1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá

89 838 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hoá
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá

Trang 1

1- Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN), đóng vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt

động kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh, kinh tế đối ngoại NSNN là

điều kiện vật chất quyết định thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch đề ra Chính vì vậy đổi mới công tác quản lý NSNN nói chung, ngân sách về lĩnh vực văn hoá xã hội nói riêng đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm

Một mốc quan trọng trong việc quản lý ngân sách là Quốc hội đã ban hành Luật ngân sách Nhà nước tháng 3 năm 1996 Luật này đã thiết lập khuôn khổ cho các quan hệ tài chính trong Chính phủ, mang lại sự ổn định trong quan hệ tài chính,

có cơ sở cho việc quản lý, điều hành NSNN

Vào những năm gần đây Đảng, Nhà nước đã quan tâm nhiều tới công tác quản lý ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội Nhiều văn bản pháp lý được ban hành, sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn như Nghị định 10 CP; Luật NSNN

số 01/2002/QH11, của Quốc hội; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách Nhà nước Chính sách thu, chi NSNN về văn hoá xã hội cũng gần như thay đổi hoàn toàn Điều này đòi hỏi công tác quản lý NSNN về văn hoá xã hội phải có sự vận động, nhằm khai thác được nguồn thu, vừa đảm bảo công tác chi tiêu có hiệu quả, vừa giữ vững được trật tự kỷ cương, công bằng xã hội Bài toán về giải pháp tăng cường công tác quản lý và điều hành ngân sách văn hoá xã hội luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý, các nhà khoa học, nhất là trong điều kiện thực hiện Luật NSNN như hiện nay

Năm 2003, năm đầu tiên Quốc hội trực tiếp quyết định phân bổ ngân sách

Đây là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới quản lý nền tài chính quốc gia, thể hiện tính minh bạch, công khai dân chủ trong việc xây dựng dự toán ngân sách và là cơ sở để xoá bỏ hẳn cơ chế “xin - cho”, phát huy được quyền hạn và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý ngân sách của cấp mình

Trang 2

Huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá là một huyện bán sơn địa nằm cách thành phố Thanh Hoá 20 km về phía tây, có dân số hơn 21 vạn dân; mật độ dân số bình quân 751 người/km2 - đông gấp 2 lần so với bình quân của tỉnh và là huyện lớn của tỉnh NSNN hàng năm toàn huyện tính bình quân từ năm 1999 đến nay là 50 tỷ

đồng, trong đó NSNN dành cho sự nghiệp văn hoá xã hội trên 30 tỷ đồng (chiếm 60%) Chính vì vậy, việc phân bổ NSNN nói chung, NSNN về văn hoá xã hội có vai trò to lớn Phân bổ đảm bảo công bằng, khách quan phù hợp với từng vùng, từng khu vực sẽ thúc đẩy sự phát triển về VHXH; ngược lại phân bổ cục bộ, mang tính chủ quan sẽ làm cản trở sự phát triển văn hoá xã hội, gây mẫu thuẫn giữa các vùng, các khu vực Đặc biệt ở địa bàn nông thôn do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, NSNN có tác động rất rõ rệt, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, góp phần nâng cao trình độ dân trí của miền, vùng

Tuy nhiên, việc phân bổ và quản lý NSNN về văn hoá xã hội còn nhiều vấn

đề cần quan tâm, đó là: chính sách của Nhà nước so với thực tế có phần còn chưa hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa sát thực tế; định mức chi hành chính còn thấp; chính sách điều chỉnh ngân sách còn chậm, chưa kịp thời; phân bổ ngân sách còn cứng nhắc, mang tính bình quân nên trong quá trình thực hiện điều hành ngân sách còn lúng túng, khó khăn, chưa phù hợp với nhiệm vụ đặt ra Trong quá trình phân bổ ngân sách còn chưa chú ý đến người hưởng lợi, đặc điểm của từng địa phương, nên

có sự chênh lệch giữa các vùng Từ những yêu cầu thực tế trên đặt ra, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách Nhà nước về văn hoá x∙ hội trên địa bàn nông thôn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ NSNN về văn hoá xã hội ở nông thôn huyện Triệu Sơn, góp phần kiến nghị điều chỉnh phân bổ NSNN về lĩnh vực văn hoá xã hội và tăng cường quản lý NSNN về lĩnh vực văn hoá xã hội trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến NSNN và NSNN trong lĩnh

Trang 3

vực văn hoá xã hội

- Đánh giá kết quả thực hiện phân bổ NSNN về văn hoá xã hội ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá thực hiện phân bổ NSNN và một số ảnh hưởng của phân bổ ngân sách đến phát triển văn hoá xã hội trên địa bàn cấp huyện; trong đó tập trung nghiên cứu tính hợp lý, công bằng, hiệu quả, những ảnh hưởng lớn của phân bổ NSNN đến phát triển văn hoá xã hội nông thôn

Trang 4

2- một số vấn đề lý luận về ngân sách nhà nước

trong lĩnh vực văn hoá xã hội

2.1 Những vấn đề chung về ngân sách Nhà nước và vị trí, vai trò của ngân sách cấp huyện

2.1.1 Những vấn đề chung về NSNN

*Khái niệm NSNN

Thuật ngữ "Ngân sách Nhà nước" có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội, từ trước tới nay thường có hai quan điểm khá phổ biến về NSNN:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: NSNN là bản dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

- Quan điểm thứ hai cho rằng: NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nước

Các quan điểm trên về NSNN đã lột tả được mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN, nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của NSNN Trong thực tế nhìn bề ngoài hoạt động của NSNN là hoạt động thu - chi tài chính của Nhà nước Hoạt động đó rất đa dạng phong phú và được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực và tác

động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội

Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông

qua tháng 3 năm 1996 (tại Điều 1) khẳng định: "Ngân sách Nhà n ước là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước" [47]

Luật NSNN năm 2002 (tại Điều 1) nói rằng: "Ngân sách Nhà n ước là toàn

bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 5

quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [48]

* Đặc điểm NSNN

Một là: Các hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh

tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất

định

Hai là: Những hoạt động thu, chi tài chính có chứa đựng các nội dung kinh tế xã hội và các mặt lợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác

*Bản chất của NSNN

Vấn đề bản chất của NSNN đã được bàn nhiều, nhưng nhiều ý kiến thiên về hình tượng hoá NSNN khi nhấn mạnh đến quan hệ kinh tế mà ít chỉ ra các nội dung vật chất của nó Để quan niệm đầy đủ hơn về bản chất NSNN cần xem xét trên hai khía cạnh:

- Về nội dung vật chất, NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn lực tài chính trong quá trình tạo, lập và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để thực hiện các chức năng của Nhà nước Quan niệm như vậy, về nội dung vật chất của NSNN là phù hợp với nhận thức mới về tài chính; nó chỉ ra các yếu tố cơ bản,

đặc trưng của tài chính trong cơ chế thị trường Sự vận động độc lập tương đối của các nguồn tài chính trong nền kinh tế xã hội, nguồn để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong đó có quỹ NSNN

- Về nội dung kinh tế xã hội, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể khác trong xã hội Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình Biểu hiện các quan hệ đó thông qua các nội dung thu - chi của NSNN, phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội và nhiệm vụ của Nhà nước trong mỗi thời kỳ tương ứng Quan niệm về NSNN như trên vừa thể hiện được nội dung vật chất, vừa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của NSNN [19]

Trang 6

- Ngân sách là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Mâu thuẫn gay gắt đang nảy sinh ở nước ta hiện nay là mẫu thuẫn giữa tính nhân đạo của CNXH và quy luật khắt khe của nền kinh tế thị trường xung quanh vấn đề thu nhập, việc làm và phúc lợi xã hội Vấn đề đặt ra là phải có một chính sách phân phối hợp lý từ thu nhập của toàn xã hội, chính sách đó vừa khuyến khích tăng trưởng lại vừa đảm bảo cuộc sống chung của toàn xã hội, nhất là những người nghèo khổ

Như vậy, xét trên góc độ kinh tế cũng như góc độ xã hội, hoạt động của NSNN có vai trò to lớn, tác động đến các quá trình kinh tế - xã hội

Trang 7

* Thu, chi NSNN

- Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN, nhằm thoả mãn các nhu cầu của Nhà nước

Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt

động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

- Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo việc

thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng Vì thế, chi NSNN là những việc cụ thể, không dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt

động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước

* Chu trình NSNN

Chu trình NSNN có ba khâu nối tiếp nhau là: lập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán NSNN Trong năm ngân sách, đồng thời có cả ba khâu đó: chấp hành ngân sách của chu trình hiện tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước và lập ngân sách của chu trình sau

Lập NSNN (Phân bổ NSNN): Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là

công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản

lý ngân sách Lập ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu - chi của ngân sách trong một năm Việc dự toán thu - chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn

sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng Vì vậy, để phát huy vai trò tích cực của kế hoạch ngân sách, trong thực tiễn, khi lập ngân sách phải đáp ứng các yêu cầu nhất định và dựa vào những căn cứ nhất định với những phương pháp, trình tự có tính khoa học và thực tiễn

Yêu cầu phân bổ NSNN

- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi NSNN dựa trên hệ thống chế độ, chính sách và tiêu chuẩn định mức đúng đắn phù hợp với thực tiễn kinh tế, xã hội đang vận

Trang 8

động

- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách tiến hành đúng với trình tự

và thời gian quy định

- Dựa vào hệ thống chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu - chi của NSNN Đây là căn cứ cụ thể đảm bảo việc lập dự toán có cơ sở khoa học, cơ sở pháp

lý Các chế độ được gọi là phần cứng như lương, phụ cấp, BHXH quá trình phân bổ phải bám sát các quy định của Nhà nước; các khoản chi công việc, chi chuyên môn, nghiệp vụ, chi đầu tư mua sắm, sửa chữa vận dụng theo cơ chế “xin - cho”, tức là các đơn vị có nhu cầu thì cấp trên xem xét quyết định và phân bổ theo các đối tượng khác nhau thì mức sẽ khác nhau Vấn đề này dễ tạo sự bất công bằng trong quá trình thực hiện phân bổ NSNN Do vậy, quá trình nghiên cứu cần phải xem xét kỹ trên các yếu tố, khía cạnh khác nhau

- Ngoài ra, việc phân bổ dự toán NSNN phải căn cứ vào kết quả phân tích việc thực hiện dự toán ngân sách năm trước Đây là căn cứ quan trọng bổ sung những

kinh nghiệm cần thiết cho việc phân bổ dự toán trong năm kế hoạch [4]

Trang 9

Vị trí của ngân sách huyện

Cấp huyện là cấp chính quyền trung gian giữa trung ương và địa phương, là cầu nối quan trọng để tiếp thu chính sách, pháp luật của Nhà nước chuyển tải xuống cấp xã, phường Cấp huyện gần như là cấp cơ sở, thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước, giải quyết và nắm bắt việc thực hiện từ cơ sở, tổng hợp thông tin báo cáo cấp trên Thực hiện được chức năng riêng của mình thì NSNN cấp huyện cũng có những vị trí riêng, đó là:

Trang 10

Thứ nhất: Ngân sách huyện, quận thuộc ngân sách địa phương cung ứng nguồn tài chính cho các nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước ở địa phương và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho chính quyền cấp dưới Hàng năm khối lượng công việc mà chính quyền cấp huyện phải đảm nhiệm là rất nặng nề, bao gồm: NSNN chi kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, văn hoá xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế, các chương trình quốc gia mà cấp huyện phải đảm nhiệm… Đây là một cấp ngân sách thuộc hệ thống NSNN, do đó chúng có đầy đủ các chức năng nhiệm vụ đã được Luật NSNN quy định Cấp huyện có vị trí vô cùng quan trọng, hầu hết các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều được tổ chức thực hiện tại chính quyền cấp huyện Chính vì vậy, NSNN cấp huyện có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Thứ hai: Ngân sách huyện là công cụ điều chỉnh, điều tiết hoạt động xã hội trên địa bàn đi đúng hướng, đúng chính sách chế độ Nhờ có NSNN cấp huyện mà các hoạt động diễn ra ở các địa phương mới bảo đảm kịp thời, mới đáp ứng được yêu cầu quản lý xã hội Nếu không có NSNN cấp huyện, nhiều sự việc xảy ra khó có thể giải quyết ngay được, ví dụ như: phòng chống thiên tai, hoả hoạn, cứu tế xã hội, các chính sách xã hội khác Chính vì NSNN cấp huyện có vị trí như vậy, nên Luật NSNN sửa đổi số 01/ 2002/QH 11 càng tăng cường nhiệm vụ chi cho NSNN cấp huyện

Vai trò của ngân sách huyện:

- Cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước cấp huyện Các hoạt động của bộ máy chính quyền cấp huyện, cũng như của

bộ máy chính quyền các cấp trung ương, tỉnh nhưng chỉ khác phạm vi tác động hẹp hơn, cụ thể hơn NSNN cấp huyện đảm nhiệm tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, các sự nghiệp kinh tế… phát sinh trên địa bàn

- NSNN cấp huyện là công cụ đặc biệt quan trọng để chính quyền huyện thực hiện quản lý toàn diện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội tại địa phương Mặc dù NSNN cấp huyện về số tuyệt đối không bằng ngân sách trung ương và tỉnh, nhưng

nó lại chịu chi phối bởi các nhiệm vụ rất nặng nề Nó thể hiện được vai trò tham gia quản lý Nhà nước của chính quyền cấp huyện NSNN phải bỏ ra để thực thi nhiệm

Trang 11

vụ của Nhà nước tại địa phương, có như vậy mới thể hiện được quyền lực Nhà nước của mình

2.2 Ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá xã hội và những phạm vi tác động của phân bổ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá xã hội trên địa bàn huyện

2.2.1 Nội dung của ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá x∙ hội nói chung

và trên địa bàn huyện nói riêng

* Nội dung của ngân sách Nhà nước về văn hoá xã hội nói chung

NSNN chi cho văn hoá xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục - thể thao, các trại xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo tồn, bảo tàng, thư viện, trùng tu di tích lịch sử đã được xếp hạng, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát thanh truyền hình và các hoạt động văn hoá khác

* Nội dung của ngân sách Nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn huyện

Luật NSNN quy định rất rõ nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện Nội dung NSNN về VHXH trên địa bàn cấp huyện bao gồm: chi văn hoá thông tin, thể dục thể thao, thư viện, phát thanh truyền hình, chi tuyên truyền, chi tôn tạo các di tích thuộc huyện, phòng chống tệ nạn xã hội, chi chính sách xã hội…

Riêng hai khoản chi lớn là y tế và giáo dục - đào tạo, có rất nhiều biến động

về quản lý qua các thời kỳ Từ năm 1993 về trước, nhiệm vụ chi thuộc NSNN cấp huyện; từ 1994 – 1997 thuộc NSNN cấp tỉnh, đến cuối năm 1997 do nhiệm vụ chính quyền cấp huyện ngày càng được đề cao, hai khoản NSNN này được thực hiện uỷ quyền cho huyện; đến năm 2004, ngân sách giáo dục chính thức được giao trở lại NSNN cấp huyện quản lý và phân bổ Qua đây, chúng ta thấy rất rõ vai trò chính quyền cấp huyện ngày càng được nâng cao, trách nhiệm càng nặng nề Cũng qua

đây chứng tỏ, các giai đoạn khác nhau cơ chế, chính sách của Nhà nước về quản lý NSNN nói chung và NSNN cho lĩnh vực VHXH luôn được đổi mới không ngừng, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ như hiện nay

2.2.2 Phạm vi tác động của phân bổ ngân sách Nhà nước về văn hoá x∙ hội trên

địa bàn huyện

Các hoạt động VHXH hoàn toàn khác với hoạt động kinh tế trong xã hội,

Trang 12

hoạt động kinh tế thường gắn với các chủ của nó Còn hoạt động VHXH thường là những hoạt động mang tính cộng đồng nhiều hơn, sản phẩm của văn hoá là sản phẩm xã hội, là lợi ích cộng đồng, là những giá trị về mặt tinh thần; sản phẩm văn hoá vô hình, không phải là một thực thể nhất định nhưng nó có giá trị Hoạt động văn hoá có vai trò rất lớn trong đời sống của chúng ta, không kém gì các hoạt động sản sinh vật chất Nguồn đảm bảo cho các hoạt động VHXH chủ yếu là NSNN Chính vì vậy vai trò của NSNN đối với các hoạt động VHXH là vô cùng quan trọng NSNN là nguồn cơ bản để duy trì các hoạt động của bộ máy và thể hiện sự tham gia quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực VHXH NSNN còn là nguồn cơ bản để tạo nên cơ sở vật chất cho các hoạt động VHXH trên địa bàn cấp huyện Ngoài ra, NSNN cung cấp để duy trì các hoạt đồng thường xuyên như: nuôi bộ máy, chi hành chính, tạo lập chương trình… Do đó, công tác phân bổ NSNN về VHXH ở cấp huyện có tác động rất lớn đến phát triển VHXH, phạm vi tác động của NSNN hầu như là yếu tố quyết định đến sự tồn tại, phát triển VHXH Đối với cấp huyện các tổ chức, hoạt động VHXH không phải là đơn vị kinh doanh, mà là đơn vị hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp Vì vậy ngoài NSNN ra, các khoản phí, lệ phí chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động Phạm vi tác động của phân bổ NSNN về VHXH trên địa bàn cấp huyện được thể hiện như sau:

Thứ nhất, NSNN tác động với phạm vi rộng lớn và mạnh mẽ đến sự phát

triển VHXH trên địa bàn

Thứ hai, NSNN đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của VHXH cấp huyện

Thứ ba, phân bổ NSNN có tác động trực tiếp đến các hoạt động VHXH ở cấp

huyện Bởi vì phân bổ thiếu, phân bổ không công bằng các hoạt động VHXH sẽ rất khó khăn

Chính vì phạm vi tác động của NSNN về VHXH nó rộng lớn như vậy, nên trong quá trình quản lý, cũng như tính toán phân bổ chúng ta phải thực sự tuân thủ những quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ và vận dụng vào thực tiễn một cách khách quan, hợp lý

2.3 Kinh nghiệm về phân bổ ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực văn hoá xã hội ở một

Trang 13

số nước và ở Việt Nam

2.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước

NSNN mỗi quốc gia luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, NSNN được phân bổ theo những mục tiêu nhất định, với những tiêu thức khác nhau, nhằm thực hiện chức năng, quyền lực

và mục đích chính trị của Nhà nước ấy Quá trình nghiên cứu phân bổ NSNN về VHXH, chúng tôi có tham khảo kinh nghiệm ở một số nước như sau:

- ở In-đô-nê-xi-a các khoản tài trợ cho y tế được xác định trên cơ sở bình quân đầu người Các khoản tài trợ này bao gồm cả tiền thuốc, chi phí đã được tiêu chuẩn hoá Chính quyền địa phương phải tài trợ những chi phí để có đất xây dựng các trung tâm y tế Điều này có tác dụng mọi người dân đều có điều kiện được khám chữa bệnh, không phân biệt người giàu, người nghèo trong xã hội Đảm bảo sự công bằng trong công tác y tế, họ đã chú ý đến đối tượng được hưởng lợi là người dân

Đồng thời để tập trung nguồn kinh phí cho công tác khám, chữa bệnh nhằm nâng cao chất lượng y tế, họ đã đưa ra chính sách là chính quyền địa phương phải tài trợ những chi phí để có đất xây dựng các trung tâm y tế

Đối với giáo dục, các khoản tài trợ cho cấp tiểu học do chính quyền địa phương quy định trên cơ sở dự đoán về số lượng trẻ em trong độ tuổi (7 – 12) và số học sinh trung bình đến các trường tiểu học ở địa phương để xác định nhu cầu chi Ngoài ra họ còn căn cứ vào vị trí, đặc điểm các vùng khác nhau để có sự điều chỉnh cho phù hợp, với mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội và kích thích sự nghiệp giáo dục phát triển Đặc biệt Chính phủ In-đô-nê-xi-a rất quan tâm tới các vùng nghèo, hoặc bị tụt hậu để có chính sách ưu tiên hơn, nhằm tạo điều kiện cho họ phát triển [23]

Các khoản tài trợ cho cấp tiểu học do chính quyền địa phương quy định dựa trên cơ sở là: số trẻ em trong độ tuổi đi học và số học sinh trung bình đến trường tiểu học, để đảm bảo sát thực tế hơn, quản lý chặt chẽ hơn, nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý Họ rất chú trọng đến đối tượng của ngành giáo dục là học sinh - sản phẩm của giáo dục; đối tượng không trực tiếp thụ hưởng NSNN Mặt khác tiêu chí công bằng xã hội và các vùng nghèo hoặc vùng bị tụt hâu luôn luôn được quan tâm Qua đây

Trang 14

thể hiện chính sách xã hội của họ có nhiều ưu việt, đáng phải học tập, vận dụng vào

điều kiện cụ thể ở nước ta

- Kinh nghiệm ở Chi lê: Phân bổ NSNN về y tế cũng rất chú ý tới các vùng nghèo, dù chỉ là cho những người nghèo Chi phí y tế ngày càng tăng và buộc phải

được tài trợ từ các nguồn địa phương Song các địa phương lớn và giàu có hơn vẫn

được hưởng lợi nhiều hơn các địa phương khác Cách làm này tạo điều kiện giúp cho người nghèo có điều kiện khám chữa bệnh và họ đang quan tâm nhiều tới công tác y

tế, nhất là đối với vùng nghèo Qua đây thể hiện chính sách kinh tế luôn gắn liền với chính sách xã hội

Về ngân sách giáo dục phân bổ theo đầu học sinh, sinh viên (có điều chỉnh cho phù hợp với những vùng đắt đỏ) cho cả trường công và tư Chất lượng giáo dục ở Chi lê đối với các trường tư tốt hơn các trường công, nên đã thu hút đông đảo học sinh ở Chi lê cũng sẵn sàng tăng nguồn kinh phí cho các địa phương nghèo Tuy nhiên, phải đi kèm với những chính sách thích hợp khác đối với đội ngũ giáo viên (cụ thể: mức lương hưu thích hợp cho giáo viên nghỉ hưu), lại gắn với những chính sách quốc gia [24] Phân bổ NSNN gắn liền với sản phẩm của giáo dục - đào tạo là học sinh, sinh viên, điều này đã làm thúc đẩy việc buộc phải nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, mới có đủ học sinh và mới có tiền Từ đó, hạn chế tình trạng lãng phí NSNN, tình trạng bất công bằng trong phân bổ

Qua kinh nghiệm phân bổ NSNN về giáo dục, y tế ở một nước chúng ta có thể rút ra mấy vấn đề sau:

Một là, chính sách kinh tế luôn phải gắn liền với chính sách xã hội

Hai là, phân bổ NSNN phải chú ý đến đối tượng hưởng lợi, làm sao vừa đảm

bảo công bằng xã hội, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế

Ba là, chính sách kinh tế – xã hội phải phù hợp để vừa huy động được sức

mạnh của Nhà nước, vừa huy động được sức mạnh của chính quyền các cấp cơ sở

2.3.2 Những đổi mới trong phân bổ và quản lý Ngân sách Nhà nước đối với lĩnh vựcvăn hóa x∙ hội ở Việt Nam

ở nước ta trước năm 1997, thực hiện cơ chế "xin - cho", đã tạo không ít khó khăn, vướng mắc cho các cơ sở; nhất là cấp huyện và xã là những cấp cơ sở, tập

Trang 15

trung nhiều đầu mối chi tiêu nhưng hầu như phụ thuộc cấp trên, dẫn đến chi tiêu không có hiệu quả Các đơn vị không được biết trước nguồn kinh phí mà mình được cấp trong năm, dẫn đến chi tiêu "mò", không có kế hoạch chi đến đâu làm dự toán xin đến đó Thực chất cơ chế này đã gây không ít khó khăn cho các cơ sở; thậm chí

có khoản trong kế hoạch nhưng vẫn phải chịu cảnh cấp trên nói là "cấp ngoài kế hoạch" để có tiền chi phí gọi là xin vốn Cách làm này quá vòng vo, gây quá phiền

hà cho cơ sở Đây cũng là do cơ chế cũ và cách làm này thường diễn ra ở tất cả các tỉnh trong cả nước

Từ khi có Luật NSNN, giai đoạn 1997 - 2000 cơ chế đổi mới hoàn toàn NSNN được phân bổ và thông báo dự toán ngay từ đầu năm, tạo điều kiện thuận lợi

để các đơn vị chủ động công việc của mình Song, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại NSNN cấp trên “hết lại đi xin bổ sung” Đặc biệt NSNN về VHXH trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo phân bổ theo đầu giáo viên làm nảy sinh tình hình thừa, thiếu giáo viên không cần để ý, cứ có biên chế là có lương Cách làm này đã có đột phá so với trước, nhưng chưa nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng NSNN; chưa chú ý sự công bằng trong phân bổ, vẫn có nơi quan hệ “tốt” thì được nhiều hơn; mặt khác gây ra hiện tượng giáo viên nghỉ chờ BHXH còn để lương kéo dài thêm 2 – 3 năm, hoặc không cần chú ý đến chất lượng giáo dục Đặc biệt từ năm 2000 trở đi, cơ chế phân bổ và quản lý NSNN được hoàn thiện và đổi mới không ngừng, tăng cường vai trò, trách nhiệm cho cơ sở

Năm 2002, thực hiện Nghị định 10 của Chính phủ khoán thu, khoán chi cho các đơn vị sự nghiệp có thu và làm điểm khoán chi hành chính ở một số địa phương,

đơn vị Bước đầu đã tạo điều kiện tự chủ về mặt tài chính cho các đơn vị hành chính

sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp có thu; đồng thời góp phần vào công cuộc cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay

Năm 2003, năm đầu tiên Quốc hội thực hiện phân bổ NSNN Tất cả các địa phương trong nước thực hiện phân bổ dự toán NSNN ngay từ đầu năm và thực hiện công khai, dân chủ

Năm 2004, bỏ hình thức cấp phát hạn mức kinh phí, chuyển sang điều hành bằng dự toán ngân sách Nhà nước Đây là điểm rất mới, thực hiện cải cách hành

Trang 16

chính trong công tác tài chính - ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thực hiện quyền tự chủ tài chính của mình

Nghiên cứu phân bổ và quản lý NSNN về VHXH ở nước ta thời gian qua chúng ta thấy nổi lên các vấn đề sau:

Một là, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới trong quản lý,

phân bổ NSNN, nhất là NSNN về VHXH nhằm mục đích nâng cao hiệu quả NSNN

và tiến tới sự công bằng trong xã hội

Hai là, chỉ sau 8 năm thực hiện Luật NSNN đã thu được nhiều kết quả, thể

hiện trên các mặt như: đối tượng, hình thức, phân cấp, trách nhiệm quyền hạn các cấp ngân sách… luôn thay đổi cho phù hợp

Ba là, từ khi có Luật NSNN công tác quản lý đi vào nề nếp, kỷ cương hơn; công tác quản lý NSNN nói chung NSNN về VHXH nói riêng được chủ động, khoa học hơn và dần dần tiến tới công bằng xã hội

Bốn là, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính công ở cơ sở

3- Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Trang 17

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá là huyện bán sơn địa, nằm cách thành phố Thanh Hoá 20 km về phía tây Huyện Triệu Sơn ở vị trí chuyển tiếp giữa các huyện

đồng bằng với các huyện trung du, miền núi; có quốc lộ 47 và hệ thống tỉnh lộ tạo

điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế - văn hoá với các huyện trong tỉnh và cả nước Triệu Sơn có diện tích 292,2 km2, chia làm 3 vùng rõ rệt:

Vùng núi, bao gồm 4 xã Diện tích tự nhiên là 58,43 km2 chiếm 20% diện tích toàn huyện Độ cao trung bình vùng núi 70 – 80 m so với mặt nước biển, đỉnh cao nhất 535 m thuộc dãy núi Nưa

Vùng trung du, gồm 11 xã; diện tích tự nhiên 75,15 km2 (chiếm 25,72%), là vùng cây công nghiệp (chè, mía, dứa) kết hợp với trồng lúa nước và chăn nuôi trâu,

bò, lợn

Vùng đồng bằng, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn, diện tích tự nhiên 158,42 km2(chiếm 54,28%), là vùng lúa của huyện, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình trên 10 m, thoải dần từ tây bắc xuống đông nam và chia cắt bởi sông Hoàng và sông Nhơm

Triệu Sơn rất đa dạng về địa hình, cho phép phát triển nông nghiệp toàn diện

và đa dạng Mặt khác đặc điểm này cũng thường gây ra hạn hán, úng lụt ở các tiểu vùng trên địa bàn

3.1.2 Điều kiện kinh tế x∙ hội

Toàn huyện có 35 xã và 1 thị trấn được chia làm 3 vùng: đồng bằng 20 xã và 1 thị trấn; trung du 11 xã; miền núi 4 xã

Về dân tộc: Kinh chiếm 98%; Thái, Mường chiếm 2% Dân số bình quân 5.909 người/xã; xã cao nhất 9.407 người, thấp nhất 2562 người; là huyện lớn của tỉnh [60]

Huyện Triệu Sơn có mật độ dân số bình quân 751 người/km2 - cao gấp 2 lần mật độ bình quân của tỉnh, đặc điểm này đòi hỏi nhu cầu phát triển văn hoá xã hội cũng rất lớn, mới có thể đáp ứng được nhu cầu người dân trong huyện

Về giáo dục, toàn huyện có 86 trường (trong đó: THPT 7 trường, THCS 38 trường, tiểu học 39 trường, 1 Trung tâm GDTX và DN, 1 Trung tâm bồi dưỡng chính

Trang 18

trị); Về y tế, văn hoá: có 1 Trung tâm Y tế huyện và 36 trạm y tế xã, thị trấn; có 1 Trung tâm Văn hoá - TDTT huyện; ở các xã, thị trấn có các nhà văn hoá thôn; trung tâm huyện có 1 Đài phát thanh truyền hình, các xã, thị trấn đều có đài truyền thanh

Một đặc điểm nữa là trình độ dân trí, thu nhập, tập quán sinh hoạt, tiêu dùng các vùng miền có khác nhau Đặc điểm này đòi hỏi khi phân bổ NSNN và đánh giá tác động cũng phải xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau, thì mới phù hợp

Mạng lưới y tế toàn huyện có 310 giường bênh, đạt bình quân 14,2 giường bệnh/vạn dân, cao hơn mức trung bình của tỉnh, (tỉnh là 12,7 giường bệnh/vạn dân)

ở tuyến xã và tuyến huyện chất lượng khám chữa bệnh được tăng lên, tỷ lệ sử dụng giường bệnh ngày càng tăng, năm 1996 bình quân 70%; năm 2000 tăng lên 85% [53]

Triệu Sơn là huyện có cơ cấu nông nghiệp nổi trội; 98,4% dân số ở nông thôn

có thu nhập chủ yếu từ sản phẩm nông nghiệp [60] Ngoài sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương có các ngành nghề phụ như: sản xuất đá xẻ ở xã Đồng Thắng, đan lát ở Minh Dân, chế biến tinh bột ở Minh Châu Cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ phấn đấu đến năm 2005 là: 45% - 25% - 30% [16]

Bảng 3.1 Một số đặc điểm ở ba vùng chính của huyện Triệu Sơn

Đặc điểm ĐVT Vùng núi Vùng trung

du

Vùng đồng bằng

Trang 19

Nguồn: tác giả tự tổng hợp – số liệu năm 2002

Trong những năm qua thu NSNN đều tăng, năm 2000 thu đạt 18.289 triệu

đồng, đến năm 2003 đạt 21.745 triệu đồng (bằng 118,9%) Chỉ tiêu chi cũng tăng từ 17.856 triệu đồng lên 20.821 triệu đồng Mặc dù vậy nhưng thu NSNN địa phương không đáp ứng đủ chi thường xuyên, chỉ bảo đảm 30%, số còn lại do ngân sách tỉnh cấp hỗ trợ Chi xây dựng cơ bản chủ yếu bằng ngân sách tỉnh, trung ương, vốn của các thành phần kinh tế và của nhân dân

3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội: Triệu Sơn là huyện bán sơn địa, là huyện lớn của tỉnh, được chia thành 3 vùng sinh thái: miền núi, trung du, đồng bằng; mật

độ dân số giữa các vùng không đều nhau (miền núi 347 người/km2, trung du 790 người/km2, đồng bằng 839 người/km2), trình độ dân trí có sự khác biệt giữa 3 vùng (tỷ lệ dân có trình độ trung học miền núi 40%, trung du 65,7%, đồng bằng 70%) Tỷ

lệ giáo viên và học sinh giữa các vùng hiện tại phân bố không đều (miền núi 8%, trung du 21%, đồng bằng 71%) Do đó, khi thực hiện phân bổ NSNN và đánh giá tác

động của nó đến phát triển văn hoá xã hội ở nông thôn phải chú ý đầy đủ các yếu tố,

đảm bảo việc nghiên cứu chính xác, khách quan

Triệu Sơn là huyện thuần nông, ngành nghề còn chưa phát triển thu nhập của người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, mức sống và thu nhập của người dân thấp, chưa đạt mức bình quân chung toàn tỉnh; năm 1999 đạt 142 USD (cả tỉnh là 170 USD), năm 2000 đạt 272 USD (cả tỉnh là 286 USD) [ 61]

Về tình hình ngân sách địa phương hiện nay: Chi NSĐP hàng năm đạt 18 - 19

tỷ đồng; trong đó thu NSĐP chỉ đạt 30% nhu cầu chi, số còn thiếu huyện được ngân sách tỉnh trợ cấp mất cân đối Chính vì vậy, công tác phân bổ NSNN nói chung và VHXH nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào chỉ tiêu phân bổ của tỉnh Hầu hết các xã trên địa bàn huyện thu không đủ chi, ngân sách đều phải trợ cấp

Mặc dù NSĐP còn khó khăn, nhưng huyện vẫn chú trọng công tác chỉ đạo

Trang 20

phân bổ NSNN đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng và công bằng, hợp lý

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để so

sánh, đối chiếu các chỉ tiêu thu, chi, phân bổ NSNN; chỉ tiêu phát triển văn hoá xã hội qua các thời kỳ, qua một số năm Từ đó giúp cho quá trình nghiên cứu đưa ra những kết luận, nhận xét

3.2.2 Quá trình thực hiện nghiên cứu

- Chọn điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện ở huyện Triệu Sơn, với các vùng sinh thái khác nhau Tuy nhiên, mẫu được chọn là địa bàn có tính chất đặc trưng và tính đại diện

Vùng núi, việc nghiên cứu được thực hiện trong 4 xã: Bình Sơn, Thọ Bình,

Triệu Thành, Thọ Sơn Đây là vùng miền núi khó khăn của huyện Nguồn thu không

đáng kể chủ yếu dựa vào NSNN cấp trên cân đối Các hoạt động VHXH cũng hầu như dựa hoàn toàn vào NSNN Vì vậy công tác phân bổ NSNN và những tác động của nó đến phát triển VHXH ở nông thôn là rõ nét; nếu không có NSNN các hoạt

động về VHXH thực sự là khó khăn, thậm chí không phát triển được

Vùng đồng bằng, chọn các xã nghiên cứu: Đồng Thắng, Đồng Tiến, Đồng

Lợi, Khuyến Nông là những xã có nhiều khó khăn về giao thông, thuỷ lợi, trường học, đời sống nhân dân, ngành nghề kém phát triển Các xã vùng này nguồn thu thấp, chỉ đáp ứng được một phần chi thường xuyên, còn lại chủ yếu dựa vào cân đối

Trang 21

NSNN cấp trên Chính vì vậy, các hoạt động VHXH cũng kém phát triển; song so với vùng núi, điều kiện kinh tế – xã hội vẫn khá hơn nhiều

Vùng trung du, bao gồm các xã: Minh Dân, An Nông, Minh Sơn, Dân Lực

Đây là những xã tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng, kinh tế vùng này chủ yếu là trồng cây lúa nước, các loại cây công nghiệp, cây lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi gia súc, đại gia súc Trong những năm của thời kỳ đổi mới, các địa phương này có

điều kiện phát triển hơn, do khai thác được tiềm năng kinh tế đồi, nên nguồn thu hàng năm có khá hơn so với hai vùng trên

- Thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu sẵn có (tài liệu thứ cấp)

Chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán, dự toán về NSNN hàng năm, số liệu sách, báo, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia, các báo cáo khoa học, báo cáo tổng kết… có liên quan đến NSNN về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn

Thu thập tài liệu mới (tài liệu sơ cấp), qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp các

đơn vị, cá nhân được thụ hưởng NSNN và các đối tượng không thụ hưởng NSNN

- Phân tổ: Sau khi thu thập đầy đủ các thông tin, số liệu có liên quan đến vấn

đề nghiên cứu, chúng tôi tiến hành phân tổ để dễ dàng trong việc so sánh, đánh giá

và xem xét các khía cạnh của vấn đề Việc phân tổ được xem xét theo vùng kinh tế của huyện như: vùng núi, trung du và đồng bằng; phân tổ theo các thời kỳ trước và sau Luật NSNN; phân tổ theo cấp học

ư

0

1 1

1

n

i

i i

Trang 22

tuổi đi học, số học sinh

Yi: tỷ lệ cộng dồn các nhóm dân cư, người trong độ tuổi đi học, số học sinh

được phân bổ NSNN về văn hoá xã hội

Gini = 0 là công bằng tuyệt đối

Gini = 1 là bất công bằng tuyệt đối

Gini < 0 là phân phối ngược

Nhóm chỉ tiêu đánh giá tác động phân bổ NSNN về văn hoá x∙ hội

Đối với giáo dục - đào tạo

- Tỷ lệ học sinh/dân số

- Tỷ lệ học sinh/người trong độ tuổi đi học

- Tỷ lệ học sinh khá giỏi

- Tỷ lệ học sinh yếu kém

- Tỷ lệ học sinh giỏi trong các kỳ thi

- Tỷ lệ học sinh chuyển tiểu học lên THCS

- Tỷ lệ người bệnh được điều trị khỏi tại huyện

- Tỷ lệ người bệnh phải chuyển tuyến trên

Đối với dân số kế hoạch hoá gia đình

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

- Tỷ lệ người thực hiện kế hoạch hoá gia đình

- Tỷ lệ chết

- Tỷ lệ mắc các bệnh xã hội

Đối với phát thanh truyền hình và các hoạt động VHXH khác

- Tỷ lệ người dân được nghe các thông tin phát thanh, xem truyền hình

- Tỷ lệ người dân được đọc báo và đến các trung tâm văn hoá xã

Trang 23

- Tỷ lệ các làng được công nhận là làng văn hoá

4- Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Thực trạng tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn huyện Triệu Sơn

4.1.1 Tổng quát về thu - chi và cân đối ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện

4.1.1.1 Thu ngân sách Nhà nước

Nguồn thu hàng năm trên địa bàn huyện bao gồm: thuế, phí, lệ phí, thu đóng góp của dân, thu chuyển quyền sử dụng đất, thu cân đối ngân sách cấp trên, thu khác…

Tỷ lệ mà NSNN cấp huyện được hưởng, bao gồm: thuế môn bài, thuế xí nghiệp quốc doanh địa phương, hưởng 100% Thuế công thương nghiệp, phí, lệ phí, các khoản tiền phạt được hưởng 70%; các khoản thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên rừng, NSNN huyện được hưởng 80%; thuế nhà đất: 60%, thuế giao quyền sử dụng đất: 30%, thuế sử dụng đất nông nghiệp: 40%…

Bảng 4.1 cho thấy nguồn thu ngân sách ở hầu hết các năm đều tăng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của huyện Năm 2000, tổng thu NSĐP là 18.290 triệu đồng; tăng lên 21.745 triệu đồng vào năm 2003 (tỷ lệ tăng đạt 18,9%) Xét về mặt cơ cấu thu thể hiện rất rõ NSĐP tự đảm nhiệm được chiếm cao nhất là 32% ở năm 2000 và thấp nhất ở năm 2001 là 19,3% Ngân sách cấp trên phải bổ sung nhiều mới đáp ứng được nhu cầu, nhiệm vụ chi trên địa bàn, chiếm tỷ lệ 70 – 80%

Ngân sách địa phương hưởng theo tỷ lệ, năm 2000 chiếm 20%, sau đó ổn

định dần ở các mức trên 10%; về NSĐP hưởng 100% cũng được tăng từ mức 3,2%

Trang 24

năm 2000 lên 7,8% ở năm 2002, 2003 Đây là do chính sách thu của Nhà nước có những thay đổi, thể hiện trách nhiệm và quyền lợi thu tại địa phương được nâng cao hơn

Bảng 4.1 Tổng hợp thu ngân sách Nhà nước cấp huyện

2000 2001 2002 2003 Các khoản thu

Thuế môn bài là thuế cửa hiệu, mỗi năm chỉ thu 1 lần vào đầu năm từ ngày 1

đến 10 tháng 1 của năm Đây là sắc thuế NSNN cấp huyện được hưởng 100%, song muốn tăng thu loại thuế này chỉ bằng cách khuyến khích nhân dân, đẩy mạnh sản xuất mở nhiều các cửa hàng, cửa hiệu Thuế xí nghiệp quốc doanh địa phương cũng

là khoản được hưởng 100%, song vấn đề này rất gặp khó khăn, các xí nghiệp quốc doanh ở Triệu Sơn chưa phát triển, loại xí nghiệp này rất đơn điệu và có rất ít

Qua nghiên cứu thực tế tại địa bàn chúng tôi thấy: thuế công thương nghiệp, thuế giao quyền sử dụng đất, thuế nhà đất là những nguồn thu lớn của NSNN cấp huyện, cần phải quản lý chặt chẽ và có biện pháp khuyến khích để tăng nguồn thu, giảm bớt khó khăn cho NSNN, có như vậy mới giảm bớt khoản trợ cấp của ngân sách cấp trên Trong những năm qua NSNN huyện Triệu Sơn thường phải bổ sung từ NSNN cấp trên (chiếm khoảng 70%), chứng tỏ ngành nghề còn chưa phát triển, sản xuất độc canh cây lúa Xu hướng tới cần đẩy mạnh các loại ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đẩy mạnh các loại hình xí nghiệp công nghiệp chế biến nông sản, thì mới có thể tăng được nguồn thu, giảm bớt trợ cấp của NSNN cấp trên

Số liệu Bảng 4.2 cho thấy, các đơn vị trung ương quản lý trên địa bàn đóng góp nguồn thu không đáng kể; có 1 đơn vị (Mỏ Crômite Cổ Định) mỗi năm đóng thuế môn bài 1 lần vào đầu năm

Bảng 4.2 Tổng thu ngân sách Nhà nước cấp huyện theo các đơn vị

Trang 25

Các đơn vị ngoài quốc doanh, hàng năm đóng góp nguồn thu cho NSĐP từ

10 – 20% Đây là nguồn thu tuy không lớn, nhưng nó là nguồn thu thực tế và nó

đóng góp một phần giải quyết khó khăn cho ngân sách cấp huyện, nhất là những lúc

cấp trên chưa có nguồn cấp bổ sung; là khoản thu tương đối ổn định và nếu quản lý

tốt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh trong

những năm tới, nguồn thu sẽ tăng lên đáng kể Thời kỳ qua, một mặt còn ít các

doanh nghiệp trên địa bàn, một mặt chưa động viên, khuyến khích để chúng phát

triển mạnh, nên chưa tận thu để tăng nguồn cho NSNN cấp huyện Nguồn thu chủ

yếu tập trung ở các đơn vị địa phương quản lý (chiếm 80 – 90%) tổng thu trong

năm Đây là nguồn thu không phải trực tiếp, nó không thực là nguồn thu – có nghĩa

chủ yếu là nguồn thu trợ cấp của tỉnh cho các đơn vị dự toán thuộc NSNN cấp huyện

quản lý Đối với ngân sách cấp huyện phải có bài toán thế nào để đẩy mạnh sản xuất

ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp; thúc đẩy sản xuất hàng hoá tăng nguồn thu, giảm

dần nguồn trợ cấp của ngân sách cấp trên, ngày càng lành mạnh hoá NSNN; hoặc

Nhà nước cần có chính sách thu phù hợp, để tăng nguồn thu thực tế tại các địa

phương, giảm bớt tỷ lệ cấp bổ sung từ ngân sách cấp trên Cách làm này vừa tăng

cường trách nhiệm của địa phương, lại vừa khuyến khích phát triển nguồn thu

Nội dung thu của NSNN được tập hợp ở bảng 4.3, bao gồm thuế thu nhập và

thuế lợi tức, thuế sử dụng đất, thuế hàng hoá dịch vụ, phí và lệ phí, thu phạt, huy

động dân đóng góp, thu bổ sung ngân sách cấp trên, thu khác

Số liệu Bảng 4.3 thể hiện rõ các nội dung thu Chiếm tỷ trọng lớn nhất là thu

bổ sung từ ngân sách cấp trên (chiếm 68 – 80,7%); lớn thứ hai là nguồn thu từ thuế

sử dụng đất (chiếm 7,3 – 16,3%) Các loại phí, lệ phí thường chiếm tỷ lệ thấp (4 –

10%), qua đây thể hiện tình hình NSĐP rất khó khăn về nguồn thu Thuế hàng hoá -

dịch vụ cũng chiếm tỷ lệ thấp từ 1,8 – 2,5%

Thu đóng góp của nhân dân, là khoản tiền nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở

vật chất các trường THPT, trung học bán công, trung học bổ túc (số thu hàng năm

trên dưới 1 tỷ đồng), để đáp ứng trường lớp cho con em học tập Tuy nó chiếm tỷ

trọng nhỏ, song đã góp phần rất lớn để xây dựng nên những ngôi trường khang

trang, sạch đẹp cho con em có điều kiện học tập Trong những năm 2000 trở về

trước, hầu hết các trường thu được tiền xây dựng, đều để toạ chi tại đơn vị, cách làm

Trang 26

này thiếu chặt chẽ, gây lãng phí NSNN

Bảng 4.3 Tổng thu ngân sách Nhà n ước cấp huyện theo nội dung thu

Thuế thu nhập và lợi tức 346 1,90 378 2,00 464 2,49 588 2,70

Thuế sử dụng đất NN 2.978 16,30 1.466 7,70 1.752 9,40 1.584 7,30

Thuế hàng hoá, dịch vụ 365 2,00 340 1,80 390 2,09 553 2,54

Từ đó đến nay, công tác tổ chức thu và quản lý chi đều thực hiện qua Kho

bạc Nhà nước, chính vì thế hiệu quả quản lý ngày càng được nâng lên rõ rệt Thực

hiện đúng cơ chế chính sách của Nhà nước, được nhân dân đồng tình ủng hộ và

hưởng ứng cao

Nhận xét: Qua nghiên cứu nguồn thu 4 năm ở Triệu Sơn và xem xét các

nguồn thu bằng các khía cạnh khác nhau, chúng ta thấy:

Một là, nguồn thu tại địa bàn chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu chi thường

xuyên Đây là một tỷ lệ nhỏ và thường thể hiện ở hầu hết các huyện thuần nông,

ngành nghề chưa phát triển thu nhập của người dân thấp

Hai là, nguồn thu chính ở huyện chủ yếu là thuế môn bài, thuế công thương

nghiệp, thuế giao quyền sử dụng đất, thuế nhà đất…

Ba là, các tỷ lệ điều tiết còn quá nhiều mức khác nhau khó khăn cho việc

quản lý, sử dụng và chưa khuyến khích được các địa phương tận thu nộp NSNN

Từ những thực tế trên, chúng tôi cho rằng, cần có sự điều chỉnh các tỷ lệ điều

tiết dành phần nhiều cho cơ sở, để vừa tăng cường trách nhiệm lại giảm bớt phần

NSNN cấp trên cấp bù chi thường xuyên

Mặt khác, cần khuyến khích phát triển nguồn thu bằng các chính sách thích

hợp để mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư như: các cơ sở

sản xuất, mới mở ra được miễn thuế trong 3 năm đầu, được hỗ trợ sản xuất một phần

Trang 27

kinh phí ban đầu Các cấp NSNN được giao thu ổn định 3 - 5 năm và phần vượt thu

Nhiệm vụ chi đầu tư phát triển còn chiếm tỷ lệ thấp dưới 10%, năm 2000 đạt 2%, năm 2003 đạt 8,4% Đây là khoản trích trong chi thường xuyên hàng năm để chi cho sửa chữa TSCĐ, chi mua sắm các tài sản nhỏ phục vụ công tác chuyên môn

và nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện

Chi bổ sung ngân sách cấp dưới thường chiếm tỷ trọng trên, dưới 50% (đạt 46,1% vào năm 2002, và 55,9% vào năm 2001) Chi bổ sung ngân sách cấp xã, thị trấn có vai trò rất quan trọng, để chính quyền cấp xã có nguồn đảm bảo chi thường xuyên theo nhiệm vụ chính quyền được giao, mà NSNN cấp xã không tự cân đối

Trang 28

Nguồn: [35], [36], [37], [38]

Mặt khác, chi bổ sung ngân sách cấp dưới còn là chi các chương trình mục

tiêu để phát triển nguồn thu, nhằm tăng thu cho NSNN

Chi thường xuyên đối với NSNN cấp huyện là chủ yếu chiếm từ 90,8 – 97,4%

(Bảng 4.5); chi đầu tư phát triển chỉ có tính chất sửa chữa, phục hồi nhà, cửa, tài sản

làm việc, tu sửa trường lớp đối với cấp trung học phổ thông, bán công, BTVH

(chiếm từ 2,6% – 9,2%)

Trong chi thường xuyên, chi chế độ con người chiếm 10,8 – 12,2%, chi

chuyên môn nghiệp vụ lại chiếm tỷ lệ cao từ 16,4 – 25,2% Qua đây chứng tỏ định

mức chi của Nhà nước quá thấp, công tác quản lý chi hành chính còn buông lỏng,

còn lãng phí, chưa quản lý triệt để, tiết kiệm Theo định mức chi của Nhà nước thì cứ

1 đồng chi cho chế độ con người được chi 1 đồng nghiệp vụ

Trong chi đầu tư phát triển, chủ yếu chi đầu tư xây dựng cơ bản đối với các

trường THPT, trung học bán công, BTVH chiếm tỷ lệ 79,4 – 91,5% Chi đầu tư tài

sản cố định, chủ yếu các tài sản phục vụ quản lý hành chính chiếm 8,5 – 20,6%

Bảng 4.5 Tổng chi ngân sách Nhà n ước cấp huyện theo nhóm mục

Nếu phân tích theo nhóm mục, thấy NSNN dành hỗ trợ và cấp bổ sung cho

ngân sách cấp dưới chiếm tỷ lệ khá cao (từ 60,3% - 67,8%), trong đó bao gồm: chi

hỗ trợ các loại hình HTX, quà lễ, tết, chi trợ cấp hàng tháng cho đối tượng chính

sách – xã hội, chi bổ sung ngân sách xã, thị trấn

Chi khác bao gồm: chi bầu cử HĐND các cấp, chi kỷ niệm ngày lễ, tết, chi

Trang 29

hỗ trợ khác, chi tiếp khách, các khoản chi khác… Nếu xét mình nội dung này thấy

là nhỏ (từ 3,2% - 4,64%), nhưng nếu đem so sánh với nội dung chi chế độ con người

thấy lại là lớn Vấn đề này cần được quan tâm trong quản lý, điều hành và phân bổ

NSNN để làm sao đạt hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng chi khác quá cao

Bảng 4.6 Phản ánh tình hình ngân sách huyện chi theo ngành kinh tế Thường

tỷ lệ chi các năm theo từng ngành kinh tế quốc dân có khác nhau, nhưng ở mức

tương đối ổn định, chênh lệch không nhiều Đây là những nội dung chi trên địa bàn

bằng NSNN cấp huyện cho các ngành theo nhiệm vụ cấp huyện quản lý

Nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ quan

trọng của chính quyền cấp huyện Chi sự nghiệp kinh tế là những khoản chi cho

nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, khuyến nông Đây là những khoản chi cho các

hoạt động, nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn Hàng năm tỷ

lệ này còn nhỏ (chiếm từ 4 – 11%), chưa đủ để đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư các

tiến bộ khoa học kỹ thuật, mới chỉ đáp ứng được các hoạt động chuyên môn thuần

tuý về quản lý Nhà nước, đối với việc phát triển kinh tế

NSNN cấp xã cũng nằm trong hệ thống NSNN, có nhiệm vụ cung cấp nguồn

tài chính cho chính quyền cấp xã hoạt động Hầu hết các xã, thị trấn trên địa bàn

huyện đều không tự cân đối đủ ngân sách để hoạt động

Bảng 4.6 Tổng chi ngân sách nhà n ước cấp huyện theo ngành KTQD

Trang 30

xã Đây là nguồn rất quan trọng đối với cấp xã để duy trì các hoạt động thường xuyên hàng tháng Bởi vì, thu ở địa phương theo mùa vụ nên có lúc các xã không đủ nguồn để hoạt động, phải phụ thuộc hoàn toàn vào NSNN cấp trên bổ sung

Chi quản lý Nhà nước là nhiệm vụ chính nhất của mỗi cấp ngân sách, bao gồm lương, phụ cấp, BHXH, chi hội nghị, chi mua văn phòng phẩm, điện thoại, điện sáng, xăng xe… Song, so với tổng số, nội dung này chiếm tỷ trọng nhỏ từ 11% - 15% Do định mức nhà nước thấp so với chi thực tế, nên rất khó khăn cho việc hoạt

động quản lý Nhà nước, dẫn đến công nợ phát sinh nhiều và ngày càng tăng Do

định mức chi hành chính Nhà nước quá thấp so với nhu cầu thực tế, nên nếu không

có chính sách đổi mới trong quản lý, điều hành ngân sách thì các địa phương sẽ gặp không ít khó khăn; nhất là cấp xã, phường, thị trấn

Chi sự nghiệp giao thông, bao gồm các khoản chi quản lý, tu bổ đường, cầu, cống thuộc nhiệm vụ cấp huyện quản lý; khoản chi này hàng năm chiếm tỷ lệ nhỏ từ 3,2 - 5,6% Do mức chi thấp, nên hàng năm khoản này chỉ đủ để tu bổ nhỏ, san lấp các ổ gà, các cống rãnh thoát nước; đối với công trình lớn phải phụ thuộc hoàn toàn NSNN cấp trên và các chương trình dự án

Chi cho giáo dục - đào tạo, chiếm từ 3,1% - 9,7% hàng năm Đây là nguồn thu đóng góp xây dựng trường của nhân dân để xây dựng, tu bổ cơ sở vật chất phục

vụ cho giảng dạy, học tập ở các trường trung học Đúng ra chi đầu tư cơ sở vật chất cho các trường trung học, NSNN cấp tỉnh phải đảm nhiệm, song NSNN cấp tỉnh không đảm nhiệm nổi mà phải động viên, huy động nhân dân thông qua ngân sách huyện Đây cũng là một trong những bất cập giữa nhiệm vụ và thực quyền NSNN nói chung, NSNN cấp tỉnh nói riêng

Từ việc nghiên cứu về chi NSNN trên địa bàn huyện Triệu Sơn, rút ra những vấn đề sau:

Thứ nhất, chi NSNN năm sau thường cao hơn năm trước để đáp ứng các yêu

cầu và nhiệm vụ đặt ra

Thứ hai, định mức chi hành chính còn thấp so với thực tế dẫn đến quá trình

Trang 31

quản lý, điều hành còn gặp nhiều khó khăn, bất cập

Thứ ba, NSNN cấp huyện mới cân đối được nhiệm vụ chi thường xuyên của

các cấp chính quyền; chi đầu tư và phát triển còn rất hạn chế Đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản các công trình lớn, phải có dự án hoặc chương trình cấp phát riêng; hoặc do nhân dân đóng góp

Thứ tư, hầu hết ngân sách địa phương cấp huyện chỉ cân đối được trên, dưới

30% nhu cầu chi thường xuyên; số còn lại phải được cấp bổ sung từ NSNN cấp trên

Đây cũng là tình trạng phổ biến diễn ra ở Thanh Hoá và trong cả nước

Thứ năm, nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản và phát triển kinh tế là rất quan

trọng, song NSNN chưa đáp ứng được Về lâu dài, đây là vấn đề cần được xem xét,

bố trí khi cân đối NSNN, để đảm bảo nhu cầu công việc cho các địa phương, cơ sở

Thứ sáu, việc chi hành chính quản lý Nhà nước còn kém hiệu quả, còn lãng

phí, cần thực hiện khoán chi ổn định từ 3 – 5 năm theo Luật NSNN để tiết kiệm và chủ động cho các đơn vị cơ sở

4.1.1.3 Cân đối ngân sách Nhà nước trên địa bàn cấp huyện

Cân đối NSNN là quá trình xác định tất cả các nguồn thu, các khoản chi của một cấp ngân sách hay một đơn vị dự toán, tìm ra số chênh lệch Nếu thiếu nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN cấp trên cấp bù để đảm bảo các hoạt động bình thường, nếu thừa đơn vị thụ hưởng ngân sách được sử dụng để chi theo mục đích đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Đối với ngân sách Nhà nước cấp huyện, nội dung tự cân đối là những khoản chi thường xuyên, chi hoạt động của bộ máy và các hoạt động chuyên môn, nghiệp

vụ Những khoản chi đầu tư phát triển NSĐP không thể tự cân đối được mà phải dựa vào ngân sách tỉnh, ngân sách trung ương, các khoản viện trợ hoặc đóng góp của nhân dân

Nguyên tắc cân đối: Tổng thu - Tổng nhu cầu chi = số NSNN thiếu hoặc thừa

Nếu số NSNN dương, tức là thu lớn hơn chi, đơn vị tự cân đối được ngân sách, Nhà nước không phải cấp bổ sung Ngược lại, nếu số NSNN âm, tức thu không

Trang 32

bù đắp đủ chi, NSNN phải cấp bù số thiếu hụt, để đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên của cấp ngân sách, hoặc đơn vị thụ hưởng ngân sách

Trong quá trình cân đối NSNN phải đặc biệt chú ý tính hợp lý, công bằng, bình đẳng, lợi thế, khó khăn, vùng sâu, vùng xa Nếu quá trình tính toán phân bổ NSNN mà thực hiện bình quân, không khách quan, không chính xác, không lường hết các khía cạnh tác động; thì đối với các đơn vị khó khăn, nguồn thu thấp sẽ ảnh hưởng tới việc quản lý, điều hành NSNN Ngược lại, các đơn vị đã thuận lợi, lại

được cân đối nhiều dẫn đến tình trạng chi tiêu lãng phí NSNN

- Các vấn đề đặt ra trong cân đối

Một là: Các đơn vị có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khó khăn thường có

nguồn thu thấp, hoặc không có nguồn thu; NSNN phải bổ sung nhiều hơn Ngược lại, các đơn vị có điều kiện thuận lợi, nguồn thu lớn sẽ giảm gánh nặng cho NSNN Tức là, càng có điều kiện thuận lợi thì càng dễ cân đối, dẫn đến không phấn đấu, không nỗ lực Ngược lại, càng khó khăn càng gặp bế tắc trong quá trình cân đối, lệ thuộc vào nguồn cấp trên, bị động trong cân đối

Hai là: Cần tạo điều kiện để phát triển nguồn thu, tăng nguồn thu cho NSNN

Có nghĩa trong quá trình cân đối phải chú ý dành nguồn để đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề vừa tăng thu nhập cho người dân, vừa tăng thu NSNN

Trang 33

nhiều công việc không chủ động được, phải chờ nguồn từ NSNN cấp trên mới có khả năng thực hiện

Trong phân bổ NSNN nói chung và NSNN về VHXH nói riêng đã bám sát các hướng dẫn và quy định của Nhà nước, song còn cứng nhắc, còn mang tính công bằng, tính chủ quan, chưa đi sâu nghiên cứu kỹ các lợi thế và khó khăn từng địa phương, đơn vị Đối với vùng sâu, vùng xa có quan tâm hơn nhưng chỉ mới là hình thức động viên, chưa quan tâm được nhiều

4.1.2 Thực trạng phân bổ ngân sách Nhà nước về văn hoá x∙ hội

4.1.2.1 Quá trình thực hiện phân bổ

Tuỳ từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau mà thực hiện phân bổ theo những cách thức, đối tượng, nguyên tắc khác nhau Song, đều phải tuân thủ theo những yêu cầu chung, đó là:

- Căn cứ phân bổ: Dựa vào định mức của Nhà nước đã ban hành cho từng

ngành, từng cấp ngân sách, từng giai đoạn lịch sử khác nhau, có như vậy quá trình thực hiện phân bổ mới đảm bảo tính khoa học và thực tiễn

Số biên chế cán bộ, công chức có mặt tại thời điểm (có thể là thời điểm phân

bổ, hoặc thời điểm quy định)

Nhiệm vụ, công việc được giao cụ thể đối với từng ngành, từng lĩnh vực để tiến hành phân bổ cho sát với thực tế

Hàng năm căn cứ vào quyết định kế hoạch tỉnh giao NSNN, quỹ lương của các đơn vị dự toán tại thời điểm 31/12, nhu cầu công việc và mua sắm sửa chữa Riêng giáo dục, các trường không ở tập trung một chỗ và có các đặc điểm khác nhau, nên có tính đến các đơn vị xa gần, đơn vị miền núi, đơn vị có ít giáo viên, ít học sinh, trường chuẩn quốc gia…

Trang 34

+ Theo nhiệm vụ được giao

- Nguyên tắc phân bổ

- Đảm bảo hợp lý, hợp pháp, chính xác, công bằng, công khai, dân chủ

- Phương pháp phân bổ

Từng ngành, từng đối tượng khác nhau có cách phân bổ khác nhau, nhưng

đều phải tuân thủ một nguyên tắc cơ bản là: Trước hết ưu tiên chế độ con người, sau

đến nhu cầu công việc cần thiết, sau nữa đến nhu cầu công việc thứ yếu

Đối với giáo dục đào tạo có 2 cách phân bổ:

Cách 1, phân bổ NSNN căn cứ trên đầu biên chế có mặt tại đơn vị ở thời

điểm 31/12 năm trước

ưu điểm: không bị thiếu chế độ con người, nơi có nhiều giáo viên và có hệ số

lương cao sẽ được phân bổ nhiều kinh phí hơn, nơi ít giáo viên, giáo viên lương thấp thì ít kinh phí hơn

Hạn chế: nơi trung tâm văn hóa xã hội thường tập trung nhiều giáo viên, giáo viên lương cao gây tình trạng dư thừa, lãng phí NSNN Nơi vùng sâu, vùng xa thiếu giáo viên, chỉ tập trung giáo viên trẻ mới ra trường, giáo viên có hệ số lương thấp Tính tổng số giáo viên trên toàn huyện Triệu Sơn không thiếu nhiều so với

định mức; đặc biệt giáo viên tiểu học không thiếu, nhưng tính cục bộ vẫn diễn ra nơi thừa, nơi thiếu gây lãng phí nhiều NSNN Nguyên nhân là do nơi thừa vẫn phải trả lương, nơi thiếu lại phải trả dạy thay, dạy treo Mặt khác số biên chế lại tăng lên vì NSNN được phân bổ theo đầu biên chế, thậm chí nhiều người nghỉ chờ BHXH kéo dài 2 – 3 năm hoặc nghỉ chờ vẫn hưởng phụ cấp ưu đãi (phụ cấp đặc biệt ngành)

Cách 2: phân bổ NSNN theo đầu học sinh, nơi nào nhiều học sinh sẽ được nhiều kinh phí và ngược lại

ưu điểm: NSNN sẽ đồng đều, sát thực tế hơn; tăng cường gắn trách nhiệm với

Trang 35

nhân dân Đây là cách làm mới, thể hiện sự chuyển đổi của ngành y tế trong những

năm qua

Đối với VHXH, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình và các ngành

VHXH khác được phân bổ theo đầu biên chế; thực hiện theo cách một đồng chi chế

độ con người, kèm theo một đồng chi chuyên môn, nghiệp vụ Trong những năm

qua, định mức của Nhà nước còn thấp, đã gặp không ít khó khăn trong quá trình

hoạt động của ngành VHXH trên địa bàn

NSNN cấp xã dành cho các hoạt động văn hoá xã hội ở các năm không giống

nhau (Bảng 4.7), nó còn tuỳ thuộc vào nguồn thu, nhiệm vụ chi mỗi năm Song về

cơ bản nhiệm vụ chi năm sau thường cao hơn năm trước Qua đây chứng tỏ công tác

văn hoá xã hội luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm

Ngân sách xã dành cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo hàng năm chiếm trên, dưới 50%

ngân sách chi cho VHXH; năm thấp chiếm 33,6% là năm 2001; năm cao chiếm

53,4% là năm 2000

Bảng 4.7 Tổng chi ngân sách xã cho các hoạt động văn hoá xã

hội trên toàn huyện

một khoản lớn hỗ trợ các nhà trường THCS, tiểu học trong các ngày lễ, tết; chi hỗ

trợ chuyên môn, nghiệp vụ, chi trả tiền công cho giáo viên mầm non ngoài biên

chế Ngoài nhiệm vụ chi cho hoạt động của chính quyền cấp xã Hàng năm ngân

sách xã dành từ 13% - 14% tổng chi ngân sách xã, để chi cho hoạt động VHXH;

trong đó chủ yếu cho 2 ngành lớn, đó là: giáo dục - đào tạo từ 33,6% – 53,4% và y

tế từ 37,4% - 57,9% Con số này thể hiện rất cao về ý thức, trách nhiệm của toàn xã

hội đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo và y tế cộng đồng

Trang 36

Nguồn NSNN hàng năm chi cho VHXH trên địa bàn toàn huyện thể hiện (Bảng 4.8); trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất và nguồn chủ yếu là ngân sách tỉnh uỷ quyền cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế (chiếm 81,7% – 82,9%), sau đó đến ngân sách cấp xã dành cho các hoạt động VHXH ở từng địa phương (chiếm 12,7% – 14,6%) Ngân sách huyện dành cho các hoạt động VHXH chỉ chiếm tỷ lệ thấp từ 3,2% – 5,1%, chủ yếu cho các sự nghiệp thể dục – thể thao, phát thanh truyền hình, văn hoá, thư viện, văn hoá khác Nguồn NSNN của trung ương hàng năm chẳng

đáng là bao, chỉ chiếm một phần rất nhỏ, chủ yếu chi chống xuống cấp các trường, chi chương trình mục tiêu phổ cập, xoá mù chữ…

Bảng 4.8 Chi theo 4 cấp của NSNN về VHXH ở Triệu Sơn

có khả năng điều chuyển nguồn nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của hai ngành này Song, nó có hạn chế lớn là tỉnh không đủ điều kiện nắm sát đến cơ sở như ở huyện Do đó, tỉnh thực hiện ủy quyền cho huyện quản lý và cấp phát, sau đó quyết toán vào ngân sách tỉnh Thực hiện ủy quyền nhiều lúc thiếu năng động, linh hoạt; khi cơ sở cần thì không có, không đáp ứng được, gây khó khăn cho cơ sở Đây là bài toán cần có lời giải trong những năm tài chính tiếp theo

Đối với ngân sách cấp xã, thị trấn phải đảm nhiệm việc xây dựng cơ sở vật chất trường lớp cho con em học tập ở cấp tiểu học và THCS Đồng thời chi hỗ trợ

Trang 37

thêm chế độ cho giáo viên mầm non ngoài biên chế Hình thức này gắn liền trách nhiệm chính quyền xã với cơ sở, quản lý sát sao hơn Song ngân sách cấp xã hàng năm cũng gặp không ít khó khăn Vì vậy, việc đầu tư cơ sở vật chất các trường phổ thông cơ sở phải huy động nhân dân đóng góp theo quy chế dân chủ và sự tài trợ của cấp trên Chính vì hai lẽ trên mà NSNN cấp tỉnh và NSNN cấp xã chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi ngân sách 4 cấp và có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển VHXH trên địa bàn nông thôn Triệu Sơn nói riêng, Thanh Hóa nói chung

4.1.2.3 Các nhận xét, đánh giá về tình hình phân bổ NSNN

Qua nghiên cứu cơ cấu chi NSNN ở địa bàn Triệu Sơn, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là, phân bổ đã dựa vào các quy định của trên như: số biến chế, giường

bệnh, đầu học sinh, nhiệm vụ của cấp ngân sách Song, kết quả phân bổ vẫn còn bình quân, chưa thực sự công bằng, hợp lý, chưa thực sự quan tâm đến vùng khó khăn, vùng đông người đi học

Hai là, phân bổ cho các sự nghiệp kinh tế, giao thông và phát triển nguồn thu

chưa nhiều, vẫn đang tập trung cho chi thường xuyên Do đó, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được các thế mạnh về kinh tế trên địa bàn; huyện vẫn độc canh cây lúa và chăn nuôi truyền thống

Ba là, phân bổ chi cho từng lĩnh vực cụ thể qua các năm có tăng nhưng ở

mức tăng chậm, đầu tư còn dàn trải, chưa trọng điểm Ví dụ năm nay đầu tư vào lĩnh vực nào cần thiết thì tập trung để nó phát triển, năm sau lại đầu tư lĩnh vực khác thì chắc sẽ có hiệu quả hơn

Bốn là, phân bổ chế độ con người theo quy định, nhưng chi quản lý Nhà

nước còn cao so với quy định, có năm 1 đồng chế độ kèm theo 2,3 đồng nghiệp vụ như năm 2002 (Bảng 4.5), chưa thực hiện được định mức 1 đồng chế độ con người kèm theo 1 đồng chi chuyên môn, nghiệp vụ Đây cũng là vấn đề cần có giải pháp,

để trong thời gian tới, công tác quản lý NSNN nói chung và NSNN về VHXH nói riêng đạt hiệu quả nhất

4.2 Tình hình thực hiện phân bổ ngân sách Nhà nước về giáo dục - đào tạo

4.2.1 Nguyên tắc, cơ sở phân bổ ngân sách Nhà nước về giáo dục - đào tạo

Trang 38

Nguyên tắc phân bổ: NSNN về giáo dục - đào tạo là một bộ phận của NSNN nói chung, nên công tác phân bổ cần tuân thủ nguyên tắc chung của NSNN,

đó là: đảm bảo hợp lý, hợp pháp, chính xác, công bằng, công khai, dân chủ

Trong quá trình phân bổ NSNN hàng năm về giáo dục - đào tạo ở địa bàn nghiên cứu, cơ bản đảm bảo nguyên tắc, trình tự phân bổ và tuân thủ những quy

định của Nhà nước Song, công tác phân bổ vẫn chưa thực sự công bằng, dân chủ

Có nghĩa là trong phân bổ vẫn mang tính chủ quan, cảm tình nể nang, chưa thực sự chú ý đến vùng sâu, vùng khó khăn Có đơn vị vùng thuận lợi vẫn chiếm được lợi thế trong phân bổ

Các nguyên tắc đã thực hiện được, đó là: đảm bảo hợp pháp, chính xác, công khai Còn các nguyên tắc khác thực hiện có phần chưa tốt, vì thế dẫn đến có đơn vị thường xuyên được nhiều kinh phí chuyên môn, nghiệp vụ; có đơn vị chỉ được một

phần nhỏ theo quy định chung, không có phần “bổ sung”

Căn cứ phân bổ: NSNN về giáo dục - đào tạo hàng năm, được căn cứ vào số cán bộ, giáo viên trong biên chế, số học sinh từng trường, vị trí địa lý, vùng miền, kết quả thực hiện những năm trước

Trên cơ sở nguồn NSNN được thông báo hàng năm cho huyện về lĩnh vực giáo dục - đào tạo Phòng Tài chính phối hợp cùng phòng Giáo dục - Đào tạo, xác

định những căn cứ cho từng trường như: số học sinh, số lớp, số giáo viên, khoảng cách xa, gần, kết quả thực hiện những năm trước Sau đó tiến hành phân bổ cho từng trường cụ thể

Bước 1, tính toán phân bổ cho từng trường dựa trên những căn cứ đã nêu, để

tạo thành một mặt bằng chung cho các trường

Bước 2, tiến hành xem xét các yếu tố xa, gần, trường chuẩn quốc gia, trường

ít học sinh, trường miền núi, các yếu tố chủ quan của cán bộ nghiệp vụ… để bổ sung thêm cho một số trường

Qua cách làm nêu trên, thấy rằng: các đơn vị cơ bản đảm bảo phần cứng (phần chế độ con người), còn phần chi chuyên môn, nghiệp vụ có sự khác nhau; thậm chí có sự chênh lệch lớn giữa trường cao và trường thấp nhất

4.2.2 Kết quả phân bổ NSNN về giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện

Trang 39

a) Kết quả phân bổ chung

Hàng năm, sau khi có quyết định phê duyệt dự toán của UBND tỉnh, Sở Tài chính thông báo dự toán năm tới các Phòng Tài chính huyện, thị xã, thành phố Phòng Tài chính tham mưu cho UBND huyện phương pháp phân bổ và chuẩn bị các

số liệu dự kiến phân bổ cho các đơn vị dự toán, UBND huyện trình HĐND phê chuẩn, sau khi phê chuẩn xong UBND huyện ra quyết định giao dự toán cho từng

đơn vị, làm cơ sở pháp lý cho quá trình quản lý điều hành NSNN Quá trình phân bổ

dự toán là quá trình rất quan trọng, đặc biệt theo Luật NSNN hiện nay, kể từ 01/1/2004 bỏ hình thức cấp phát hạn mức kinh phí chuyển sang điều hành bằng dự toán (dự toán phân bổ ngay từ đầu năm và quản lý điều hành theo dự toán) Chính vì vậy, công tác phân bổ dự toán đòi hỏi phải được nâng cao, đảm bảo công bằng và hợp lý giữa các vùng, miền; giữa các đơn vị với nhau

Phân bổ dự toán là thực hiện chi tiêu có hiệu quả nhất, đòi hỏi các đơn vị công khai dân chủ và chi tiêu đúng mục đích, đúng đối tượng, xoá bỏ tư tưởng trông chờ vào ngân sách cấp trên Vì vậy, các đơn vị phải chủ động bố trí nguồn thu để bổ sung vào chi thường xuyên, làm tăng nguồn kinh phí hoạt động

Bảng 4.9 Cơ cấu nguồn kinh phí giáo dục và đào tạo

Trang 40

giảng dạy, học tập chỉ trông chờ vào NSNN, tính toán phân bổ thiếu sẽ không có

nguồn đảm bảo chi lương, phụ cấp, các khoản chi chuyên môn, nghiệp vụ của nhà

trường

Để nghiên cứu sâu hơn về NSNN với ngành giáo dục - đào tạo, Bảng 4.10 thể

hiện cơ cấu NSNN qua các năm Đối với ngành giáo dục - đào tạo, tỷ trọng tiền

lương chiếm bình quân 55,7%; và là ngành có phụ cấp đặc thù, nên tỷ lệ phụ cấp

chiếm tới 26,6% Chi công tác chuyên môn, nghiệp vụ cho các trường chỉ chiếm một

phần nhỏ của NSNN (chiếm 8,86%)

NSNN dành cho giáo dục - đào tạo chủ yếu là chế độ con người (chiếm bình

quân tới 91,14%; chi chuyên môn, nghiệp vụ chỉ chiếm 8,86%)

Bảng 4.10 Nội dung chi NSNN về giáo dục - đào tạo

Vì vậy, công tác phân bổ NSNN phải đặc biệt chú ý thực hiện theo nguyên

tắc, nếu tính toán không chặt chẽ rất dễ dẫn tới thiếu, hụt chế độ con người

b) Ngân sách giáo dục tiểu học

Trước khi có Luật NSNN (năm 1997), chưa thực hiện phân bổ dự toán và

công bố ngay từ dầu năm Công tác quản lý cấp phát NSNN chưa thực sự khoa học,

chưa tạo tính chủ động trong chi tiêu của các đơn vị dự toán Nhưng do ngành giáo

dục - đào tạo chủ yếu là lương và chế độ con người, nên không thể hiện rõ sự thiếu

công bằng trong thực hiện quản lý ngân sách Nhà nước Các khoản lương, phụ cấp

đều được tính đủ, do đó sự chênh lệch giữa các vùng, miền có khác nhau, song trong

năm chưa thể xác định được phải chờ quyết toán năm mới biết sự chênh lệch Bảng

4.11 minh hoạ về tình hình phân bổ NSGD tiểu học trước khi có Luật NSNN, vùng

Ngày đăng: 03/08/2013, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Lê Hữu ảnh (2003), Bài giảng môn Tài chính – tín dụng nông thôn cho lớp Cao học khoá 11, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Tài chính – tín dụng nông thôn cho lớp Cao học khoá 11
Tác giả: Lê Hữu ảnh
Năm: 2003
2- Bộ Tài chính (2002), Thông t− h−ớng dẫn thực hiện NĐ số 10 - CP, số 15/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t− h−ớng dẫn thực hiện NĐ số 10 - CP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2002
3- Đỗ Kim Chung (2000), Ph−ơng pháp nghiên cứu kinh tế xã hội phát triển nông thôn, Bài giảng cho ch−ơng trình Việt Nam - Hà Lan, Hà Nội 26 - 29/9/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp nghiên cứu kinh tế xã hội phát triển nông thôn, Bài giảng cho ch−ơng trình Việt Nam - Hà Lan
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Năm: 2000
4- D−ơng Đăng Chinh (2000), Lý thuyết tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính
Tác giả: D−ơng Đăng Chinh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2000
6- Chính phủ n−ớc CHXHCN Việt Nam (1998), về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã
Tác giả: Chính phủ n−ớc CHXHCN Việt Nam
Năm: 1998
7- Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2002), về chế độ quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu, Nghị định số 10/NĐ- CP ngày 16/1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về chế độ quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2002
8- Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2003), quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật NSNN, Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật NSNN
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
9- Chính phủ n−ớc CHXHCN Việt Nam (2003), về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7 /7/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã
Tác giả: Chính phủ n−ớc CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
11- Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá (2002), Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá 2001, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá "2001
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
12- Phạm Đại Doãn (1996), Quản lý xã hội nông thôn n−ớc ta hiện nay – một số vấn đề giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội nông thôn n−ớc ta hiện nay – một số vấn "đề giải pháp
Tác giả: Phạm Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13- Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), kinh tế Nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
14- Tr−ơng Quang Đ−ợc (2002), "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Công sản số tháng 4/2002, tr 6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Tr−ơng Quang Đ−ợc
Năm: 2002
15- Đại học kinh tế quốc dân (1998), Kinh tế công cộng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế công cộng
Tác giả: Đại học kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
16- Đảng bộ huyện Triệu Sơn (2000), Chương trình hành động theo tinh thần Nghị quyết TW 5, Số 07/CT-HU, Triệu Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình hành động theo tinh thần Nghị quyết TW 5
Tác giả: Đảng bộ huyện Triệu Sơn
Năm: 2000
17- Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18- Lê Mạnh Hùng (1998), Thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
19- Nguyễn Ngọc Hùng (1998), Lý thuyết tài chính – tiền tệ, Nxb Thống kê, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính – tiền tệ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
20- Hoàng Hùng (2000), “Hiệu quả kinh tế trong các dự án phát triển nông thôn: Cách nhìn từ quan điểm truyền thống và quan điểm mới”. Tạp chí Kinh tế nông nghiệp, số 10 (28)/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế trong các dự án phát triển nông thôn: Cách nhìn từ quan điểm truyền thống và quan điểm mới”." Tạp chí Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Hoàng Hùng
Năm: 2000
21- Học viện Tài chính Hà Nội (2003), Kỷ yếu hội thảo khoa học Quản lý tài chính công những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học Quản lý tài chính công những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Học viện Tài chính Hà Nội
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
22- Lê Thế Lực (2003), Thực trạng và một số giải pháp tăng c−ờng tính tự chủ của nông dân trong các dự án PTNT tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp tăng c−ờng tính tự chủ của nông dân trong các dự án PTNT tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Lê Thế Lực
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Một số đặc điểm ở ba vùng chính của huyện Triệu Sơn - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 3.1 Một số đặc điểm ở ba vùng chính của huyện Triệu Sơn (Trang 18)
Bảng 4.9 cho thấy cơ cấu nguồn kinh phí cho giáo dục hàng năm chủ yếu là  nguồn NSNN chiếm tỷ lệ 88,4%, phần học phí chiếm 8,8%, nguồn khác là tiền thu - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.9 cho thấy cơ cấu nguồn kinh phí cho giáo dục hàng năm chủ yếu là nguồn NSNN chiếm tỷ lệ 88,4%, phần học phí chiếm 8,8%, nguồn khác là tiền thu (Trang 39)
Bảng 4.14 thể hiện tr−ờng đ−ợc phân bổ cao nhất về chi nghiệp vụ năm 2003  (Thọ Bình) là: 25.564.000đ, tr−ờng đ−ợc phân bổ ít (Minh Dân) là: 7.304.000đ, chỉ  cao gấp 3,5 lần không có tình trạng cao gấp trên 43 lần nh− thời kỳ ch−a có Luật - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.14 thể hiện tr−ờng đ−ợc phân bổ cao nhất về chi nghiệp vụ năm 2003 (Thọ Bình) là: 25.564.000đ, tr−ờng đ−ợc phân bổ ít (Minh Dân) là: 7.304.000đ, chỉ cao gấp 3,5 lần không có tình trạng cao gấp trên 43 lần nh− thời kỳ ch−a có Luật (Trang 46)
Bảng 4.17 cho thấy sau khi có Luật NSNN, công tác phân bổ dự toán đ−ợc  công khai ngay từ đầu năm - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.17 cho thấy sau khi có Luật NSNN, công tác phân bổ dự toán đ−ợc công khai ngay từ đầu năm (Trang 52)
Bảng 4.18   Chi chế độ con người, chi  chuyên môn nghiệp - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.18 Chi chế độ con người, chi chuyên môn nghiệp (Trang 56)
Bảng 4.19 cho thấy, mức chi một đầu học sinh các tr−ờng ở hai năm 1995,  1996 là thời kỳ ch−a có Luật NSNN, nên chênh lệch nhau rất nhiều - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.19 cho thấy, mức chi một đầu học sinh các tr−ờng ở hai năm 1995, 1996 là thời kỳ ch−a có Luật NSNN, nên chênh lệch nhau rất nhiều (Trang 57)
Bảng 4.19   Chi tiền chuyên môn nghiệp vụ theo đầu học sinh THCS - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.19 Chi tiền chuyên môn nghiệp vụ theo đầu học sinh THCS (Trang 58)
Đồ thị 4.1  Biểu thị t − ơng quan giữa học sinh và chuyên môn                       nghiệp vụ các tr − êng tr − íc, sau LuËt NSNN - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
th ị 4.1 Biểu thị t − ơng quan giữa học sinh và chuyên môn nghiệp vụ các tr − êng tr − íc, sau LuËt NSNN (Trang 59)
Bảng 4.22   Mức ngân sách Nhà n − ớc bình quân 1 ng − ời dân đ − ợc h − ởng ở các  vùng - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.22 Mức ngân sách Nhà n − ớc bình quân 1 ng − ời dân đ − ợc h − ởng ở các vùng (Trang 62)
Bảng 4.22 cho thấy, th−ờng năm sau mức NSNN bình quân 1 ng−ời dân cao  hơn năm tr−ớc. - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.22 cho thấy, th−ờng năm sau mức NSNN bình quân 1 ng−ời dân cao hơn năm tr−ớc (Trang 62)
Bảng 4.24 cho thấy, tỷ lệ học sinh/ dân số đ−ợc tăng lên từ 32% - 34%; tỷ lệ  học sinh/độ tuổi đi học cũng ngày càng tăng đến năm 2003 hầu hết không còn các  em trong độ tuổi không đến trường (chiếm tỷ lệ 94,6%) - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.24 cho thấy, tỷ lệ học sinh/ dân số đ−ợc tăng lên từ 32% - 34%; tỷ lệ học sinh/độ tuổi đi học cũng ngày càng tăng đến năm 2003 hầu hết không còn các em trong độ tuổi không đến trường (chiếm tỷ lệ 94,6%) (Trang 65)
Bảng 4.26 cho thấy, về tổng số học sinh tăng lên đạt cao ở giai đoạn trước  năm 2002; đến năm 2003 lại giảm xuống, nhất là học sinh tiểu học (do ảnh hưởng  của chính sách kế hoạch hoá gia đình) - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.26 cho thấy, về tổng số học sinh tăng lên đạt cao ở giai đoạn trước năm 2002; đến năm 2003 lại giảm xuống, nhất là học sinh tiểu học (do ảnh hưởng của chính sách kế hoạch hoá gia đình) (Trang 66)
Bảng 4.27 thể hiện, các chỉ tiêu đánh giá năm 1995 đều thấp hơn các chỉ tiêu  năm 2003, chứng tỏ chất l−ợng giáo dục ngày càng đ−ợc nâng cao rõ rệt - Đánh giá tình hình thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước về văn hoá xã hội trên địa bàn nông thôn huyện triệu sơn tỉnh thanh hoá
Bảng 4.27 thể hiện, các chỉ tiêu đánh giá năm 1995 đều thấp hơn các chỉ tiêu năm 2003, chứng tỏ chất l−ợng giáo dục ngày càng đ−ợc nâng cao rõ rệt (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w