Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)Giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN PHƯƠNG ĐẠI
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở XÃ QUỐC KHÁNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH,
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN PHƯƠNG ĐẠI
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở XÃ QUỐC KHÁNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH,
TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Quyết
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của người hướng dẫn khoa học Những thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện nghiêm túc, mọi số liệu được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và khách quan
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Đại
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, tới tất cả các thầy, cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Trần Văn Quyết - người
đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài thạc sỹ
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo UBND xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã giúp đỡ cung cấp thông tin thứ cấp và hỗ trợ trong quá trình tác giả thu thập số liệu, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Đại
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 5
5 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Quan niệm về hộ nông dân, hộ dân tộc thiểu số 7
1.1.2 Vai trò của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế xã hội vùng biên giới 8
1.1.3 Các nguồn lực sản xuất của hộ dân tộc thiểu số 8
1.1.4 Vai trò của đất sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số 16
1.1.5 Nội dung nghiên cứu giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại địa phương 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động DTTS 27
1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo lực lượng lao động 27
1.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn 29
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 31
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 35
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.2.3 Các phương pháp phân tích 37
2.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 38
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh số lượng và cơ cấu lao động nông thôn 38
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô phát triển và cơ cấu các ngành của xã 38
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 39
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh công tác thực hiện giải quyết việc làm 39
2.3.5 Phản ánh trình độ lao động 40
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA CÁC ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở XÃ QUỐC KHÁNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN 41
3.1 Đặc điểm tình hình KTXH của xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 41
3.1.1 Đặc điểm chung của huyện Tràng Định 41
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của xã Quốc Khánh 41
3.1.3 Đặc điểm dân cư và đặc trưng văn hóa của xã Quốc Khánh 44
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế 46
3.2 Đánh giá thực trạng việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 48
3.2.1 Thực trạng lao động xã Quốc Khánh 48
3.2.2 Thực trạng số lượng, cơ cấu lao động theo ngành nghề xã Quốc Khánh 49
3.2.3 Thực trạng về trình độ học vấn, chuyên môn của lao động 51
3.2.4 Thực trạng phân bổ lao động theo độ tuổi, giới tính 52
3.3 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại xã Quốc Khánh 54
3.3.1 Công tác đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho người lao động 55
3.3.2 Chương trình tập huấn khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật 58
3.3.3 Phát triển các ngành kinh tế 61
Trang 73.3.4 Đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng 64
3.3.5 Hỗ trợ vay vốn 65
3.3.6 Hoạt động hướng nghiệp, giới thiệu việc làm 67
3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn xã Quốc Khánh 68
3.4.1 Cơ chế chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước và địa phương 68
3.4.2 Quy mô cơ cấu các ngành kinh tế 69
3.4.3 Yếu tố từ bản thân người lao động 70
3.4.4 Vốn đầu tư và cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế 71
3.4.5 Năng lực và trình độ của cán bộ địa phương 72
3.4.6 Nguồn lực đầu tư cho giải quyết việc làm 73
3.4.7 Quan hệ kinh tế hợp tác 74
3.4.8 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tìm kiếm việc làm của lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh 75
3.5 Đánh giá phân tích kết quả, những vấn đề bất cập, tồn tại trong giải quyết việc làm ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 77
3.5.1 Đạt được 77
3.5.2 Tồn tại 77
3.5.3 Những nguyên nhân dẫn đến các tồn tại trong giải quyết việc làm thời gian qua 78
Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT THỰC TRẠNG THIẾU VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DTTS Ở XÃ QUỐC KHÁNH, HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN 80
4.1 Quan điểm, định hướng giải quyết thiếu việc làm của lao động dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, của tỉnh Lạng Sơn 80
4.1.1 Quan điểm giải quyết việc làm cho lao động DTTS 80
4.1.2 Phương hướng sử dụng lao động và giải quyết việc làm 81
4.2 Giải pháp giải quyết vấn đề việc làm cho lao động DTTS ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 82
Trang 84.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực, chất lượng của nguồn lao động 82
4.2.2 Ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất 86
4.2.3 Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 87
4.2.4 Giải pháp về đầu tư nâng cao, cải tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng cho giải quyết việc làm 89
4.2.5 Giải pháp hỗ trợ vốn 89
4.2.6 Tạo việc làm cho lao động thông qua xuất khẩu lao động,giới thiệu việc làm 91
4.3 Kiến nghị giải quyết các vướng mắc về việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 91
4.3.1 Kiến nghị với Nhà Nước, UBND các cấp của Lạng Sơn 91
4.3.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Dân tộc thiểu số Đơn vị tính Giải quyết việc làm Khu công nghiệp Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phát triển bình quân
Số lượng Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thương mại – dịch vụ
Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Diện tích cơ cấu các loại đất của xã Quốc Khánh năm 2016 43
Bảng 3.2 Tình hình lao động của xã và 3 điểm nghiên cứu năm 2014 – 2016 50
Bảng 3.3 Lực lượng lao động phân theo trình độ văn hóa và chuyên môn 51
Bảng 3.4 Lao động theo giới tính và độ tuổi theo khảo sát 53
Bảng 3.5 Thực trạng giải quyết việc làm thông qua hoạt động đào tạo nghề năm 2016 55
Bảng 3.6 Thực trạng tìm kiếm việc làm của lao động điều tra năm 2016 57
Bảng 3.7 Đánh giá của lao động về công tác dạy nghề 57
Bảng 3.8 Các lớp tập huấn khuyến nông của xã giai đoạn 2014 - 2016 58
Bảng 3.9 Đánh giá của lao động điều tra về chương trình tập huấn khuyến nông 60
Bảng 3.10 Tình hình chăn nuôi tại xã năm 2016 61
Bảng 3.11 Thực trạng giải quyết việc làm thông qua hoạt động hỗ trợ vay vốn của lao động điều tra 66
Bảng 3.12 Thực trạng giải quyết việc làm qua chương trình hướng nghiệp,giới thiệu việc làm năm 2016 67
Bảng 3.13 Cơ cấu các ngành kinh tế của xã từ 2014 - 2016 70
Bảng 3.14 Thực trạng trình độ cán bộ cơ sở xã Quốc Khánh năm 2016 73
Bảng 3.15 Sự ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng đến việc làm 74
Bảng 3.16 Thống kê mô tả các biến phản ánh đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh hộ gia đình của người lao động 75
Bảng 3.17 Tác động biên của các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp của lao động DTTS ở xã Quốc Khánh 76
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng lao động việc làm của xã Quốc Khánh 49
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Miền núi phía Bắc có diện tích 95.264 km2, chiếm 31% diện tích cả nước, gồm 14 tỉnh Là vùng có vị trí chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng của quốc gia, có địa hình phức tạp Dân số 11.064.449 người, chiếm 13,1% cả nước Mật độ thấp 60-90 người/km2 DTTS có 5.949.436 người, chiếm 61% dân số vùng và 53% DTTS cả nước; có 30/54 dân tộc, nhiều tỉnh, tỷ lệ DTTS trên 80% Kinh tế truyền thống chủ yếu là: ruộng nước, nương rẫy Trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động sản xuất chủ yếu Kinh tế tự nhiên vẫn có vai trò quan trọng trong cuộc sống một vài vùng, nhóm dân tộc Văn hóa truyền thống với 2 vùng: Việt Bắc với văn hóa dân tộc Tày, Nùng và Mông, Dao, Giáy; Tây Bắc với văn hóa dân tộc Thái, Mường Trong hơn 30 năm qua (kể từ ngày thống nhất đất nước), nhà nước đã có những sự thay đổi căn bản trong nhận thức và áp dụng thực tiễn đối với phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và khu vực miền núi phía Bắc nói riêng Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số thời gian qua cũng bộc lộ một số vấn đề trong giải quyết việc làm Tình trạng thiếu việc làm đang là rào cản trong quá trình đảm bảo sinh kế và ổn định xã hội tại các vùng đồng bào DTTS
Tình trạng thiếu việc làm làm cho đời sống của người DTTS bị ảnh hưởng trực tiếp, qua đó làm cho thu nhập của họ không ổn định, số hộ dân nghèo có xu hướng tăng Chính vì vậy, nghiên cứu chính sách nhằm giải quyết vấn đề sản xuất
và việc làm cho người DTTS là hết sức cấp bách Đặc biệt là những người DTTS nghèo vùng biên giới - khu vực miền núi phía Bắc
Lạng Sơn là tỉnh có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc Tổ quốc Theo số liệu thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Lạng Sơn, đến cuối năm 2016, dân số toàn tỉnh là 770 nghìn người, số người trong độ tuổi lao động là 490 nghìn người Trong đó, lao động trong ngành nông - lâm nghiệp chiếm 77,64%, lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 3,67%, còn lại là lao động dịch vụ và các hoạt động khác Lạng Sơn gồm 7 dân tộc chính (Nùng chiếm 43.8%; Tày chiếm 35.2%; Kinh chiếm 15.2%; Dao
Trang 13chiếm 3.5% còn lại là các dân tộc Hoa, Mông, Sán Chay, ) Đây là một tỉnh có nhiều huyện giáp biên giới với Trung Quốc (như Tràng Định, Cao Lộc, Văn Lăng…), là nơi tập trung sinh sống của các hộ gia đình là người dân tộc thiểu số Với nguồn nhân lực cho phát triển ngành nông lâm nghiệp, tuy nhiên thực trạng thiếu đất sản xuất đang cản trở sự phát triển KTXH của các địa phương vùng biên giới của tỉnh Lạng Sơn Thực vậy, hiện nay diện tích đất nông nghiệp là 64.630,61
ha chiếm 7,59%; đất lâm nghiệp có rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) là 172.635,01 ha chiếm 21,08 %; đất chuyên dùng là 10.787 ha, chiếm 1,33 %; đất chưa sử dụng và các loại đất khác là 565.969, 7 ha chiếm 69,13%
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển KTXH ở các địa phương vùng biên giới để đảm bảo ổn định về kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng của Quốc Gia, trong những năm qua, Đảng và nhà nước có nhiều chính sách đầu tư nhằm phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa xã hội các tỉnh này nhưng kinh tế của vùng đồng bào dân tộc gần biên giới vẫn gặp nhiều khó khăn Trong đó có nhiều nguyên nhân như: thiết đất sản xuất (chiếm 57% các hộ nghèo); thiếu nước sản xuất
và sinh hoạt (chiếm tới 54%); thiếu vốn, thiếu kỹ thuật sản xuất…Những nguyên nhân này làm cho người dân tộc thiểu số vùng biên giới tiếp giáp với Trung Quốc
đã vượt biên giới đi làm thuê hoặc di cư tới vùng khác ở Tây Nguyên nhằm tìm kiếm việc làm
Quốc Khánh là cửa ngõ phía Đông biên giới của huyện Tràng Định, với vị trí như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa với phía Trung Quốc, thúc đẩy việc phát triển hoạt động thương mại Song cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác an ninh quốc phòng, cũng như quản lý đất đai với chiều dài đường biên giới là 14 km Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động đồng bào dân tộc thiểu số của xã thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như: tình trạng dư thừa lao động và thiếu việc làm trên địa bàn xã còn tương đối cao; thời gian rảnh rỗi của nông hộ còn khá nhiều; thu nhập bình quân của hộ chưa cao, đặc biệt là các hộ nghèo mức thu nhập của họ quá thấp so với mặt bằng chung của xã; cơ cấu lao động của xã mất cân đối, thiếu lao động kỹ thuật, lao động
đã qua đào tạo Vì vậy gây nên tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động Ngoài ra, số
Trang 14người không có việc làm ở xã hầu hết là lao động phổ thông, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế hiện nay của xã; do điều kiện cơ sở vật chất của xã còn thiếu, vì vậy quy mô về số lượng đào tạo còn ít, ngành nghề đào tạo còn hạn chế.Số lao động có việc làm mới còn ít, công tác đào tạo nghề đã được các ngành, các cấp quan tâm song kết quả đạt được còn thấp Công tác đào tạo nghề chưa thực sự gắn với nhu cầu do thiếu thông tin thị trường lao động Việc tư vấn học nghề cho người lao động chưa gắn với khả năng của họ
mà theo xu hướng ngành đang được nhiều người ưa chuộng trên thị trường Các trung tâm giới thiệu việc làm liên kết với xã còn hạn chế về số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, nhân viên trung tâm chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường lao động
Với tầm quan trọng của việc giải quyết thiếu việc làm cho người lao động đang sinh sống ở vùng biên giới phía Bắc nói chung và người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn nói riêng là hết sức quan trọng Để có cái nhìn về thực trạng thiếu thiếu việc làm và sinh kế của hộ dân tộc thiểu số ở vùng biên giới phía Bắc, là học viên cao học chuyên ngành quản lý kinh tế em lựa chọn địa bàn xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng sơn để thực hiện nghiên cứu Vì đây là một xã biên giới của huyện Tràng Định với 28 thôn bản, trong đó có 9 thôn giáp biên, trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự phấn đấu nỗ lực của quân và dân trên địa bàn nên diện mạo của xã Quốc Khánh đã có những đổi thay đáng kể Đây là địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống (05 dân tộc chính: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, chiếm 96% tổng dân số toàn huyện) với sinh kế phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên để nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là tìm ra những tồn tại và hạn chế trong chính sách giải quyết thiếu việc làm cho lao động dân tộc thiểu số hiện nay ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định và từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết các tồn tại đó
2 Mục tiêu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn về thiếu việc làm cho người dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định Từ đó góp phần vào
Trang 15phát triển kinh tế xã hội bền vững khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam nói riêng và huyện Tràng Định nói riêng
2.2 Mục tiêu cụ thể
DTTS;
xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng sơn
cho người lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
tộc thiểu số xã Quốc khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc làm cho lao động đồng bào dân tộc thiểu số xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trang 163.2.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng việc làm và các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm của các hộ dân tộc thiểu số giáp biên giới xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Trên cơ sở phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến thiếu việc làm của hộ dân tộc thiểu số ở địa bàn nghiên cứu, đề tài đề xuất một
số giải pháp nhằm giải quyết ảnh hưởng của việc thiếu việc làm, giải pháp giải quyết việc làm cho hộ dân tộc thiểu số vùng khó khăn Qua đó tạo việc làm, nâng
cao thu nhập cho hộ nông dân trong vùng nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực; là cơ sở giúp cho UBND huyện tràng Định đánh giá thực trạng việc làm và các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm của các hộ dân tộc thiểu số vùng biên giới xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn hiện nay, những thuận lợi và khó khăn của người lao động dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng biên giới Từ đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay
Đồng thời, đề tài sẽ là tài liệu giúp cho cấp ủy, chính quyền và tổ chức ở huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, giải quyết vấn đề việc làm phù hợp và có hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng
Góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn nhằm thực hiện hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo của xã Quốc Khánh huyện Tràng Định đến năm 2020
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm cho
lao động dân tộc thiểu sổ
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 17Chương 3: Thực trạng việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số xã Quốc
Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp giải quyết thực trạng thiếu
việc làm cho lao động dân tộc thiểu số ở xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
thống kinh tế lớn hơn”
1.1.1.2 Kinh tế hộ nông dân
- Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế có qui mô hộ gia đình, trong đó các hoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình
- Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộ mọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
1.1.1.3 Đặc điểm sản xuất của hộ dân tộc thiểu số
Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân Dựa vào các khái niệm và các đặc trưng của kinh tế hộ nông dân ta có thể thấy các đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân là: - Hoạt động của kinh tế hộ nông dân chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh
tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống - Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế hộ nông dân - Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh
Trang 19trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ [16]
- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó - Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao động trong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động
1.1.2 Vai trò của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế xã hội vùng biên giới
Vai trò của phát triển kinh tế hộ nông dân Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ) Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 05 – 04 - 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ- CP, ngày 03-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với với quản lý sảnxuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản [5]
1.1.3 Các nguồn lực sản xuất của hộ dân tộc thiểu số
Trang 20Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ từ khi con người tiến hành khai phá đưa đất hoang hoá vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho con người, thì ruộng đất đã kết tinh lao động con người và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động
Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn Đồng thời, khi xác định các chính sách kinh tế có liên quan đến đất nông nghiệp, cũng cần lưu ý đến đặc điểm này
Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không có giới hạn
Số lượng diện tích đất đai đưa vào canh tác bị giới hạn bởi không gian nhất định, bao gồm: giới hạn tuyệt đối và giới hạn tương đối Diện tích đất đai của toàn
bộ hành tinh, của từng quốc gia, của từng địa phương là con số hữu hạn, đó là giới hạn tuyệt đối của đất đai Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tuỳ thuộc điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà diện tích đất nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm tỷ lệ phần trăm thích hợp Đó là giới hạn tương đối, giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự nhiên ở nước ta tỷ lệ nông nghiệp năm 2000 chiếm trên 28,38% tổng diện tích tự nhiên, khả năng đối đa đưa lên 35%
Vì thế cần phải biết quý trọng và sử dụng hợp lý ruộng đất, sử dụng một cách tiết kiệm, hạn chế việc chuyển dịch ruộng đất sang sử dụng mục đích khác
Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không giới hạn Nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn Đây là con đường kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng lên về nông sản phẩm cung cấp cho xã hội loài người
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết, ngược lại ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu này có vị trí cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và điều kiện xã hội của mỗi vùng Để kết hợp với
Trang 21ruộng đất, người lao động và các tư liệu sản xuất khác phải tìm đến với ruộng đất như thế nào là hợp lý và có hiệu quả Muốn thế, một mặt phải quy hoạch các khu vực canh tác, bố trí các trung tâm dịch vụ và phân bố các điểm dân cư hợp lý Mặt khác phải cải thiện điều kiện tự nhiên, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và hệ thống cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện để sử dụng đất có hiệu quả, nâng cao đời sống của nông dân và từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn
Ruộng đất có chất lượng không đồng đều giữa các khu vực và ngay trên từng cánh đồng Đó là kết quả, một mặt do quá trình hình thành đất, mặt khác quan trọng hơn là do quá trình canh tác của con người Vì thế trong quá trình sử dụng cần thiết phải cải tạo và bồi dưỡng đất, không ngừng nâng dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng khu vực để đạt năng suất cây trồng cao
Ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc hao mòn vô hình Cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư liệu sản xuất mới,chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn, còn ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn, nếu sử dụng hợp lý, chất lượng ruộng đất ngày càng tốt hơn, sức sản xuất của ruộng đất lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác Dĩ nhiên việc sử dụng ruộng đất có đúng đắn hay không là tuỳ thuộc vào chính sách ruộng đất của Nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - công nghệ của từng giai đoạn phát triển nhất định
Những vấn đề có tính quy luật về vận động của ruộng đất trong nền kinh
tế thị trường
Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên đồng thời là yếu tố cần thiết trong quá trình sản xuất Sự vận động của ruộng đất vừa chịu sự tác động của quy luật tự nhiên vừa chịu sự tác động của luật kinh tế, biểu hiện trên các khía cạnh mang tính quy luật sau:
Quy luật ruộng đất ngày càng khan hiếm và độ màu mỡ tự nhiên của ruộng đất
có xu hướng giảm sút
Trang 22Với tổng quỹ đất có hạn, dân số không ngừng tăng làm cho diện tích đất đai bình quân đầu người giảm sút, tình trạng đó dẫn đến sự khan hiếm về ruộng đất ngày càng gay gắt Cùng với sự khan hiếm về quỹ ruộng đất, độ màu mỡ tự nhiên của ruộng đất cũng có xu hướng giảm sút do mưa, gió lụt bão làm xói mòn, rửa trôi lớp đất màu làm trơ sỏi đá, đất bị sụt lỡ và chính sự khai thác thiếu ý thức của con người cũng làm cho ruộng đất bị kiệt quệ
Mâu thuẫn gay gắt giữa chủ đất và nhà tư bản kinh doanh trong hợp đồng thuê đất
do tranh giành địa tô chênh lệch dẫn đến kết cục là ruộng đất bị khai thác kiệt quệ
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ có tác động trên hai mặt: mặt tích cực là tăng năng suất cây trồng, song mặt khác chính những tiến bộ khoa học và công nghệ đó ứng dụng vào canh tác lại làm chất đất biến động, làm mất đi độ mầu
mỡ của thiên nhiên ban phú, công năng của đất mang nặng tính nhân tạo Nếu do nguyên nhân nào đó, con người không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, hoặc đưa vào với mức độ thấp hơn thì năng suất cây trồng
sẽ giảm sút Như vậy, những yếu tố quy định tính quy luật giảm sút màu mỡ đai đai phụ thuộc vào cả tự nhiên, kinh tế và kỹ thuật
Các yếu tố của sản xuất như vốn, lao động và ruộng đất đều trở thành hàng hoá trong điều kiện kinh tế thị trường
Kinh tế hàng hoá phát triển qua hai giai đoạn: Kinh tế hàng hoá giản đơn và kinh tế thị trường Kinh tế hàng hoá giản đơn là kinh tế hàng hoá của những người nông dân, thợ thủ công cá thể tiến hành trên cơ sở sức lao động và tư liệu sản xuất của bản thân người sản xuất Trong quá trình phát triển, kinh tế hàng hoá giản đơn tất yếu chuyển thành kinh tế thị trường
Khác với kinh tế hàng hoá giản đơn, kinh tế thị trường phát triển ở một phạm
vi và trình độ cao hơn, mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều trở thành hàng hoá, trao đổi trên thị trường, trong đó có đất đai
Tập trung ruộng đất có xu hướng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá
Tập trung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ
sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy
Trang 23mô ruộng đất lớn hơn Tập trung ruộng đất diễn ra theo hai con đường; Một là hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua việc xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp ở nước ta như trước đây
Hai là, con đường sáp nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt cho một chủ sở hữu cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước ta bản trong giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản mà tiêu biểu là nước Anh
Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt: một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai Mặt khác tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư thâm canh tăng nâng suất cây trồng Đó là con đường tất yếu để giảm bộ phận lao động tất yếu, chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, trước hết là công nghiệp, nó sẽ diễn ra khá mạnh trong thời
kỳ công nghiệp hoá, đồng thời có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ đi đối với quá trình chuyển đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng ngày càng tăng
Một mặt đất nông nghiệp chuyển sang xây dựng kết cấu hạ tầng (đường sá giao thông), xây dựng nhà máy, xí nghiệp, cửa hàng; mặt khác quá trình đô thị hoá làm cho dân cư thành phố tăng nhanh dẫn đến nhu cầu xây dựng nhà ở dân cư, công
sở ngày càng lớn
1.1.3.2 Lao động
Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xã hội Việc nghiên cứu nguồn nhân lực trong nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp cũng như đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trước hết cần làm rõ thế nào là nguồn nhân lực trong nông nghiệp? Nguồn nhân lực trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 và những người
Trang 24trên và dưới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp) Như vậy về lượng của nguồn nhân lực trong nông nghiệp khác ở chỗ, nó không phải chỉ bao gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên và dưới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động Về chất lượng bao gồm thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể là trình độ sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ văn hoá, nghiệp vụ và tay nghề của người lao động
Nguồn nhân lực trong nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác, trước hết mang tính thời vụ cao là nét đặc trưng điển hình tuyệt đối không thể xoá bỏ, nó làm phức tạp quá trình sử dụng yếu tố nguồn nhân lực trong nông nghiệp Là thứ lao động tất yếu, xu hướng có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số lượng và được chuyển một bộ phận sang các ngành khác, trước hết là công nghiệp với những lao động trẻ khoẻ có trình độ văn hoá và kỹ thuật Vì thế số lao động ở lại trong khu vực công nghiệp thường là những người có độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động xã hội Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Quá trình biến đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn
Giai đoạn đầu diễn ra khi đất nước bắt đầu công nghiệp hoá, nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp có tăng lên, một số lao động nông nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất - dịch vụ Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối còn tăng lên Giai đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nước quyết định Đài loan là nơi có tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao với thời gian dài Trong 40 năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Đài loan tăng trên 70 lần Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đài loan trở thành một nền công nghiệp mới Năm 1952 nông nghiệp chiếm 35,9%,
Trang 25công nghiệp chiếm 18,0% và dịch vụ chiếm 46,1% trong tổng GDP Cùng thời gian này dân cư nông nghiệp có 4.257 ngàn người, chiếm 52,4% dân số Đài loan Đến năm 1970 tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống 17,5% và công nghiệp tăng lên 34,7% trong GDP; dân số nông nghiệp tăng lên 5.997 ngàn người và chiếm 40,9% Đài loan kết thúc giai đoạn I, giai đoạn lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, phải mất 20 năm Nước ta đang ở giai đoạn thứ nhất, tỷ trọng nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đã có xu hướng giảm xuống từ 72% năm 1993 xuống 68,64% năm 1998, nhưng số lao động còn tăng lên, từ 20.482,9 ngàn lao động tăng lên 25.302 ngàn lao động cùng thời gian tương tự
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được các ngành khác thu hút hết Vì thế giai đoạn này số lượng lao động giảm cả tương đối và tuyệt đối
1.1.3.3 Vốn
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang phạm vi lưu thông và trở về sản xuất Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho nhân công đến sản phẩm hàng hoá và trở lại hình thức tiền tệ v.v Như vậy vốn sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm sau:
Trong cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học, như cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản Trên cơ sở những tính quy luật sinh học, các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật
Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh của nó không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi Cơ cấu
Trang 26và chất lượng của vốn sản xuất phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượng sản xuất là sinh vật
Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định, tạo ra
sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài của vốn lưu động và làm cho vốn ứ đọng Mặt khác sự cần thiết và có khả năng tập trung hoá cao về phương tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với công nghiệp
Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên, nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn
Một bộ phận sản xuất nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp, do vậy vòng tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và không đầy đủ Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ phận vốn không được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật của chúng Vòng tuần hoàn đầy
đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm
Trong số các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc, dân tộc Dao có dân số khá đông, là đại diện cho các dân tộc sống ở khu vực miền núi vùng cao có truyền thống canh tác trên đất dốc Cuộc sống của dân tộc này từ bao đời nay, phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên Chính vì vậy đồng bào đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quản lí tài nguyên… và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Họ rất am hiểu về môi trường địa phương, nhưng ưu điểm này ít người biết đến Do
Trang 27vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu tri thức bản địa còn ẩn chứa trong nền văn hóa của dân tộc Dao là điều cần thiết, để từ đó, kết hợp phát huy tính tích cực của tri thức bản địa với những kiến thức khoa học, nhằm góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở khu vực miền núi
Trong nghiên cứu của Trần Văn Điền, Hồ Ngọc Sơn (2014) đã chỉ ra rằng: Người dân tộc thiểu số còn sử dụng nhiều giống cây trồng, vật nuôi bản địa có tính thích ứng cao với khí hậu địa phương (hạn, rét); Sử dụng hợp lý KTBĐ trong sản xuất, ứng phó với BĐKH góp phần xóa đói giảm nghèo ; KTBĐ chưa được coi trọng trong các chương trình, chính sách phát triển kinh tế xã hội, ứng phó với BĐKH tại địa phương ; Một số KTBĐ cần có những thay đổi, điều chỉnh cho phù
hợp với BĐKH [5]
1.1.4 Vai trò của đất sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số
Cả nước hiện có 56 tỉnh, thành, với tổng số 463 huyện và 5.453 xã có đồng bào dân tộc thiểu số sống thành cộng đồng làng, bản, phum, sóc Với 53 dân tộc khác nhau (không kể dân tộc Kinh), tổng dân số dân tộc thiểu số khoảng gần 12 triệu người, (bằng 1,3 triệu hộ), chiếm trên 14,4% dân số cả nước
Đồng bào sống chủ yếu dựa vào nông, lâm và ngư nghiệp Nguồn thu nhập phi nông nghiệp rất hạn chế, vì thế đất canh tác có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với họ Những năm qua từ nhiều nguồn quỹ, đất Chính phủ và các địa phương đã giải quyết đất ở và đất sản xuất cho các hộ đồng bào, thông qua các chính sách như: 132,
134, 74, 33, 755… Hàng trăm dự án, đề án của UBND các tỉnh đã được ban hành, nhằm hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Các chương trình
và chính sách trên đã góp phần ổn định cuộc sống, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Kết quả, tỷ lệ
hộ nghèo ở các thôn, bản, xã đặc biệt khó khăn đã giảm xuống còn trên 45%
Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai thời gian qua vẫn chưa đạt được hiệu quả như mục tiêu đã
đề ra do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Hiện vẫn còn khoảng gần 300.000 hộ đồng bào thiếu và không có đất ở, đất sản xuất
Trang 281.1.5 Nội dung nghiên cứu giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại địa phương
1.1.5.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm
Nói đến việc làm là nói đến vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Để đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống, người lao động phải thông qua hoạt động sản xuất, chính là người lao động có việc làm Tuy vậy khái niệm về việc làm lại có sự khác nhau, tuỳ vào từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Trước đây trong chế độ quan liêu bao cấp, ở nước ta thì việc làm được xem là những hoạt động lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và các đơn vị kinh tế tập thể Tức là người lao động phải nằm trong biên chế nhà nước thì mới được xem là người có việc làm
Tuy nhiên khi nước ta chuyển đổi cơ chế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết và định hướng của Nhà nước thì quan niệm việc làm
có thay đổi cho phù hợp hơn với cơ chế mới Ngày nay Nhà nước ta quy định rất rõ
về việc làm trong bộ luật Lao động là: "Việc làm là những hoạt động có ích không
bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động" Vậy, theo quan niệm mới này thì tất cả các hoạt động lao động trong mọi thành phần kinh tế, không
bị pháp luật cấm và tạo ra thu nhập từ hoạt động đó được coi là việc làm
Việc làm là hoạt động tạo ra giá trị, của cải vật chất chỉ thông qua hoạt động sản xuất con người mới có điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống "Lao động là nguồn gốc của mọi của cải lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người." Ta có thể thấy việc làm được thể hiện dưới các dạng sau:
- Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác
- Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính
- Việc làm hợp lý: Là công việc mà người thực hiện nhận thấy phù hợp với điều kiện và năng lực của bản thân
Trang 29- Việc làm hiệu quả: Là công việc mà đem lại hiệu quả cao nhất đối với người lao động Cũng từ cách phân chia như vậy, người ta phân chia:
- Việc làm đầy đủ: Là những người có việc làm ổn định và sử dụng hết thời gian làm việc theo mức chuẩn quy định có thu nhậo cao từ việc làm đó
- Thiếu việc làm: Bao gồm những người có việc làm bấp bênh (không ổn định) hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ tham gia không đầy đủ thời gian làm trong ngày, trong năm và hưởng thu nhập rất thấp không đủ sống từ việc làm đó nhưng không thể kiếm được việc làm khác
- Thất nghiệp: Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định: người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
Tạo việc làm
Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Giải quyết việc làm cho người lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển Đảng và Nhà nước
ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề việc làm cho người lao động Đảng và Nhà nước
ta đã khẳng định việc giải quyết việc làm cho người lao động "Giải quyết việc làm
và đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội" Nhà nước hàng năm đang nỗ lực tạo những điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn, giảm thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích để người lao động có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo việc làm cho ngày càng nhiều người lao động có việc làm
Như vậy, để có việc làm trước hết cần hai yếu tố là sức lao động và điều kiện cần thết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả yếu tố xã hội Như vậy, việc làm là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và những điều kiện
sử dụng sức lao động đó Trạng thái phù hợp thể hiện thông qua tỷ lệ chi phí ban đầu với chi phí lao động Quan hệ tỷ lệ này phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Khi trìnhđộ đó thay đổi thì tỷ lệ đó cũng thay đổi theo Chính vì vậy, quá trình tạo việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất Có thể mô phỏng quy
mô tạo việc làm theo phương trình sau:
Trang 30Y = f (C,V,X ) Trong đó:
Y: Số lượng việc làm được tạo ra
1.1.5.2 Chính sách giải quyết việc làm
Chính sách việc làm Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các
cho lực lượng lao động đó Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, từ những năm 90 của thế kỷ XX, Nhà nước ta đã thể chế hoá nhiều nội dung
về việc làm bằng Hiến pháp, các đạo luật và nhiều văn bản pháp luật khác
Song song đó, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành và thực thi như: huy động nguồn vốn đầu tư phát triển, đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm; lập Quỹ Quốc gia về việc làm (năm 1992) để cho vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ; hình thành Quỹ Giải quyết việc làm địa phương; hình thành và phát triển hệ thống các Trung tâm dịch vụ việc làm, nay là các Trung tâm giới thiệu việc làm (TTGTVL) và các cơ sở đào tạo nghề xã hội; phát triển nhiều hình thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng; quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm giải quyết việc làm với thu nhập cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề, tác phong
Trang 31công nghiệp cho người lao động từ đó, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về tạo việc làm cho người lao động, qua đó, đã huy động được mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển và tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bước đầu chuyển đổi cơ cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực
Tuy nhiên trong những năm qua việc thực hiện chính sách còn nhiều bất cập như: Các chính sách được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ, tuy nhiên, việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện Một số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được ban hành, ví dụ như quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa phương, đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật, việc thực hiện các chế độ đối với người lao động,
Trái với quy định, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với kế hoạch tạo việc làm, tuy nhiên, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh
tế - xã hội khi triển khai không gắn với quy hoạch nguồn nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động dẫn đến tình trạng nhiều khi không tuyển được lao động, hoặc có tuyển được nhưng không đáp ứng yêu cầu, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của bản thân các chương trình, dự án đó
Các dự án cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm chủ yếu là
dự án trong lĩnh vực nông nghiệp (chiếm trên 60%), đối tượng vay là các cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp (dưới 10%) nên nhìn chung chưa tạo thêm nhiều việc làm mới; một số dự án cho vay sai mục đích, không đúng đối tượng; nhu cầu vay vốn lớn nhưng nguồn vốn chỉ đáp ứng được 30-35% nhu cầu của nhân dân, cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn chưa hợp lý gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của quỹ
Hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động mang ý nghĩa chính trị - kinh tế - xã hội quan trọng nhưng mức độ quan tâm chưa cao, thể hiện ở chỗ người đưa đi chủ yếu là lao động phổ thông, ý thức kỷ luật còn thấp, tỷ lệ bỏ trốn cao hơn các nước trong khu vực; còn nhiều tiêu cực trong hoạt động XKLĐ… Nguồn kinh phí Nhà nước cũng như địa phương bố trí không đảm bảo theo kế hoạch, ví dụ như Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm qua 5 năm thực hiện mới chỉ được phân bổ vốn đáp ứng 76,9% theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ
Trang 321.1.5.3 Vai trò của giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ dân tộc thiểu
số vùng khó khăn ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
Các chính sách về việc làm đã được ban hành tương đối đầy đủ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính sách chung về việc làm (quyền và nghĩa vụ của người lao động về việc làm, trách nhiệm của Nhà nước về việc làm, ); Chính sách hỗ trợ để tạo và tự tạo việc làm cho người lao động (Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dự án cho vay giải quyết việc làm ); Chính sách hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ờ nước ngoài (cho vay tín dụng, bồi dưỡng kiến thức, nghề nghiệp trước khi đi lao động ở nước ngoài, )
Với hệ thống chính sách việc làm như vậy đã tạođiều kiện thúc đẩy đa dạng hóa các hình thức kết nối cung cầu lao động thông qua các trung tâm dịch vụviệc làm Đến nay, đã có 150 trung tâm giới thiệuviệc làm được thành lập, bình quân mỗi năm tư vấncho trên 603 nghìn lượt người tìm việc làm Nhiềuđịa phương đã tổ chức sàn giao dịch việc làm cóhiệu quả Việc phát triển thị trường lao động đã tạođiều kiện cho người dân di chuyển từ nông thôn rathành thị để tìm kiếm các cơ hội việc làm tốt hơn.Ước tính mỗi năm có khoảng 200 nghìn lao độngnông thôn di
cư tìm việc làm ở đô thị và các khucông nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế
Thành tựu nổi bật của hệ thống chính sách việc làm là tạo ngày càng nhiều việc làm cho xã hội Cơ hội có việc làm của người lao động tănglên, giải tỏa sức ép
về việc làm cho người lao độngtrong bối cảnh lực lượng tham gia lao động ngàycàng tăng
Giai đoạn 2005- 2015, quy mô lực lượng laođộng tăng mạnh, từ 39,3 triệu người năm 2005 lên 50,5 triệu người năm 2015, tốc độ tăng bình quân2,6%/năm, bằng 2 lần tốc độ tăng dân số
Xét về giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao độngcả nam và nữ đều có xu hướng tăng, tuy nhiên tốcđộ tăng của nam cao hơn của nữ Điều này nói lênchính sách việc làm cần phải chú ý đối với nữ giới
Số việc làm ở nước ta thời gian qua nhìn chung tăng tương đối cao Trước năm
2008, số việc làmgia tăng hàng năm bình quân đạt từ 1,01-1,16 triệuviệc làm/năm Năm 2008, khủng hoảng kinh tế đãlàm cho số việc làm gia tăng chậm lại, cả nước chỉ tăng thêm 882.000 việc làm Trong bối cảnhsuy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009, dù
Trang 33tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009 không cao so với các năm trước đó nhưng nền kinh tế vẫn tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động
Tổng số việc làm tăng lên, việc làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh hơn ngành nông nghiệp Điều này phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Lao động đang làm việc chia theo nghề nghiệp cũng có những thay đổi nhất định
Dịch chuyển cơ cấu việc làm không những chỉ diễn ra về số lượng mà còn về chất lượng Trong khi lao động đang làm việc theo một số ngành nghề (như các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đon vị; chuyên môn kỹ thuật bậc cao; nhân viên gồm chuyên môn sơ cấp, kỹ thuật làm việc tại văn phòng, bàn giấy) dịch chuyển không đáng kể, thì ở một số ngành nghề (như nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bán hàng có kỹ thuật; lao động có kỹ thuật trong nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng đáng kể, nhất là trong hai năm 2009 và 2010 Lao động phổ thông giảm cả tương đối và tuyệt đối Năm 2007, cả nước có trên 28.122 nghìn lao động làm các nghề giản đơn, chiếm 61,7% Năm 2010, giảm xuống còn 19.444 nghìn người, chiếm 39,5% tổng số lao động đang làm việc Điều này nói lên nước ta đang trong quá trình chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu
Lao động đang làm việc chia theo vị thế công việc cũng có sự thay đổi nhất định từ năm 2008- 2010 Lao động làm công ăn lương có xu hướng tăng, nhưng xu hướng này chưa chắc đã phản ánh sự gia tăng của những cơ hội việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm bền vững Xét theo tiêu chí hiệu quả thì sự tăng lên này không có nghĩa là tích cực
Lao động tự làm và lao động trong hộ gia đình không hưởng tiền lương, tiền công còn chiếm tỷ lệ lớn Đây là những lao động “dễ bị tổn thương” hoặc có nguy
cơ thiếu việc làm thường xuyên Chính sách việc làm cần phải lưu ý tới đổi tượng này Việc làm của các đối tượng này thời gian qua có xu hướng giảm Lao động tự làm năm 2008 là 21.792 nghìn người, chiếm 46,9% số lao động có việc làm Đến năm 2010 giảm xuống còn 21.583 nghìn người, chiếm 43,9% Còn lao động trong
hộ gia đình không hưởng tiền lương, tiền công năm 2008 là 8.519 nghìn người,
Trang 34chiếm 18,3% số lao động có việc làm, đến năm 2010 giảm xuống còn 7.553 nghìn người, chiếm 15,4%
Việc làm tăng góp phần giảm nghèo và công bằng xã hội cũng được cải thiện
Tỷ lệ nghèo chung của cả nước đã giảm nhanh, từ 37,4% năm 1998 xuống còn 14% năm 2008 và còn 9,4% năm 2010 Giảm nghèo đạt được ở cả khu vực thành thị và nông thôn, tỷ lệ nghèo từ mức trên 45% năm 1998 xuống còn 13% năm 2010
Việt Nam gần như đã giải quyết được vấn đề đói trong khu vực thành thị, với
tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm còn dưới 1% (năm 2008) Tuy nhiên, vẫn còn khoảng gần 10% số hộ thiếu ăn, đứt bữa trong khu vực nông thôn
Thu nhập bình quân của hộ nghèo cũng có xu hướng tăng lên Chỉ số khoảng cách nghèo, thể hiện mức chênh lệch của chi tiêu bình quân của số hộ nghèo so với chuẩn nghèo chung, đạt mức rất thấp vào năm 2008 (0,5% trong khu vực thành thị
và 4,6% so với khu vực nông thôn)
1.1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới ảnh hưởng dến giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số
* Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái có ảnh hưởn rất lớn đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao ñộng nói chung và người lao ñộng dân tộc thiểu số nói riêng Nếu ñiều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi, sẽ có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế - xã hội đầu tư và như vậy nơi đây sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với người lao động sống ở những nơi điều kiện
tự nhiên bất lợi (sa mạc, vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo ) Không những thế,
ở những vùng không có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì hiệu quả của những chương trình kinh tế - xã hội, những dự án đầu tư cũng không cao, nên cũng cản trở tới quá trình giải quyết việc làm cho người lao động
Như chúng ta đã thấy, ở Việt Nam phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở những nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, chủ yếu là ở miền núi, chỉ một số ít dân tộc thiểu số sống ở đồng bằng Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số, những chương trình
Trang 35giải quyết việc làm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là nguồn vốn của Nhà nước Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên việc thu hút đầu tư tư nhân để giải quyết việc làm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số là rất hạn chế
Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài Vấn
đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm Đồng thời, phải có giải pháp khắc phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi
và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được mô trường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động sấu do biến động môi trường Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện để phát triển bền vững
* Nhân tố về trình độ phát triển kinh tế
Nền sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động thấp, đại bộ phận người dân còn sản xuất nương rẫy và trình độ dân trí thấp khó chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số Nó làm cho hiệu quả sản xuất không cao dẫn đến kết quả của giải quyết việc làm cũng không bền vững Trình độ phát triển kinh tế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước, năng suất lao động thấp đã gây khó khăn trong vấn đề tích lũy vốn nội tại của vùng để mở rộng sản xuất Điều này dẫn đến kết quả là những việc làm cũ thì năng suất không cao, những việc làm mới thì chậm được mở rộng
* Nhân tố Dân số
Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của vùng dân tộc thiểu số nói riêng Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực
vô giá Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn vượt khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế Đa số các dân tộc thiểu số đều có tập quán
Trang 36thích đông con và còn hạn chế trong nhận thức sức khỏe sinh sản, về công tác dân
số kế hoạch hóa gia đình Điều này sẽ tạo nên những áp lực nhất định về mặt dân số
và xã hội
Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai
* Nhân tố Phong tục tập quán
Phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tác động khá nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và việc giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở cả hai mặt tích cực và hạn chế Hiểu rõ những đặc điểm văn hoá của đồng bào sẽ góp phần cải thiện hoạt động sinh kế, làm tăng hiệu quả những chương trình, chính sách tạo việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số
Trong những phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa của đồng bào có những đặc tính tốt cần phát huy là: Truyền thống yêu lao động, cần cù, chịu khó, tính cộng đồng cao, ý thức đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau, Đó sẽ là những cơ sở, điều kiện cho việc thực hiện các hoạt động giải quyết việc làm Ví dụ: phát huy tính cộng đồng: cách thức quản lý đất đai theo thôn làng và cách bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng
ma, rừng thiêng, là những kinh nghiệm quý giúp quản lý tốt đất đai và bảo vệ tài nguyên môi trường Cần phải vận dụng các giá trị văn hóa này để phát triển các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, cũng cần khắc phục và xoá bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp với xu thế hiện nay như: chủ yếu làm theo kinh nghiệm, tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín, lối canh tác dựa nhiều vào tự nhiên, tính thụ động chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác mà không có ý thức hoặc không biết quản lý và tái tạo tài nguyên Truyền thống quá coi trọng người già và vai trò của đàn ông sẽ làm giảm khả năng sáng tạo của giới trẻ, không lôi cuốn được lớp trẻ, phụ nữ tham gia vào các hoạt động sinh kế mới… Những đặc tính đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số và cũng là nguyên nhân của sự nghèo đói Vì thế để làm tốt công tác giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số cần phải chú ý phát huy những tập quán,
Trang 37phong tục phù hợp và hạn chế, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu trong vùng dân tộc thiểu số
* Nhân tố Giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
+ Về giáo dục - đào tạo:
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học - công nghệ của đất nước đó Trình độ khoa học - công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Người lao động qua quá trình đào tạo
sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm vào định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về
số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công việc
xã hội yêu cầu Trước hết, họ phải là những người được trang bị nhất định về khoa học - công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế ở những vùng kinh tế kem phát triển, đặc biệt là những vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường có mâu thuẫn: Nếu áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động dân tộc thiểu số
bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áp dụng mức
độ công nghệ nào trong dây chuyền kinh doanh phải tính toán thận trọng Bởi vì, chính sách khoa học - công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 38* Nhân tố Chính sách vĩ mô
Để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người lao động dân tộc thiểu số nói riêng, vấn đề quan trọng nhất là nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể Có thể có nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ xung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động Tuy nhiên đối với người lao động dân tộc thiểu số thì các chính sách giải quyết việc làm của Nhà nước cũng phải có những đặc thù nhất định Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được giải quyết một cách có hiệu quả nếu như những chính sách vĩ mô của Nhà nước được xây dựng vừa trên cơ sở thực tiễn chung của đất nước vừa phù hợp với đặc điểm của vùng, địa phương Cụ thể:
+ Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, loại hình và vùng
có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề
+ Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách
xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội
+ Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động DTTS
1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo lực lượng lao động
Một là, đào tạo về kỹ năng lao động đã được các tỉnh rất quan tâm Các
tỉnh trong cả nước đều có các trường đào tạo nghề cho người lao động Nhiều tỉnh đầu tư vốn khá lớn cho đào tạo lực lượng lao động như Quảng Ninh, Thanh Hóa, Tuyên Quang…
Trang 39Bắc Ninh là tỉnh có các nghành nghề phi nông nghiệp rất phát triển, tuy nhiên tỉnh cũng hết sức quan tâm đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đạt được những kết quả nhất định
“Sau 5 năm triển khai đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020, hơn 110 nghìn LĐNT được học nghề, trong đó gần 39 nghìn người được hỗ trợ theo Đề án 1956, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn (LĐNT).” (Thương
Huyền, 2016)
Thanh Hoá tích cực đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn với
đầu tư vốn hỗ trợ khá lớn:“Ngân sách Trung ương hỗ trợ thực hiện đề án năm 2015 là
13.490 triệu đồng, trong đó hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn là 10.560 triệu đồng” (Theo sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa, 2016)
Trong nghiên cứu của Quảng An (2016) về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn theo hướng tiếp cận giải quyết đồng bộ các giải pháp và kết quả đạt được là: Tỉnh đã phân cấp rõ trách nhiệm từ cấp tỉnh đến cơ sở Theo đó, việc định hướng đào tạo nghề, lựa chọn nghề đào tạo là trách nhiệm của cấp huyện và xã; cấp tỉnh chịu trách nhiệm giám sát, hướng dẫn, kiểm tra Việc đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tỉnh trong những năm qua được triển khai bám sát với nhu cầu học nghề của người lao động, định hướng phát triển KT-XH và đặc thù của từng địa phương Đối với các địa phương, ngay sau khi nhận được kế hoạch đều tiến hành khảo sát nhu cầu học nghề, tăng cường truyền thông về đào tạo nghề, giải quyết việc làm tới đông đảo nhân dân Nhờ đó, rất nhiều địa phương có tỷ lệ LĐNT có việc làm sau đào tạo rất cao, từ 90% trở lên như Đông Triều, Hải Hà, Móng Cái, Hoành Bồ Nhiều mô hình dạy nghề đạt hiệu quả tốt như mô hình đan lưới ở Quảng Yên, các lớp nấu ăn tại Hạ Long, Ba Chẽ, mô hình nuôi trồng thuỷ sản tại Uông Bí, Quảng Yên, Tiên Yên… giải quyết việc làm cho nhiều lao động có mức thu nhập từ 5-30 triệu đồng/tháng Theo báo cáo của Sở LĐ-TB&XH, sau 5 năm (2010-2015) triển khai Đề án 1956, toàn tỉnh đã có gần 21.900 lao động được học nghề, trong đó
có 42,7% số lao động học nghề nông nghiệp và 57,3% số lao động được học nghề phi nông nghiệp Bước sang giai đoạn 2016-2020, tỉnh đặt ra mục tiêu đào tạo nghề
Trang 40cho khoảng 46.000 LĐNT, gồm 5.000 người được đào tạo trình độ cao đẳng nghề, 8.000 người trình độ trung cấp nghề, 33.000 người được đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo từ nguồn kinh phí của
Đề án 1956 Để đạt được mục tiêu này, thời gian tới, toàn tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm tốt khảo sát nhu cầu học nghề để có kế hoạch triển khai
mở các lớp nghề phù hợp Đồng thời nhân rộng những mô hình hiệu quả, đặc biệt là phát huy tốt mô hình dạy nghề theo đơn đặt hàng để công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho LĐNT ngày càng hiệu quả hơn
Ngoài ra, có nhiều tỉnh rất quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông như các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng miền Trung… đó là sự chuẩn
bị rất cần thiết cho sự hình thành lực lượng lao động có trình độ toàn diện Một số tỉnh có những ưu đãi đặc biệt cho những người lao động có trình độ cao về làm việc tại địa phương và có chính sách ưu tiên đặc biệt cho những nghệ nhân, những người
có công phát triển và mở mang các ngành nghề mới ở địa phương như Sơn La, Lai Châu, Vĩnh Phúc… Đó là những chính sách có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng của lực lượng lao động nông thôn
Hai là, đào tạo về văn hóa nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức Người lao động phải được đào tạo để có hiểu biết và có ý thức chấp hành pháp
luật, lao động có tổ chức kỷ luật và có trách nhiệm với cộng đồng, trung thực trong cuộc sống và trong lao động Trong những năm vừa qua, những hạn chế của lao động Việt Nam về vấn đề này được thể hiện rất rõ ở những người được đưa đi xuất khẩu lao động Lao động Việt Nam vừa yếu về chuyên môn nghề nghiệp, vừa yếu về ngoại ngữ lại thiếu tính kỷ luật, nhiều người sẵn sàng bỏ trốn ra làm bên ngoài gây khó khăn cho công tác quản lý lao động của các cơ quan chức năng và ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta Trong thời gian tới cần nhanh chóng khắc phục tình trạng này
1.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn
Các giải pháp giải quyết việc làm đang tiến hành trên các địa phương trong cả nước là rất đa dạng và phong phú, tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi tỉnh, tuy nhiên
có thể tập trung vào một số nội dung cơ bản sau: