho mở

- Lưu thông đa điểm

1.1.3.4 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực này là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc

ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Đội ngũ cán bộ có trình độ CNTT là

một trong những yếu tố quan trọng cho việc vận hành một thư viện điện tử nhằm quản trị hệ thống mạng, quản lí, vận hành tốt các quy trình công nghệ thư viện trên máy tính và thường xuyên làm việc trên môi trường mạng

Trang 25

Để ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện có hiệu quả, thư viện cần có đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, năng lực và đảm bảo các kỹ năng sau:

- Kỹ năng làm việc với máy tính, trong đó trình độ đọc hiểu ngoại ngữ, là một kỹ năng buộc phải có vì đa số tài liệu, văn bản hướng dẫn, kỹ thuật, công nghệ cũng như nội dung các môn học, phần mềm về công nghệ thông tin - truyền thông và các công việc thực tế đa số dùng tiếng Anh

- Kỹ năng mềm: như trình bày văn bản, kỹ năng thảo luận, kỹ năng seminar,

kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng cập nhật công nghệ

- Kỹ năng tư duy và làm việc độc lập

1.1.3.5 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý

Để ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện, một yếu tố không thể thiếu đó

là sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý Tuy các nhà quản lý, lãnh đạo không trực tiếp tham gia vào quá trình ứng dụng CNTT vào các hoạt động của thư viện nhưng các quyết định của họ có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả cũng như tiến độ ứng dụng CNTT Điều này có thể thấy rất rõ trong thực tiễn, ở đâu cán bộ lãnh đạo quản

lý coi trọng vấn đề CNTT, quan tâm, chỉ đạo sát sao tới việc ứng dụng CNTT thì ở nơi đó việc ứng dụng CNTT chắc chắn sẽ tiến triển tốt Ngược lại, ở đâu lãnh đạo quản lý coi việc ứng dụng CNTT chỉ như một thứ trang sức, làm đẹp khi cần báo cáo thì ở đó việc ứng dụng CNTT khó có thể đem lại hiệu quả thiết thực

Chính vì những lý do trên nên đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có tầm nhìn xa, có hiểu biết về công nghệ, nắm được vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là CNTT trong hoạt động của cơ quan, đơn vị, có trình độ, có năng lực quản lý và khả năng chỉ đạo thực hiện các hoạt động liên quan đến ứng dụng CNTT trong thư viện

1.1.4 Tiêu chí đánh giá ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện

Hiện tại, chưa có cơ quan thông tin, thư viện hay một công trình nghiên cứu nào đưa ra tiêu chí đánh giá ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện Căn cứ theo

Trang 26

Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước, tác giả mạnh dạn xây dựng và đề xuất việc đánh giá công tác ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh, thành phố gồm 6 tiêu chí với các yêu cầu cụ thể của từng tiêu chí Tổng điểm đánh giá theo thang điểm 100 như sau:

- Tỷ lệ máy tính trang bị cho CBTV và NDT 4

- Mạng nội bộ LAN trong thư viện 2

- Kết nối mạng WAN với Thư viện Quốc gia 3

- Tỷ lệ máy tính được kết nối Internet 3

- Ứng dụng phần mềm Quản trị thư viện tích hợp 18

- Sử dụng hòm thư điện tử 5

- Triển khai các phần mềm ứng dụng khác 6

- Sử dụng các phần mềm mã nguồn mở phổ biến 6

- Cung cấp thông tin lên website của thư viện 6

- Cung cấp dịch vụ tra cứu trực tuyến 6

- Giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ thư viện 4

- Cải thiện chất lượng dịch vụ 4

- Ban hành quy chế đảm bảo an toàn thông tin tại thư viện 3

- Tổ chức phổ biên các quy định của pháp luật và quy định của cơ

quan về an toàn, an ninh thông tin cho các CBTV

2

- Triển khai hệ thống an toàn, an ninh, lưu trữ dữ liệu 2

- Tỷ lệ máy tính của thư viện được trang bị phần mềm phòng chống

virus, mã độc…

2

Trang 27

TT Tiêu chí đánh giá Điểm

- Sử dụng công nghệ xác thực khi truy cập phần mềm Quản trị thư

viện tích hợp

2

- Biện pháp bảo vệ mạng không dây Wifi 1

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá an toàn, an ninh thông tin định kỳ 2

- Cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về an toàn an ninh

- Ban hành quy định cho website 3

- Ban hành quy định về phần mềm Quản trị thư viện tích hợp 2

- Ban hành kế hoạch ứng dụng CNTT 3

- Tỷ lệ kinh phí chi cho CNTT trên tổng chi thường xuyên của thư

viện trong năm trên 10%

Trang 28

1.2 Khái quát về Thư viện tỉnh Nam Định

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định

Về dân số, tính đến năm 2014, Nam Định có 1.992.327 người với mật độ dân

số 1.194 người/km² chủ yếu là dân tộc Kinh

1.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nam Định

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, tỉnh Nam Định đang bền bỉ và quyết tâm phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng quê hương ngày càng thêm giàu mạnh Tỉnh Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng của Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long Vị trí địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Định không chỉ trong việc phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn mà còn mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng, cả nước và quốc tế Song đây cũng là một thách thức lớn đối với Nam Định trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Năm 1996, sau khi chia tách tỉnh Nam Hà thành Nam Định và Hà Nam, tỉnh Nam Định đã tập trung chỉ đạo khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong toàn tỉnh

Trang 29

Đi đôi với chỉ đạo phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, phát triển khoa học công nghệ, văn hoá, xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được quan tâm chỉ đạo Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, sự nghiệp giáo

dục, đào tạo của tỉnh tiếp tục phát triển Tỉnh Nam Định được Bộ Giáo dục - đào tạo

công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục, 83% trở lên học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 Thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đều được cải thiện với các mức độ khác nhau Các hoạt động văn hoá thông tin đại chúng như xây dựng gia đình, khu phố văn hoá, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được quan tâm chỉ đạo không ngừng phát triển

1.2.1.3 Tình hình áp dụng công nghệ thông tin của tỉnh Nam Định

Theo báo cáo tổng kết tình hình áp dụng CNTT tại tỉnh Nam Định của Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học thuộc Sở Khoa học - Công nghệ năm 2014

- 100% các cơ quan đã được đầu tư xây dựng mạng LAN, được kết nối mạng diện rộng (WAN) và có kết nối Internet tốc độ cao

- Tổng số máy tính được trang bị của các cơ trong tỉnh là 2.883 máy

- Năm 2010, tỉnh đã đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến từ tỉnh xuống huyện

+ 100% các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, UBND xã, phường, 100% cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước đã được cấp địa chỉ thư điện tử 63% cán bộ, công chức cấp tỉnh, 44% cấp huyện sử dụng thư điện tử phục vụ công việc

1.2.2 Giới thiệu chung về Thư viện tỉnh Nam Định

1.2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Thư viện tỉnh Nam Định được thành lập năm 1956, tiền thân từ tủ sách nhỏ của phòng văn nghệ Ty văn hoá Thành phố Nam Định, với số sách ban đầu chỉ vẻn vẹn có 2000 bản Sự ra đời của Thư viện tỉnh là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đồng thời là kết qủa tất yếu khách quan của phong trào quần chúng đọc sách báo sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc

Trang 30

Năm 1957, Thư viện tỉnh được tăng cường thêm cán bộ từ tỉnh lỵ Xuân Trường, song vốn sách báo còn rất ít Từ cuối 1958-1959, Thư viện tỉnh mở rộng phục vụ, dần dần khẳng định được vai trò, chức năng, nhiệm vụ là trung tâm văn hoá của tỉnh, là một thiết chế văn hoá quan trọng không thể thiếu trong các hoạt động văn hoá Thư viện tỉnh không những chỉ tổ chức hoạt động tốt tại trung tâm

mà còn thực hiện chức năng xây dựng phong trào đọc sách báo ở cơ sở Ngay từ những năm đầu thành lập, Thư viện tỉnh đã xây dựng được một mạng lưới thư viện rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh

Trong thời kỳ xây dựng cải tạo XHCN ở miền Bắc, thực hiện QĐ 178/CP

-1970 của Chính phủ, Thư viện tỉnh tổ chức gây dựng mạng lưới thư viện ở huyện, xã Chỉ trong một thời gian ngắn thư viện, tủ sách đã được phủ kín xuống đến các huyện, các xã trong tỉnh Sau năm 1975, Thư viện tỉnh Nam Định bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội Năm 1976 cùng với việc sát nhập 2 tỉnh Nam Hà và Ninh Bình, Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh được thành lập trên cơ sở sát nhập 2 Thư viện tỉnh Nam Hà và Ninh Bình

Bên cạnh công tác phục vụ NDT, Thư viện tỉnh còn tổ chức mạng lưới thư viện cơ sở, tổ chức tuyên truyền giới thiệu sách báo, mời các diễn giả trung ương và địa phương nói chuyện về nhiều chuyên đề khác nhau như: văn học, lịch sử, kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị - xã hội…Với những nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, sự tích tụ về cơ sở vật chất từ những ngày đầu thành lập và những thành tích đạt được, năm 1989 Thư viện tỉnh Hà Nam Ninh đã được Bộ VHTT, UBND tỉnh quyết định xếp hạng 2

Từ năm 1986 tới nay, Thư viện tỉnh đã 3 lần sát nhập, chia tách và cuối cùng, năm 1996 trở về tên ban đầu Thư viện tỉnh Nam Định Trong những năm gần đây, Thư viện tỉnh Nam Định đã mở rộng mối quan hệ với các thư viện trong Liên hiệp Thư viện các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tổ chức các buổi gặp mặt, giao lưu, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ, giúp đỡ nhau trao đổi tài liệu, củng cố thêm mối quan hệ bền vững giữa các thư viện trong Liên hiệp

Với những nỗ lực và thành tích đạt được, Thư viện tỉnh được nhận nhiều phần thưởng cao quý, bằng khen, cờ thi đua Trải qua những bước thăng trầm của

Trang 31

lịch sử, lúc khó khăn, lúc thuận lợi, song Thư viện tỉnh Nam Định luôn đứng vững

và vươn lên về mọi mặt, xứng đấng là trung tâm văn hóa, khoa học của Nam Định

Tuy nhiên, nhìn vào công việc hiện tại và hướng tới tương lai, Thư viện tỉnh Nam Định còn rất nhiều việc phải làm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh

tế, văn hóa xã hội của tỉnh trong giai đoạn CNH- HĐH, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao và đa dạng của quần chúng, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin, thư viện

1.2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ

* Chức năng

Thư viện tỉnh Nam Định là một trung tâm văn hóa, khoa học của tỉnh, thực hiện chức năng là cơ quan thư viện, thông tin với sứ mệnh là nơi lưu giữ các tài liệu được xuất bản tại địa phương và viết về địa phương, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển địa phương về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo nhu cầu thông tin của người dùng tin, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện đời sống văn hóa, khoa học của người dân trên địa bàn

* Nhiệm vụ

Để thực hiện chức năng trên, Thư viện tỉnh Nam Định có các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động của thư viện;

- Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đọc được sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn về nhà hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện

- Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa của địa phương và đối tượng phục vụ của thư viện

- Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu kịp thời, rộng rãi vốn tài liệu thư viện đến mọi người;

- Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin – thư mục, thông tin có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của thư viện

Trang 32

- Hướng dẫn, tư vấn tổ chức thư viện; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ cho người làm công tác thư viện; tổ chức luân chuyển sách báo;

- Thực hiện báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động của Thư viện với Giám đốc Sở VH,TT&DL và Bộ VH,TT&DL

1.2.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện tỉnh Nam Định

(Nguồn: Thư viện tỉnh Nam Định)

Phòng Công tác phục vụ bạn đọc

Phòng Thông tin - Thư mục - Địa chí - Phong trào

Phòng Tin học

Phòng đọc Báo, tạp chí

Phòng đọc Thiếu nhi

Phòng mượn tài liệu

Trang 33

- Phòng Hành chính - Tổng hợp, có các bộ phận:

+ Hành chính: Thực hiện công tác văn phòng; cấp thẻ bạn đọc; xây dựng kế hoạch, thống kê báo cáo, tổ chức bảo vệ cơ quan, đảm bảo an toàn, vệ sinh khu vực làm việc và nơi công cộng

+ Kế toán: Lập sổ sách theo dõi thu chi của thư viện; xây dựng các phương

án tài chính, dự toán thu chi ngân sách và các khoản thu, chi khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện

- Phòng Bổ sung, xử lý tài liệu

Xây dựng kế hoạch và thực hiện bổ sung vốn tài liệu bằng ngân sách được cấp hàng năm, nhận lưu chiểu xuất bản phẩm địa phương, biếu tặng, tài trợ, trao đổi giữa các thư viện và các hình thức khác, thực hiện các chu trình xử lý kỹ thuật vốn tài liệu theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện; tổ chức kho và các hệ thống mục lục; xây dựng CSDL thư mục

- Phòng Thông tin - Thư mục - Địa chí - Phong trào

Xử lý và biên soạn ấn phẩm thông tin, các loại thư mục; hướng dẫn tra cứu

và trả lời về nguồn lực thông tin của thư viện; tổ chức các hoạt động tuyên truyền giới thiệu nguồn lực thông tin, đồng thời, xây dựng CSDL về địa chí; sưu tầm, biên soạn các tài liệu địa chí; hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBTV trên địa bàn tỉnh; xây dựng kho luân chuyển, tổ chức luân chuyển vốn tài liệu giữa các thư viện

- Phòng Phục vụ bạn đọc

Có nhiệm vụ hướng dẫn tra tìm thông tin thông qua hệ thống mục lục, cung cấp các dịch vụ đáp ứng yêu cầu về sử dụng nguồn lực thông tin có trong hoặc ngoài thư viện Ngoài ra, còn có nhiệm vụ báo cáo thống kê, theo dõi nghiên cứu về bạn đọc định kỳ; bảo quản, vệ sinh kho sách và trang thiết bị các phòng phục vụ

- Phòng Tin học

Nghiên cứu và triển khai ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện

Trang 34

+ Về trình độ ngoại ngữ: tất cả cán bộ thư viện đều có chửng chỉ tiếng Anh loại B trở lên, có 2 cán bộ có bằng đại học chuyên ngành ngoại ngữ

+ Về trình độ tin học: tất cá cán bộ thư viện đều có chứng chỉ tin học loại B trở lên, thành thạo tin học văn phòng

+ Về thái độ, ý thức, kỹ năng nghề nhgiệp: Cán bộ Thư viện tỉnh Nam Định

có ý thức học tập và tích lũy kiến thức, luôn tiếp thu và vận dụng thành tựu mới của

hệ thống thư viện, nhanh chóng tiếp cận công nghệ thông tin và áp dụng có hiệu quả vào công tác thư viện, nắm vững vốn tài liệu của thư viện, có kỹ năng nghề nghiệp thành thạo, hiểu biết tâm lí NDT, được NDT đánh giá là tận tình chu đáo với NDT

+ Về lứa tuổi, giới tính

Đa số cán bộ của thư viện đều có tuổi đời trẻ, số cán bộ trẻ (dưới 35 tuổi)

chiếm tới 83% tổng số CBTV

Do đặc thù cùa nghề thư viện nên cán bộ thư viện đa phần là nữ Có tới 21 cán bộ nữ (chiếm 84%), chỉ có 4 cán bộ nam (chiếm 16%)

1.2.2.4 Nguồn lực thông tin

Hàng năm, Thư viện tỉnh bổ sung nguồn lực thông tin bằng các nguồn như mua, trao đổi, được tài trợ, biếu, tặng Cho tới nay, Thư viện tỉnh Nam Định có 65.462 đầu sách, với khoảng 207.00 cuốn

Trang 35

Theo nội dung, thành phần vốn tài liệu Thư viện bao gồm:

+ Tài liệu Chính trị - Xã hội:29%

+ Tài liệu Khoa học - Kỹ thuật:28%

+ Tài liệu Văn học - Nghệ thuật:33%

+ Tài liệu địa chí và các tài liệu khác: 10%

Hình 1.2: Tỷ lệ môn loại sách của Thư viện tỉnh Nam Định

(Nguồn: Thư viện tỉnh Nam Định)

Ngoài sách, thư viện còn chú trọng bổ sung nguồn lực báo, tạp chí Hiện tại mỗi năm thư viện bổ sung hơn 140 loại báo, tạp chí Báo, tạp chí cũ của mỗi năm được đóng quyển và lưu trên kho, kho lưu của phòng đọc báo, tạp chí lưu khoảng

300 loại báo từ năm 1960 đến nay Ngoài nguồn lực thông tin truyền thống thì thư viện còn bổ sung một số đĩa CD luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học (hiện nay thư viện có khoảng trên 370 đĩa CD

- Về ngôn ngữ, tài liệu của Thư viện chủ yếu là tiếng Việt và một số ít tài liệu bằng tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh,

1.2.2.5 Các sản phẩm, dịch vụ thông tin

- Dịch vụ đọc tại chỗ được cung cấp, phục vụ miễn phí tại các phòng đọc Thông qua phiếu điều tra cho thấy tỉ lệ 91,9% NDT đánh giá chất lượng tốt dịch vụ này Hiện tại, Thư viện có 03 phòng đọc tại chỗ: phòng đọc báo – tạp chí và phòng

Trang 36

đọc thiếu nhi được tổ chức theo hình thức kho mở tự chọn, phòng đọc tổng hợp được tổ chức theo hình thức kho đóng

- Dịch vụ mượn tài liệu về nhà: dịch vụ này được cung cấp và phục vụ miễn

phí tại phòng mượn Hiện tại, phòng mượn được tổ chức thành kho mở

Chính sách lưu thông các loại tài liệu là 07 ngày/lần mượn, mỗi lần mượn, NDT được mượn từ 02 – 03 tài liệu

Qua phiếu điều tra, dịch vụ mượn về nhà được 67,9% NDT đánh giá chất lượng tốt Tỷ lệ này cho thấy, với chính sách lưu thông tài liệu hợp lý đã tạo vòng quay của tài liệu nhiều hơn, đáp ứng được tối đa nhu cầu mượn của số đông NDT

- Dịch vụ sao chụp và in ấn tài liệu: là dịch vụ có thu phí nhằm cung cấp bản sao tài liệu gốc cho NDT khi có nhu cầu Dịch vụ này được NDT chủ yếu là sinh viên, học sinh sử dụng

- Dịch vụ hướng dẫn, đào tạo NDT: Hàng năm, Thư viện tổ chức các lớp đào tạo NDT cơ bản cho toàn bộ đối tượng là NDT mới của thư viện Thông qua lớp học, NDT được trang bị những kiến thức cơ bản về nội quy thư viện, kĩ năng thông tin, tra cứu tài liệu ở trên mực lục thư viện trực tuyến OPAC, chiến thuật tìm kiếm thông tin, tài liệu toàn văn trên mạng Internet NDT được CBTV trực tiếp chỉ dẫn

sơ đồ sắp xếp tài liệu trong các kho sách mở tự chọn, cách sử dụng dịch vụ và các trang thiết bị của Thư viện như: thực hành quy trình mượn/trả tải liệu nhằm giúp họ

sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ thông tin mà Thư viện cung cấp

- Dịch vụ thông báo sách mới: dịch vụ này được Thư viện cung cấp tới NDT thông qua mục lục thông báo sách mới tại Thư viện Dịch vụ này chỉ được 36,7% NDT đánh giá chất lượng tốt Nguyên nhân này có khả năng do Thư viện chưa áp dụng dịch vụ này bằng cách phổ biến trên website của Thư viện giúp NDT dễ dàng theo dõi hơn

- Dịch vụ tra cứu Internet: được cung cấp miễn phí Tại phòng tin học có hệ thống máy tính tra cứu gồm 10 máy tính kết nối mạng LAN, Internet dành riêng cho

Trang 37

NDT tìm kiếm tài liệu có trong Thư viện cũng như tìm tài liệu có trong các CSDL trong và ngoài nước hay khai thác thông tin, tài liệu trên mạng Internet Dịch vụ này được tới 61,2% NDT đánh giá chất lượng tốt.

1.2.2.6 Người dùng tin

Người dùng tin là cơ sở để định hướng cho toàn bộ hoạt động phục vụ của

một thư viện Nắm vững kịp thời, đầy đủ và chính xác nhu cầu tin của NDT là một

trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung

Thư viện tỉnh Nam Định là một thư viện công cộng, đối lượng phục vụ của Thư viện là mọi tầng lớp nhân dân, vì vậy thành phần NDT của Thư viện tỉnh cũng rất da dạng Nhưng chủ yếu được chia làm 4 nhóm chính:

- Nhóm NDT là học sinh, sinh viên: 56%

- Nhóm NDT là cán bộ, viên chức: 26%

- Nhóm NDT là cán bộ hưu trí: 12%

- Nhóm NDT là công nhân và người làm nghề tự do: 6%

Hình 1.3: Thành phần NDT theo thống kê năm 2014

(Nguồn: Thư viện tỉnh Nam Định)

Học sinh, sinh viên

Cán bộ, viên chức

Cán bộ hưu trí

Công nhân,nghề tự do

Trang 38

* Nhóm NDT là học sinh, sinh viên:

Nam Định là một tỉnh có truyền thống học tập tốt, lực lượng học sinh, sinh viên là rất lớn và họ trở thành một lực lượng NDT chủ yếu của thư viện Trong đối tượng NDT là học sinh, sinh viên có thể chia làm 2 nhóm:

- Nhóm học sinh là thiếu niên nhi đồng: Nhóm này nhu cầu đọc chưa cao, chủ yếu đọc để giải trí Các em chủ yếu sử dụng hình thức tra cứu truyền thống qua

hệ thống mục lục chữ cái, chưa biết sử dụng thành thạo máy tính

- Nhóm học sinh trung học và sinh viên: Nhóm NDT này đã có ý thức trong việc đọc, đọc có mục đích cụ thể Tài liệu họ yêu cầu chủ yếu là sách tham khảo,

bổ trợ cho chuyên ngành mình đã và đang theo học, ngoài ra họ còn có nhu cầu về những vấn đề mà xã hội đang yêu cầu như những tài liệu về ngoại ngữ, tin học Qua đó cho thấy đội ngũ học sinh, sinh viên đã và đang phấn đấu hoàn thiện, tiếp cận CNTT đế bắt kịp với xu thế của thời đại

* Nhóm NDT là cán bộ, viên chức:

Nhóm NDT này hầu hết là nhừng người có trình độ, hiểu biết về thư viện nên họ biết tra cứu tài liệu qua hệ thống phích mục lục, tra cứu trực tuyến OPAC để tìm tài liệu Khi NDT không có nhiều thời gian để tra tìm tài liệu thì họ có thể yêu cầu thủ thư trực tiếp tìm cho họ những tài liệu cụ thể

* Nhóm NDT là cán bộ hưu trí

Cán bộ hưu trí là nhóm NDT chiếm số lượng khá cao Cán bộ hưu trí là những cán bộ đã nghỉ hưu nên có nhiều thời gian rảnh rỗi và là đối tượng NDT có trình độ hiểu biết nhất định CBTV cần chủ động giới thiệu giúp họ tiếp cận các ứng dụng CNTT mà Thư viện đang áp dụng

* Nhóm NDT là công nhân, người làm nghề tự do

Thành phố Nam Định là trung tâm dệt may của cả nước, vì thế có một lượng lớn công nhân Tuy nhiên nhóm NDT là công nhân lại chiếm tỷ lệ thấp tại thư viện

do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do điều kiện nơi làm việc ở xa, điều kiện đi lại khó và do đặc thù nghề nghiệp họ ít có thời gian rảnh rỗi phù hợp để có thể đến

Trang 39

thư viện Đây là một thành phần NDT tương đối đông mà thư viện cần phải quan tâm phục vụ bằng nhiều hình thức Trong thời gian tới, Thư viện tỉnh cần áp dụng mạnh mẽ ứng dụng CNTT để nhóm NDT này có thể tiếp cận với thư viện mọi lúc, mọi nơi một cách thuận tiện

NDT làm nghề tự do chiếm tỷ lệ rất nhỏ tại thư viện, thành phần đa dạng Do điều kiện công việc không ổn định, họ thường có ỉt thời gian đến thư viện, nhất là đọc tại chỗ Do đó, Thư viện cần phát huy các chức năng của website Thư viện nhằm giúp họ dễ dàng tiếp cận với Thư viện hơn

Như vậy, có thể nhận thấy thành phần NDT của Thư viện tỉnh Nam Định là rất đa dạng, việc phân chia các đối tượng NDT như trên căn cứ vào những đặc điểm chung nhất của từng nhóm người có cùng lứa tuổi, cùng trình độ, tính chất công việc, sở thích, tâm lý, để nắm bắt được những quy luật nhu cầu tin của từng nhóm người Từ đó có những định hướng cụ thể trong việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin thư viện, nhằm đáp ứng được tối đa nhu cầu tin của NDT ở Thư viện tỉnh Nam Định

1.2.3 Nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện tỉnh Nam Định

Để xác định rõ nhu cầu tin của NDT, cơ quan thông tin, thư viện cần nắm được lĩnh vực mà NDT quan tâm, nội dung thông tin, mục đích sử dụng, loại tài liệu thích hợp, hình thức cung cấp thông tin, thời hạn đáp ứng nhu cầu tin, mức độ cấp bách của yêu cầu tin Nghiên cứu nhu cầu tin của NDT nhằm xác định rõ nhu cầu thông tin về các loại hình tài liệu của các nhóm NDT Trên cơ sở đó Thư viện có những giải pháp để cung cấp thông tin phù hợp cho NDT NDT tự tìm kiếm thông tin, tài liệu là công việc không thể thiếu trong quá trình học tập, nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để nắm được nhu cầu tin của NDT, tác giả đã tiến hành khảo sát NDT tại Thư viện Với 500 phiếu điều tra đã được phát cho từng nhóm đối tượng NDT, trong đó, số phiếu phát cho học sinh, sinh viên là 250 phiếu,

số phiếu phát cho cán bộ, viên chức là 150 phiếu, cán bộ hưu trí 70 phiếu, công nhân, người làm nghề tự do là 30 phiếu Số phiếu đã thu về 480 phiếu, đạt 96% trên

Trang 40

tổng số phiếu phát ra Trong đó, số phiếu thu về của học sinh, sinh viên là 243 phiếu đạt 97.2%, của cán bộ, viên chức là 147 phiếu đạt 98%, cán bộ hưu trí là 64 phiếu

đạt 91.4%, công nhân - người làm nghề tự do là 26 phiếu đạt 86.7%

Qua việc phân tích các phiếu trả lời về việc sử dụng thời gian trong ngày cho việc đọc sách, nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin của NDT Thư viện tỉnh Nam Định cho thấy nhu cầu tin của NDT về thời gian đọc sách ở thư viện là rất lớn

Tài liệu điện tử là loại hình tài liệu còn mới mẻ đối với NDT Thư viện tỉnh

Ưu điểm của loại hình tài liệu này là gọn nhẹ, dung lượng lớn, có khả năng biểu đạt nội dung thông tin đa dạng, trực quan, tốc độ truy cập nhanh Kết quả điều tra cho thấy, nhu cầu sử dụng loại hình tài liệu này tại Thư viện ngày một tăng lên nhưng vốn tài liệu điện tử tại thư viện rất ít (chủ yếu là đĩa CD có nội dung văn học, các trang báo mạng) nên chưa thu hút được nhiều NDT đến với loại hình tài liệu này Trong tương lai gần, Thư viện tỉnh đang có những chính sách bổ sung phù hợp để thu thập dược nhiều tài liệu điện tử chất lượng cao, số hóa tài liệu địa chí nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của NDT

NDT của Thư viện có trình độ chuyên môn khác nhau, nhu cầu tin của họ rất

đa dạng, phong phú, đặc biệt là các lĩnh vực trong đời sống xã hội Tuy nhiên, qua việc phân tích phiếu điều tra, phỏng vấn, trao đổi với NDT cho thấy, tỉ lệ đáp ứng nhu cầu nội dung tài liệu ở mức khá (thoả mãn được 77,7% nhu cầu), tỷ lệ đáp ứng mức độ cập nhật thông tin ở mức trung bình (thỏa mãn được 53,5%), tỷ lệ đáp ứng

số lượng bản tài liệu tốt (thỏa mãn được 83,6%)

1.3 Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện tỉnh Nam Định

Vai trò của CNTT trong thư viện, đặc biệt là trong các thư viện tỉnh, thành phố không ngừng gia tăng và ngày càng trở nên cấp thiết Song song với sự phát triển của xã hội và nhu cầu thông tin ngày càng cao, số lượng tài liệu không ngừng tăng, kho tài liệu truyền thống không linh hoạt và khó cập nhật kịp thời nên áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp

Ngày đăng: 03/05/2018, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002), Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về việc “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
2. Bộ Văn hóa - Thông tin, Về công tác thư viện, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác thư viện
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
3. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2007), Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về việc “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2007
4. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2007), Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 về việc “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2007
5. Nguyễn Huy Chương, Lâm Quang Tùng (2005), Vài nét về hoạt động số hóa tài liệu tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo chuyên đề Quản trị và chia sẻ các nguồn tin số hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về hoạt động số hóa tài liệu tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Huy Chương, Lâm Quang Tùng
Năm: 2005
6. Công ty TNHH Giải pháp phần mềm CMC (2008), Giải pháp phần mềm điện tử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phần mềm điện tử
Tác giả: Công ty TNHH Giải pháp phần mềm CMC
Năm: 2008
7. Công ty TNHH Giải pháp phần mềm CMC (2008), Hướng dẫn sử dụng phần mềm thư viện điện tử Ilib 4.0, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phần mềm thư viện điện tử Ilib 4.0
Tác giả: Công ty TNHH Giải pháp phần mềm CMC
Năm: 2008
8. Nguyễn Phương Cương (2011), Ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện tại Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện tại Viện Khoa học và Công nghệ quân sự
Tác giả: Nguyễn Phương Cương
Năm: 2011
9. Lê Kim Hoàn (2010), Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động của Trung tâm thông tin tư liệu trường ĐH Hàng Hải, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về hoạt động tổ chức, quản lý thư viện, Hà Nội, tr.139-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động của Trung tâm thông tin tư liệu trường ĐH Hàng Hải
Tác giả: Lê Kim Hoàn
Năm: 2010
10. Nguyễn Hữu Hùng (2002), Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin trong bối cảnh thông tin mới, Kỷ yếu hội thảo Khoa học về Ứng dụng CNTT trong công tác thư viện nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin trong bối cảnh thông tin mới
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2002
11. Nguyễn Hữu Hùng (2006), “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam”, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (5), tr.5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam”, "Tạp chí Thông tin & Tư liệu
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2006
12. Tạ Bá Hưng, Nguyễn Điến…(2005), “Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm cho thư viện điện tử ở Việt Nam”, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (2), tr.6-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm cho thư viện điện tử ở Việt Nam”, "Tạp chí Thông tin & Tư liệu
Tác giả: Tạ Bá Hưng, Nguyễn Điến…
Năm: 2005
13. Vũ Thị Xuân Hương (2000), Ứng dụng tin học trong hoạt động Thư viện tỉnh Bắc Giang: Thực trạng và tương lai phát triển, Luận văn thạc sĩ khoa học thư viện, trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong hoạt động Thư viện tỉnh Bắc Giang: Thực trạng và tương lai phát triển
Tác giả: Vũ Thị Xuân Hương
Năm: 2000
14. Vương Thanh Hương (2004), “Tìm hiểu nguyên nhân thường gặp dẫn đến hiệu quả thấp khi triển khai ứng dụng CNTT”, Tạp chí Thông tin & tư liệu, (4), tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguyên nhân thường gặp dẫn đến hiệu quả thấp khi triển khai ứng dụng CNTT”, "Tạp chí Thông tin & tư liệu
Tác giả: Vương Thanh Hương
Năm: 2004
15. Trần Thị Phương Lan (2005), “Tin học hóa thư viện”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, (11), tr. 35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin học hóa thư viện”, "Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trần Thị Phương Lan
Năm: 2005
16. Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán Việt (có chú giải từ tố), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán Việt (có chú giải từ tố)
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
17. Đặng Thị Mai (2007), “Quá trình 20 năm tin học hóa và xây dựng thư viện điện tử tại Thư viện Quốc gia và hệ thông thư viện công cộng Việt Nam 1986- 206. Xu hướng phát triển đến năm 2020”, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (10), tr. 19-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình 20 năm tin học hóa và xây dựng thư viện điện tử tại Thư viện Quốc gia và hệ thông thư viện công cộng Việt Nam 1986-206. Xu hướng phát triển đến năm 2020”, "Tạp chí Thông tin & Tư liệu
Tác giả: Đặng Thị Mai
Năm: 2007
18. Nguyễn Viết Nghĩa (2012), Hệ quản trị thư viện tích hợp. Đề cương bài giảng, chương trình cao học ngành thông tin – thư viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ quản trị thư viện tích hợp
Tác giả: Nguyễn Viết Nghĩa
Năm: 2012
19. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2001), Pháp lệnh thư viện, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thư viện
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2006), Luật Công nghệ thông tin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công nghệ thông tin
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm