Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá huyện đông anh thành phố hà nội
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này
là trung thực và ch−a bao giờ đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đã
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đinh Ngọc Hà
Trang 3Trường ðại học Nụng nghiệp 1 - Luận văn Thạc sỹ khoa học n ụng nghiệp - ii
Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Dũng Tiến - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Địa chính (Bộ Tài nguyên và Môi trường) là người hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Đất và Môi trường, Khoa Sau Đại học trường Đại học Nông nghiệp I đC nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo
và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Kế hoạch kinh tế và Phát triển nông thôn, cán bộ địa chính 07 xC của 3 tiểu vùng huyện Đông Anh - Thành phố
Hà Nội đC tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra cũng như cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, tư liệu bản đồ để thực hiện Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới lCnh đạo Viện Nghiên cứu Địa chính, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách - Pháp luật đất đai, các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên cùng lớp và đặc biệt những người thân yêu trong gia đình đC tạo điều kiện giúp đỡ và cổ vũ động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này
Tác giả luận văn Đinh Ngọc Hà
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan……… … i
Lời cảm ơn ……… … ii
Mục lục……… …iii
Danh mục các chữ viết tắt……… vi
Danh mục các bảng, biểu đồ vii
1 Mở đầu 1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……… 2
1.3 Yêu cầu……… ……… 2
2 Tổng quan tài liệu……… 3
2.1 Các vấn đề chung về sản xuất và sản xuất nông nghiệp hàng hoá 3 2.1.1 Khái quát về sản xuất nông nghiệp hàng hoá……… 3
2.1.2 Nguồn gốc và bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá…… 4
2.1.3 Những tác động của quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến sự phát triển kinh tế - x7 hội của đất nước……… 7
2.1.4 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá……… 9
2.2 Thực trạng và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của nước ta trong thời kỳ đổi mới……… 12
2.2.1 Sự hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá………… 12
2.2.2 Các quan điểm nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam……… 18
2.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 21
2.2.4 Định hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam……… 24
2.3 Nghiên cứu về phát triển nền nông nghiệp hàng hoá……… 26
2.3.1 Các nghiên cứu, xu hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở trên thế giới……… 26
2.3.2 Một số kinh nghiệm trong phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở một số nước trên thế giới 29 2.3.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam……….…… 35
Trang 5Trường ðại học Nụng nghiệp 1 - Luận văn Thạc sỹ khoa học n ụng nghiệp - iv
2.3.4 Những nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội và huyện Đông Anh……… … 37
3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 39
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39
3.2 Nội dung nghiên cứu 39
3.2.1 Nghiên cứu, đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - x7 hội có liên quan đến đất đai và sản xuất nông nghiệp hàng hoá của huyện 40 3.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 40 3.2.3 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng 40
3.2.4 Định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến năm 2015
40 3.3 Phương pháp nghiên cứu 40
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu……… …… 40
3.3.2 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu……… ……… 41
3.3.3 Phương pháp chuyên gia……… ………… 41
3.3.4 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan……… ………… 41
3.3.5 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ……… ………… 41
3.3.6 Phương pháp phân tích, so sánh……… …….… 42
4 Kết quả nghiên cứu 43
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xC hội của huyện Đông Anh 43
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
4.1.2 Điều kiện về kinh tế - x7 hội 48
4.1.3 Đánh giá chung về điều kịên tự nhiên kinh tế x7 hội 51
4.2 Thực trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai huyện Đông Anh 52
4.2.1 Thực trạng sử dụng đất đai toàn huyện 52
4.2.2 Tình hình biến động sử dụng đất đai huyện Đông Anh 54
4.2.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và phân bố hệ thống cây trồng khu vực nghiên cứu……… 56
Trang 64.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu……… 74
4.3.1 Hiệu quả kinh tế………… ……… 74
4.3.2 Hiệu quả x7 hội ……… ……… 79
4.3.3 Hiệu quả môi trường……… 81
4.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đông Anh theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến năm 2015……… 84
4.4.1 Cơ sở định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa……… 84
4.4.2 Định hướng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến năm 2015 88
4.4.3 Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá 93
5 Kết luận và đề nghị 98 5.1 Kết luận 98
5.2 Đề nghị 100
Danh mục tài liệu tham khảo 101
Phụ lục 105
Trang 7Trường ðại học Nụng nghiệp 1 - Luận văn Thạc sỹ khoa học n ụng nghiệp - vi
Danh mục các chữ viết tắt Chữ viết tắt BCHTW :
CP :
CPTG :
CNTB :
ĐBSH :
ĐBSCL :
FAO :
GDP :
GTGT :
GTSX :
GCNQSDĐ : HTX :
LĐ :
LUT :
NTTS :
TBCN :
TV1 :
TV2 :
TV3 :
UBND :
WTO :
Có nghĩa là Ban chấp hành Trung ương Chính Phủ Chi phí trung gian Chủ nghĩa tư bản Đồng bằng sông hồng Đồng bằng sông cửu long Tổ chức Nông lương thế giới Tổng sản phẩm quốc nội Giá trị gia tăng Giá trị sản xuất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hợp tác x7 Lao động Loại hình sử dụng đất Nuôi trồng thuỷ sản Tư bản chủ nghĩa Tiểu vùng 1 Tiểu vùng 2 Tiểu vùng 3 ủy ban nhân dân Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8
Danh mục các bảng Bảng Trang
4.14 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng Tiểu vùng 1 89 4.15 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng Tiểu vùng 2 91 4.16 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng Tiểu vùng 3 92
Danh mục các biểu đồ
4.2 Biến động diện tích một số cây trồng chính khu vực nghiên cứu
Danh mục các ảnh
Trang 91 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập và tạo ra sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho toàn x7 hội Việc sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lý, có hiệu quả đảm bảo sự phát triển bền vững là mối quan tâm lớn của
Đảng và Nhà nước ta
Với thủ đô Hà Nội, nền nông nghiệp được xác định theo hướng sản xuất hàng hoá nông nghiệp (rau, hoa, quả, cá, trứng…) thực hiện sâu rộng với đầu tư thâm canh cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, tăng sức cạnh trên trên thị trường [3]
Đông Anh là một huyện ngoại thành của Thành phố Hà Nội, đơn vị hành chính có 23 x7 và một thị trấn được chia thành 3 tiểu vùng là tiểu vùng trũng, tiểu vùng ven sông Hồng và tiểu vùng cao Nhìn chung người dân vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp như sản xuất rau sạch, hoa, cây cảnh … Đối với quỹ
đất nông nghiệp của huyện Đông Anh ngày nay đang chịu nhiều áp lực của quá trình đô thị hoá, ảnh hưởng nhiều đến quản lý và sử dụng loại đất này Nếu được
sử dụng triệt để và hợp lý quỹ đất nông nghiệp này sẽ cho sản lượng, chất lượng tốt đáp ứng về nhu cầu nông sản cho thị trường Hà Nội, đạt hiệu quả kinh tế cao
đồng thời góp phần phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững Tuy nhiên trong điều kiện quỹ đất có hạn, nhu cầu nông sản tăng sẽ mâu thuẫn gay gắt với tiến trình thực hiện công nghiệp hoá và đô thị hoá đ7 làm cho diện tích đất nông nghiệp bị giảm ngày càng nhanh Trong điều kiện đó, nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá được xem là vấn đề hết sức quan trọng và bức thiết Từ xuất phát đó, việc chọn đề tài: “ Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội” được cho là vừa có tính khoa học vừa có tính thực tiễn và đang là yêu cầu rất cần thiết
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp để xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp với từng tiểu vùng ở huyện Đông Anh
- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được đúng thực trạng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, x7 hội, các văn bản và chủ trương chính sách, chiến lược phát triển có liên quan tới sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong phạm vi nghiên cứu
- Các số liệu, tài liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy
- Đề tài phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong việc sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 112 Tổng quan tài liệu 2.1 các vấn đề chung về sản xuất và sản xuất nông nghiệp hàng hoá
2.1.1 Khái quát về sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 3 [40], sản xuất hàng hoá là sản xuất ra những vật phẩm để trao đổi thông qua thị trường trước khi đi vào lĩnh vực tiêu dùng Ra đời từ hai tiền đề: Phân công lao động x7 hội và sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Tuy tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, từ khi x7 hội công x7 nguyên thuỷ tan r7, nhưng chỉ đến khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi sức lao động trở thành hàng hoá thì sản xuất hàng hoá mới trở thành phương thức thống trị trong x7 hội Sản xuất hàng hoá là một hình thái sản xuất tiến bộ
so với sản xuất tự cung, tự cấp thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở những nước đi từ một nền kinh tế lạc hậu mang nặng tính tự cấp, tự túc, tiến lên chủ nghĩa x7 hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá trình phát triển kinh tế nhất thiết phải là quá trình phát triển sản xuất hàng hoá
ở Việt Nam, đường lối chính sách xây dựng CNXH được xác định rõ là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá nông nghiệp được sản xuất ra không chỉ để thoả m7n nhu cầu tự cung tự cấp mà nó được trao đổi, giao lưu với nhau thông qua thị trường và được thị trường quyết định tính chất của hàng hoá
đó Nếu được thị trường chấp nhận thì sản phẩm nông nghiệp đó sẽ trở thành sản
Trang 12phẩm hàng hoá Do đó có thể hiểu: Nông nghiệp hàng hoá là một bộ phận của nền kinh tế hàng hoá, là kiểu tổ chức kinh tế x7 hội sản xuất ra nông sản phẩm (như nông - lâm - ngư nghiệp) không phải để tự mình tiêu dùng, mà để trao đổi mua bán trên thị trường nhằm vừa để thoả m7n nhu cầu tiêu dùng x7 hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất ra nó để tái sản xuất mở rộng và hiện đại hoá nền nông nghiệp
Một nền nông nghiệp hàng hoá được coi là phát triển khi quy mô sử dụng
đất lớn dẫn đến sản lượng lớn, từ khâu tổ chức sản xuất luôn phải gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm và đáp ứng nhu cầu của thị trường
Đối với một nền nông nghiệp còn lạc hậu thì việc đưa lên phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá là rất khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải
có một quá trình, lộ trình cụ thể, cần xác định rõ khu vực chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong ngành nông nghiệp, bố trí các vùng chuyên canh tập trung, các vùng cây và con đặc sản đồng thời gắn kết các vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến được thực hiện thông qua việc phân công lao động, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.1.2 Nguồn gốc và bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá
2.1.2.1 Nguồn gốc của sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Khi tiếp cận kinh nghiệm phát triển vùng nông nghiệp hàng hoá của Mỹ
và xem xét sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, V.I.Lênin đ7 chú trọng phân tích các vùng ‘‘ngũ cốc thương phẩm’’, ‘‘vùng chăn nuôi thương phẩm’’,
‘‘vùng trồng lanh’’…[42] Khi nghiên cứu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở nước Anh thế kỷ XIX, một nước đ7 tiến hành cuộc cách mạng ‘‘đ7 dọn sạch’’ nông dân, địa chủ quý tộc khỏi mặt đất để nhanh chóng hình thành các điền trang đại
kỹ nghệ TBCN … Các Mác khi đó đ7 dự đoán rằng con đường phát triển của CNTB trong nông nghiệp sẽ diễn ra cùng kiểu như sự phát triển TBCN trong công nghiệp
Kế thừa và phát triển sâu sắc các quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen, khi nghiên cứu CNTB ở nước Nga, V.I.Lênin đ7 chỉ ra rằng: Không thể phát
Trang 13triển nông nghiệp nước Nga theo con đường ‘‘đại điền trang kiểu Phổ’’ vì đó là kiểu phát triển kém hiệu quả mà phải là kiểu một chủ trại tự do - nghĩa là mảnh
đất được dọn sạch những tàn tích thời trung cổ [43]
Tiếp đó, V.I.Lênin đ7 cụ thể hoá được ‘‘diện mạo’’ của một nền nông nghiệp hàng hoá và theo ông ‘‘diện mạo’’ đó được thể hiện tập trung vào một số quan điểm: … ‘‘ruộng đất phải được tích tụ để tạo thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, có nhiều con đường dẫn đến tích tụ ruộng đất, khai hoang, phục hoá để tạo ra ‘‘một khu doanh điền’’ hoặc kinh doanh những ruộng liền thửa để trở thành những ‘‘chủ ấp’’, tạo thành những trang trại’’… ‘‘vùng nông nghiệp cận đô thị (ngoại thành), vùng xung quanh khu công nghiệp, vùng thuận lợi giao thông phải phát triển nghể trồng rau và nghề trồng cây ăn quả để bán phục vụ cuộc sống ở đô thị, khu công nghiệp và bản thân vùng nông nghiệp’’…[41]
ở Việt Nam, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm nên đây cũng chính là rào cản của việc xuất hiện muộn hơn của một nền kinh tế hàng hoá Theo Lê Văn Tân [30] từ thời Lý, Trần đ7 xuất hiện các điền trang, thái ấp của các quan lại, hoàng gia; thời Lê đ7 có các đồn điền của các công thần, thời Nguyễn đ7 có các ấp trại theo hình thức ‘‘quan điền thổ, quan điền trang’’ nhưng mức độ thâm canh và phát triển còn ở mức thấp
Đến cuối thế kỷ XIX, người Pháp thiết lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam
và đồng thời lập nên những đồn điền trồng cao su, cà phê, hồ tiêu … tại các vùng có ưu thế về sinh thái Trước năm 1975 đất nước bị chia cắt, nền nông nghiệp nước ta gặp rất nhiều khó khăn Lương thực thường xuyên phải nhập khẩu với số lượng lớn cũng như nhận sự viện trợ của các tổ chức quốc tế và của nước ngoài Do nền kinh tế quan liêu, bao cấp nên sản xuất nông nghiệp chưa phát huy được vai trò quan trọng về sản xuất nông nghiệp hàng hoá nhất là đối với một đất nước thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, sản xuất nông nghiệp hàng hoá của nước ta được khởi động và phát triển, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kém hiệu quả, mang nặng tính hình thức Với Chỉ thị số 100 - CT/TW ngày
Trang 1413/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng ‘‘khoán đến nhóm lao động và người lao động’’ trong HTX nông nghiệp Ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 - NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm hoàn thiện cơ chế khoán, với nội dung chủ yếu là ‘‘khoán hộ’’, kinh tế hộ đ7 đóng vai trò tích cực trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp Tiếp đến Nghị định 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục
đích sản xuất nông nghiệp và Nghị định 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định vào mục đích lâm nghiệp đ7 tạo ra sức mạnh và động lực quan trọng cho những chuyển biến cơ bản trong nông nghiệp Để thúc đẩy nhanh và có sự chuyển biến lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, tích tụ thêm đất đai, thu hút lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, tạo thêm nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất
2.1.2.2 Bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Về bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá là loại hình được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá
rõ rệt, sản xuất để bán, sản xuất gắn với thị trường và khác hẳn với kinh tế hộ gia đình
tự cấp, tự túc là chính Có thể nói, bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá là giá trị nông sản hàng hoá và tỷ xuất hàng hoá bán ra trong năm luôn được sử dụng làm thước đo trong quá trình sản xuất hàng hoá Xét về mặt bản chất của sản xuất nông nghiệp hàng hoá được nhìn nhận như sau:
- Sản xuất nông nghiệp hàng hoá là hình thức tổ chức kinh tế trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp cho khối lượng nông sản hàng hoá lớn, đảm bảo chất lượng, lợi nhuận thu tối đa trên từng đơn vị diện tích, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, khai thác tiềm năng đất đai và lao động tại chỗ tốt nhất Đây là
Trang 15vấn đề quan trọng nhất để phân biệt giữa sản xuất hàng hoá và sản xuất tự cấp, tự túc nhỏ lẻ
- Sản xuất nông nghiệp hàng hoá luôn gắn chặt với thị trường tiêu thụ nên
sẽ nắm bắt và khai thác được nhu cầu, thị hiếu, sở thích của thị trường nhằm đề
ra chính sách và phương hướng đầu tư, cách thức tổ chức, quản lý về giống và hàng hoá nông sản, đồng thời quy hoạch các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá nên hiệu quả kinh tế đem lại rất cao
- Khai thác tối đa lợi thế và nguồn lực của mỗi vùng, cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường
- Tập trung ruộng đất theo quy định của pháp luật, hình thành các trang trại, áp dụng có hiệu quả các thành tựu về khoa học và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đồng thời duy trì, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái góp phần xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
2.1.3 Những tác động của quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
ra và duy trì được một quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh Nông nghiệp Việt Nam phát triển toàn diện theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá với sản lượng lương thực (có hạt) tăng và ổn định qua các năm 1986 là 18,3 triệu tấn; năm
1996 là 27,93 triệu tấn và năm 2005 là 39,55 triệu tấn Tuy nhiên, tỷ trọng GDP của ngành có sự tăng giảm khác nhau như: nông nghiệp giảm từ 81% năm 1986 xuống
Trang 1677% năm 2003; ngành lâm nghiệp giảm nhanh từ 13,5% năm 1986 xuống còn 5% năm 2003; ngành thuỷ sản tăng từ 5,6% năm 1986 lên trên 18% năm 2003 [33] Năm
2003, bình quân 1 ha đất nông nghiệp làm ra giá trị 17,1 triệu đồng tăng 19% so với năm 2000 Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng nhanh từ 235,2 tỷ đồng năm 1986 đạt 92.406,2 tỷ đồng năm 1996 và 185.218,8 tỷ đồng năm 2005 cho thấy tăng trưởng nông nghiệp nhanh, đem lại hiệu quả tài chính góp phần phát triển ổn định nền kinh tế
đất nước, đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Nhờ đó, nâng cao thu nhập cho đa số dân cư nông thôn, tạo nền tảng vững chắc cho việc đổi mới và hội nhập nền kinh tế thế giới
2.1.3.2 Về mặt x8 hội
Trước hết, nhờ có sản xuất nông nghiệp hàng hoá mà tại nhiều vùng nông thôn Việt Nam người nông dân đ7 không còn cảnh thiếu lương thực mỗi khi gặp thiên tai, mất mùa Mặc dù các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng phát triển nhưng tốc độ tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn còn rất chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu tăng nhanh về việc làm và thu nhập cho nông dân Do đó, sản xuất nông nghiệp hàng hoá cho phép điều tiết hiệu quả tài nguyên trong x7 hội, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và cơ giới hoá vào sản xuất, tạo động lực mạnh mẽ, khuyến khích nông dân phát huy nội lực phát triển sản xuất
Sản xuất nông nghiệp hàng hoá giúp người nông dân có nhiều khả năng cạnh tranh hơn các sản phẩm do mình sản xuất ra trên thị trường trong nước và quốc tế vì tính ưu việt của sản xuất quy mô lớn khi mà trong giai đoạn nước ta bắt đầu gia nhập WTO
Sản xuất nông nghiệp hàng hoá sẽ là cơ hội và điều kiện để người nông dân giảm dần khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới bộ mặt nông thôn
2.1.3.3 Về mặt môi trường
Sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ dẫn đến ít có sự quan tâm về ô nhiễm của môi trường đất do sử dụng hàm lượng phân hoá học, thuốc bảo vệ
Trang 17thực vật quá mức cho phép làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra của nông sản phẩm Ngày nay, với những quan điểm mới trong sản xuất nông nghiệp đ7 được nhận thức sâu sắc và đề cao như sản xuất nông nghiệp bền vững, phát triển môi trường sinh thái bền vững, nông nghiệp hữu cơ … Sản xuất nông nghiệp hàng hoá mà nông sản phẩm sẽ gắn với thị trường nên việc sử dụng hàm lượng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật luôn được kiểm soát chặt chẽ, hạn chế sự ô nhiễm tới môi trường đất, nước Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, thâm canh tăng vụ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi đất góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
2.1.4 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Sự hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá là sự phát triển mang yếu tố khách quan đ7, đang tồn tại và phát triển theo đúng quy luật của nó với nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền sản xuất hàng hoá bao gồm: Một là, nó sẽ hình thành các vùng chuyên môn hoá tập trung, sản xuất chuyên canh theo lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương thông qua công tác dồn điền đổi thửa nhằm tăng quy mô sử dụng đất Các vùng, địa phương có xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp mà cụ thể là chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ đất nông nghiệp nhằm thực hiện đa dạng hoá ngành nghề Sự chuyên môn hoá sản xuất theo vùng nhằm bố trí các ngành sản xuất trên các vùng l7nh thổ sao cho thích hợp
để khai thác được mọi ưu thế về nguồn lực của mỗi vùng, căn cứ vào điều kiện
tự nhiên và kinh tế kỹ thuật của từng vùng Xu thế phát triển của nền nông nghiệp là ngày càng chuyên môn hoá và tập trung hoá, hình thành nên các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao, tạo ra tính đa dạng và tổng hợp vừa phát triển mạnh mẽ ngành chuyên môn hoá đồng thời khai thác một cách đầy đủ nguồn tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật của từng vùng Hai
là, việc hình thành và phát triển nền sản xuất hàng hoá là một yếu tố khách quan
Trang 18vận động theo quy luật của thị trường Bằng việc giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho người nông dân đ7 khiến họ phát huy hết khả năng của mình cả về kinh tế cũng như kỹ thuật đ7 thúc đẩy sản xuất, tăng năng suất lao động Mặc khác, cùng với việc phát triển khoa học kỹ thuật kết hợp với sự ra
đời mạnh mẽ của các tổ chức khuyến nông, HTX nên trình độ canh tác, phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp của người nông dân không ngừng được nâng cao và phát triển Ba là, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện đ7 và đang có những tác động cả về mặt thuận lợi cũng như khó khăn nhất là đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay Tuy nhiên, việc hội nhập vừa là cơ hội để chúng ta phát triển nền sản xuất hàng hoá nhanh hơn do lợi thế có thị trường rộng lớn, đúc rút kinh nghiệm từ những nước có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá phát triển, đi trước đón đầu các thành tựu khoa học công nghệ cả về giống và kỹ thuật, nhưng cũng vừa là thách thức nếu nông nghiệp của chúng ta không đi lên nền nông nghiệp hàng hoá mà vẫn manh mún thì ngành nông nghiệp sẽ ngày càng tụt hậu và mất thị trường
Trong nền kinh tế tự nhiên thì sản phẩm lao động chỉ dùng để thoả m7n nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế Trong kinh tế hàng hoá, việc sản xuất và trao đổi diễn ra thường xuyên, bổ biến và trở thành mục đích ngay từ đầu của người sản xuất
Một khi nền nông nghiệp càng đi vào xu hướng sản xuất chuyên môn hoá thì tổng lượng nông sản hàng hoá trao đổi trong nội bộ ngành nông nghiệp càng tăng lên vì sự gia tăng đó không chỉ cần cho nhu cầu về tiêu dùng, sinh hoạt mà cả nhu cầu cho sản xuất và chăn nuôi vì nông sản của trồng trọt sẽ là thức ăn cho ngành chăn nuôi gia súc và ngược lại
Các nhà kinh tế đều đánh giá nền kinh tế hàng hoá có nhiều ưu thế hơn hẳn nền kinh tế tự cấp tự túc khi xét về nhiều phương diện như kích thích sản xuất phát triển nhanh hơn, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh của x7 hội, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Sản xuất nông nghiệp hàng hoá tất yếu cũng sẽ tạo
ra các ưu thế đó, bởi vì:
Trang 19- Thúc đẩy khai thác tốt hơn tiềm năng vốn có của từng vùng, từng địa phương, từng chủ thể kinh doanh để tạo ra nhiều nông sản nhằm trao đổi thu lợi nhuận cao hơn
- Hình thành những vùng tập trung với chuyên môn hoá cao dễ dàng tiếp cận các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
- Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất của người nông dân và thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, từng bước nâng cao chính sách phúc lợi x7 hội cũng như văn minh công cộng
- Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá nhằm trao đổi, thoả m7n nhu cầu x7 hội và các nhu cầu khác của con người
Từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, hộ nông dân được xác
định là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài, tự do hoá các tư liệu sản xuất bằng việc chuyển các nguồn lực từ kinh tế hợp tác x7 cho các hộ gia đình quản lý đ7 tạo ra sự tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp hiện nay
Với việc trồng độc canh lương thực, nền nông nghiệp nước ta đang chuyển sang đa dạng hoá sản xuất theo hướng hàng hoá phù hợp với đặc điểm của từng vùng Đối với vùng đất lúa, bà con nông dân đang bố trí lại cơ cấu giống lúa, chú ý tới các giống lúa đặc sản (tám thơm, di hương, nếp hoa vàng….) các giống lúa có chất lượng cao đáp ứng thị hiếu và yêu cầu của thị trường Đối với các vùng ven đô do quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, cơ cấu sử dụng đất có sự thay đổi và xu hướng chuyển sang trồng các loại rau cao cấp, các loại quả, trồng hoa và cây cảnh, chăn nuôi lợn theo hướng nạc …
Sự chuyển dịch nền nông nghiệp từ tự cấp tự túc sang nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá là một xu hướng mang tính quy luật tất yếu trong tiến trình phát triển nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại Từ thực tế cho thấy chỉ những hộ gia đình có quy mô tập trung ruộng đất tương đối lớn (gấp 3 đến 5 lần mức bình quân chung của các hộ
Trang 20trong vùng) thì phương hướng sản xuất của hộ mới bắt đầu được xác định một cách rõ nét, sản xuất mới bắt đầu đi vào tập trung hoá, chuyên môn hoá, tỷ suất sản phẩm hàng hoá mới bắt đầu vượt trội so với các sản xuất trong vùng
Như vậy, sản xuất nông nghiệp hàng hoá là một xu hướng có tính quy luật, phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay mà kết quả về kinh tế - x7 hội - môi trường khá rõ nét và toàn diện, nó đang là bước đi, là
lộ trình trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nước
ta Do vậy, phát triển nông nghiệp hàng hoá là một xu thế tiến bộ và tích cực
2.2 Thực trạng và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của nước ta trong thời kỳ đổi mới
2.2.1 Sự hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
2.2.1.1 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng đất nước mà trong đó nhiệm vụ trọng tâm là phát triển và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong phạm vi cả nước Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12 năm 1976) đ7 đề ra: ‘‘Phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi,
đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp theo hướng sản xuất lớn x7 hội chủ nghĩa, nhằm sớm bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho toàn x7 hội và có lương thực
dự trữ, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu’’ [2] Mặc dù đ7 có nhiều đổi mới song sản xuất nông nghiệp vẫn không phát triển, sản phẩm nông sản hàng hoá thấp không đủ cung cấp cho thị trường trong nước do nguồn lực đất đai và lao động vẫn chưa được giải phóng
Để khuyến khích kinh tế hộ gia đình, sắp xếp lại sản xuất, Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/01/1981 được ban hành với cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động đ7 bước đầu giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, có tác dụng tích cực đưa sản lượng nông nghiệp tăng lên nhanh chóng, đời sống của x7 viên ngày càng được cải thiện đáng kể Qua tổng kết thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm, Bộ Chính trị đ7 ban hành Nghị quyết 10 (ngày 05/4/1988) mang tính đột phá và tương đối toàn diện, đặc biệt đ7 giải phóng đất đai, sức sản xuất,
Trang 21khai thác hợp lý tiềm năng lao động, tăng nhanh sản lượng hàng hoá trong nông nghiệp Tuy nhiên trình độ và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp hàng hoá vẫn còn thấp, tình trạng sản xuất vẫn nhỏ lẻ, lạc hậu, sản xuất vẫn nặng thuần nông
và độc canh, chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất kinh doanh nên năng suất thấp, chi phí và giá thành cao chủ yếu lấy công làm l7i
Đổi mới chính sách vĩ mô của Nhà nước, Luật đất đai năm 1993 được ban hành khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản Đồng thời Luật cho phép người sử dụng đất có 05 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp đất đai làm cho đất đai được phát huy và vận động theo đúng quy luật của nó Đây là tiền đề, là cơ sở cho việc hình thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung quy mô lớn thông qua các chính sách như ‘‘dồn điền đổi thửa’’ đ7 phần nào khống chế được sự manh mún về đất đai làm cản trở quá trình đi lên sản xuất hàng hoá lớn Nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá hiện nay đ7 và đang hình thành rõ rệt, xuất hiện nhiều trang trại nông, lâm, thuỷ sản sản xuất chuyên môn hoá với quy mô lớn ngày càng nhiều
Đại hội VIII năm 1996 đề ra nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Chủ trương phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an ninh lương thực trong x7 hội, gắn nông, lâm, thuỷ sản với công nghiệp chế biến Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 06 khẳng định sự tồn tại tất yếu, lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp, chỉ rõ vai trò của các thành phần kinh tế, xác lập vị trí của kinh tế trang trại Đồng thời, xác định phương hướng đầu tư cho nông nghiệp về khoa học công nghệ, mở rộng quyền sử dụng đất, phát triển thị trường nông sản
Tóm lại, sau 20 năm đổi mới giai đoạn sản xuất nông nghiệp chuyển từ tự cung
tự cấp sang kinh tế hàng hoá, hướng về xuất khẩu đ7 khẳng định hướng đi và sự thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp góp phần quan trọng làm cơ sở cho toàn bộ nền kinh tế chuyển biến sâu sắc
Trang 222.2.1.2 Những thành tựu phát triển của nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Sau 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta có tốc độ tăng trưởng khá nhanh và ổn định, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng liên tục trong nhiều năm: Năm 1990 là 20.666,5 tỷ đồng;
- Về sản xuất lương thực: Trong nông nghiệp, sản xuất lúa phát triển là nền tảng
đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập ổn định cho người nông dân Trong giai đoạn
từ 1980 - 2002, sản lượng lúa tăng bình quân 5%/năm Với sản lượng lúa tăng nhanh, từ năm 1989, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, từ năm 1989 đến
2002 đ7 xuất trên 33 triệu tấn gạo sang trên 30 nước trên thế giới với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 12%/năm {4] Đáng chú ý là sản xuất lương thực luôn tăng về sản lượng qua các năm và diện tích được giữ ở mức ổn định
Nguồn : Niên giám thống kê năm 2005 - Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, 2006
Nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung được hình thành, như các vùng lúa ở ĐBSCL, ĐBSH, vùng cà phê Tây Nguyên, Đông Nam bộ, vùng chè ở các tỉnh miền núi và Trung du phía Bắc, vùng cao su Đông Nam bộ, vùng cây ăn quả ở Đông nam bộ, ĐBSCL, một số tỉnh miền Bắc, vùng rau
Trang 23Lâm Đồng, các tỉnh ĐBSH, các vùng mía ở Miền Trung … tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật để thâm canh, gắn sản xuất với thị trường và công nghệ chế biến
Cùng với cây lúa, cây ngô phát triển khá ổn định, diện tích luôn được mở rộng, kết hợp đưa giống mới vào sản xuất nên năng suất đạt cao, sản lượng nhiều góp phần bổ sung nguồn lương thực cho người và gia súc Năm 1990, diện tích ngô cả nước 431,8 ngàn ha với sản lượng đạt 671,0 ngàn tấn; năm 2000 là 730,2 ngàn ha với sản lượng là 2.005,9 ngàn tấn; năm 2005 là 1.043,3 ngàn ha với sản lượng 3.756,3 ngàn tấn [28]
- Ngành chăn nuôi phát triển nhanh và toàn diện theo hướng hàng hoá Bình quân 5 năm 1996 - 2000 so với bình quân 5 năm trước đó (1991 - 1995)
đàn bò tăng18,5%, đàn lợn tăng 26%, đàn gia cầm tăng 41%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 35%, sản lượng trứng tăng 33% Năm 2000, đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 1,4 triệu tấn, tăng 67% và gấp 2,3 lần so với năm 1986 [9] Mặt khác, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi luôn tăng đều qua các năm và phát triển ổn định, sản phẩm đ7 gắn với thị trường trong nước Năm 1990 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 3.701,0 tỷ đồng; năm 2000 giá trị sản xuất đạt 24.960,2 tỷ đồng và năm 2005 đạt 43.353,5 tỷ
đồng [28]
- Trong nuôi trồng thuỷ sản, nét nổi bật nhất là số lượng và quy mô trang trại tăng nhanh và đem lại hiệu quả thiết thực Tổng sản lượng của ngành thuỷ sản trong năm 2006 đạt 3.717 ngàn tấn, tăng 8,2% so với năm 2005 Trong đó sản lượng khai thác biển giảm 2,2%, đạt 1.760 ngàn tấn, sản lượng nuôi trồng
đạt 1.765 ngàn tấn, tăng 22,9% Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm
2006 đạt trên 3,2 tỷ USD và tăng 20,4% so với cùng kỳ [36] Sản phẩm thuỷ sản
được xuất khẩu tới hầu hết các thị trường chủ lực đều có mức tăng trưởng cao,
đặc biệt là thị trường EU và Đông Âu Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt
766 triệu USD, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2005, chiếm 24,96% tổng thị phần; khối EU đạt 649,3 triệu USD, tăng 66%, chiếm 21,18% thị phần; sang thị
Trang 24trường Hoa Kỳ đạt 586,9 triệu USD, giảm 0,99% so với cùng kỳ năm 2005 nhưng vẫn chiếm 19,15% tổng thị phần Ngoài 3 thị trường lớn ra còn có 3 thị trường có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 100 triệu USD là Hàn Quốc, Ôxtrâylia
và Nga [36] Điều đó cho thấy ngành thuỷ sản Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển, trong đó kim ngạch xuất khẩu sẽ không ngừng tăng sau ngày 11/01/2007 chúng
ta chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 2.2.1.3 Sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá xuất khẩu trên thị trường quốc tế
Việc tiêu thụ nông sản hàng hoá ra thị trường quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các mô hình sản xuất hàng hoá lớn Trong điều kiện Việt Nam có nền kinh tế còn nghèo lại đang ở giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước, giá trị xuất khẩu công nghiệp còn thấp thì việc không ngừng tăng nhanh giá trị xuất khẩu hàng nông sản có ý nghĩa hết sức to lớn cần phát triển nhanh, phát huy lợi thế khi Việt Nam chính thức vào WTO
Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá, tuy nhiên các chỉ tiêu như sau thường được sử dụng là: Sản lượng và doanh thu; thị phần, giá cả; chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; thương hiệu và uy tín của nông sản hàng hoá
- Sản lượng và doanh thu của nông sản hàng hoá:
Do có chiến lược xuất khẩu đúng hướng, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng khá nhanh, tăng từ 3.649 triệu USD năm 2001 tới 6.851 triệu USD năm
2005, đạt tốc độ tăng bình quân 14%/năm Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sản trên tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tuy có giảm dần, từ 24,3% năm
2001 xuống còn 21,1% năm 2005 [35]
- Thị phần của nông sản hàng hoá xuất khẩu:
Sự tăng nhanh về kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng nông sản có thế mạnh của Việt Nam đ7 phát huy được lợi thế so sánh của mình trên thị trường quốc
tế và khu vực như gạo chiếm 21% thị phần, đứng thứ hai trên thế giới; cà phê chiếm 10% thị phần, cao su chiếm 10% thị phần; hạt điều chiếm 25% thị phần; hạt tiêu chiếm 27% thị phần đứng đầu thế giới về khối lượng xuất khẩu [35]
Trang 25- Giá cả hàng nông sản:
Mặc dù nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đứng đầu hoặc trong nhóm đầu của thế giới về xuất khẩu nhưng lại không có vai trò chi phối giá cả quốc tế Trong những năm gần đây, tuy khoảng cách giữa hàng goá nông sản xuất khẩu ở Việt Nam và thế giới được thu hẹp dần do chất lượng hàng hoá luôn tăng nhưng giá nông sản xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá xuất khẩu của thế giới Năm 2005, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam (5% tấm) là 255,1 USD/ tấn, vẫn thấp hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan là 284,3 USD/tấn; giá cà phê robusta loại 2 của Việt Nam là 865 USD/ tấn thấp hơn so với cà phê robusta loại EK-1 loại 4 của Inđônêsia là 913 USD/tấn; giá chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng khoảng 60 - 70% so với mức trung bình của các nước xuất khẩu chè [35]
- Mức độ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm: Hiện nay chất lượng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn thấp, không đồng đều và chủng loại chưa đa dạng do vậy khả năng cạnh tranh không cao Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chưa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật
và các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm như các tạp chất, nấm mốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và dư lượng kháng sinh trong khi xuất khẩu sang các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU … đòi hỏi khắt khe về chất lượng và điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
- Thương hiệu và uy tín của nông sản hàng hoá:
Thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới còn yếu kém, dẫn đến sự thua thiệt khi cạnh tranh với hàng nông sản nước ngoài Hiện nay, phần lớn lượng hàng hoá nông sản của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường thế giới phải thông qua trung gian dưới dạng thô hoặc gia công cho các thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài mà điển hình là gạo của Việt Nam, khi xuất khẩu vẫn chưa có một bao gạo nào ghi cụ thể tên giống gì, sản xuất ở đâu cũng như mang thương hiệu gì Gạo nàng thơm chợ Đào vẫn được bầy bán tại các siêu thị nước ngoài với nh7n hiệu ‘‘Made in Thailand’’, ‘‘Made in
Trang 26Hongkong’’; ấn Độ mỗi năm nhập khẩu của Việt Nam 10 ngàn tấn hạt tiêu, họ
đ7 sơ chế lại rồi tái xuất khẩu với thương hiệu ấn Độ [35]
Bảng 2.2: Thành tựu xuất khẩu hàng nông sản từ năm 2001 - 2005 ở Việt Nam
Kim Ngạch
Tỷ trọng
Kim Ngạch
Tỷ trọng
Kim Ngạch
Tỷ trọng
Kim Ngạch
Tỷ trọng Tổng XK
Nguồn: Niên giám thống kê 2005, Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội năm 2006
2.2.2 Các quan điểm nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở
Việt Nam
Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá có ý nghĩa và vai trò hết sức quan
trọng trong bối cảnh đất nước ta có trên 70% người dân sống ở nông thôn với thu nhập
chính từ sản xuất nông nghiệp Hơn nữa, giờ đây khi Việt Nam đ7 chính thức là thành
viên thứ 150 của WTO đòi hỏi nền nông nghiệp của chúng ta phải phát triển nhanh cả
về số lượng và chất lượng với quy mô ngày càng lớn, chiếm ưu thế ngay trên thị
trường trong nước khi mà hàng hoá nông sản các nước sẽ thâm nhập vào thị trường
Việt Nam
2.2.2.1 Quan điểm thứ nhất: Nhà nước phải có chiến lược và kế hoạch phát
triển dài hạn trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay đồng thời thiết lập
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ nhằm phát huy được sức mạnh tổng hợp
từ đất đai, nguồn nhân lực, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật
Đất nước ta từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, phổ biến là sản xuất
nhỏ và manh mún đang dần chuyển đổi sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
vận động theo cơ chế thị trường nên hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ và
Trang 27hoàn chỉnh trong khi nông nghiệp cần có sự tăng cường điều chỉnh vĩ mô trong quản lý, khắc phục các tồn tại đưa nông nghiệp vận động theo quy luật kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hàng hoá Nhà nước cần thực hiện các chính sách vĩ mô sau:
- Xây dựng các định hướng chiến lược dài hạn tập trung sản xuất hàng hoá;
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể;
- Tăng cường kiểm tra giám sát quá trình thực hiện pháp luật của các chủ thể 2.2.2.2 Quan điểm thứ hai: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá phải gắn với thị trường trong nước đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới
Thực tế cho thấy sản xuất nông sản hàng hoá của Việt Nam trong những năm qua đ7 gắn kết với thị trường nhưng chưa thật sự đầy đủ Nền sản xuất hàng hoá gắn với thị trường phải được thể hiện như sau:
- Sản xuất phải nhằm để bán và mục tiêu để bán sẽ chi phối toàn bộ tính toán và hành động của người sản xuất Nhiều khi trên thực tế người sản xuất nông sản hàng hoá chưa theo nhu cầu của thị trường mà theo cảm tính, hiện tượng này vẫn còn đối với diều kiện đất canh tác trên đầu người thấp và khả năng tiêu dùng thấp Người dân chưa quen với hình thức sản xuất để bán, sản xuất theo nhu cầu của thị trường, có thể bán hết sản phẩm của mình tạo ra còn tiêu dùng thì mua
- Sản xuất phải được thể hiện trên cơ sở năm bắt và khai thác được nhu cầu, thị hiếu, sở thích và trào lưu tiêu dùng Đây là yếu tố quyết định trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất và kinh doanh cũng như đề ra chính sách và phương hướng đầu tư Khai thác triệt để thị trường trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài vào những thị trường trọng điểm có lợi thế
- Nâng cao khả năng cạnh tranh về nông sản hàng hoá ở cả thị trường trong nước và quốc tế nhằm giữ thị trường nội địa trước khả năng hàng ngoại nhập từ nước ngoài tràn vào khi nước ta đ7 chính thức gia nhập WTO Thực tế cạnh tranh về chi phí và giá cả nhằm tạo ra lợi thế về giá là rất khó khăn và lâu
Trang 28dài do đòi hỏi phải tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và năng suất lao động bằng việc áp dụng các tiến bộ khao học kỹ thuật, sản xuất phải tập trung với quy mô lớn
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, hình thành các vùng chuyên môn hoá tập trung, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi theo hướng khai thác lợi thế và nguồn lực của mỗi vùng
- Với kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, vấn đề phát triển nền nông nghiệp hàng hoá không bao giờ tách rời với việc CNH, HĐH nông thôn do nông thôn luôn gắn trong mối quan hệ với phát triển đô thị và nông nghiệp luôn gắn trong mối quan hệ với công nghiệp nên bao giờ cũng là hai mặt, hai lĩnh vực đan xen lẫn nhau cùng phát triển
- Đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi nhằm tránh rủi ro, đồng thời phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương nhưng không được manh mún Chuyên môn hoá là để sản xuất hàng hoá nhưng không được độc canh, mỗi vùng, địa phương lựa chọn cây trồng, vật nuôi thích hợp nhằm phát triển tập trung quy mô lớn, tạo mũi nhọn đột phá
2.2.2.4 Quan điểm thứ tư: Phát triển nông nghiệp hàng hoá trước hết cần tích
tụ, tập trung đất đai theo hình thức dồn điền, đổi thửa, vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất gắn với việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phân công lại lao động để hình thành các trang trại sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp
Bên cạnh những mặt tích cực của việc tích tụ tập trung đất đai mang lại như khắc phục được tình trạng manh mún về ruộng đất, nâng cao năng suất lao
động và cải thiện đáng kể hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá, kênh mương thuỷ lợi nội đồng Thực tế cho thấy mức độ tập trung hoá ruộng đất càng lớn thì khối lượng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra càng nhiều Trên cơ sở đó quan điểm trên khẳng định cần phải tập trung hoá ruộng đất vào những
hộ làm ăn giỏi, có tiềm lực về vốn, khoa học kỹ thuật để hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Trang 292.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Thực trạng sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới tới nay (1986 - 2006)
Trong chặng đường 20 đổi mới của đất nước, tình hình nông nghiệp nước
ta đ7 và đang có nhiều khởi sắc, đạt được những thành tựa vô cùng to lớn, mục tiêu CNH, HĐH đất nước nhất là khi nước ta đ7 gia nhập WTO với đầy triển vọng và thách thức
2.2.3.1 Thời kỳ 1986 - 1990
Đây là thời kỳ kế hoạch 5 năm từ 1986 - 1990 của sự chuyển đổi cơ chế quản lý nông nghiệp từ Chỉ thị 100 đến Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khoá VI) Trong thời kỳ này sản xuất nông nghiệp đ7 bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hoá nông sản cho xuất khẩu với số lượng lớn đánh dấu thời kỳ mới trong sản xuất nông sản hàng hoá gắn với thị trường như gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (gạo xuất khẩu 1,42 triệu tấn năm 1989), cà phê ở Tây Nguyên (89,5 ngàn tấn cà phê), cao su Đông Nam bộ (xuất khẩu 76 ngàn tấm mủ), chè ở Trung du, rau đậu ở Đồng bằng Bắc bộ
Tuy nhiên nền nông nghiệp lúc này có điểm xuất phát thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, ngoài ra còn ảnh hưởng nhiều của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp đ7 kéo dài trong nhiều năm
đến sản xuất nông nghiệp hàng hoá gắn với thị trường làm nguồn lực đất đai, tiềm năng lao động ở nông thôn không phát huy được đầy đủ
HTX sản xuất nông nghiệp không còn bao trùm lên toàn bộ hoạt động sản xuất mà từng bước chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình Vấn đề ruộng đất ở nông thôn được điều chỉnh từng bước theo hướng giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ x7 viên
Trang 30và tập trung ruộng đất, phá bỏ rào cản manh mún về ruộng đất, quy mô nhỏ bé với hình thức tự cấp tự túc lạc hậu không còn phù hợp
Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn tăng từ 1.033 ngàn tấn năm 1991; 1.946 ngàn tấn năm 1992; 1.722 ngàn tấn năm 1993; 1.983 ngàn tấn năm
1994 và 1.988 ngàn tấn năm 1995 Bên cạnh đó, cà phê đạt 119 ngàn tấn năm
1990 nhưng đến năm 1995 đạt 268 ngàn tấn và nó đ7 trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ 2 sau gạo Mặt khác, các loại cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh như vải thiều ở Bắc Giang, nho ở Ninh Thuận, nh7n, mận hậu, cam đ7 đem lại hiệu quả kinh tế cao và rõ nét đối với vùng Nam bộ
và Miền núi phía Bắc [9]
Ngành chăn nuôi luôn tăng trưởng khá và ổn định, đặc biệt đối với đàn bò sữa là một nghề mới nhưng số lượng lớn năm 1995 có gần 25 ngàn con tăng gấp
3 lần so với năm 1990 đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng, đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực đối với người nông dân
Thực hiện Nghị định 64/1993/NĐ-CP về giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình cá nhân và Nghị định 02/1994/NĐ-CP về giao đất lâm nghiệp đ7 phát huy hiệu quả, người nông dân đ7 làm chủ thực sự trên mảnh đất
Trang 31của mình Nhiều mô hình trại rừng, vườn rừng kinh doanh lâm nghiệp tổng hợp
đ7 hình thành và phát triển với quy mô lớn Chủ trương khoán rừng đến tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân quản lý và bảo vệ được thực hiện đ7 khắc phục tình trạng rừng vô chủ
Các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản có nhiều tiến bộ, đặc biệt hình thành các vùng chuyên nuôi tôm, các mô hình trang trại nuôi tôm với quy mô lớn hiệu quả cao, cung cấp cho thị trường trong nước và nước ngoài
2.2.3.3 Thời kỳ 1996 - 2006
Sau 10 năm đổi mới, sản xuất nông nghiệp nước ta tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng trưởng với tốc độ cao vượt xa các thời kỳ trước Từ năm 1998 cho đến năm 2000 Việt Nam giữ vững vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo của thế giới (chỉ đứng sau Thái Lan) đ7 khẳng định một nền nông nghiệp hàng hoá gắn với thị trường đang phát triển đúng hướng, khẳng định thành tựu to lớn của sản xuất nông nghiệp hàng hoá nước
ta trên trường quốc tế Lương thực bình quân đầu người tăng từ 375 kg năm
1996, đến năm 2000 là 455 kg
Mục tiêu đa dạng hoá cây trồng, xoá dần thế độc canh đ7 từng bước được
áp dụng ở vùng có truyền thống độc canh như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông cửu Long cũng đ7 có sự chuyển biến tích cực
Sản xuất rau sạch, rau cao cấp có chất lượng cao bước đầu đ7 chuyển hướng sang sản xuất hàng hoá với sản lượng tăng nhanh, chất lượng sản phẩm ngày càng được đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Sản lượng rau
đậu năm 2000 đạt gần 6 triệu tấn, tăng 50% so với năm 1996 góp phần đẩy nhanh
đa dạng hoá cây trồng, tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Đến năm 2000, Việt Nam đ7 trở thành nước có sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới sau Brazin, còn cao su đ7 xuất khẩu sang thị trường 30 nước và vùng l7nh thổ
tập trung quy mô lớn mang tính sản xuất hàng hoá như vùng ĐBSCL, đông Nam
bộ, đông Bắc và định hướng lấy sản xuất hàng hoá là hướng chính để phát triển
Trang 32Để giải quyết việc làm và tăng thu nhập, ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển nhanh và toàn diện theo hướng hàng hoá, hình thành các mô hình trang trại nuôi bò, cừu, gà công nghiệp, vịt siêu trứng, lợn hướng nạc với số lượng đàn gia súc gia cầm không ngừng tăng, đặc biệt đàn bò sữa tăng khá, năm 2000 đạt gần
50 ngàn con Tính đến năm 2005 cả nước có khoảng 119.586 trang trại, trong đó trang trại trồng cây hàng năm là 34.224 trang trại; trang trại trồng cây lâu năm
là 22.232; trang trại chăn nuôi có 16.651 và trang trại nuôi trồng thuỷ sản là 35.648 trang trại (Niên giám thống kê - Tổng cục thống kê năm 2005)
Mặc dù các trang trại ở nước ta mới ra đời và phát triển trong những năm gần đây nhưng đ7 và đang khẳng định được vị trí, vai trò là hướng đi đúng, đ7 khai thác và phát huy nội lực về vốn, về đất đai và lao động trong nông thôn, sản xuất ra một khối lượng sản phẩm lớn giá trị hàng hoá
Tính ở thời điểm năm 2000, giá trị hàng hoá của các trang trại đạt 4965,9
tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81,7 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá 92,6% Các vùng có tỷ suất hàng hoá cao là Nam Trung bộ 97%, Đông Nam bộ 95,3%, Tây Nguyên 91,6%, đồng bằng sông cửu Long 91,4% và vùng có tỷ suất hàng hoá thấp là Tây Bắc 82,3%, Đông Bắc 85,5%
Có thể khẳng định, sản xuất nông nghiệp hàng hoá có ưu việt hơn hẳn so với hình thức sản xuất tự cấp tự túc về khai thác tối đa tiềm năng đất đai, về lao
động đồng thời huy động được nguồn vốn nhàn dỗi trong nhân dân, áp dụng
được tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động
2.2.4 Định hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam
Thực tiễn phát triển của nông nghiệp thế giới đ7 cho thấy, trang trại là mô hình sản xuất rất thích hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp Đây là mô hình vừa cho phép huy động một cách tối đa các nguồn vốn, kiến thức và kinh nghiệm để phát triển sản xuất nông nghiệp, vừa sử dụng một cách đầy đủ, hợp
Trang 33lý và có hiệu quả nhất, vừa tạo ra được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông dân
Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế x7 hội 5 năm 2006 -
2010 của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đ7 chỉ rõ: ‘‘… phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, tạo
điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch …’’
Để thực hiện được những mục tiêu trong Văn kiện Đại hội X cần tổ chức
và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá như sau:
- Xây dựng chiến lược phát triển, quy hoạch các vùng tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm theo từng vùng sinh thái nhằm phát huy lợi thế và tiềm năng tự nhiên Phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo chiều sâu trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, cơ cấu lao động, kết hợp sự tác động mạnh mẽ của khoa học - công nghệ vào tổ chức và quản lý nông nghiệp
- Đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng của hàng nông sản cho thị trường trong nước đồng thời chuyển mạnh nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu (duy trì sản xuất lúa với sản lượng hàng năm trên 35 triệu tấn)
- ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào nuôi trồng và chế biến các loại thực phẩm sạch đạt chất lượng cao Hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao đảm bảo tăng năng suất lao động, tăng thu nhập trên một
đơn vị diện tích, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm
- Tăng cường đầu tư cơ sở kết cấu hạ tầng cho nông nghiệp, cơ giới hoá
và điện khí hoá nông nghiệp tạo thuận lợi nâng cao hiệu quả sử dụng đất góp phần ổn định, phát triển nông nghiệp nông thôn
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phát triển hệ thống khuyến nông và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp Hỗ trợ và thúc
Trang 34đẩy phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp đồng thời tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách, thị trường
2.3 nghiên cứu về phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
2.3.1 Các nghiên cứu, xu hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật [11] trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, x7 hội khác nhau, nhưng đều giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học vào quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức
- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau như:
- Nông nghiệp công nghiệp hoá: hướng này đặt trọng tâm dựa chủ yếu vào các yếu tố vật tư, kỹ thuật, hoá chất và các sản phẩm khác của công nghiệp
- Nông nghiệp sinh thái: hướng này nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự nhiên, làm nổi bật lên đối tượng sản xuất trong nông nghiệp là các loại sinh vật, đồng thời có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên
là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài
Hiện trên thế giới đ7 trải qua ba cuộc cách mạng về nông nghiệp nhưng mới chỉ giải quyết được những bức xúc, khó khăn trước mắt mà chưa có những chiến lược mang tính dài hạn:
Trang 35- Cuộc ‘‘cách mạng xanh’’ đ7 diễn ra ở Châu á, Mỹ La Tinh với việc dựa vào các giống cây trồng có năng suất cao đồng thời sử dụng nhiều loại phân hoá học kết hợp xây dựng hệ thống tưới tiêu chủ động đ7 sản xuất ra một lượng lớn
về lương thực
- Cuộc ‘‘cách mạng trắng’’ đ7 dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao do việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng thức ăn cho gia súc và trong các phương thức chăn nuôi đ7 bắt đầu mang tính chất công nghiệp
- Cuộc ‘‘cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa nông dân với ruộng đất, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nông dân, khuyến khích họ tăng năng suất và sản lượng trong sản xuất nông nghiệp
Trong điều kiện phát triển kinh tế thế giới ở thời gian tới, với sự chuyển hướng từ bề rộng sang bề sâu, khoa học - công nghệ đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ Cách mạng khoa học - công nghệ làm cho năng lực sản xuất của cải vật chất phát triển, dẫn đến nhu cầu phải tăng cường các mối giao lưu kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia trong đời sống kinh tế thế giới
Quốc tế hoá nền nông nghiệp thế giới thể hiện trước hết ở sự phân công lao động trong sản xuất hàng hoá và hợp tác hoá sản xuất để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao, giá thành hạ
Ngày nay, sản xuất nông nghiệp trên thế giới đ7 có những biến đổi sâu sắc về nhiều mặt như lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ, thành tựu và hiệu quả sản xuất công nghiệp trong đời sống kinh tế, x7 hội của toàn thế giới
Có thể khẳng định, trang trại nông nghiệp gia đình vẫn là hình thức sản xuất nông nghiệp chủ lực trong nông nghiệp của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI, với số lượng và quy mô khác nhau tuỳ theo từng quốc gia ở các nước
đang phát triển đi lên công nghiệp hoá, các hộ nông dân từ tiểu nông sản xuất tự túc sẽ phát triển thành các hộ nông dân phát triển nông sản hàng hoá, hình thành các trang trại nông nghiệp gia đình Thời gian đầu, khối lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ, sản lượng và tỷ suất nông sản hàng hoá thấp, nhưng theo thời gian,
Trang 36số lượng trang trại sẽ giảm dần, quy mô sẽ tăng lên, khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hoá sẽ tăng theo Trình độ công nghiệp hoá của các trang trại mới cũng từng bước tăng từ thấp đến cao theo hướng công nghiệp hoá thích hợp ở các nước công nghiệp phát triển, số lượng trang trại tiếp tục giảm đến một giới hạn nhất định, quy mô trang trại sẽ tiếp tục tăng, trình độ công nghiệp hoá sẽ
được điều chỉnh cho phù hợp để bảo vệ môi trường sinh thái
Bước vào thế kỷ XXI, nông nghiệp thế giới vẫn phải tiếp tục con đường nông nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở một nền nông nghiệp bền vững, giữ gìn được tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Chỉ có nền nông nghiệp công nghiệp hoá mới đủ năng lực sản xuất ra nhiều nông sản hàng hoá đáp ứng cho dân số thế giới ngày càng tăng Vì vậy, mô hình nông nghiệp công nghiệp hoá của các nước trên thế giới trong thế kỷ XXI sẽ phát triển cùng chiều về mục tiêu tăng sản lượng nông sản, bảo vệ môi trường sinh thái nhưng với những giải pháp ngược chiều nhau: mô hình nông nghiệp của các nước phát triển
sẽ điều chỉnh theo hướng giảm chi phí năng lượng, giảm nội dung, mức độ công nghiệp hoá để tăng hiệu suất sử dụng năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường; mô hình nông nghiệp của các nước đang phát triển sẽ điều chỉnh theo hướng tăng chi phí năng lượng hợp lý, tăng nội dung, mức độ công nghiệp hoá hợp lý, không rập theo khuôn mẫu của các nước công nghiệp phát triển trước đây, nhằm đảm bảo hiệu suất sử dụng năng lượng khá và chống ô nhiễm môi trường
Xu thế phát triển của nền nông nghiệp thế giới ở thế kỷ XXI sẽ là các mô hình sản xuất thích hợp vừa sản xuất được nhiều nông sản hàng hoá, vừa bảo vệ
được tài nguyên thiên nhiên, duy trì được cân bằng sinh thái cho từng quốc gia
và trên toàn cầu Do vậy các mô hình sau đây sẽ đáp ứng được các yếu tố trên và
sẽ được áp dụng ở đa số các quốc gia:
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến: Mô hình này đang được phát triển ở các nước đang phát triển bắt đầu đi lên công nghiệp hoá Phương thức sản xuất cơ bản là sử dụng sức người và súc vật với công cụ thủ công là chủ lực có thêm một phần hỗ trợ của máy móc, sử dụng các giống cây trồng vật nuôi
Trang 37cũ và mới, bón phân hữu cơ và hoá học với liều lượng khác nhau, dùng hoá chất phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại và một phần sản phẩm vi sinh, dùng thức ăn tổng hợp, đậm đặc, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng cây trồng, vật nuôi, tưới nước bằng hệ thống thuỷ nông, sử dụng năng lượng tự nhiên là chủ yếu Năng suất, sản lượng của phương thức sản xuất này thường đạt vào loại từ khá đến cao
và tương đối ổn định Sản lượng đảm bảo nhu cầu của người nông dân và bắt
đầu có nông sản hàng hoá
- Mô hình nông nghiệp hữu cơ hiện đại: Đây là phương thức sản xuất nông nghiệp mới xuất hiện trên thế giới từ những năm 1970 của thế kỷ XX ở một số nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản … tập trung chủ yếu là sản xuất rau, quả sạch nhưng không sử dụng hoá chất làm phân bón và trừ sâu, trừ cỏ đảm bảo cho nông sản sạch, vẫn sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, sản phẩm vi sinh, máy móc làm đất … Mô hình nông nghiệp hữu cơ hiện đại
đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nền nông nghiệp bền vững, bảo vệ được môi trường sinh thái đem lại hiệu quả kinh tế
- Mô hình nông nghiệp công nghiệp hoá: Mô hình này đang được ứng dụng rộng r7i ở các nước công nghiệp phát triển Phương thức sản xuất cơ bản của mô hình này là công nghiệp hoá toàn bộ chu trình sản xuất: sử dụng giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại đ7
đưa lại năng suất cây trồng, vật nuôi và năng suất lao động nông nghiệp cao,
đưa lại sản lượng và tỷ suất nông sản hàng hoá cao
2.3.2 Một số kinh nghiệm trong phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở một số nước trên thế giới
Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở các quốc gia đều có những điểm tương đồng và khác biệt Để giúp chúng ta học hỏi những sáng tạo và tránh được những hạn chế trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá cần thiết phải tìm hiểu những kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới
có nhiều đặc điểm tương đồng với chúng ta
Trang 38Nhiều nhà kinh tế cho rằng sự tiến triển của nền nông nghiệp hàng hoá phải trải qua ba giai đoạn: nông nghiệp tự cung tự cấp, nông nghiệp đa dạng hoá hay hỗn hợp và nông nghiệp chuyên môn hoá cao
Trong giai đoạn thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chỉ dành cho tiêu dùng và thường dựa vào một hoặc hai loại cây trồng truyền thống Nông nghiệp hoàn toàn dựa vào tự nhiên, sản xuất trong môi trường tĩnh và khắc nghiệt Sự phân lẻ
về thị trường và thiếu thông tin đ7 kìm h7m sản xuất Do tính khép kín và tính rủi ro cao nên những người nông dân sản xuất nhỏ rất do dự trong việc áp dụng
kỹ thuật mới
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế nông nghiệp đa dạng hoá đ7 hạn chế được tình trạng bấp bênh do nông nghiệp không chỉ dựa vào một ít loại cây trồng chính Sản phẩm nông nghiệp một phần cho tiêu dùng và một phần để trao đổi
Giai đoạn ba, nông nghiệp được hoàn toàn chuyên môn hoá, hình thành nên các trang trại chuyên kinh doanh một vài loại sản phẩm nhất định, sử dụng công nghệ, cần nhiều vốn, ít lao động Sản xuất hoàn toàn cho thị trường, sự phát triển của nông nghiệp dựa trên cơ sở tiến bộ sinh học và công nghệ [30] 2.3.2.1 Mỹ
Các trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh có sự liên doanh liên kết với các công ty, xí nghiệp công nghiệp và dịch
vụ đảm bảo nhu cầu về vật tư, thiết bị phục vụ đầu vào và chế biến, bảo quản, lưu thông, tiêu thụ nông sản đảm bảo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Do đặc
điểm nhiều ruộng đất, ít lao động và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp cao, nên các trang trại nông nghiệp ở Mỹ đều có quy mô lớn Xu thế giảm số lượng trang trại và tăng quy mô trang trại đ7 diễn ra với tốc độ nhanh trong thời gian từ những năm 1960 trở đi
Năm 1935, Mỹ có 6,814 triệu trang trại nông nghiệp, năm 1940 giảm xuống còn 6,35 triệu, năm 1960 còn 3,949 triệu và đến năm 1990 chỉ còn 2,14 triệu trang trại Như vậy, từ năm 1935 đến năm 1990 số lượng trang trại nông nghiệp ở Mỹ giảm trên ba lần Năm 1950, quy mô bình quân một trang trại ở Mỹ
Trang 39là 56 ha, năm 1960 là 126 ha; năm 1970 là 151 ha; năm 1990 là 185 - 200 ha Hiện nay, các trang trại ở Mỹ có thu nhập hàng năm dưới 20.000 USD chiếm 58,6% tổng số trang trại; mức thu nhập từ 20.000 đến dưới 100.000 USD chiếm 26,2%; từ 100.000 đến dưới 500.000 USD chiếm 13% và từ 500.000 USD đến 1.000.000 USD chiếm 2% [14] Trong những năm 1980 - 1990, ở Mỹ số trang trại độc lập hộ gia đình chiếm 86% - 87% tổng số trang trại, số trang trại liên gia đình cũng ổn định ở mức 9,6% - 9,7%, số trang trại hợp danh chiếm tỷ trọng ít nhưng có chiều hướng tăng (năm 1971 chiếm 2,1% đến năm 1990 tăng lên 3,2%)
ở Mỹ nếu xét về mặt sở hữu và sử dụng ruộng đất thì có ba loại trang trại:
- Loại hoàn toàn sử dụng ruộng đất riêng Năm 1953, loại này chiếm 47% tổng số trang trại, năm 1980 - 1990 chiếm 59% - 60% Diện tích bình quân 1 trang trại loại này là 108 ha
- Loại không có ruộng đất riêng mà hoàn toàn đi thuê ruộng Năm 1935, loại trang trại này chiếm 42,1% tổng số trang trại, đến năm 1980 -1990 giảm xuống còn 11% - 12% Diện tích bình quân 1 trang trại loại này là 229 ha
- Loại có ruộng đất riêng và thuê thêm ruộng Năm 1935, loại trang trại này chiếm 11%, đến năm 1980 - 1990 tăng lên đến 29% Diện tích bình quân 1 trang trại loại này là 357 ha
Từ cơ giới hoá sản xuất trong nông nghiệp cao nên năng suất lao động nông nghiệp của Mỹ đạt những chỉ tiêu cao nhất thế giới như chi phí lao động
để sản xuất 01 tạ ngô hạt là 0,12 giờ công; 01 tạ lúa nước là 0,30 giờ công; 01 tạ lúa mỳ là 0,19 giờ công; 01 tạ thịt lợn là 0,88 giờ công đ7 đưa nước Mỹ đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu ngũ cốc Như vậy, ở Mỹ trên cơ sở ruộng đất nông nghiệp là hàng hoá có thể mua bán, thuê mướn, cầm cố các trang trại nông nghiệp trở thành các doanh nghiệp sản xuất nông sản hàng hoá
Trang 40- Phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ tại các vùng nông thôn, ngoài ra Chính phủ rất chú trọng phát triển công nghệ chế biến với gần 30.000 xí nghiệp lớn, vừa và nhỏ nằm ở thành phố và nông thôn
- Tăng cường cơ giới hoá và hiện đại hoá nông nghiệp với các chính sách
hỗ trợ nông dân cho vay 60% và trợ cấp 40% tiền mua máy móc, do đó đến những năm 1990 trình độ cơ giới hoá nông nghiệp ở Hàn Quốc khá cao Đến những năm 1970, ngoài việc triển khai cơ giới hoá nông nghiệp thì sản xuất nông nghiệp được triển khai ứng dụng các thành tựu của công nghiệp như sinh học, hoá học … Đầu những năm 1990 có xu hướng chuyển sang công nghệ nông nghiệp kỹ thuật cao, sản xuất trong nhà kính nhiều loại nông sản với thiết
bị điện tử tự động hoá
Như vậy, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, tăng cường cơ giới hoá trong nông nghiệp và ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ vào sản xuất, đó là những nhân tố để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Hàn Quốc
2.3.2.3 Trung Quốc
Bắt đầu từ những năm 1978, nông nghiệp, nông thôn, nông dân được chọn làm khâu đột phá của công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc Sau 6 năm cải cách, về cơ bản vấn đề lương thực của đất nước hơn 1 tỷ dân được giải quyết Lương thực bình quân đầu người năm 1997 đạt 389 kg/người
Từ thực tiễn phát triển nông nghiệp hàng hoá của Trung Quốc hơn 20 năm đổi mới đ7 trải qua các vấn đề sau: