Đánh giá và định hướng các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện việt yên tỉnh bắc giang
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I
khương mạnh hà
Đánh giá và định hướng các hệ thống
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: QuảN lý đất đai
Mã số: 4.01.03
Trang 2Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đay là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ6 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày… tháng… năm 2007
Tác giả luân văn
Khương Mạnh Hà
Trang 3
Lời cảm ơn
Tôi xin trâng trọng cảm ơn sự hướng dẫn trực tiếp và quý bàu của thầy giáo TS Đỗ Nguyên Hải, của các thầy cô giáo trong Khoa Đất và Môi trường, Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Nông nghiệp I- Hà Nội
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Nông – Lâm (Bộ Nông nghiệp & PTNT), các Phòng, các Khoa, cán bộ giảng viên Khoa Địa chính Trường Cao đẳng Nông – Lâm, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Thống kê huyện Việt Yên, đ6 động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Hà nội, ngày… tháng… năm 2007
Tác giả luân văn
Khương Mạnh Hà
Trang 4Mục lục
2.1.2 Tổng quát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 5
2.1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững 9 2.2 Tình hình nghiên cứu, đánh giá đất phục vụ công tác quản lý và quy hoạch đất đai
14
2.3 Các khái niệm về hệ thống nông nghiệp và hệ thống sử dụng đất thích hợp ở Việt Nam
18
2.3.4 Nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các hệ thống sử dụng đất thích hợp
ở Việt Nam
26
Trang 53.2 Nội dung nghiên cứu 28
4.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên 38
4.3 Đánh giá hiện trạng các hệ thống sử dụng nông nghiệp và đề xuất hướng
sử dụng thích hợp
54
4.3.4 Hiện trạng sử dụng đất và mức độ thích hợp của một số loại hình sử dụng
đất chính trên các loại đất
82
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục các hình ảnh
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Trang 8Danh mục các Bảng biểu
nước
7
Bảng 4.4 Diễn biến diện tích - năng suất - sản lượng một số cây trồng chính qua các năm 43
Bảng 4.12 Quy mô diện tích bình quân các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của nông hộ
trên địa bàn huyện Việt Yên
60
Bảng 4.14 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp bình quân của các trang trại trên địa bàn
huyện Việt Yên năm 2006
67
Bảng 4.18 Tổng hợp hiệu quả kinh tế, x6 hội và môi trường của các loại hình trang trại
trên địa bàn huyện Việt Yên
75
Trang 91 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động kinh tế - x6 hội, an ninh quốc phòng Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động mà còn
là tư liệu sản xuất không thể thay thế
Do sức ép của gia tăng dân số và nhu cầu phát triển x6 hội, đất nông nghiệp
đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng Con người
đ6 khai thác quá mức mà chưa có nhiều các biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai
Hiện nay, việc sử dụng đất đai hợp lý, giữ gìn cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu
Nghiên cứu tiềm năng đất đai, đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, xác định các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và hiệu quả làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của quốc gia và của từng địa phương
Việt Yên là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Giang, nơi có điều kiện sinh thái đa dạng mang tính chất đặc thù của vùng đất trung du Điều kiện tự nhiên, đất đai và kinh tế - x6 hội có nhiều lợi thế cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của huyện còn gặp nhiều khó khăn do chưa xác định
và sử dụng đúng tiềm năng và khai thác có hiệu quả đối với đất đai Đặc biệt, các
hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện chưa được đánh giá trên cơ
Trang 10sản xuất hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu thị trường, tăng giá trị thu nhập trên một
đơn vị diện tích, xây dựng một nền nông nghiệp bền vững phù hợp với các điều kiện sinh thái là hết sức quan trọng và cần thiết
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học: “Đánh giá và
định hướng các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục đích yên cầu của đề tài
Trang 112 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 2.1 Đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
* Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp
Đ6 có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất Khái niệm đầu tiên của học giả người Nga Đocutraiep năm 1987 cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” [12] Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng
và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh Do đó, sau này một số học giả khác đ6 bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên Ngoài ra, còn
có một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất như sau:
- Học giả người Anh V.R Viliam đ6 đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng”[23]
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất
được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái
đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập
đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại” [43]
Trang 12nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ” [19]
* Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của x6 hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác
đ6 nhấn mạnh “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất” [8] Luật đất đai năm 2003 cũng đ6 khẳng định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở y tế, văn hoá, x6 hội, an ninh quốc phòng” [19]
Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đ6 biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [17]
Đất đai có vị trí cố định và có chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền [11] Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - x6 hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường) Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng l6nh thổ
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên [11]
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy rằng diện tích đất tự nhiên nói chung
Trang 13và đất nông nghiệp nói riêng là có hạn và chúng không thể tự sinh sôi Trong khi đó, áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của x6 hội đ6 và đang làm
đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp như xây dựng cơ sử hạ tầng, các khu đô thị, khu công nghiệp… đ6 làm cho đất đai ngày càng khan hiếm về số lượng, giảm về mặt chất lượng và hạn chế khả năng sản xuất Sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia
2.1.2 Tổng quát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia
Theo đánh giá của Ngân hành thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đ6 khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000m2 Trong đó ở
Trang 14vào hàng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu thống kê (Nhà xuất bản thống kê Hà Nội năm 2000) diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác của Việt Nam có sự biến động lớn, cụ thể năm 1990 diện tích đất nông nghiệp là 9.940,0ha; diện tích
đất canh tác là 8.101,5ha; bình quân đất canh tác là 1.223m2/người; đến năm 2000 diện tích đất nông nghiệp là 12.644,3ha; diện tích đất canh tác là 10.540,3ha; bình quân đất canh tác 1.357,67m2/người Đến cuối năm 2005 diện tích đất nông nghiệp cả nước là 13.234,7ha; diện tích đất canh tác là 10.805,9ha Bình quân diện tích đất canh tác đạt 1.300,4m2/người
2.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón
Trang 15Bảng 2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp
và diện tích đất trồng cây hàng năm của cả nước
Năm TDT đất nông nghiệp
(ha)
TDT đất trồng cây hàng năm (ha)
Dân số (1.000 người)
Bình quân DT đất trồng cây hàng năm/người (m 2 )
Trang 16dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống
ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO) [48] Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đ6 tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đ6 gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S [54] chỉ ra rằng “sự suy kiệt
đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”
Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992) [50]: trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% l6nh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy ở ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu á Thái Bình Dương có khoảng
860 ha đất đ6 bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kết quả điều tra của FAO (1993) [52], do chế độ canh tác không tốt đ6 gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng
đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu á: 30 tấn/ha
Trang 17Hiện nay những vấn đề môi trường đ6 trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện
đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả m6n các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai (Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê, 1998)[45]
2.1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý [28] Tuy nhiên thực tế cho thấy sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ
đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển x6 hội Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp
Ngoài những tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và quy luật sinh thái tự nhiên, đất đai còn chịu ảnh hưởng của yếu tố con người, các quy luật kinh tế - x6 hội và các yếu tố kỹ thuật Đặc biệt là
đối với ngành sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định chủ đạo
đối với việc sử dụng đất đai, còn phương hướng sử dụng đất đai được quyết định bởi yêu cầu của x6 hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trang 18người dân còn hạn chế đ6 dẫn tới nhiều diện tích đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người Diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp và hậu quả đ6 gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đ6 được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use)
đ6 trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của FAO,
1992 [51]: “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự nhiên
và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật, thể chế bằng cách nào để đảm bảo thoả mGn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay và mai sau” Trong nông nghiệp
được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng, chăn nuôi
và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, x6 hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về x6 hội (Trần An Phong, 1995) [26]
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một
hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả m6n những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một cách hoà hợp với thiên nhiên
Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả năng phục hồi tài nguyên sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu, năng lượng Từ đó dẫn tới phải
Trang 19loại bỏ khả năng sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác Hệ thống canh tác chuyển vào môi trường các chất thải trong đó có các chất độc đối với đất, nước và không khí khiến cho sản xuất không bền vững Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học bao giờ cũng phải cân nhắc đến hiệu quả kinh tế
và môi trường
Trước năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống mới, năng suất cao, kỹ thuật cao Nhưng sau năm 1970 một khái niệm mới đ6 xuất hiện và ngày càng có tính thuyết phục - khái niệm tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững
Theo Lê Vết Ly, Bùi Văn Chính [17] nông nghiệp bền vững không có nghĩa
là khước từ những kinh nghiệm truyền thống mà là phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai Điều trở nên thông thường
đối với những người dân, bền vững là sử dụng những công nghệ và thiết bị vừa mới
được phát kiến, những mô hình canh tác tổng hợp, những phát kiến mới nhất để giảm giá thành đầu vào Đó là những công nghệ mới về chăn nuôi động vật, những kiến thức sâu về sinh thái để quản lý sâu hại và thiên dịch
Cũng theo Lê Văn Khoa, 1999 [15], để phát triển nông nghiệp bền vững phải loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng nông nghiệp, công nghiệp hoá sẽ đầu tư từ bên ngoài vào Phạm Chí Thành [33] cho rằng có 3 điều kiện để tạo ra nông nghiệp đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức về các nhóm
địa phương Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng và hiện nay đ6 trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc các tinh tuý của các nền công nghiệp, chứ không chạy
Trang 20có sự tham gia của người nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức, sao cho đạt đến sự thoả m6n một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau [49]
Fetry [48] cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt x6 hội FAO đ6 đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thoả m6n nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đ6 họp tại Rio De Janerio, Braxin (gọi tắt là Rio - 92), đ6 định hướng cho các quốc gia, các
tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế
kỷ 21 UNDP đ6 đưa ra cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)
- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự thoái hoá
đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
Trang 21- Được sự chấp nhận của x6 hội (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất bền vững
và là những mục tiêu cần đạt được Thực tế nếu diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Theo Mollison B [49], nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người, liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng và hạ tầng cơ sở (nước, năng lượng, đường xá…) Tuy vậy nông nghiệp bền vững không hẳn là những yếu tố đó mà chính là mối liên hệ giữa các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân bố chúng trên bề mặt trái đất
Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống sản xuất ổn
định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả m6n những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đăc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách hài hòa và thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không dần huỷ diệt sự sống trên trái đất Nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái
đất, chăm sóc con người và chi phối thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó
Gần đây xuất hiện khuynh hướng “Nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùng máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng r6i phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh
Trang 22(vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển
2.2 Tình hình nghiên cứu, đánh giá đất phục vụ công tác quản lý và quy hoạch đất đai
Từ đầu năm 1970, Bùi Quang Toản cùng một số cán bộ khoa học của Viện thổ nhưỡng nông hoá như: Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tính, Nguyễn Văn Thân… [38]
đ6 thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 HTX và 9 vùng chuyên canh Các kết quả bước đầu đ6 phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất Từ kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản [38] đ6 đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các HTX và các vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng đất đai được chia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch,
đất đai được chia thành 4 hạng: rất tốt, tốt, trung bình và kém
Năm 1993, Tổng cục Quản lý ruộng đất đ6 ban hành “Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất được chia thành 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như
độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới đất, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn
Vũ Cao Thái và một số tác giả (1989 [34]) đ6 nghiên cứu, xác định mức độ thích hợp của đất Tây Nguyên đối với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm trên cơ sở vận dụng phương pháp phân hạng thích hợp đất đai của FAO để đánh giá định tính tiềm năng của đất Với kết quả nghiên cứu trên, đề tài đ6 đưa ra những tiêu chuẩn
đánh giá, phân hạng đất cho từng loại cây trồng Tuy nhiên, các chỉ tiêu nghiên cứu chỉ thiên về các yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến các yếu tố sinh thái và x6 hội
Phương pháp đánh giá đất của FAO đ6 được nhiều nhà khoa học đất Việt
Trang 23Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đ6 có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước Từ năm 1990 đến nay, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đ6 thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và ở nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư
Nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá đất đai của các tác giả như:
- Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng: Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên
đất đai Việt Nam (1994)
- Nguyễn Công Pho: Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng (1995)
- Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân: Đánh giá đất vùng dự án đa mục tiêu IASOUP (1995)
- Phạm Quang Khánh: Kết quả nghiên cứu hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp (1994)
Ngoài ra còn phải kể đến kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khác như: Bùi Quang Toản (1985), Vũ Cao Thái (1989), Võ Văn Anh (1990), Trần An Phong (1991,1993, 1994, 1995), Nguyễn Văn Nhân (1991 - 1994), Trần Xuân Nhiệm (1992) và nhiều tác giả khác
Trong nghiên cứu hệ thống sử dụng đất và các yếu tố sinh thái nông nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
đ6 có nhiều công trình nghiên cứu trên các vùng sinh thái của cả nước Những công trình nghiên cứu về sử dụng đất theo quan điểm này gồm: “Khả năng phát triển nông nghiệp nước ta giai đoạn tới” (Tôn Thất Chiểu 1992), “Hệ sinh thái nông nghiệp” (Đào Thế Tuấn 1984), “Chiến lược sử dụng, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai và môi trường” (Nguyễn Vy 1992), “ứng dụng nội dung phương pháp đánh giá đất đai
Trang 24Nam, nêu lên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để sử dụng kết quả đánh giá đất vào công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp một cách có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng
đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả hơn
Tiến trình đánh giá đất của FAO gồm 9 bước được vận dụng trong đánh giá
đất đai từ các địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc Những công trình nghiên cứu triển khai sâu ở địa phương hay một số vùng sinh thái có sự đóng góp của rất nhiều nhà nghiên cứu:
- Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc có Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995)
- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kết quả
đ6 công bố của các tác giả: Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992, 1993), Phạm Văn Lăng (1992), Đào Châu Thu (1990), Đỗ Nguyễn Hải (2001) Trong các nghiên cứu trên đ6 vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 cho phép đánh giá
ở mức độ tổng hợp phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng
- Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995)
- Vùng Đông Nam bộ có các công trình của Trần Anh Phong, Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái, Trương Công Tín (1990) nghiên cứu về môi trường tự nhiên, kinh tế, x6 hội, đặc điểm các đơn vị đất đai, hiện trạng sản xuất, loại hình sử dụng
đất, phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, đánh giá
đất thích hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp của vùng Trên bản đồ đơn vị đất đai và hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 đ6 thể hiện 54 đơn vị đất đai với 620 khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó có
50 hệ thống sử dụng đất được chọn
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của Trần
Trang 25Anh Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991 - 1995) Các kết quả nghiên cứu đ6 khẳng
định: Trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long, tài nguyên đất và nước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng đất Kết quả là có 123 đơn vị đất
đai được phân chia trên toàn vùng bao gồm 63 đơn vị đất đai ở vùng đất phèn, 20
đơn vị đất đai ở vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai ở vùng đất phù sa không có hạn chế
và 18 đơn vị đất đai ở những vùng đất khác Dựa vào các dự án thuỷ lợi hiện có, toàn vùng được chia thành 8 tiểu vùng phát triển Tại mỗi tiểu vùng, vấn đề tài nguyên nước và những khả năng về cải thiện điều kiện thuỷ văn cũng được đặt ra làm cơ sở cho các phương án sử dụng đất được đề nghị
Các nghiên cứu tập trung đánh giá tiềm năng đất đai, phân tích hệ thống cây trồng hiện tại, xác định khả năng thích nghi đất đai cho các loại hình sử dụng đất,
đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm đất đai, các yếu tố kinh tế - x6 hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất lâu bền
Công trình đánh giá đất toàn quốc của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (1993 - 1994) được tiến hành trên 9 vùng sinh thái với tỷ lệ thích hợp từ 1/250.000 đến 1/500.000
Năm 1995 Tổng cục Địa chính đ6 xây dựng “Dự án đánh giá đất cấp huyện”, chọn một số huyện đại diện cho các vùng kinh tế tự nhiên (miền núi và trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, khu IV cũ, ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long)
Những nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đ6 có những
đóng góp lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất ở Việt Nam làm cơ
Trang 26khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác
Quan điểm hệ thống không phải đơn thuần là phép cộng mà là xem xét các phần tử trong hệ thống, mối tương tác của từng thành phần, các cấu trúc thứ bậc trong hệ thống, tính toàn cục và tính trội của nó
Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc điểm của các mối tương tác qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật
* Hệ thống nông nghiệp
Dẫn theo Shaner [41], hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi và đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể có
Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao cho hệ thống nông nghiệp
Trong hệ thống nông nghiệp có 3 đặc trưng đáng quan tâm sau:
- Tiếp cận từ “dưới lên” và xác định các vấn đề cần can thiệp để giải quyết cản trở
- Coi trọng mối quan hệ x6 hội như những nhân tố của hệ thống
- Coi trọng sự phân tích động thái của sự phát triển
* Hệ thống canh tác
Theo Sectisan M 1987 [21] hệ thống canh tác là sản phẩm của 4 nhóm biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, sự chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế - x6 hội Trong hệ thống canh tác vai trò của con người được đặt vào vị trí trung tâm của hệ thống và quan trọng hơn bất kì nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác Theo Zandstra H.G [21] muốn phát triển một vùng sản xuất nông nghiệp thì kỹ năng của người nông dân có tác dụng hơn độ phì nhiêu của đất Hệ thống canh tác được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế
- x6 hội phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ
Trang 27Để xác định và đánh giá một hệ thống canh tác ở một địa phương cụ thể, chúng
ta phải đánh giá trên quan điểm tổng hợp của rất nhiều yếu tố (Lê Quý An 1999), trong
đó đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Khả năng của đất và sử dụng
- Giá trị về môi trường, sức chịu đựng và mức độ dễ hủy hoại của đất
- Những mục tiêu phát triển của đất và tài nguyên
- Những kỹ năng truyền thống, các lợi ích về nguyện vọng phát triển của nông dân
- Quan tâm phát triển hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi, các hình thức kết hợp nông lâm nghiệp, trồng cây theo vành đai đồng mức, làm ruộng bậc thang thích hợp với điều kiện cụ thể ở từng nơi
- Thực hiện thâm canh tăng vụ, kiểm soát, hạn chế sử dụng hoá chất, mở rộng việc thực hiện các biện pháp sinh học, các phương pháp phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp… để hạn chế ô nhiễm môi trường và suy thoái đất
- Chú ý bảo tồn sự đa dạng sinh học trong quá trình canh tác
Hệ thống sử dụng đất (Land Use System - LUS) là sự kết hợp của các đơn vị bản đồ đất đai (LMU) và các loại hình sử dụng đất (LUT) hiện tại và tương lai LUS
có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai Hợp phần đất đai của LUS là các đặc tính đất đai của LMU ví dụ như thời vụ cây trồng, độ dốc, thành phần cơ giới đất… Hợp phần sử dụng đất của LUS là sự mô tả LUT bởi các thuộc tính Các đặc tính của LMU và các thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai
Trang 28Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai Không phải tất cả các thuộc tính trên
đều được đề cập đến như nhau trong việc đánh giá đất mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả chi tiết phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ, yêu cầu chi tiết và mục tiêu của công tác đánh giá đất
Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) là một hợp phần của hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất LMU là một khoanh hay vạt đất được xác
định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng LUT, có cùng điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng (đặc tính và tính chất) riêng và nó thích hợp với mỗi LUT nhất định Tập hợp các đơn vị bản đồ đất
đai trong khu vực hay vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Như vậy, một hệ thống sử dụng đất nông nghiệp (LUS) được hiểu là sự kết hợp giữa một đơn vị bản đồ đất đai (LMU) với một loai hình sử dụng đất cụ thể (LUT) được bố trí trên LMU đó
Hệ thống sử dụng đất (Land use system) Loại hình sử dụng đất
Cải tạo đất đai (Land Improvement)
Đầu tư (Inputs)
Yêu cầu sử dụng đất
Năng suất, thu nhập (Outputs)
Trang 29Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trong thực tế bao gồm: hệ thống sử dụng
đất trồng trọt (LUT cây trồng trên các LMU hay vùng đất cụ thể), hệ thống sử dụng đất chăn nuôi (các LUT vật nuôi trên vùng đất canh tác cụ thể) và hệ thống
sử dụng đất lâm nghiệp (các LUT cây lâm nghiệp trên các LMU hay vùng đất) Nói cách khác hệ thống sử dụng đất nông nghiệp bao hàm hệ thống cây trồng và
hệ thống vật nuôi Vấn đề đặt ra là chúng ta tiến hành nghiên cứu các đặc trưng, khả năng thích hợp và tính hiệu quả, bền vững của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp hiện tại để làm căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý cho quy hoạch 2.3.2 Một số đặc trưng của hệ thống cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp
Hệ thống cây trồng, vật nuôi mang tính khách quan và được hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động x6 hội
Hệ thống cây trồng, vật nuôi phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối và đồng
bộ giữa các bộ phận trong một tổng thể, mà tổng thể đó là một hệ thống lớn bao trùm những hệ thống con, mỗi hệ thống con lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong mối quan hệ cân đối và đồng bộ Nếu thiên lệch về một hệ thống con nào cũng dẫn tới sự phá vỡ tính cân đối và đồng bộ của toàn hệ thống
Hệ thống cây trồng, vật nuôi bao giờ cũng là một sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định do vậy nó mang tính lịch sử cụ thể Không thể đem nội dung hệ thống cây trồng, vật nuôi phát triển áp đặt vào một đất nước, một vùng hoặc một giai đoạn mà ở đó trình độ lực lượng sản xuất còn lạc hậu, phân công lao động x6 hội đơn giản hoặc ngược lại Nguyên tắc này hoàn toàn không cản trở việc thử nghiệm, áp dụng từng bước các mô hình tiên tiến một cách đan xen phù hợp với
Trang 30quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, hệ thống cây trồng, vât nuôi không thể luôn luôn thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người, mà phải tương đối ổn định phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự ổn định tương đối phản ánh tính khách quan khoa học trong quá trình hình thành hệ thống cây trồng và đảm bảo tính hiệu quả cao trong kinh doanh và trong đời sống x6 hội
Việc xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi cho một vùng hay một khu vực
đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng, vật nuôi với các điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác còn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó
Chuyển đổi hệ thống cây trồng, vật nuôi cần phải theo hướng tăng nhanh các sản phẩm có tính hàng hoá, song song với việc nâng cao chất lượng nông sản đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước, đồng thời quan tâm tới khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Quan điểm chuyển đổi hệ thống cây trồng, vật nuôi:
- Chuyển đổi hệ thống cây trồng, vật nuôi trên quan điểm sản xuất hàng hoá
và đạt hiệu quả cao
- Sản xuất luôn luôn phải gắn với thị trường, do đó trong cơ chế của kinh tế thị trường, yếu tố sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải có một hệ thống cây trồng phù hợp
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - x6 hội của từng vùng sẽ quyết định việc chuyển đổi hệ thống cây trồng Quá trình sản xuất nông nghiệp phải gắn với chuyên môn hoá và tập trung hoá Chuyên môn hoá đòi hỏi người sản xuất phải đạt trình độ cao, tập trung vào một vài sản phẩm chủ yếu Những sản phẩm đó chứa một dạng tri thức khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và tiêu thụ được sản phẩm (dẫn theo Nguyễn Duy Tính [43])
- Chuyển đổi hệ thống cây trồng, vật nuôi theo hướng đa dạng hoá sản phẩm trong điều kiện kinh tế hộ nông dân ở các vùng còn ít dân Trong nền kinh tế thị
Trang 31trường, hộ gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ độc lập, người dân tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh Điều đó đ6 kích thích các hộ gia
đình khai thác hết mọi tiềm năng về đất đai, vốn và con người của mình nhằm tạo ra hiệu quả cao trong sản xuất, nâng cao được tỉ suất hàng hoá thông qua việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đa dạng hoá cây trồng Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, do
đó vấn đề áp đặt một hệ thống cây trồng là không hợp lý, mà chỉ khuyến khích vận
động để họ chủ động nắm bắt và nhanh chóng áp dụng những mô hình canh tác tiến
bộ Các hộ nông dân căn cứ vào khả năng của gia đình mình để quyết định lựa chọn
hệ thống cây trồng thích hợp (theo Nguyễn Duy Tính [43])
- Chuyển đổi hệ thống cây trồng, vật nuôi đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái, xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn lương thực
Khái niệm về hệ sinh thái do Tansley A đề xuất năm 1935 là một đơn vị bao gồm các quần thể sống và ngoại cảnh không sống của chúng Hệ sinh thái gồm hai thành phần chủ yếu:
- Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng
- Các nhân tố ngoại cảnh: khí hậu, đất, nước, không khí
Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh thái được phân theo dòng năng lượng, chuỗi thức ăn, sự phân bố theo không gian và thời gian tuần hoàn vật chất, phát triển, tiến hoá và điều khiển
2.3.3 Nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các hệ thống sử dụng đất thích hợp ở Việt Nam
Những nghiên cứu mang tính hệ thống theo các vùng sinh thái: điều kiện sinh
Trang 32Dương Văn Xanh 1986 - 1990 [28]) Điều tra phân vùng sinh thái nông nghiệp của
đồng bằng sông Hồng (Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà, 1990 [18]) Nghiên cứu sinh thái nông nghiệp vùng trung du miền Bắc Việt Nam (Lê Trọng Cúc 1990 [11]) Đánh giá tiềm năng sinh thái đất bạc màu Hà Nội để xác định các hệ thống sử dụng đất hợp lí cho đất bạc màu (Đào Châu Thu, Đỗ Nguyễn Hải 1990 [40]) Những nghiên cứu đánh giá tổng quát về vấn đề môi trường và hiện tượng suy thoái đất có liên quan tới các điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất (Tôn Thất Chiểu 1992 [9], Trần Anh Phong [26]) Lê Văn Khoa với những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam [16] Nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng đối với đất và nước ở vùng sản xuất nông nghiệp ngoại thành Hà Nội (Nguyễn Đình Mạnh 1996 - 1998)… đ6 phản ánh được nhiều vấn đề về môi trường nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược cũng như các giải pháp khắc phục cho sử dụng
đất trên quan điểm sinh thái lâu bền Vùng đồng bằng sông Hồng là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn thứ hai cả nước với nhiều loại hình sử dụng đất đa dạng (2-3 vụ/năm), đây cũng là nơi tập trung nhiều chủng loại cây trồng nông nghiệp nên thu hút được nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về đánh giá phân tích các hệ thống sử dụng và duy trì khả năng sử dụng đất bền vững Những công trình nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đ6 làm cơ sở khoa học cho việc xác định các hệ thống sử dụng đất của vùng đồng bằng sông Hồng (Đào Thế Tuấn [37]) Tạ Minh Sơn với nghiên cứu điều tra và đánh giá một cách toàn diện các hệ thống cây trồng trên các nhóm đất đ6 góp phần định hướng các hệ thống sản xuất cây trồng thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp lâu bền trên các nhóm đất chính [30] Ngoài ra, một số nhà khoa học nước ngoài như Eric Lequere, Jean-Marc Babier (1998 [13]) cũng
đ6 tiến hành nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp ở lưu vực sông Hồng và tập trung vào cây lúa hoặc một số phương thức canh tác khác nhau của khu vực…
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo
vệ đất, cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá sử dụng đất, quản lý đất đai bền vững trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Trang 33Tóm lại, trong nguyên cứu đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp Quá trình nghiên cứu cần xuất phát từ những quan điểm và khái niệm chính sau:
- Nghiên cứu cấu trúc của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phải xuất phát từ
lý thuyết hệ thống, với phương pháp tiếp cận hệ thống và kết hợp cả 2 loại hình nghiên cứu là vĩ mô và vi mô
- Sự hình thành các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phải được bắt đầu bằng việc đánh giá các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến hệ thống như những yếu tố tự nhiên, kinh tế, x6 hội và những yếu tố bên trong: đất đai, lao động, tiền vốn, kỹ năng nghề nghiệp của người nông dân
- Nghiên cứu phát triển hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phải từ sự phân tích sâu sắc hệ thống trồng trọt hiện tại, tìm ra những nhược điểm và nghiên cứu các giải pháp khắc phục những nhược điểm ấy, góp phần hình thành một hệ thống sử dụng đất nông nghiệp tiến bộ và bền vững hơn
Trang 343 Đối t−ợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối t−ợng nghiên cứu của đề tài
- Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - x6 hội chi phối đến khả năng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Việt Yên
- Các loại hình sử dụng đất và các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp của huyện
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đất sản xuất nông nghiệp và các hệ thống
sử dụng đất nông nghiệp của huyện Việt Yên
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - x6 hội của huyện liên quan đến khả năng sử dụng đất nông nghiệp Điều tra, đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện Việt Yên
- Xác định, phân cấp các chỉ tiêu và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Xác định, phân tích, đánh giá các loại hình sử dụng đất chính trong các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Xác định, lựa chọn các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trong vùng nghiên cứu
- Giải pháp cải thiện các hệ thống sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp trên
địa bàn nghiên cứu và đề xuất các hệ thống sử dụng đất thích hợp và hiệu quả cho quy hoạch sản xuất
Trang 35- Xử lý số liệu trên máy tính bằng phần mềm Excel
3.3.4 Phương pháp đánh giá đất thích hợp theo FAO
- Chồng ghép các bản đồ đơn tính bằng kỹ thuật GIS đề xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai
- Nghiên cứu lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp trong các hệ thống
sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở đặc tính của các loại hình sử dụng đất và theo yêu cầu sử dụng đất
- Phân hạng loại sử dụng thích hợp đất đai theo cấu trúc phân hạng đất của FAO 3.3.5 Phương pháp đánh giá khả năng sử dụng đất bền vững trên 3 mặt
- Bền vững về mặt kinh tế: Các loại hình sử dụng đất (LUT), các hệ thống sử dụng đất (LUS) có hiệu quả cao (dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế, thu nhập
Trang 364 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Việt Yên là huyện ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Giang, có toạ độ địa lý:
- Từ 210o11’29’’ đến 210o20’26’’ vĩ độ Bắc
- Từ 106o00’08’’ đến 106o09’57’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Tân Yên
Phía Nam giáp Thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ
Phía Đông giáp huyện Yên Dũng
Phía Tây giáp huyện Yên Phong và huyện Hiệp Hoà
Huyện Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế - x6 hội, là
địa bàn đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 37, tỉnh lộ
272, nối vùng đồng bằng tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và phía Bắc của tỉnh và các tỉnh lân cận
Trên địa bàn huyện còn có các tuyến giao thông huyết mạch quan trọng như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc nam và giao thông đường thuỷ trên sông Cầu Việt Yên
có vị trí tương đối gần với thủ đô Hà Nội (cách 42km) và một số trung tâm kinh tế - văn hoá - du lịch như thành phố Bắc Giang, thành phố Bắc Ninh… Việt Yên có đủ
điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - x6 hội trên địa bàn nói riêng và toàn tỉnh Bắc Giang nói chung
* Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Việt Yên có thể chia thành 3 dạng chính:
- Địa hình đồi núi thấp: phân bố rải rác ở các x6 Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung ở phía Bắc; Trung Sơn, Ninh Sơn, Tiên Sơn, Vân Trung ở phía Nam huyện Bình quân độ cao tuyệt đối từ 60 - 120m, đỉnh cao nhất là đỉnh
Mỏ Thổ cao 161m so với mực nước biển Những đồi núi thấp này phần lớn có độ dốc bình quân 15o, chỉ khoảng 20% diện tích có độ dốc bình quân dưới 15o
- Địa hình bồn địa gò thấp: được phân bố chủ yếu ở các x6 phía Bắc huyện và
Trang 37x6 Ninh Sơn, Trung Sơn, Tiên Sơn Bình quân độ cao tuyệt đối của dạng địa hình này là 15 - 25m so với mực nước biển Hầu hết diện tích này đều đ6 được đưa vào
sử dụng làm đất ở hoặc đất trồng cây màu
- Địa hình vùng đồng bằng có lượn sóng: tập trung ở các x6 phía Đông đường Quốc lộ 1A (Quang Châu, Vân Trung, Hoàng Ninh…) và một số x6 vùng giữa huyện (Hương Mai, Tự Lạn, Bích Sơn, Hồng Thái…) Độ cao bình quân dáng địa hình này là 2,5 - 5m so với mực nước biển Độ nghiêng địa hình của toàn vùng theo hướng Bắc xuống Nam và Tây Bắc sang Đông Nam Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính và tập trung của toàn huyện
* Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Những đặc điểm chung về khí hậu huyện Việt Yên được thể hiện ở bảng 4.1
Số liệu bảng 4.1 cho thấy chế độ nhiệt của vùng phân hoá theo mùa rõ rệt, trong năm có 3 tháng nhiệt độ bình quân nhỏ hơn 200C Đây là điều kiện rất thích hợp cho việc phát triển cây nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt là các loại rau màu thực phẩm ưa nhiệt độ thấp Với nhiệt độ bình quân cả năm cao cho phép huyện Việt Yên phát triển nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm ở các công thức luân canh
- Lượng mưa bình quân năm là 1451,5mm nhưng phân bố không đều, tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 85,8% tổng lượng mưa cả năm) Các tháng
có lượng mưa lớn là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Trong 3 tháng này thường có những cơn mưa với cường độ lớn dễ gây xói mòn, rửa trôi đất và ảnh hưởng lớn đến cây trồng nông nghiệp Ngoài ra một số x6 có địa hình trũng thấp thường hay ngập
Trang 38Bảng 4.1 Số liệu khí tượng trung bình 5 năm (2001 - 2006)
huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang Chỉ tiêu
Nhiệt độ không khí TB ( o C)
Lượng mưa (mm)
Số ngày mưa (ngày)
Độ ẩm không khí TB (%)
Lượng bốc hơi (mm)
Số giờ nắng (giờ)
Độ ẩm không khí bình quân cả năm 82%, thời kỳ độ ẩm thấp thường tập trung vào mùa khô (tháng 11, 12 và tháng 1, 2)
Trang 39Biểu đồ 4.1 L−ợng m−a và l−ợng bốc hơi các tháng trong năm
Tháng mm
C, giờ
Trang 40- Gió b6o: Hướng gió chủ đạo của vùng là Đông bắc, tốc độ gió trung bình trong năm là 1,9m/s, tháng có tốc độ gió cao nhất là tháng 8 (2,7m/s) Mỗi năm thường có từ 2 - 3 cơn b6o đổ vào kéo theo mưa lớn từ 200 - 300mm gây ngập úng, thiệt hại cho vụ mùa Từ những số liệu khí hậu, thời tiết nêu trên cho ta thấy vùng
có tổng tích ôn khá lớn, độ ẩm trung bình các tháng đều trên 76% cho phép phát triển tập đoàn cây trồng đa dạng và phong phú và gieo trồng nhiều vụ cây ngắn ngày ở các công thức luân canh trong năm
4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 17.135,42ha (gồm 17 x6 và 02 thị trấn) Ngoài diện tích ao hồ, núi đá, sông suối, thùng đấu là 1.323,96ha, diện tích điều tra
là 15.811,46ha chiếm 92,27% tổng diện tích tự nhiên
Theo tài liệu thổ nhưỡng năm 1978 của nhóm tác giả Ngô Thế Dân và các cộng tác viên và kết quả điều tra bổ sung năm 1997 của Viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp, quy mô và cơ cấu các loại đất trên địa bàn huyện Việt Yên được thể hiện ở bảng 4.2