Đánh giá và chọn lọc các giống đậu đũa dùng ăn tươi vùng đồng bằng bắc bộ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học nông nghiệp i hà nội
Trang 2Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan r»ng, sè liÖu vµ kÕt qu¶ nghiªn cøu trong luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch−a tõng ®−îc c«ng bè bÊt cø c«ng tr×nh nµo kh¸c ë trong vµ ngoµi n−íc
T¸c gi¶ luËn v¨n
NguyÔn ThÞ Liªn H−¬ng
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ nông nghiệp, trong quá trình học tập và nghiên cứu, bên cạnh sự nổ lực của bản thân, tôi đ5 nhận được sự giúp đỡ quý báu tận tình của các tập thể và cá nhân
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Vũ Đình Hoà đ5 tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện cũng như hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn di truyền và chọn giống cây trồng, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, Ban l5nh đạo và tập thể cán bộ Khoa sau đại học, Ban giám hiệu nhà trường - Trường đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, đ5 giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu trong nhà trường
Sự thành công của luận văn này còn có sự đóng góp giảng dạy của các thầy, cô, sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ của toàn thể anh chị em trong Bộ môn rau – gia vị, Viện nghiên cứu rau quả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Liên Hương
Trang 4Mục lục
2.2.1 Cây đậu đũa 9
Trang 53 VậT LIệU, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 23
4.1 Kết quả khảo sát 31 mẫu giống đậu đũa được trồng trong vụ thu
4.1.1 Đặc điểm thực vật học của 31 mẫu giống đậu đũa được trồng trong các
4.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của 31 mẫu
4.1.3 Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển, số cành cấp I
và số đốt trên thân của 31 mẫu giống đậu đũa được trồng trong các
4.1.4 Một số đặc điểm quả của các mẫu giống đậu đũa được trồng trong
4.1.5 Số quả trên cây, khối lượng quả và năng suất cá thể của 31 mẫu giống
4.2 Kết quả đánh giá các mẫu giống đậu đũa triển vọng được trồng trong
4.2.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các mẫu giống đậu đũa
Trang 6được trồng trong các thời vụ khác nhau 484.2.2 Một số đặc điểm nông học của các giống đậu đũa được trồng trong các
4.2.3 Tình hình sâu, bệnh hại của một số giống đậu đũa trong các thời vụ
4.2.4 Phân tích tương quan giữa năng suất thương phẩm và các yếu tố cấu
4.2.5 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu đũa trong các thời
Phụ lục 1: Một số hình ảnh minh hoạ
Phụ lục 2: Một số chỉ tiêu khí tượng ở Hà Nội
Phụ lục 3: Xử lý số liệu
Trang 7DANH MôC C¸C Ký HIÖU, C¸C CH÷ VIÕT T¾T
AVRDC : Trung t©m Nghiªn cøu vµ ph¸t triÓn Rau ch©u ¸
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Danh mục và nguồn gốc các mẫu giống trong thí nghiệm khảo sát
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu nông hoá trên đất thí nghiệm tại Viện Nghiên cứu
Bảng 4.1 Một số đặc điểm hình thái của 31 mẫu giống đậu đũa được trồng
Bảng 4.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của 31 giống
đậu đũa được trồng trong hai vụ thu đông 2002 và xuân hè 2003 36
Bảng 4.3 Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển, số cành cấp I
và số đốt trên thân của 31 mẫu giống đậu đũa được trồng trong vụ
Bảng 4.4 Chiều dài và đường kính quả của 31 mẫu giống đậu đũa được trồng
Bảng 4.5 Số quả trên cây, khối lượng quả và năng suất cá thể của 31 mẫu giống
Bảng 4.6 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống
Bảng 4.7 Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các
Bảng 4.8 Số đốt trên thân và số cành cấp 1 của các mẫu giống đậu đũa được
Bảng 4.9 Tình hình sâu bệnh hại của các giống đậu đũa được trồng trong các
Bảng 4.10 Hệ số tương quan giữa các tính trạng cấu thành năng suất trong vụ
Bảng 4.11 Hệ số tương quan giữa các tính trạng cấu thành năng suất trong vụ
Trang 9thu đông 2003 62Bảng 4.12 Hệ số tương quan giữa các tính trạng cấu thành năng suất trong vụ
Bảng 4.13 Chiều dài và đường kính quả của các mẫu giống đậu đũa được trồng trong
Bảng 4.14 Số quả trên cây và khối lượng quả của các mẫu giống đậu đũa
Bảng 4.15 Năng suất cá thể và năng suất thương phẩm của các giống đậu đũa
Bảng 4.16 Năng suất không thương phẩm và tổng năng suất của các mẫu
Bảng 4.17 Một số thành phần dinh dưỡng của các giống đậu đũa có triển
Trang 10Danh mục các biểu đồ
Trang 111 mở đầu
1.1 ĐặT VấN Đề
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết trong đời sống và không thể thiếu
được trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên khắp thế giới Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn giàu đạm được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau càng tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ
Đậu rau là cây có giá trị dinh dưỡng cao, khả năng chế biến đa dạng, có thể bảo quản lâu trong thời gian giáp vụ, thích hợp cho nền nông nghiệp công nghiệp hoá Trong các loại đậu rau dùng làm thực phẩm thì đậu đũa (Vigna
đối phổ biến ở nước ta Đây là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao Trong 100 gam quả đậu đũa có 47mg Canxi; 8,3 g đường tổng số; 3,2g protein; 0,5 g chất béo; 0,2 g chất xơ; 1,6 mg sắt; 22 mg Vitamin C và 1,8 mg Vitamin PP (Rubatzky, 1997) [20] Đậu đũa có vai trò quan trọng trong việc luân canh cải tạo đất Thân lá để lại trong đất chứa nhiều chất dinh dưỡng, rễ có nhiều nốt sần cố định đạm làm tăng độ phì cho đất
Ngoài việc sử dụng làm rau, đậu đũa còn là vị thuốc Theo đông y cổ truyền, đậu đũa (chủ yếu là hạt), có vị ngọt hơi mặn, tính bình, có tác dụng bổ
tỳ, vị, điều hoà ngũ tạng, bổ thận và sinh tủy Tại ấn Độ, đậu đũa được dùng nấu ăn chín để trị giun sán, bồi bổ dạ dày, nước ép từ lá có thể sử dụng cho mục
đích y học (Xu, 1993) [31] Lá non và giá đậu đũa có thể sử dụng làm rau
Đậu đũa là cây nhiệt đới và cận nhiệt đới nên được trồng rộng r5i hầu hết ở những vùng có khí hậu ấm áp như các nước Đông Nam á, vùng Caribê
và Tây Phi (FAO,1993) [7] ở Trung Quốc, đậu đũa là loại rau trái vụ rất quan trọng trong vụ hè và vụ thu (Chen, 1989 ; Thomson, 1957) [6], [27] Chỉ tính
Trang 12riêng cho cây đậu đũa, hàng năm Trung Quốc sản xuất hơn 250.000 ha (Rubatzuky và Yamaguchi, 1997) [20]
Nghiên cứu chọn tạo giống đậu đũa đ5 được tiến hành ở một số quốc gia
Đông Nam á (Mak and Yap, 1977, 1980 ; Yap and Poh, 1977 ; Yap and Mak, 1988) [12], [13], [32], [33] Song ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có nghiên cứu chọn giống đậu đũa nào được tiến hành một cách hệ thống ở Việt nam, đậu
đũa được trồng từ rất lâu và được sử dụng chủ yếu là quả xanh Diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng đậu đũa còn rất thấp Trong thời gian qua, việc sưu tập, đánh giá nguồn gen và chọn giống chưa được chú ý Người nông dân ở các
địa phương chủ yếu gieo trồng giống đậu đũa quá cũ, giống đ5 thoái hoá, năng suất thấp, không ổn định, chất lượng thấp và khả năng thích ứng kém Gần đây, Viện nghiên cứu Rau quả đ5 thu thập trong nước và nhập nội một số mẫu giống
đậu đũa từ nhiều nguồn khác nhau nhằm phục vụ cho công tác chọn tạo giống Vì vậy nghiên cứu này nhằm đánh giá quá trình sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống đậu đũa Từ đó, chọn ra được những mẫu giống có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần làm phong phú thêm cho bộ giống đậu đũa phù hợp cho ăn tươi vùng đồng bằng Bắc Bộ
1.2 MụC ĐíCH Và YÊU CầU
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất quả và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống đậu đũa thí nghiệm qua các thời vụ khác nhau
- Chọn mẫu giống có thể trồng được nhiều vụ trong năm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
1.2.2.Yêu cầu
- Xác định được các mẫu giống có khả năng thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp cho ăn tươi ở vùng
Trang 13đồng bằng Bắc Bộ
2 TổNG QUAN TàI LIệU
2.1 NGUồN GốC Và PHÂN LOạI ĐậU ĐũA
2.1.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc cây đậu đũa, Vigna unguiculata ssp sesquipedalis L., hiện vẫn còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng đậu đũa có nguồn gốc từ Trung và Đông châu Phi (Tạ Thu Cúc, 2005; Maghirany, 1991) [2], [11] Nhưng theo (www Echotech.org) [40] lại cho rằng đậu đũa có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc Còn (www.ngb.org/gardening/fact) [41] thì cho rằng đậu đũa có nguồn gốc ở Nam á và hiện nay được trồng rộng r5i ở châu
á, châu Âu và gần đây nhất là ở Mỹ ở Tây Phi, đậu đũa được dùng làm thực phẩm từ 5 - 6 ngàn năm trước đây, quá trình gieo trồng gắn liền với lịch sử trồng cây lúa miến và cây kê Sự thuần dưỡng đậu đũa thường xảy ra chủ yếu
ở vùng nhiệt đới Tây Phi Nhưng sự phong phú, đa dạng về các dạng hình hoang dại thì lại được phát hiện ở vùng Đông Nam Châu Phi
Bắt nguồn từ ấn Độ hoặc châu Phi, ngày nay đậu đũa được trồng rộng r5i ở Trung Quốc, Đông Nam á, chẳng hạn như Thái Lan, Inđônêxia và Philippin, các nước Nam á như Bănglađét, ấn Độ, Pakistan và vùng Calibean
và một diện tích nhỏ ở Châu Phi theo (Piluek, 1994) [16]
2.1.2 Phân loại
Đậu đũa thuộc họ Leguminosae (đậu Hà Lan và các loại họ đậu) Nó
đồng nghĩa với Dolichos sesquipedalis L., V sesquipedalis (1) Fruwirth, V sinensis ssp Sesquipedalis (L) van Eseltine, V sinensis Var sesquipedalis (L.) Aschers & Sch Weinf
Đậu đũa còn được gọi là đậu măng tây Nó bắt nguồn từ một trong ba loài
Trang 14phụ đậu mắt cua (V unguiculata) Đậu mắt cua có nguồn gốc ở Trung và Tây Phi Nó được đưa vào ấn Độ khoảng 1000 - 1500 năm trước ấn Độ trở thành trung tâm thứ cấp của đậu mắt cua Loài hoang dại V vaxillata (L.) Benth cũng
được tìm thấy ở vùng đông bắc Vân Nam, Trung Quốc năm 1979 Tất cả các loài phụ đều có số nhiễm sắc thể giống nhau (2n = 22) (Piluele, 1994) [16]
Các giống đậu đũa thường , đậu đũa quả ngắn và đậu đũa quả dài là sự tập hợp những giống đậu đũa của 3 nhóm trồng trọt của Vigna unguiculata Chúng có thể lai chéo với nhau Một số tác giả cho rằng dùng thuật ngữ
“nhóm trồng trọt” (cultigroup) hợp lý hơn thuật ngữ loại phụ (Subspecies)
Căn cứ vào chiều dài quả có thể phân loại đậu đũa thành ba nhóm sau đây:
- Đậu đũa thường Vigna unguiculata L Walp (Cultigroup Unguiculata) Trước đây đ5 có tác giả đặt tên là Vigna sinensis Savi
Tiếng anh: Common cowpea, Blackeye pea, Southern pea, Cowder pea… Nông dân ta gọi là “đậu ri”
Thân cao từ 2 - 3 m, hoa màu vàng nhạt hoặc đỏ tía, quả dài 20 - 30 cm, chúc xuống đất, quả có màu xanh nhạt, màu tím hoặc màu kem
Những giống đậu đũa thường phản ứng với ánh sáng tương đối rộng Sau khi hoa nở 9 - 10 ngày có thể thu hái quả non, sau 60 ngày thu hoạch hạt khô Quả non và hạt non dùng để nấu, còn hạt khô và hạt tươi dùng để đóng hộp hoặc đông lạnh Chồi, lá non được sử dụng làm rau Trong thực tế có một
số giống được chuyên dùng lá non và chồi non để làm rau
Năng suất quả trung bình đạt từ 13 - 15 tấn/ha Hàm lượng tinh bột của nhóm giống này đạt khoảng 50%, và hàm lượng protein đạt 20%
- Đậu đũa quả ngắn- Vigna unguiculata L Walp (Cultigroup cylindrica Skeels
Tiếng Anh: Catjang cowpea, Bombay cowpea, Jerusalem pea, Marble pea
Trang 15Thân lùn (dạng bụi) hoặc bán leo Quả dài 10 - 12cm, quả mọc chỉ thiên, trong quả có nhiều hạt nhỏ, được sử dụng như rau khi quả còn xanh Nông dân ta gọi là “đậu cơm” Giống đậu này được sử dụng phổ biến ở ấn Độ và các nước
Đông Nam á ở Mỹ đậu đũa dạng bụi năng suất đạt khá cao (25- 28 tấn/ha) -Đậu đũa quả dài Vigna unguiculata (L.) Walp (Cultigroup sesquipedalis) hoặc còn có tên khoa học là Vigna sesquipedalis Fruwirth Tiếng Anh: Yardlong bean, Snake bean, Asparagus bean, Bodibean và Sitao Thân cao 2 - 3m, lá xanh thẫm Hoa xuất hiện sau khi mọc 4 - 6 tuần
Điều đó phụ thuộc vào đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt Sau khi hoa nở 2 tuần có thể thu hái quả Mặc dù hầu hết các giống
ở nhóm này cho thu hoạch quả sau khi gieo 65 - 70 ngày, thời gian thu hái liên tục 25 - 30 ngày (Tạ Thu Cúc, 2005) [2]
Quả dài từ 30 - 80cm, có một số giống có chiều dài quả lớn hơn 80cm Quả sử dụng giống như đậu cô ve Năng suất quả của nhóm giống này trung bình đạt 20 - 25 tấn/ha
2.1.3 Đặc điểm thực vật cơ bản của đậu đũa
- Hệ rễ: Đậu đũa là cây trồng hàng năm với thân leo khoẻ Hệ rễ phát triển mạnh với nhiều rễ bên Sau khi gieo 8 tuần, rễ có thể ăn sâu tới hơn 3m Cũng như các loài đậu rau khác, rễ đậu đũa cũng có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium và có khả năng cố định đạm trong không khí ở những nơi không có vi khuẩn tồn tại, hạt giống trước khi gieo nếu được xử lý với vi khuẩn Rhizobium thì sẽ có tác dụng tốt đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây Nhiệt độ thích hợp cho rễ đậu đũa sinh trưởng về ban ngày từ 27
- Thân cây đậu đũa có thể phân chia thành 3 nhóm: Dạng bụi (sinh trưởng hữu hạn), dạng bán leo (sinh trưởng bán hữu hạn) và dạng leo bò
Trang 16Trong quá trình sinh trưởng, thân của giống đậu thường và giống đậu quả dài có khả năng leo bò tới 2 - 3m Một số giống, thân có thể leo bò tới trên 3m Trên thân những giống leo bò có khả năng ra nhiều chùm hoa, do vậy cây có thể cho nhiều quả
- Lá: Lá đậu đũa gồm 3 lá chét, nhẵn, mượt, hiếm khi lá có lông tơ Lá chét đỉnh thông thường lớn hơn 2 lá chét bên Lá đậu đũa thường xanh sẫm hơn lá của đậu cô ve
- Hoa, quả: Hoa đậu đũa thuộc loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn là chủ yếu Hoa có đặc điểm nở vào buổi sáng sớm, khép lại trước buổi trưa và rụng vào cuối ngày
Trục hoa phát triển từ nách lá, chiều dài của trục hoa phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính của giống Nhìn chung chiều dài thay đổi từ 27 - 30 cm, có những giống có thể dài hơn Hoa được mọc ra từ đầu mút của trục, mỗi chùm hoa trung bình có 2 - 3 quả, có thể trên 4 quả
Chiều dài quả thay đổi chủ yếu theo giống: 10 - 12 cm, 20 - 30 cm, và
30 - 80 cm Dạng quả thẳng hay cong tùy thuộc vào giống
Màu sắc quả thay đổi theo giống, thường thì quả có màu xanh nhạt, cũng có khi quả có màu xanh đậm, vàng hoặc đỏ tía
Khi khô thì quả có màu vàng rơm, nâu nhạt, hoặc màu nâu
- Hạt: Khối lượng, màu sắc, hình dạng hạt thay đổi theo đặc tính của giống Hạt của những loài dại thường rất nhỏ Nhìn chung số lượng hạt từ
3500 - 8900 hạt trong 1 kg Màu sắc vỏ hạt rất phong phú, đa dạng: trắng, kem, xanh, da bò, đỏ, nâu và đen
Hình dạng của hạt là hình thận hoặc hình tròn
2.1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với cây đậu đũa
2.1.4.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Đậu đũa là cây ưa khí hậu ấm áp với nhiệt độ trung bình hàng tháng là
Trang 17cảm với sự ngập nước và có thể bị thương tổn nếu gặp sương Chúng không
mạnh ở thời tiết ẩm nóng, môi trường đủ ánh sáng, nhiệt độ ban ngày lên đến
trưởng và phát triển kém ở những vùng có độ cao trung bình hoặc khí hậu ôn hoà (www Echotech.org/ mambo) [40]
Nhưng nhiệt độ cao như vậy sẽ ảnh hưởng tới quá trình thụ phấn (Tạ thu Cúc, 2005; Chen và cộng sự, 1989 ) [2], [6] Nó cũng khá mẫn cảm với nhiệt độ dưới
2.1.4.2 Yêu cầu về ánh sáng
Đậu đũa là cây phản ứng trung tính với độ dài ngày Tuy nhiên, cũng có
sự khác biệt chút ít giữa các dạng đậu đũa với nhau Giống đậu đũa thông thường phản ứng tương đối rộng đối với độ dài chiếu sáng, giống leo bò phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, còn giống đậu dạng bụi phản ứng trung tính với thời gian chiếu sáng (Tạ Thu Cúc, 2005) [2]
Đậu đũa yêu cầu nhiều ánh sáng suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của nó Càng nhiều ánh sáng năng suất càng cao Trái lại, thời tiết âm u và mưa nhiều làm giảm năng suất do rụng hoa và quả non (Chen và cộng sự, 1989) [6]
Nhìn chung thời gian chiếu sáng từ 11 - 13 giờ/ngày thì có thể thoả m5n yêu cầu đối với ánh sáng cho cây ra hoa
Trang 18Đậu đũa ưa cường độ ánh sáng mạnh, không chịu bóng râm
2.1.4.3 Đất và dinh dưỡng
- Đậu đũa là cây trồng có khả năng thích nghi rộng trên nhiều loại đất Nhưng thích hợp nhất vẫn là loại đất cát pha và đất thịt nhẹ có độ pH từ 5,5 - 6,5 Đậu đũa yêu cầu lượng phân nhiều hơn các loại đậu khác, do khả năng cố
định đạm của nó yếu hơn và là loại sinh trưởng vô hạn nên thân lá phát triển mạnh hơn (Chen và cộng sự, 1989) [6]
- Nitơ (N) là yếu tố cây cần thiết ở thời kỳ đầu của quá trình sinh trưởng,
có tác dụng duy trì sự sinh trưởng thân lá, làm tăng chiều dài quả và khối lượng quả Song bón đạm quá lượng sẽ kéo dài sự sinh trưởng thân lá, cành lá xum xuê, làm chậm quá trình chín, có thể làm giảm năng suất hạt và thậm chí cản trở sự cố định đạm của cây Thừa đạm trong cây, dẫn tới thân lá non mềm làm giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại
Đậu đũa là loại cây có khả năng cố định đạm trong đất nên nó thích hợp với loại đất chứa ít đạm Có thể bón 30,8 kg N/1ha trên đất có hàm lượng đạm
K2O/ ha
- Phốt pho (P)
Lân có tác dụng kích thích cho rễ cây phát triển, có lợi cho hoạt động của vi khuẩn nốt sần Lân kích thích ra hoa sớm, chín sớm, rút ngắn thời gian sinh trưởng Lân còn có tác dụng cải tiến chất lượng hạt và tăng năng suất hạt
- Kali (K) tăng khả năng chống chịu của cây, đặc biệt là tăng khả năng chịu hạn, chịu rét và chống chịu sâu bệnh hại Kali còn có tác dụng làm tăng hàm lượng vitamin C trong quả
2.1.4.4 Nước
Đậu đũa có thể trồng được ở cả hai điều kiện có tưới và không tưới Đậu
Trang 19đũa chịu hạn hơn đậu cô ve (Tạ Thu Cúc, 2005) [2] Sự chịu hạn của cây chính
là ưu thế quan trọng cho việc mở rộng diện tích trồng đậu đũa ở nhiều vùng chưa phát triển trên thế giới Đối với cây trồng nói chung và cây đậu đũa nói riêng, nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trước và sau khi cây ra hoa Đất ướt
và khô đều ảnh hưởng không tốt đối với cây đậu đũa Đậu đũa có thể chịu
được lượng mưa thấp vì hệ rễ phát triển mạnh và có sự thoát hơi nước thấp (Chen và cộng sự, 1989) [6] Đậu đũa rất mẫn cảm với sự ngập úng Độ ẩm của đất thích hợp từ 70 - 80%, độ ẩm không khí 65 - 70%
2.2 TìNH HìNH NGHIÊN CứU MộT Số CÂY Họ ĐậU TRÊN THế GIớI
2.2.1 Cây đậu đũa
Cây đậu đũa được trồng thử nghiệm tại các nước như Inđônêsia, Philippin, Thái lan, Malaysia trong các thời vụ khác nhau với 16 giống ưu tú
được tập hợp Qua quá trình đánh giá cho thấy giống KU8 từ Thái Lan và DOA từ Malaysia đ5 có thể thích ứng tại ba nước KP5 từ Malaysia thích ứng tốt ở Philippin Trong khi giống CSD5 từ Philippin đạt năng suất cao hơn hẳn các giống địa phương ở Malaysia và Thái lan
ở Inđônêsia, 7 giống được đánh giá là nổi bật có năng suất hơn 19 tấn/
ha bao gồm 5 giống của Inđônêsia: LV1630, LV217, LV265, LV232, LV2316; giống DOA từ Malaysia và giống KU8 từ Thái lan (Piluek và cộng
sự, 1996) [17]
ở Malaysia các thử nghiệm đ5 cho thấy 6 giống (KU8 từ Thái lan; CSD5, CSD4 và CSL19 từ Philippin; và KP5, DOA từ Malaysia) cho năng suất cao nhất, với năng suất quả trung bình hơn 17 tấn/ha, cao hơn các giống được trồng phổ biến trong nước chỉ đạt 15 tấn/ha Trong những giống này KP5 là giống có tiềm năng trồng được trên phạm vi rộng do có quả dài và thời gian bảo quản quả được lâu
Trang 20ở Philippin, 4 giống CSD4, CSD5, CSL19 và PS1 đều cho năng suất cao
và ổn định trong cả hai mùa: mùa mưa và mùa khô Năng suất qủa tươi trung bình vào mùa khô là 1,16 tấn/ha, vào mùa mưa là 4,41 tấn/ha Năng suất của các giống này tuy thấp hơn so với năng suất đạt được tại ba nước kia song vẫn cao hơn so với năng suất của các giống được trồng phổ biến trong nước
Theo Ponce và Casanova (1999) [18] thì INCA và INCA - LD là những giống đậu đũa dạng lùn đầu tiên Giống hữu hạn Bush Sitao 2 từ Philippin đ5
được sử dụng dùng làm dòng mẹ trong phép lai với 11 dòng bố sinh trưởng vô hạn Quá trình chọn lọc đ5 được tiến hành đến đời F6 bằng phương pháp một hạt Những dòng chọn lọc đ5 được thử nghiệm và đ5 chọn ra được những dòng tốt nhất đó là INCA và INCA - LD Cả hai đều là giống sinh trưởng hữu hạn
và cây ở dạng thẳng đứng Hai giống này được khuyến cáo gieo vào vụ xuân
hè Giống INCA ra hoa 35 - 40 ngày sau gieo, cho quả màu xanh đậm, quả dài
30 – 35 cm, hạt màu kem có sọc tím nhạt Giống này có tiềm năng năng suất quả 13,4 tấn/ha Giống INCA - LD ra hoa 30 - 35 ngày sau gieo, quả xanh
đậm, dài 30 – 40 cm, hạt có màu kem và màu tím Nó có tiềm năng cho năng suất đạt 10 tấn/ha
Theo (www.echotech.org/mambo/index) [40] cho biết giống Bush Sitao
là giống được lai giữa đậu đũa và đậu mắt cua, và đang được thay thế cho cây
đậu đũa và rất được ưa chuộng ở Philippin Giống này có ưu điểm của nó là dạng thân lùn nên không cần cắm dóc, tiết kiệm được chi phí trong quá trình sản xuất
Theo Kulkarni (1999) [9], khi nghiên cứu về tính ổn định kiểu gen đối với năng suất quả và các yếu tố cấu thành năng suất trên cây đậu đũa cho thấy sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường có ý nghĩa đối với số quả/cây, số hạt/cây, chiều dài quả, số chùm hoa/ cây, chiều cao cây và năng suất quả/cây Sự kết hợp giữa kiểu gen và môi trường của các dòng có ý nghĩa đối với số hoa/cây, số
Trang 21quả/cây, chiều cao cây, chỉ số thể hiện năng suất (YRI) và năng suất quả/cây Nghiên cứu đ5 thể hiện được khả năng thích ứng của các giống WALI-1 và DPL-
2 về việc ứng dụng chúng trong các chương trình cải tiến giống
Khi nghiên cứu về khả năng của các đặc tính góp phần vào năng suất
đối với cây đậu đũa, Kulkarni (2001) [10] cho thấy sự khác nhau về kiểu gen
có ý nghĩa lớn đối với tất cả các đặc tính cấu thành năng suất, ngoại trừ số hoa/chùm và số quả/chùm Sự biến động giữa kiểu gen và môi trường ở mức trung bình có ý nghĩa cao , điều này có nghĩa là sự biến động giữa kiểu gen và môi trường có ý nghĩa đối với số quả/chùm Số cành/cây, số hoa/cây, số quả/cây và số quả/chùm đ5 ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất quả/cây Các yếu tố cấu thành năng suất như số hoa/chùm, số quả/chùm và chiều dài quả của giống WALI - 1 thể hiện tính ổn định hơn các giống khác ảnh hưởng của môi trường đến sự biểu hiện của các giống về các tính trạng như: số hoa/chùm, số quả/chùm là có ý nghĩa cao
Trong chọn giống khả năng cho năng suất tự nhiên của các loại cây trồng, tiêu chuẩn chọn lọc có thể là năng suất hoặc một hoặc nhiều đặc tính nông học khác góp phần vào năng suất Sự hiểu biết về cách thức di truyền của các yếu tố cấu thành năng suất là cần thiết cho việc chọn lọc có hiệu quả nhằm tạo ra các dòng ưu tú
Các yếu tố cấu thành năng suất của đậu đũa bao gồm: số quả/cây, khối lượng trung bình quả, chiều dài quả, số hạt/quả và kích thước hạt Chiều dài quả
là sự chỉ dẫn quan trọng của số hạt/quả, nó phụ thuộc vào mối tương quan của hai đặc tính này Điều này đ5 được thể hiện qua một số nghiên cứu về tính di truyền của năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất khác của đậu đũa Yap
và cộng sự (1977) ; Malk và Yap (1977) ; (1980), Yap và Malk (1988) ; Yap (1993) [37], [12], [13], [33], [34] đ5 nghiên cứu di truyền của đậu đũa thông qua lai luân giao Nhưng không đưa ra giá trị ước lượng về tương tác không
Trang 22alen, mặc dù tương tác gen đóng vai trò quan trọng đối với sự biểu hiện tiềm năng ưu thế lai (Shide và Deshmukh, 1990; Patil và cộng sự, 1987 ) [21], [15]
Rahman và Saad (2000) đ5 nghiên cứu tính di truyền về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở đậu đũa bằng phương pháp lai phân tích trung bình thế hệ sử dụng 6 quần thể P1, P2, F1, F2, BC1P1 và BC1P2 Phân tích chỉ rõ tầm quan trọng của tác động gen trội đối với năng suất quả/cây và
số quả/cây so với tác động của gen cộng gộp Tuy nhiên, tác động hiệu ứng của gen cộng gộp cũng có ý nghĩa đối với năng suất quả/cây, số quả/cây, khối lượng trung bình quả và khối lượng hạt trong nhiều tổ hợp khác nhau Ba dạng tương tác gen (cộng gộp, trội và tương tác giữa các gen) liên quan có ý nghĩa
đối với số quả/cây ở cặp lai KU7 x KU8 Trong tương tác hai gen, cả tương tác cộng x cộng lẫn tương tác trội x trội đều đóng góp nhiều hơn vào các chỉ tiêu năng suất quả/ cây và số quả/cây Mặc dù, sự đóng góp đó thay đổi giữa các cặp lai
2.2.2 Cây đậu tương rau
Những nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương rau hiện nay mới chỉ triển khai tại một số nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ Đặc biệt tại Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu á (AVRDC), chọn tạo giống
đậu tương rau đ5 được xây dựng thành chương trình cụ thể từ khi mới thành lập (1971), đ5 gặt hái được nhiều kết quả và chuyển giao cho hầu hết các nước
có nhu cầu phát triển (Shanmuga Sundaram, 2004) Có thể tạm phân các giai
đoạn nghiên cứu của chọn tạo đậu tương rau như sau:
Giai đoạn 1: các nghiên cứu ở các giai đoạn này là từ các giống đậu tương thường có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, được lai tạo với các giống
có nguồn gốc từ Nhật Bản, nhằm tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu có kích thước hạt lớn Trong thời gian này, một dòng thuần có nguồn gốc Taisho Shiroge là AGS 292 được xác định là có đặc điểm nông học và năng suất ưu việt, được
Trang 23coi là nguồn vật liệu khởi đầu tốt cho công tác chọn taọ giống
Giai đoạn 2: là kết quả công tác tìm nguồn gen đ5 chọn lọc được các vật liệu có đặc điểm kích thước hạt lớn và có nhiều đặc điểm nông học quý hiếm,
được chọn làm bố mẹ cho công tác lai tạo như: Tabaguro (kích thước quả và hạt lớn, hàm lượng đường cao); Blue Side (quả màu xanh sẫm, chiều rộng quả lớn, có mùi thơm đặc biệt); Neu Ta Pien 1 và Neu Ta Pien 2 có kích thước quả
và hạt rất lớn; Setuzu và Yukinoshita có quả màu xanh tươi, kích thước quả và hạt lớn, có vị ngọt
Giai đoạn 3: là giai đoạn các vấn đề về kiểu gen và tác động các yếu tố
ảnh hưởng tới sự biến đổi một số đặc điểm như năng suất, hàm lượng protein, lipid, đường, màu sắc quả, độ cứng và kích thước hạt Kết thúc giai đoạn này
đ5 chọn tạo ra được nhiều giống có hàm lượng protein, đường cao hoặc màu sắc quả hấp dẫn
Giai đoạn 4: là giai đoạn nghiên cứu chọn tạo các giống có kích thước quả lớn, đặc biệt nâng cao kích thước cả chiều dài và chiều rộng của quả hai hạt Giai đoạn này có khoảng trên 20 giống được đưa ra
Giai đoạn 5: là giai đoạn các nghiên cứu tập trung chọn tạo các giống
có kích thước quả (2; 3 hạt) lớn Đặc biệt trong giai đoạn này đ5 phát hiện ra một số giống có kiểu gen có kích thước lá hẹp, đây là loại hình có tỉ lệ quả (3;
4 hạt) rất cao
Giai đoạn 6: là giai đoạn chọn tạo các giống có thời gian sinh trưởng ngắn (có thể trồng 3 vụ trong năm), các giống phù hợp cho từng thời vụ và từng điều kiện canh tác
Theo Miao Rong Yan (2004), giai đoạn 1979 - 1990, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau châu á (AVRDC) đ5 khảo sát, đánh giá 712 dòng đậu tương rau được chọn tạo và 670 mẫu giống thu thập từ 312 cơ quan nghiên cứu của 30 quốc gia Đặc biệt, giai đoạn 1991 tới nay, AVRDC đ5 gửi đi 109
Trang 24giống chính thức; 2492 dòng chọn tạo; 292 mẫu giống tới 353 cơ quan nghiên cứu tại 57 quốc gia Kết quả tại 10 quốc gia, 20 giống đậu tương rau đ5 được công nhận, trong đó có Việt Nam
Theo Shanmuga Sundaram (2004) định hướng chọn tạo giống đậu tương rau cho những năm tới tại AVRDC cũng như các quốc gia sản xuất
đậu tương là:
- Nâng năng suất quả lên trên 10 tấn/ha
- Nâng năng suất thương phẩm lên trên 7 tấn/ha
- Xác định bộ giống cho vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
- Cải thiện một số chỉ tiêu về chất lượng như màu sắc quả và hạt, hình thái quả, hương vị, kích thước quả và hạt, số hạt trong quả
Nhiều loài họ hàng gần của Phaseolus (tất cả 2n = 22) có thể được lai tạo thành đậu cô ve Honma đ5 thành công khi lai chéo tepary với đậu cô ve và tạo ra giống Great Northern 27 Sel 1 mang tính kháng CB (common blight) và Xanthomonas campestris pv phaseoli (Smith 1897) comb nov từ sự tạp giao
đó Nguồn gen này được Schuster và Coyne dùng làm nguồn kháng CB Giles Waines ở Trường Đại học California, Riverside đ5 lai tepary với đậu cô ve để chuyển tính chịu hạn vào đậu cô ve Nhiều nhà chọn tạo giống đ5 sử dụng P
Trang 25coccineus để lấy tính kháng bệnh vi khuẩn, tính chịu khí hậu lạnh hơn, tính kháng bệnh thối rễ, và kháng virus khảm vàng đậu cô ve (BYMV) Lorz làm việc ở Florida cho biết đậu cô ve có thể lai với nhiều loài có họ hàng gần với Phaseolus Mok et al đ5 nghiên cứu về những rào cản đối với sự lai giữa các loài sử dụng nuôi cấy mô tế bào và các kỹ thuật hoá sinh
Kể từ khi đưa ra giống quả tròn đầu tiên vào năm 1865 và giống lùn (không leo) đầu tiên vào năm 1870, bước đột phá có ý nghĩa nhất về cải tiến
đậu cô ve đi cùng với tên tuổi của Bill Zaumeyer, đ5 đưa ra giống Tendecrop vào 1958 Tendecrop đ5 đặt ra những tiêu chuẩn công nghiệp mới cho nhiều
đặc điểm quả, cây và vẫn được ngành công nghiệp chế biến đậu đông lạnh sử dụng cho tới ngày nay Vào năm 1970, 46% loại đậu lùn, quả xanh mang nguồn gen của Tendercrop trong tổ tiên của chúng Ngoài những đặc điểm quả tròn, thẳng, trơn, xanh nhạt, nhiều thịt, lớn, Tendercrop còn có tỷ lệ phát triển hạt và chất xơ khá thấp khi chín, do đó quả không bị xơ và nhanh hoá già cho
đến khi thu hoạch nếu nó bị trì ho5n vì thời tiết hoặc vấn đề về thiết bị Tendercrop có tập tính sinh trưởng thẳng và khá hẹp, giữ cho quả ở phía trên 2/3 tán Đặc điểm này làm giảm số quả bị hỏng Tendercrop là giống chế biến
có chất lượng cao, có độ chín tập trung, ví dụ: phần lớn quả cho thu hoạch cùng một lúc Đây là yêu cầu quan trọng nhất cho sự thành công trong việc thu hoạch quả xanh bằng cơ giới
Một nhân tố nữa ảnh hưởng đến sự phát triển giống trong vòng 3 thập
kỷ qua là sự phổ biến của thức ăn đông lạnh tăng nhanh Rau đông lạnh ở Mỹ
đ5 trở nên phổ biến từ chiến tranh thế giới lần thứ II Hầu hết các giống ăn tươi hoặc đóng hộp sử dụng trong những năm 1940 và 1950 có màu xanh nhạt
đến vừa, và không hấp dẫn như sản phẩm đông lạnh Với sự xuất hiện của giống Tendercrop, các nhà chế biến thức ăn đông lạnh đ5 có sản phẩm đồng
đều và có màu xanh rất sáng
Trang 26Vào những năm 1950, những nhà sản xuất đồ hộp đậu đỗ đ5 nhận biết
được sự tối màu dần của dung dịch trong hộp Do thu hoạch muộn hơn thời
điểm chín tối ưu nên hạt của một số giống đ5 bị sẫm màu Điều này tạo ra một rào cản với những khách hàng tiềm năng Do vậy khi Mel Parker của Công ty giống Gallatin Valley đ5 gây đột biến từ giống Tendercrop tạo ra giống GV -
50 có hạt màu trắng nhạt Từ đó, giống này đ5 chiếm ưu thề trong sản xuất Các giống hạt trắng chín sớm hơn đ5 không được chấp nhận vì chất lượng hạt kém Giống Gallatin 50 đ5 là giống chế biến dẫn đầu trong 10 năm liền, cho
đến khi có giống hạt trắng Early Gallatin thay thế
Hai thành tựu trong lĩnh vực cải tiến giống đ5 có tác động lớn trên quy mô quốc gia Đầu tiên là chuyển những đặc điểm chất lượng quả từ các giống Lake Blue dạng leo như FM - 1 sang những giống dạng lùn thích ứng với thu hoạch bằng máy Thứ hai là cuộc cách mạnh về giống đậu ăn quả tươi với công nghệ thu hoạch bằng máy
W A Frazier, OSU, là một trong những người đề xuất ý kiến đầu tiên sau việc chuyển quả Blue Lake sang dạng lùn có thể thu hoạch bằng máy Giống OSU - 1604 của ông vẫn được sử dụng rộng r5i ở Willametre Valley trong 10 năm sau khi được trồng phổ biến ra sản xuất Giống này đạt năng suất
8 - 10 tấn/mẫu Anh và có chất lượng tốt như Blue Lake Từ đó, các giống Blue Lake dạng leo đ5 chiếm lĩnh thị trường trong nhiều năm không chỉ vì hương vị của Blue Lake rất khác biệt mà còn rất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Đậu cô ve giống Blue Lake đóng hộp dạng cắt vẫn cứng chắc và có vết cắt lá no5n tương đối nhỏ hay vỏ bị bong ra sau nhiều giờ ở nhà hàng hoặc bàn hơi nước Ngược lại, dạng Tendercrop đóng hộp có mùi vị nhạt và không giữ lại được bề ngoài hấp dẫn lâu trong điều kiện thanh trùng bằng nước nóng
Art Sprague, Del Monte Corp., và Walt Piere, Asgrow Seed Co cũng là những người đề xướng sớm của cuộc vận động Blue Lake Còn các giống của
Trang 27Del Monte hiện đang được các nhà sản xuất sử dụng, cạnh tranh về khả năng cho năng suất và chất lượng cao đ5 trở thành mục tiêu của nhiều nhà chọn giống cây trồng khác Hai đặc điểm phân biệt khác của các giống Del Monte
là xu hướng có nhiều cành bên ra quả, và nhiều hoa nở trong một khoảng thời gian dài Phân cành nhiều tạo ra nhiều mắt để ra hoa, do vậy tiềm năng năng suất và khoảng thời gian ra hoa kéo dài đ5 phần nào bảo vệ cây tránh khỏi rụng hoa do nhiệt độ cao trong khi cây ra hoa
Như đ5 đề cập ở trên, các giống của Del Monte chỉ được các nhà sản xuất của Del Monte trồng, còn các giống OSU không thích ứng cao khi ra ngoài vùng Willamette Valley, vì tính quá mẫn cảm của chúng với nhiệt độ trong thời gian ra hoa
Các giống của Pierce cũng đ5 thành công khi trồng ở ngoài vùng Willamette Valley Vì các giống này có tính chín sớm, có thể thu hoạch bằng máy và hiệu quả hơn hẳn các giống OSU và Del Monte, nhưng chúng vẫn không dễ thu hoạch bằng máy như các giống dạng Tendercrop Mặc dù năng suất của các giống Blue Lake cao hơn của Tendercrop, nhưng có nhiều cành gẫy, các chùm quả không tách ra, và đất bẩn lẫn trong hạt sau khi thu hoạch bằng máy, do đó các nhà chế biến không chuộng các giống dạng Blue Lake
Các giống của Anderson chiếm ưu thế nền công nghiệp trong nhiều năm và thường xuyên được sản xuất với sản lượng lớn hơn tất cả các giống khác cộng lại Trong 35 năm chọn tạo giống đậu cô ve, ông ta đ5 tạo ra được hơn 40 giống mới như Earligreen, Earliwax, Slendegreen và Tendergreen cải tiến Năm 1970, Bean Improvement Cooperative đ5 giới thiệu Anderson, Frazier, Parker, Pierce và Zaumeyer với Meritorious Service Award về việc công nhận những đóng góp nổi bật của họ đối với nền công nghiệp đậu cô ve của Mỹ trong gần 40 năm qua
2.2.4 Đậu Hà Lan
Trang 28Đậu hà lan được trồng và sử dụng rộng r5i, nó cũng được xem như một loại rau tươi ngon và bổ dưỡng Hạt khô thường dùng nấu súp Loại Piumsativum L được trồng phổ biến ở những vùng khí hậu ôn hòa, những vùng ấm hơn thì đậu hà lan được trồng suốt trong mùa lạnh của năm
Năng suất của đậu hà lan được cải tiến thông qua sự phục tráng giống, chúng có nhiều quả trên đốt hơn, ngoại trừ các giống chín sớm Hầu hết các giống đậu hà lan trồng trong vườn đều có ít nhất 2 quả/đốt Việc chọn lọc cũng đ5 có hiệu quả đối với các đặc tính thích hợp hơn Mặc dù chiều cao hoặc chiều dài của thân leo ít quyết định đến năng suất của cây đậu hà lan Do vậy mà xu thế chọn giống hiện nay là chọn giống có dạng thân lùn hoặc làm giảm chiều cao cây
Gần đây, việc giới thiệu các giống đậu hà lan với thành quả dày, ăn được
đ5 thu hút sự quan tâm của các nhà làm vườn, có thể đưa ra để mở rộng sản xuất thương mại Quả đậu hà lan non có thể ăn được như một món ăn phụ, có thể nấu cả quả và hạt hoặc có thể bóc vỏ và ăn riêng rẽ Đậu hà lan có thể bảo quản bằng cách làm lạnh, nhưng các giống hiện nay không giữ được nguyên chất khi đóng hộp
Quả đậu hà lan dày và có nhiều thịt do gen lặn n, gen lặn p và v quy định
sự phát triển của chất sợi trong quả, ở các giống ăn quả
Các giống chín sớm nhất có thời gian từ trồng đến thu hoạch 54 ngày, những giống chín muộn nhất khoảng 75 ngày Sự tương quan giữa số đốt ra hoa đầu tiên và thời gian thu hoạch rất chặt, do đó sự đánh giá tương đối về độ chín được nhận biết bằng cách theo dõi được số đốt mang hoa đầu tiên Các giống có thời gian sinh trưởng phát triển 54 ngày sẽ ra hoa đầu tiên ở đốt thứ 8 hoặc đốt thứ 9, tính từ phía trên đốt có lá mầm, trong khi các giống chín muộn không thể ra hoa ở đốt thứ 9 Yêu cầu đơn vị nhiệt tương ứng có thể là 1150 -
Trang 291200 đối với giống sớm và 1550 đối với giống muộn
Các giống đóng hộp có thể có hạt tròn hoặc nhăn Các giống hạt tròn có alen trội R và Rb (Kiểu gen R/R, Rb/Rb) và lá mầm chứa tinh bột, khi làm khô không bị co lại hoặc nhăn nheo Hầu hết các giống chế biến hoặc các giống hạt tròn trồng ở Mỹ thuộc dạng Alaska, đ5 được trồng nhiều năm nay Các giống này thuộc dạng ngắn ngày, có bộ lá màu xanh nhạt đến xanh hơi vàng, được trồng rộng r5i trong vườn vào tháng 6 và đóng hộp thương mại Hầu hết là quả đơn, qua một vài lần tuyển chọn dạng Alaska có một số giống
có quả đôi Do lá mầm chứa tinh bột nên độ chín nhanh chóng hóa già
Các giống đậu hà lan đóng hộp có đặc điểm gần giống dạng Alaska
đang thay thế nhanh chóng giống này, chín muộn hơn 1 - 2 ngày và có năng suất cao hơn do có nhiều quả đôi hơn Loại này lần đầu tiên được biết như Alsweet, được đánh giá là ngọt hơn dạng Alaska do tinh bột bị thay đổi Nó khác với dạng Alaska do tính lặn tại vị trí Rb (Kiểu di truyền R/R, rb/rb), hạt chín bị nhăn do lá mầm co lại trong khi làm khô Chúng có hạt chứa tinh bột đơn giản
Các giống đóng hộp còn lại được biết đến như các giống ngọt muộn và ngọt chính vụ, dựa vào độ chín của chúng, chúng được coi là “các giống ngọt” khi chúng có sự thay đổi tinh bột: Tỷ lệ tinh bột so với các giống hạt tròn của dạng Alaska Các giống đậu hà lan ngọt, hạt lúc chín bị nhăn do việc co lại của lá mầm khi làm khô, do tính lặn tại vị trí R (Kiểu gen r/r, Rb/Rb)
Phần lớn các giống đông lạnh đều cho hạt nhăn do tính lặn tại vị trí R (Kiểu gen r/r, Rb/Rb)
2.3 TìNH HìNH NGHIÊN CứU MộT Số CÂY ĐậU RAU ở VIệT NAM
Trong đề án phát triển rau - hoa - quả đ5 được chính phủ phê duyệt giai
đoạn 1999 - 2010, đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo, công nghệ nhân giống và kỹ
Trang 30thuật thâm canh một số giống rau chủ yếu” do Viện Nghiên cứu Rau quả chủ trì và một số cơ quan phối hợp thực hiện đ5 chọn tạo ra được một số giống rau
đạt năng suất cao, chất lượng tốt, nhằm tăng cường và đa dạng hóa các chủng loại rau có giá trị trong cơ cấu cây trồng ở nước ta
Giống đậu cô ve TL1 được Viện nghiên cứu rau quả chọn tạo từ một giống được nhập từ Trung Quốc Đây là giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu Việt Nam Với khả năng thích ứng rộng, trồng được ba vụ trong năm, cho năng suất cao, ổn định qua các năm Vụ
đông xuân (chính vụ) năng suất đạt 27 - 34 tấn/ha Vụ thu đông và vụ xuân hè (trái vụ) năng suất đạt 18 - 24 tấn/ha Ngoài ra, giống TL1 có thịt quả dày, ít xơ, lâu hóa già, vị ngọt và bùi, có hàm lượng dinh dưỡng cao và có khả năng chống chịu bệnh khá (Nguyễn Thị An , 1999) [20]
Giống đậu hà lan Đài Trung 12 được chọn lọc từ 11 giống lai, và được Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu và sản xuất thử từ năm 1995 - 2004 Qua quá trình nghiên cứu cho thấy: giống Đài Trung 12 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt ở những nơi thời tiết lạnh của Việt Nam Giống Đài Trung 12 cho năng suất cao từ 9 - 12 tấn/ha và khá ổn định qua các năm Đây
là giống có chất lượng tốt (hàm lượng protein và vitamin cao), phù hợp cho việc sử dụng quả non Đặc biệt Đài Trung 12 có khả năng kháng được bệnh phấn trắng, đây là một đặc điểm quý và hiếm đối với đậu hà lan (Trần Văn Lài, 2005) [6]
Cũng trong khuôn khổ đề tài này, Trung tâm nghiên cứu khoai tây, rau và hoa đ5 tiến hành chọn tạo được hai giống đậu hà lan CPX58 và EG623 với mục tiêu sử dụng khác nhau Giống đậu hà lan CPX58 là giống ăn hạt có triển vọng cho sản xuất Nó có tiềm năng cho năng suất cao và ổn định, khả năng kháng bệnh khá, chín sớm hơn giống đậu Bo địa phương từ 10 - 12 ngày Hạt CPX58 có chất lượng thích hợp cho ăn tươi, khô hoặc chế biến (Trần Văn Lài, 2005) [6]
Trang 31Giống đậu EG623 là giống dùng cho ăn quả tươi, có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống địa phương 10 - 12 ngày, có tiềm năng cho năng suất cao và ổn
định Với chất lượng ưu việt (quả đẹp, hấp dẫn, dòn, ngọt, không xơ…) giống này phù hợp với thị hiếu tiêu dùng hiện tại trong nước và xuất khẩu
Từ tập đoàn đậu tương rau của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Rau châu á, qua quá trình đánh giá Viện Nghiên cứu Rau quả đ5 chọn giống AGS346 đạt năng suất cao, cụ thể: Năng suất tổng số đạt trên dưới 10 tấn/ha, năng suất thương phẩm đạt 6,8 tấn/ha (Trần Văn Lài, 2005) [6]
Trong 30 giống đậu đũa có nguồn gốc từ địa phương và nhập nội từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau châu á, Viện Nghiên cứu Rau quả đ5 chọn lọc ra được giống HA05 Đây là giống đậu đũa sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện sinh thái Việt Nam Với khả năng thích ứng rộng, trồng được nhiều vụ trong năm, cho năng suất cao và ổn định, phẩm chất quả tốt, phù hợp với thị trường Ngoài ra quả của HA05 lâu già, có thể thu hái chậm 1 - 2 ngày vẫn chưa nổi hạt, chất lượng vẫn tốt Chống chịu được sâu đục quả tốt (Trần Văn Lài, 2005) [6]
Bằng cách xử lý đột biến, các dòng đột biến đậu cô ve tách ra từ các hạt
xử lý phóng xạ đối với giống đậu Victoria (nguồn gốc của Pháp) Hạt giống
được xử lý tại Viện hàn lâm khoa học Hungari từ năm 1985 Trường Đại học nông nghiệp II Huế đ5 chọn ra được dòng số 7 có tính di truyền ổn định Dòng
số 7 có năng suất cao hơn so với giống đối chứng, tỉ lệ bệnh lở cổ rễ thấp hơn
so với giống đối chứng (Võ Hùng, 1994) [5]
Giống đậu đũa YP5 có nguồn gốc từ Đài Loan được nhập vào nước ta
từ năm 1992 Được GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, (1997) [3] đ5 áp dụng phương pháp chọn dòng của Guliaev để phân lập và chọn lọc Đến năm
1993 đ5 phân lập và chọn lọc được dòng đậu đũa S5 ổn định về cả đặc tính sinh học và các đặc tính kinh tế khác, và được đặt tên là giống đậu đũa số 5
Trang 32Đây là giống có khả năng sinh trưởng khỏe, đặc biệt là trong điều kiện vụ xuân hè Quả dài (> 60cm) , quả xanh hấp dẫn, ăn dòn và ngọt Đậu đũa số 5 cho năng suất cao hơn hẳn giống địa phương ở cả 2 vụ (xuân hè và thu đông) Năng suất đạt 15 - 20 tấn/ha, gần gấp đôi giống đối chứng
Trang 333 VËT LIÖU, NéI DUNG
Vµ PH¦¥NG PH¸P NGHI£N CøU
3.1 THÝ NGHIÖM 1: KH¶O S¸T TËP §OµN
3.1.1 V©t liÖu vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu
ThÝ nghiÖm kh¶o s¸t tËp ®oµn gåm 31 mÉu gièng ®−îc thu thËp trong n−íc vµ nhËp néi Tªn hoÆc ký hiÖu c¸c mÉu gièng vµ nguån gèc cña chóng
®−îc tr×nh bµy trong b¶ng 3.1
B¶ng 3.1 Danh môc vµ nguån gèc c¸c mÉu gièng
trong thÝ nghiÖm kh¶o s¸t tËp ®oµn
§ång §¨ng - L¹ng S¬n Trung t©m Tµi nguyªn Di truyÒn thùc vËt
§ång V¨n - Hµ Giang
§ång §¨ng - L¹ng S¬n
Hµ Qu¶ng - Cao B»ng Hµm Yªn - Tuyªn Quang Phï Ninh - Phó Thä ThÞ x5 B¾c C¹n
Trang 34Trung tâm Tài nguyên Di truyền thực vật
Hà Quảng - Cao Bằng Hữu Lũng - Lạng Sơn
Đồng Đăng - Lạng Sơn
Đồng Đăng - Lạng Sơn Thị x5 Tuyên Quang Chi Lăng - Lạng Sơn Hữu Lũng - Lạng Sơn Hữu Lũng - Lạng Sơn Thị x5 Bắc Giang
Đồng Đăng - Lạng Sơn Công ty Giống cây trồng Trang Nông
3.1.2 Nội dung nghiên cứu
i) Đánh giá các đặc điểm thực vật học của tập đoàn đậu đũa trong các thời vụ khác nhau
ii) Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của tập đoàn đậu đũa trong các thời vụ khác nhau
3.1.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi
Thí nghiệm khảo sát được tiến hành trong hai vụ: vụ thu đông 2002
Trang 35(gieo 13/8/2002) và vụ xuân hè 2003 (gieo ngày 28/2/2003) Các mẫu giống thí nghiệm được bố trí tuần tự không lặp lại, cứ 10 ô thí nghiệm có một ô đối
Các tính trạng được theo dõi, thu thập bao gồm :
i) Các đặc điểm thực vật học: màu sắc thân mầm, dạng hình sinh trưởng, màu sắc lá, hình dạng lá, màu sắc hoa, màu sắc quả, màu sắc hạt, màu rốn hạt, hình dạng hạt
ii) Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (ngày): số ngày từ gieo hạt
đến khi trên ô thí nghiệm có 50% số cây xuất hiện hoa, số ngày từ gieo hạt
đến ngày thu hoạch quả xanh đợt 1, số ngày từ gieo hạt đến kết thúc thu hoạch quả xanh
iii) Một số đặc điểm nông học: chiều cao cây ở thời điểm khi 50% số cây trên ô thí nghiệm xuất hiện hoa nở (m), chiều cao cây khi thu hoạch quả xanh đợt 1 (m), số cành cấp I (cành), số đốt/thân (đốt)
iv) Các yếu tố cấu thành năng suất: số quả/cây (quả), khối lượng quả (g), chiều dài quả (cm), đường kính quả (mm), năng suất cá thể (g/cây)
Dựa vào các đặc điểm hình thái, nông học, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các mẫu giống có nhiều đặc điểm tốt và năng suất cao được chọn lọc để so sánh ở các vụ sau
3.2 THí NGHIệM 2: ĐáNH GIá CáC MẫU GIốNG ĐậU ĐũA Có TRIểN VọNG
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm gồm 11 mẫu giống, trong đó 10 mẫu giống (T1, T2, T3, T10, T16, A2, A7, A9, H1, A16) được chọn từ thí nghiệm khảo sát tập đoàn 31 mẫu giống đậu đũa và giống TN157 của Công ty Trang Nông làm giống đối chứng 3.2.2 Nội dung nghiên cứu
Trang 36i) Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống đậu đũa trong các thời vụ khác nhau
ii) Đánh giá tình hình nhiễm sâu, bệnh của các mẫu giống triển vọng qua các thời vụ khác nhau
iii) Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các mẫu giống triển vọng ở các thời vụ khác nhau
iv) Đánh giá chất lượng quả của các mẫu giống triển vọng
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm đ5 được tiến hành trong 3 vụ khác nhau: vụ xuân hè 2003 (gieo ngày 26/2/2003), vụ thu đông 2003 (gieo ngày 9/8/2003) và vụ thu đông 2005 (gieo ngày 28/7/2005) ở mỗi vụ, các giống thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
Các chỉ tiêu được theo dõi và thu thập trong từng vụ gồm:
hạt đến khi có 50% số cây trên ô thí nghiệm xuất hiện hoa nở, số ngày từ gieo hạt
đến thu hoạch quả xanh đợt 1, số ngày từ gieo hạt đến kết thúc hoạch quả xanh
nghiệm xuất hiện hoa nở, chiều cao cây khi thu hoạch quả xanh đợt 1, số
đốt/thân (đốt), số cành cấp I (cành)
bệnh khảm vàng lá, sâu đục quả, sâu ăn lá
lượng quả (g), chiều dài quả (cm), đường kính quả (mm), năng suất cá thể (g/cây), năng suất thương phẩm (tấn/ha), năng suất không thương phẩm (tấn/ha), tổng năng suất (tấn/ha)
Trang 37vitamin C (mg/100g quả tươi), hàm lượng chất khô (%), protein (%) được phân tích ở Bộ môn Kiểm định Chất lượng Sản phẩm - Viện Nghiên cứu Rau quả
3.3 Phương pháp đánh giá, theo dõi và thu thập số liệu
Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển được theo dõi và thu thập trên 10 cây/ô theo mô tả dưới đây:
i) Thời điểm cây bắt đầu có hoa nở được tính khi trên ô thí nghiệm có 50% số cây nở hoa và thời điểm thu hoạch quả lần đầu được tính khi 50% số cây trên ô cho thu hoạch
ii) Các chỉ tiêu trên quả như: chiều dài quả (cm), đường kính quả (mm), khối lượng quả (g) được theo dõi 10 quả chọn ngẫu nhiên trên ô thí nghiệm tại mỗi lần thu hoạch
iii) Năng suất cá thể (g/cây) được tính năng suất quả trung bình qua các lần thu hoạch từ các cây theo dõi
iv) Năng suất thương phẩm (tấn/ha): khối lượng toàn bộ quả thương
Tỉ lệ sâu đục quả (%) =
số quả bị sâu đục
Tỉ lệ sâu đục quả (%) =
Trang 38Đun sôi trong 30 phút rồi làm nguội bằng nước lạnh, cho vào bình 10 ml
bằng giấy lọc Hút 10 ml dung dịch lọc cho vào bình tam giác, thêm vào 5
ml HCl 1 : 3 đậy nút đun sôi trong 30 phút, để nguội, sau đó trung hoà bằng giấy quỳ Cho 25 ml Fecnin A + 25 ml Fecnin B vào bình đ5 trung hoà, đun sôi trong 3 phút, lọc đường bằng dung dịch làm tan đường Cuối
% đường
- Vitanin C theo phương pháp Tinman: Cân 10 g mẫu trong dung
giấy lọc Hút 10 ml dung dịch lọc vào bình tam giác, chuẩn bằng dịch chuẩn 2.6D Dựa vào lượng định chuẩn để tính % hàm lượng vitamin C
- Protein theo phương pháp Keldal
- Chất khô theo phương pháp sấy khô đến khối lượng không đổi
3.4 Địa điểm nghiên cứu và quy trình chăm sóc thí nghiệm
Các thí nghiệm được tiến hành tại khu thí nghiệm của Bộ môn Rau
- gia vị, Viện Nghiên cứu Rau quả, Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội Nền đất
Trang 39thí nghiệm là đất phù sa cổ không đ−ợc bồi đắp hàng năm với các chỉ tiêu
lý, hoá học chủ yếu đ−ợc thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu nông hoá trên đất thí nghiệm
tại Viện Nghiên cứu Rau quả (trong 100 gam đất)
N tổng
số (%)
tổng
số (mg)
dễ tiêu (mg)
tổng
số (%)
dễ tiêu (%)
so với vụ xuân hè, song khoảng cách giữa các hốc trên hàng là 25 - 30 cm
L−ợng phân bón áp dụng cho các thí nghiệm (tính cho 1 ha): 15 tấn phân chuồng + 150 kg đạm urê + 600 kg supe lân + 200 kg kaliclorua Bón lót toàn bộ l−ợng phân chuồng + 100% supe lân + 30% đạm urê + 30% kaliclorua Số phân còn lại dùng để bón thúc, kết hợp với xới xáo, làm cỏ Các lần bón thúc nh− sau:
Bón thúc lần 1: 20% đạm urê + 30% kaliclorua, bón vào thời kỳ 20 ngày sau gieo
Bón thúc lần 2: 30% đạm urê + 30% kaliclorua, bón vào lúc 45 ngày sau gieo
Trang 40Bón thúc lần 3: 20% đạm urê + 10% kaliclorua, bón sau thu hoạch quả xanh lần 1
Ruộng thí nghiệm được cung cấp đầy đủ nước, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt Xới xáo, làm cỏ, vun gốc kết hợp với bón thúc Cây
được cắm dóc khi có vòi cuốn Sâu hại được phòng trừ kịp thời bằng cách phun thuốc Sherpa, Regent, Tạp kỳ 1,8C, v.v
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình IRRISTAT