1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sổ tay hướng dẫn thực hiện kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em

106 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 725,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

● Đánh giá tác động xã hội của kế hoạch và chính sách; ● Cung cấp thông tin định tính thông qua việc sử dụng các phương pháp có sự tham gia – các phương pháp này có thể bổ sung cho những

Trang 1

sổ tay hướng dẫn thực hiện kiểm toán xã hội dựa trên

quyền trẻ em

công cụ theo dõi quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của việt nam

Trang 3

danh mục các từ viết tắt 5

mô-đun 1: kiểm toán dựa trên quyền trẻ em 7

Giới thiệu và Thông tin cơ bản 8

Phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội đề xuất cho Việt Nam 8

Xây dựng và Sử dụng Công cụ Kiểm toán dựa trên Quyền trẻ em 9

Sự cần thiết của kiểm toán chương trình và chính sách nhạy cảm với trẻ em ở Việt Nam: Bức tranh tổng thể .11

mô-đun 2: kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em là gì và tại sao nó lại quan trọng? 15

Phương pháp và bộ công cụ đánh giá thành phố bạn hữu trẻ em .18

Khung chính sách của nghiên của toàn cầu của UNICEF về nghèo đói và bất bình đẳng trẻ em 19

Lồng ghép tập trung vào trẻ em vào Phân tích Tác động xã hội và Nghèo đói (PSIA) .20

Lồng ghép quyền trẻ em vào chiến lược giảm nghèo và kế hoạch phát triển quốc gia .21

Phân tích bảo trợ xã hội thân thiện với trẻ em .22

Tiêu chí đánh giá chất lượng trường học bạn hữu trẻ em: Sách hướng dẫn CFS 23

Bộ công cụ Hệ thống và Đánh giá hệ thống bảo vệ trẻ em 24

Các thông số chung của một Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em .26

mô-đun 3: tổng quan về phương pháp luận .35

Thảo luận nhóm trọng tâm (FGD) 36

Phỏng vấn những người cung cấp tin chính (KII) 37

Các hoạt động có sự tham gia với trẻ em 38

Điều chính công cụ cho các mục đích cụ thể 38

mô-đun 4: tiến hành kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em: các bước và phương pháp chính 40

Chuẩn bị và lập kế hoạch 40

mô-đun 5: rà soát tài liệu 45

Đánh giá định tính 47

mô-đun 6: thảo luận nhóm trọng tâm 49

a các câu hỏi tổng quát: đề ra mục tiêu/kế hoạch/nhiệm vụ thể chế 50

Trang 4

d điều phối, phối hợp và lồng ghép 53

mô-đun 7: phỏng vấn bán cấu trúc những người cung cấp tin chính 59

Định hướng chiến lược và Trách nhiệm giải trình 60

Năng lực và chuyên môn của các chương trình/chính sách tính nhạy cảm trẻ em hiện tại 61

Theo dõi và Đánh giá .62

Câu hỏi cho trẻ em và người chăm sóc trẻ 62

mô-đun 8: phân tích, thảo luận và báo cáo kết quả 64

Thông tin và phản hồi cho các bên liên quan 64

Xây dựng kế hoạch hành động 64

mô-đun 9: kết luận và các bước tiếp theo 66

Tóm tắt bộ công cụ đề xuất 66

Xem xét thêm về khả năng thử nghiệm bộ công cụ 66

Các tài liệu có liên quan đến Việt Nam 68

phụ lục 1: tham vấn cấp quốc gia về sách hướng dẫn 71

phụ lục 2: hướng dẫn/các vấn đề chính về khả năng áp dụng tại việt nam – 3 ví dụ 76

a kế hoạch 5 năm của bộ lđ-tb-xh 76

b các hợp phần khptktxh được lựa chọn 84

c chính sách bảo trợ xã hội (hỗ trợ xã hội) 94

phụ lục 3: ví dụ về các công cụ nhạy cảm với trẻ em hiện có và dách sách kiểm tra dựa trên công ước về quyền trẻ em 99

b các chỉ số về quyền trẻ em (crc) được dùng trong các công cụ theo nhóm hoặc đơn lẻ đánh giá thành phố vì trẻ em ở phi-lip-pin 101

c các nhân tố tạo điều kiện thực hiện quyền trẻ em .103

d tăng cường các chỉ số về quyền trẻ em trong kế hoạch phát triển quốc gia 104

e phương pháp nghiên cứu định tính và ứng dụng với trẻ em trong psi 105

Trang 5

CSC Thẻ cho điểm cộng đồng

Bộ LĐ-TB-XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Sở LĐ-TB-XH Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

Bộ KH-ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

KHPTKTXH Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội

Sở KH-ĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư

ODI Viện Phát triển Hải ngoại

PETS Khảo sát theo dõi chi tiêu công

PSIA Đánh giá tác động nghèo đói và xã hội

TD&ĐG Theo dõi và Đánh giá

TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh

UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

Trang 7

về báo cáo và các cơ chế phản hồi

Trang 8

phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội đề xuất cho việt nam

Phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội hoạt động như một cơ chế quản lý và giải trình cung cấp một loạt các phương pháp, công cụ và kỹ thuật dùng để đánh giá, tìm hiểu và báo cáo về và nâng cao kết quả xã hội của một tổ chức, một

kế hoạch hay một chính sách Những đặc điểm chính tạo nên đặc thù của kiểm toán xã hội trên thực tiễn bao gồm: trọng tâm vào sự tham gia của các bên liên quan và trách nhiệm giải trình Sự tham gia của những người nắm quyền (‘người dân’) và những người chịu trách nhiệm (‘chính phủ’ hay ‘người cung cấp dịch vụ’) có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của kiểm toán xã hội Kiểm toán xã hội giúp tăng tính minh bạch (đảm bảo thông tin sẵn có và khả năng tiếp cận với thông tin), cung cấp kiến thức (đưa ra ý kiến, nhận thức và kinh nghiệm của người dân) và tăng trách nhiệm giải trình (trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ

xã hội có chất lượng và thực hiện các chính sách công) Tăng cường tính minh bạch, sự tham gia vào quá trình ra quyết định và trách nhiệm giải trình của các

cơ quan chịu trách nhiệm là những điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả của chính sách công và v́ thế không những chỉ tốt cho chính các chính sách mà c̣n

là một phương tiện để nâng cao hiệu quả Kiểm toán xã hội vì thế không chỉ là đánh giá hiệu quả thực hiện và còn là sự kết hợp của quá trình dẫn tới hiệu quả

và tác động của hiệu quả đó.1Với vai trò là công cụ quản lý có tính thực tiễn cao, lại phù hợp với các nguyên tắc quản trị quốc gia, kiểm toán xã hội không những chỉ ra cái “tốt” theo quy chuẩn

mà còn cung cấp những thông tin và phản hồi thiết yếu để nâng cao hiệu quả của quá trình ra quyết định, phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ nói chung Kết quả xã hội có thể được đo lường và cải thiện bằng những cách thức sau:

● Phân tích mức độ ưu tiên đến các vấn đề xã hội trong các kế hoạch

và chính sách

● Phân tích mức độ ưu tiên được chuyển tải thành hành động: tức là phạm vi và chất lượng của các chỉ số dùng để đánh giá tiến độ đạt được trong những ưu tiên đã nêu?

● Đánh giá tác động xã hội của kế hoạch và chính sách;

● Cung cấp thông tin định tính thông qua việc sử dụng các phương pháp

có sự tham gia – các phương pháp này có thể bổ sung cho những thông tin hiện có về các vấn đề nhất định.2

Phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội đặc biệt phù hợp với môi trường chính sách hiện tại ở Việt Nam, nơi mà quá trình “Đổi mới” để xây dựng một nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra cả cơ hội và thách thức cho lĩnh vực chính sách xã hội Các thảo luận chính sách chỉ ra nhu cầu cần thiết phải tăng cường trách nhiệm giải trình và minh bạch và chính phủ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách Những quyết định gần đây về đổi mới quá trình xây dựng KHPTKTXH cho giai đoạn 2011-2015 đã phản ánh những ưu tiên này.3

1 Bộ KH-ĐT/UNICEF (2011) Triển khai Kiểm toán Xã hội ở Việt Nam

2 Thapa, Samman J (2011) “Phương pháp tiếp cận Kiểm toán Xã hội ở Việt Nam: Giá trị gia tăng đối với việc xây dựng SEDP có sự cùng tham gia và giới thiệu các công cụ” bài trình bày bằng PowerPoint, Hà Nội, tháng 11)

3 Liên hợp quốc tại Việt Nam (2010) “Phân tích tổng hợp của LHQ về Tình hình phát triển của Việt Nam và các thách thức trung hạn để chuẩn bị cho Một Kế hoạch LHQ 2012-2016,”, Bản thảo 25 tháng 8 2010

giới thiệu

và thông

tin cơ bản

Trang 9

tiên cho các mục tiêu xã hội, mức độ mà các chỉ số liên quan được đưa vào

khung theo dõi và đánh giá, và những tiến bộ đã đạt được trong các lĩnh vực đó,

bao gồm cả việc sử dụng các phương pháp tham gia và định tính để bổ sung

thêm độ tin cậy cho các phương pháp định lượng hiện tại Bằng cách này, cách

tiếp cận kiểm toán xã hội có thể góp phần làm gia tăng kết quả xã hội và giải

quyết một số thách thức được chỉ ra trong quá trình theo dõi và đánh giá các nội

dung xã hội của KHPTKTXH.4

Một dự án nâng cao năng lực đã được thiết kế như một phương tiện nhằm đóng

góp cho công tác theo dõi có sự lồng ghép và đánh giá KHPTKTXH và nhằm

tăng cường các cơ chế gắn kết các kết quả của công tác theo dõi và đánh giá

vào các quá trình ra các quyết định chính sách về xã hội.5 Là một phần của dự

án này, bốn công cụ kiểm toán xã hội vừa được thực hiện thí điểm tại Việt Nam,

bao gồm: Thẻ báo cáo công dân (CRC) thí điểm ở TP HCM và tỉnh Điện Biên;

Thẻ cho điểm cộng đồng (CSC) và Kiểm toán Giới thí điểm ở TP HCM và tỉnh

Quảng Ngãi và Khảo sát theo dõi chi tiêu công (PETS) thí điểm ở tỉnh Trà Vinh,

TPHCM và tỉnh Điện Biên

Từ những phát hiện và bài học kinh nghiệm thu được cho thấy các công cụ được

thí điểm đều tỏ ra có tiềm năng trở thành các phương tiện bổ sung cho công tác

đánh giá kết quả xã hội của KHPTKTXH, theo như quan điểm của những người

mà chương trình hướng tới cũng như các cán bộ chính quyền chịu trách nhiệm

lập kế hoạch và đánh giá hiệu quả chương trình.6 Kết quả tích cực này được

khẳng định tại một hội thảo gần đây về cơ hội và thách thức trong quá trình đổi

mới cách thức xây dựng, theo dõi và đánh giá KHPTKTX Tại đó các tham dự

viên đã kết luận rằng kiểm toán xã hội thực sự là một công cụ hữu hiệu để thu

thập ý kiến phản hồi của người dân và đánh giá kết quả cung cấp dịch vụ Đó

chính là phương pháp hiệu quả để đo lường tác động của KHPTKTXH theo một

cách thức có sự tham gia và toàn diện hơn Việc áp dụng phương pháp kiểm

toán xã hội được xem như một quá trình trao quyền cho người nghèo và đặc biệt

là những nhóm bị lề hóa.7

Đồng thời, có thể quan sát thấy rằng chưa có công cụ kiểm toán xã hội nào trong

những công cụ đã được thí điểm tại Việt Nam được thiết kế với trọng tâm là trẻ

em, và quan điểm của trẻ em đối với những vấn đề liên quan chính đến các em-

bao gồm chất lượng cung cấp dịch vụ y tế và bình đẳng giới-mà chưa được đề

cập đến trong quá trình ứng dụng các công cụ Do đó có gợi ý cho rằng cần xây

dựng một bộ công cụ kiểm toán cụ thể để giải quyết vấn đề còn đang bỏ trống

này

xây dựng và sử dụng công cụ kiểm toán dựa trên quyền

trẻ em

Từ bài học kinh nghiệm trong quá trình thử nghiệm và từ những quan sát về nhu

cầu chú trọng hơn đến tính nhạy cảm đối với trẻ em, công cụ hiện tại này được

xây dựng để bổ sung cho “bộ công cụ” chung nhằm tăng cường trách nhiệm giải

trình xã hội của các quá trình hoạch định kế hoạch, chính sách và chương trình

4 Thapa, Samman J (2011) “Phương pháp tiếp cận Kiểm toán Xã hội ở Việt Nam: Giá trị gia tăng

đối với việc xây dựng KHPTKTXH có sự cùng tham gia và giới thiệu các công cụ” bài trình bày

bằng PowerPoint, Hà Nội, tháng 11)

5 Bộ KH-ĐT và UNICEF (2009) “Nâng cao năng lực kiểm toán xã hội của Kế hoạch Phát triển

Kinh tế Xã hội 2006-2010: Khung chương trình chi tiết 2009-2010”

6 Bộ KH-ĐT/UNICEF (2011) Triển khai Kiểm toán Xã hội ở Việt Nam

7 Bộ KH-ĐT/UNICEF (2011) “Kỷ yếu Hội thảo: Đổi mới Xây dựng, Giám sát và Đánh giá

KHPTKTXH – Cơ hội và Thách thức” 2-3 tháng 11, 2011.

Trang 10

ở cấp quốc gia và địa phương Công cụ này được thiết kế để tạo thêm giá trị gia tăng cho những nỗ lực hiện tại nhằm đánh giá và cải thiện các chính sách xã hội

và chương trình đầu tư công thông qua việc áp dụng một lăng kính phân tích có

“tính nhạy cảm đối với trẻ em” và tạo điều kiện để trẻ em và người chăm sóc cùng tham gia với tư cách là những đối tác chính trong các quá trình đánh giá Bằng cách đó công cụ này sẽ cung cấp kiến thức và thông tin cụ thể để nâng cao tác động tích cực của chính sách và chương trình vì trẻ em

Đối tượng hướng tới hàng đầu của phương pháp này là các cán bộ chính quyền, đặc biệt thuộc ngành LĐ-TB-XH (Bộ Lao động/Sở Lao động) và Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KHĐT/Sở KHĐT), đồng thời là cán bộ thuộc các bộ ban ngành có liên quan cũng như các đối tác khác Phạm vi ứng dụng ban đầu của phương pháp Kiểm toán xã hội là Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội tổng thể Tuy nhiên nó cũng có thể áp dụng cho các chính sách ngành bao gồm cả những chính sách chung và những chính sách tập trung cho trẻ em Kiểm toán xã hội nhằm vào các chính sách và chương trình ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh Trong tâm ban đầu của việc áp dụng kiểm toán xã hội là dùng nó làm công cụ đánh giá các chương trình và chính sách có mục đích rõ ràng hoặc tiềm ẩn nhằm cải thiện cuộc sống của trẻ em (gồm các chính sách và chương trình hướng tới trẻ em thuộc các lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo vệ trẻ em, ) Tuy vậy cũng đã có nhiều thí dụ cho thấy tiềm năng ứng dụng của phương pháp kiểm toán xã hội cho các chính sách

và chương trình bình thường khác (thí dụ như phát triển công nghiệp và nông nghiệp) có tác động đến cuộc sống của trẻ em thông qua các tiến trình phát triển kinh tế và xã hội chung cũng như các điều kiện mà chúng đóng góp cho sự phát triển nói chung, và vì thế cần có một mức độ “nhạy cảm trẻ em” nhất định Công cụ này được xây dựng dựa trên công cụ kiểm toán giới và các phương pháp đã được thí điểm tại Việt Nam nhưng có điều chỉnh phù hợp với nhu cầu

cụ thể về đánh giá tính nhạy cảm đối với trẻ em Cũng như kiểm toán giới - là

“một công cụ đánh giá mức độ các vấn đề về giới được lồng ghép (đưa vào một cách có hệ thống) vào một chính sách, chương trình hay tổ chức để các kết quả đầu ra và chính sách phù hợp với các mục tiêu về giới ở cấp cao hơn”, 8 thì công

cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em cũng dùng để kiểm định mức độ các nguyên tắc về quyền trẻ em được lồng ghép như thế nào vào các chính sách, kế hoạch, chương trình và việc triển khai chúng ra sao Được xây dựng dựa trên phương pháp kiểm toán giới có điều chỉnh cho phù hộ với mục đích đánh giá tính nhạy cảm trẻ em nên công cụ này được hưởng lợi rất nhiều từ kết quả tuyệt vời về

‘Giám sát thực hiện KHPTKTXH có tính nhạy cảm trẻ em,’9 chương trình tỉnh bạn hữu với trẻ em và sáng kiến xã phường phù hợp với trẻ em,10 cũng như những khung lý luận về việc giám sát có tính nhạy cảm trẻ em ở Việt Nam.11 Công cụ này cũng học hỏi được từ những công cụ và phương pháp hiện có xuất hiện ngày càng nhiều ở cấp quốc tế để áp dụng cho nhiều hoàn cảnh khác nhau (Chi tiết xem ở Mô-đun 2)

Sách hướng dẫn về công cụ này đã được trình bày và thảo luận tại một cuộc hội thảo tham vấn vào tháng 2/2012, với sự tham gia của các cán bộ cấp trung ương

và các cán bộ hoạch định chính sách chủ chốt ở cấp địa phương, đến từ Bộ LĐ-TB-XH và các Sở KH-ĐT của các tỉnh, cùng với đại diện của các Cục Thống

kê, UBND và HĐND các tỉnh Tiếp nối Hội thảo là một buổi tham vấn và chia sẻ

8 “Phương pháp Kiểm toán Giới: Công cụ đánh giá kết quả của KHPT KTXH Việt Nam” dự thảo, tháng 1 2012.

9 UNICEF Việt Nam (2011) “Giảm sát triển khai KHPTKTXH có tính nhạy cảm trẻ em ở Việt Nam: Khung lý luận”

10 Bộ KH-ĐT/UNICEF (2011) “Sách hướng dẫn hướng dẫn – Đưa các vấn đề về quyền trẻ em vào xây dựng KHPTKTXH địa phương ” (Dự thảo).

11 UNICEF Việt Nam (2011) “Giảm sát triển khai KHPTKTXH có tính nhạy cảm trẻ em ở Việt Nam: Khung lý luận”

Trang 11

các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu và các tổ chức đối tác.

Các đại biểu tham dự các cuộc hội thảo kể trên đã thống nhất khẳng định tầm

quan trọng của những công cụ như thế này, đồng thời bày tỏ quan tâm đến công

tác triển khai hoạt động kiểm toán tính nhạy cảm với trẻ em ở Việt Nam Các đại

biểu cũng đã đóng góp nhiều ý kiến và thông tin hữu ích cho việc đẩy mạnh và

bổ sung nội dung cho việc hoàn thành bản dự thảo của sách hướng dẫn, đồng

thời đưa ra những gợi ý cho các bước tiếp theo, bao gồm khả năng xem xét các

kế hoạch tiếp theo cần thiết cho công tác chuẩn bị và triển khai hoạt động kiểm

toán thí điểm để thử và hoàn thiện phương pháp và công cụ

sự cần thiết của kiểm toán chương trình và chính sách nhạy

cảm với trẻ em ở việt nam: bức tranh tổng thể

Chính phủ Việt Nam đang tích cực thực hiện những cam kết và nghĩa vụ của

mình theo các hiệp ước quốc tế như Công ước LHQ về Quyền trẻ em, Mục tiêu

Phát triển Thiên niên kỷ và Chương trình Nghị sự Việt Nam 21 Những cam kết

đó đã và đang được lồng ghép vào các chiến lược phát triển tổng thể (bao gồm

cả việc lồng ghép một số mục tiêu cụ thể vì trẻ em và các mục tiêu phát triển có

liên quan đến trẻ em vào KHPT KTXH ở các cấp khác nhau và việc xác định trẻ

em là đối tượng hưởng lợi chính của các chính sách bảo trợ xã hội) cũng như

được chuyển hóa thành các kế hoạch và chương trình cụ thể (như Chương

trình Hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010, Chiến lược Bảo vệ trẻ

em giai đoạn 2011-2020 và Chương trình Quốc gia về bảo vệ trẻ em giai đoạn

2011-2015, cũng như nhiều chiến lược và chính sách của các ngành bao gồm

chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi và miễn học phí cho trẻ em nghèo

ở vùng sâu, miền núi và hải đảo)

Kế hoạch 5 năm của Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã hội giai đoạn 2011-2015

có các giải pháp cả cụ thể và đan xen cho trẻ em nằm trong tổng thể các nhiệm

vụ và giải pháp được xây dựng cho chín nhóm mục tiêu chính.12 Các cam kết vì

trẻ em cũng được hiện thực hóa thành các văn bản pháp lý (chẳng hạn như Luật

Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em thông qua năm 2004 đã thể chế hóa năm

nhóm quyền trẻ em) Và để đảm bảo các cam kết quốc tế đó được thực thi ở cấp

địa phương, chính phủ đã ban hành Quyết định số No.37/2010/QĐ-TTg ngày

22 tháng 4, 2010 quy định các tiêu chuẩn cho xã, phường phù hợp với trẻ em.13

Việt Nam đang đổi mới quá trình lập kế hoạch của mình (xây dựng, theo dõi và

đánh giá các kế hoạch) hướng tới việc xây dựng mang tính chiến lược, bền vững

và dựa trên kết quả đầu ra trong bối cảnh quá độ tới một nền kinh tế thị trường

và hội nhập quốc tế Bối cảnh đó tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với nỗ lực

bảo vệ, thúc đẩy và cải thiện quyền trẻ em nhằm đảm bảo mọi trẻ em Việt Nam

có cơ hội tồn tại, phát triển và phát huy mọi tiềm năng của mình như những

công dân năng động đóng góp vào sự phát triển của dân tộc Cũng như ở các

nước khác, quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa luôn đi kèm

những hệ quả và khó khăn không lường trước như phân hóa tăng trưởng và gia

tăng rủi ro cho một số nhóm dân cư bị tụt hậu Trẻ em đặc biệt là trẻ em nghèo

nằm trong nhóm những người dễ bị tổn thương nhất Trong bối cảnh ngân sách

eo hẹp hiện nay với công cuộc cải cách cơ cấu rộng lớn đang diễn ra nhằm tạo

dựng và thúc đẩy nền kinh tế thị trường, cần phải nỗ lực hơn nữa để đảm bảo

12 Bộ LĐ-TB-XH (2010) Kế hoạch 5 năm về Người lao động Người có công, Phát triển xã hội

(2011-2015) (Dự thảo 10/7/2010)

13 Bộ KH-ĐT/UNICEF (2011) “Sách hướng dẫn hướng dẫn – Đưa các vấn đề về quyền trẻ em

vào xây dựng KHPTKTXH địa phương ” (Dự thảo).

Trang 12

những khía cạnh dễ bị tổn thương nhất của trẻ em cũng như tiềm năng của các

em được nhận thức đầy đủ và được giải quyết thông qua các giải pháp cụ thể trong các kế hoạch và chính sách và được triển khai có hiệu quả từ cấp vĩ mô cho tới cấp thôn bản

Nhu cầu của trẻ em nghèo và thiệt thòi đòi hỏi phải được chú tâm hơn nữa nhằm đảm bảo thực thi đầy đủ quyền trẻ em tương thích với sự chuyển đổi và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Cũng cần tăng cường nỗ lực trên phạm vi cả nước trong việc đối phó với các điều kiện môi trường ngày càng khắc nghiệt liên quan đến biến đổi khí hậu mà hậu quả đặc biệt nghiêm trọng với trẻ em

Một công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể giúp chính phủ và các đối tác xem xét các vấn đề này thông qua các hướng dẫn về việc làm thế nào để kiểm định mức độ quyền trẻ em được lồng ghép trong các kế hoạch và chính sách quốc gia và quá trình triển khai Bản chất cùng tham gia của công cụ này sẽ đảm bảo tiếng nói của trẻ em được lắng nghe và đóng góp vào quá trình xây dựng

và thực hiện các kế hoạch quốc gia Thông qua việc nêu bật những khu vực cần được cải thiện, công cụ này có thể hỗ trợ những nhà hoạch định chính sách, những cán bộ thực hiện chương trình và các nhà cung cấp dịch vụ trong việc tăng cường hiệu quả công tác của họ nhằm đảm bảo các kết quả đầu ra tích cực cho trẻ em Bản chất đa ngành của phương pháp này và việc kêu gọi đầu vào từ tất cả các bên liên quan tại các cấp khác nhau sẽ có thể giúp cho các chính sách,

kế hoạch và quá trình xây dựng, thực hiện và theo dõi và đánh giá chương trình

Và cuối cùng, mặc dù bản thân công cụ không cung cấp một đánh giá chi tiết nhưng việc áp dụng nó sẽ giúp xác định được các lĩnh vực cần kiểm định, đánh giá, và phân tích để hiểu rõ và có biện pháp giải quyết những tác động thực sự

và tiềm tàng từ việc triển khai chính sách phát triển, chuyển đổi kinh tế vĩ mô, và biến đổi môi trường đối với trẻ em

cấu trúc của sách hướng dẫn

Hai module đầu là giới thiệu và cơ sở lý luận

Mô-đun 1 này giới thiệu và nêu bối cảnh đối với kiểm toán xã hội ở

Việt Nam; mô tả quá trình xây dựng và tiềm năng sử dụng của công

cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em trong tổng thể phương pháp luận chung về kiểm toán xã hội; và nhấn mạnh tầm quan trọng của công cụ này trong bối cảnh xây dựng kế hoạch phát triển hiện tại của Việt Nam

Mô-đun 2 trình bày chi tiết hơn khái niệm, sự cần thiết và mục tiêu của

kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em; định hình một vài thông số chung để hướng dẫn việc xây dựng công cụ (bao gồm cân nhắc phạm vi; lĩnh vực chính, nguyên tắc và tiêu chí của việc đánh giá) và xác định điểm khởi đầu cơ bản để lồng ghép tính nhạy cảm với trẻ em vào quá trình lập kế hoạch quốc gia Phần này cũng trình bày các thí dụ từ kinh nghiệm quốc tế khi triển khai phương pháp đánh giá độ nhạy cảm với trẻ em, bao gồm cả việc xây dựng các tiêu chí đánh giá và việc áp dụng chúng cho các lĩnh vực khác nhau

Các phần tiếp theo mang tính phương pháp luận nhiều hơn và đưa ra những phương pháp đề xuất ứng dụng cho kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em

Mô-đun 3 nêu tóm tắt các phương pháp chính sẽ được sử dụng trong

công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em, gồm tổng hợp và phân tích tài liệu hiện có, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, kể cả với trẻ em Phần

Trang 13

phù hợp với các mục đích cụ thể.

Mô-đun 4-8 trình bày công cụ và phương pháp chung của kiểm toán

tính nhạy cảm trẻ em, dựa trên bộ công cụ Kiểm toán giới đã được đưa

vào áp dụng tại Việt Nam Phần này đưa ra các hướng dẫn và phương

pháp cho quá trình tổng thể, từ (i) chuẩn bị và lập kê hoạch; (ii) áp

dụng các phương pháp chủ yếu; (iii) phân tích và báo cáo kết quả; (iv)

● truyền thông và phổ biến; và (v) xây dựng một kế hoạch hành động

hướng tới trọng tâm tăng cường quyền trẻ em

Phần cuối cùng là về các bước tiếp theo

Mô-đun 9 tóm tắt một số nội dung hướng dẫn chính của Sách và cung

cấp những gợi ý để cân nhắc các bước tiếp theo cho việc lên kế hoạch

áp dụng công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em ở Việt Nam

Phần danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục kỹ thuật sẽ cung cấp

một nguồn thông tin hữu ích về việc thiết kế một công cụ kiểm toán cụ thể phù

hợp với Việt Nam

● Phần danh mục các tài liệu tham khảo sẽ cung cấp các đường dẫn

tới các công cụ đánh giá hiện hành Phụ lục 1 trình bày tổng quan về

các vấn đề chính đã được đưa ra thảo luận tại các cuộc hội thảo tham

vấn cấp quốc gia về các công cụ đề xuất được tổ chức vào tháng Hai

năm 2012 tại TP HCM và Hà Nội Phụ lục 2 cung cấp các đầu vào

nhằm hướng dẫn cách thức điều chỉnh công cụ kiểm toán tính nhạy

cảm trẻ em được giới thiệu trong cuốn Sách này để phù hợp với các

chương trình, kế hoạch hay chính sách cụ thể ở Việt Nam, thông qua

việc ðýa ra ba ví dụ cụ thể Ngoài ra, phần này còn đưa ra những

câu hỏi quan trọng để định hướng phân tích (i) kế hoạch 5 năm của

Bộ LĐ-TB-XH; (ii) các hợp phần được lựa chọn của KHPTKTXH; (iii)

một ngành cụ thể về bảo trợ xã hội (hỗ trợ xã hội), trên cơ sở Nghị

định 67 (2007) về Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội

và các mảng hỗ trợ xã hội của Chiến lược An sinh Xã hội giai đoạn

2011-2020 Những danh mục kiểm tra này đã được rà soát với sự tổng

hợp các ý kiến của các đại biểu cấp quốc gia và cấp tỉnh tham dự hội

thảo tham vấn tại TP HCM Phụ lục 3 trình bày các ví dụ về các công

cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em và các danh mục kiểm tra dựa trên

Công ước về Quyền trẻ em

Trang 14

Các điểm chính cần lưu ý:

• Phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội được thực hiện thí điểm tại Việt Nam với vai trò là một cơ chế quản lý và trách nhiệm giải trình nhằm đánh giá và cải thiện kết quả xã hội Các đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận này bao gồm sự tham gia của các bên liên quan, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

• Phương pháp tiếp cận kiểm toán xã hội đặc biệt liên quan đến môi trường chính sách hiện hành tại Việt Nam, nơi mà quá trình “Đổi mới” đang tạo ra cả cơ hội

• Đối tượng hướng tới hàng đầu của phương pháp này là các cán bộ chính quyền

và các đối tác, đồng thời là cán bộ đại diện cho UBND và HĐND các cấp.

• Phạm vi ứng dụng ban đầu của phương pháp Kiểm toán xã hội là Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội tổng thể cũng như các chính sách ngành bao gồm cả những chính sách chung và những chính sách tập trung cho trẻ em và nhằm vào các chính sách và chương trình ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh.

• Công cụ được đề xuất và sách hướng dẫn đã được đưa ra thảo luận và rà soát tại các cuộc hội thảo tham vấn ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh Cuốn sách này tập hợp các ý kiến và các thông tin đã thu nhận được

Trang 15

khái niệm, sự cần thiết và mục tiêu

Kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em có thể được định nghĩa là một phương

pháp kiểm toán xã hội đặc biệt nhằm tối đa hóa cơ hội và kết quả phát triển

đối với trẻ em bằng việc hỗ trợ chính quyền và các đối tác có liên quan sử

dụng phương pháp tham gia để đánh giá mức độ mà quyền, nhu cần và

lợi ích của trẻ em được cân nhắc đưa vào các chính sách và chương trình

quốc gia ở các cấp khác nhau; nhằm xác định những thiếu hụt tiềm ẩn và

phân định rõ các ưu tiên để hành động

Từ những thí dụ, bài học kinh nghiệm và thực tiễn tốt trên thế giới, phương pháp

được xây dựng và áp dụng trong kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể giúp

chính quyền trung ương nhận thức được nhu cầu tăng cường theo dõi và đánh

giá tác động của những chính sách và chương trình quan trọng đối với trẻ em

Các ưu tiên vì trẻ em trong các chính sách và kế hoạch phát triển cấp quốc gia

là tối quan trọng xét từ góc độ dễ tổn thương và rủi ro của trẻ em cũng tiềm năng

của các em với vai trò là những lãnh đạo tương lai của đất nước Lý do để có

một trọng tâm như vậy xuất phát từ một số vấn đề mà kiểm toán xã hội dựa trên

quyền trẻ em tìm cách giải quyết:

vấn đề về quyền

Công ước về Quyền trẻ em (CRC) gồm những tiêu chuẩn quốc tế quy định rằng

mọi trẻ em đều có quyền được hưởng mức sống tối thiểu, bao gồm quyền về y

tế và dinh dưỡng, quyền được giáo dục cơ bản, được bảo vệ và tham gia cũng

như quyền được nuôi dưỡng trong một gia đình Các nguyên tắc hướng dẫn

của Công ước bao gồm định nghĩa về trẻ em là mọi người dân dưới 18 tuổi; các

nguyên tắc về không phân biệt đối xử; nguyên tắc ưu tiên hàng đầu vì lợi ích tốt

nhất của trẻ em trong các quyết định có ảnh hướng đến các em bên cạnh việc tôn

trọng ý kiến của các em; và quyền cơ bản của mọi trẻ em đối với cuộc sống, sự

sống còn và phát triển Các quốc gia phê chuẩn CRC có nghĩa vụ đảm bảo rằng

các quyền này được hiện thực hóa ngay cả với những trẻ thiệt thòi nhất Các giải

pháp chung đòi hỏi luật pháp quốc gia phải phù hợp với Công ước, phải có các

chiến lược quốc gia tổng thể thiết kế riêng cho trẻ em có khả năng thực thi trong

phạm vi nguồn lực cho phép; phải có sự điều phối hiệu quả cả ở cấp quốc gia và

địa phương; và phải tiến hành thu thập số liệu, theo dõi và đánh giá về quyền và

phúc lợi của trẻ một cách có hệ thống

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu á, và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn

Công ước vào năm 1990, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ đối với các nguyên tắc của

Công ước, và Việt Nam luôn khẳng định sự lãnh đạo đặc biệt và hướng tơi tương

lai vì trẻ em của dân tộc mình, thể hiện qua hàng loạt các chính sách, kế hoạch và

chương trình cũng như các khung pháp lý quan trọng Kiểm toán các chương trình

và chính sách nhạy cảm với trẻ em sẽ giúp chính phủ việc hoàn thành các nghĩa vụ

của mình theo như Công ước bằng cách nâng cao năng lực kiểm định mức độ mà

các nguyên tắc của Công ước được áp dụng nhằm đảm bảo quyền, nhu cầu và lợi

ích của trẻ em được lồng ghép vào các quá trình, chính sách và chương trình ở cấp

quốc gia và địa phương

kiểm toán

xã hội dựa trên quyền trẻ

em là gì và tại sao nó lại quan trọng?

Trang 16

vấn đề về con số

Trên toàn thế giới, số lượng trẻ em và vị thành niên là một nhóm dân số quan trọng (chiếm 32,6% dân số thế giới và chiếm một phần ba đến một nửa dân số của hầu hết các quốc gia,14 đặc biệt là ở các nước đang phát triển nơi mà số lượng và tỷ lệ trẻ em và lực lượng dân số trẻ đang liên tục gia tăng.) Người ta ước tính rằng đến năm 2050, lực lượng dân số trẻ (trong độ tuổi từ 15-24) sẽ tăng khoảng 38% so với 1950 và rằng có 9 trong số 10 người trong độ tuổi dân số trẻ sẽ là ở các nước đang phát triển Sự gia tăng nhân chủng học nhanh chóng

đó đòi hỏi nhu cầu và mối quan tâm của nhóm dân số này phải được đưa vào các

kế hoạch và chương trình quốc gia một các tương xứng.15

Việt Nam là nước có dân số trẻ với hơn 50% dân số dưới 25 tuổi; điều này tạo ra những thách thức đối với sự phát triển bền vững của quốc gia Năm 2007, trẻ em dưới 16 tuổi ở Việt Nam (khoảng 30 triệu người) chiếm khoảng 1/3 dân số (27,7

%) Phương pháp kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em sẽ giúp tăng cường các

nỗ lực của chính phủ nhằm đảm bảo rằng các nhu cầu của nhóm dân số quan trọng

và gia tăng này được đưa vào các chương trình và các chính sách quốc gia và sẽ

hỗ trợ để đảm bảo quan điểm của trẻ em được lắng nghe.

vấn đề về giảm nghèo và phát triển

Trên thế giới người ta quan sát thấy các kế hoạch và chương trình quốc gia ưu tiên trẻ em có ý nghĩa quan trọng giúp giải quyết vấn đề nghèo đói trẻ em theo nhiều phương diện và nhằm ngăn chặn vòng đói nghèo luẩn quẩn truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác Trẻ em và vị thành niên là đặc biệt dễ bị tổn thương ngay cả trong một thời gian ngắn bị nghèo đói nhưng lại có tác động cả đời hoặc xuyên thế hệ Chương trình và chính sách vì sự phát triển và phúc lợi của trẻ em

sẽ giúp bẻ gãy vòng luẩn quẩn của nghèo đói xuyên thế hệ, chẳng hạn như trong các quá trình mà trẻ em bị tước mất quyền đối với giáo dục và y tế mà từ đó chịu những rào cản cả đời không phát triển được.16

Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế cao đã mang lại những cải thiện đáng kể trong đời sống nhân dân và tỷ lệ nghèo đói đã được ghi nhận giảm nhanh trong thập kỷ qua (từ gần 60% trong đầu thập niên 1990s xuống còn khoảng 14% vào năm 2008, theo như Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008) Điều đó đương nhiên giúp cải thiện đáng kể cuộc sống và phúc lợi của trẻ em Tuy nhiên, theo báo cáo mới đây của chính phủ về nghèo đa chiều ở trẻ em Việt Nam thì nghèo đói tiền

tệ vẫn còn ảnh hưởng đến 1/5 (20,7%) dân số trẻ em dưới 16 tuổi, trong khi một

tỷ lệ cao hơn (28,9%) chịu ảnh hưởng của nghèo đa chiều, tức là ảnh hướng đến khoảng 6,34 triệu trẻ em Trong số các phương diện nghèo đói ảnh hưởng đến trẻ

em, hai lĩnh vực cho thấy số lượng lớn trẻ em chịu cảnh nghèo đói là chăm sóc sức khỏe (52,9%), và nước và vệ sinh môi trường (42,9%) Tỷ lệ nghèo đói thấp hơn trong lĩnh vực nhà ở (17,4%), giáo dục (16,1%), lao động trẻ em (9.8%), và bảo trợ

xã hội (8,8%) Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em đối với các chính sách chương trình

và chính sách quốc gia quan trọng sẽ giúp xác định ra những nội dung cần tăng cường đầu tư trong các giải pháp giảm nghèo bền vững nhằm phá gẫy vòng đói nghèo luẩn quẩn và đảm bảo rằng các quá trình phát triển, cả ngắn hạn và dài hạn, đều được xây dựng trên nền tảng bền vững.

14 UNICEF và Ngân hàng Thế giới (2011) Hướng dẫn PSIA

15 UNICEF/EC Bộ công cụ về Quyền trẻ em Hợp phần 3 (Dự thảo 2010)

16 UNICEF và Ngân hàng Thế giới (2011) Hướng dẫn PSIA, UNICEF/EC Bộ công cụ về Quyền trẻ

em, Hợp phần 3 (Dự thảo 2010)

Trang 17

vấn đề công bằng

Trên thế giới mặc dù tiến bộ trong việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ là

khả quan vẫn có bằng chứng và phân tích cho thấy sự tồn tại của bất bình đẳng

giữa và trong các nước và những bất bình đẳng đó trong nhiều trường hợp đang

gia tăng.17 Vì thế cần có thêm nhiều nỗ lực hơn nữa để với tới những đối tượng

bị thiệt thòi không được hưởng lợi từ quá trình phát triển trong khi lại đang cần sự

trợ giúp Việc ban hành các chương trình và chính sách có chú ý đến tính công

bằng là đặc biệt quan trọng đối với những nỗ lực này

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc thực hiện các Mục tiêu

Phát triển của Việt Nam-đã được nội địa hóa-và trong việc xóa đói nghèo cùng

cực Tuy nhiên, những nỗ lực giảm nghèo và cải thiện mức sống không đồng đều ở

các khu vực khác nhau và vì thế việc đạt được các MDG một các công bằng được

nhìn nhận là một thách thức lớn Hơn nữa, các số liệu gần đây cho thấy có một xu

hướng gia tăng nhẹ mức độ bất bình đẳng ở tất cả các vùng miền, chủ yếu là bất

bình đẳng trong tiếp cận với các cơ hội việc làm và tạo thu nhập tốt đối với phụ nữ,

người dân tộc thiểu số và người thiệt thòi (như người khuyết tật, người già ) Với

trẻ em, theo phương diện tiền tệ và đa phương diện, nghèo đói trẻ em cao nhất

ở vùng Tây Bắc, chủ yếu tồn tại trong các nhóm dân tộc thiểu số, và ở vùng nông

thôn Báo cáo MICS gần đây khẳng định có sự bất bình đẳng liên tục trong cuộc

sống và phúc lợi của trẻ em và phụ nữ Việt Nam xét theo góc độ vùng miền, theo

giới, nơi sinh sống, mức sống và dân tộc KHPTKTXH đã nhận thức được tầm quan

trọng của việc giải quyết bất bình đẳng và các nỗ lực cụ thể đang được triển khai

nhằm đáp ững nhu cầu của những trẻ em thiệt thòi nhất

Kiểm toán chương trình và chính sách nhạy cảm với trẻ em, nếu được thiết kế với

trọng tâm đặc biệt để giải quyết bất bình đẳng sẽ giúp xác định những thiếu hụt và

hướng sự quan tâm vào nhu cầu có thêm các giải pháp mạnh mẽ hơn nhằm hiện

thực hóa quyền của mọi trẻ em Các kiểm toán này có thể dùng làm đầu vào quan

trọng cho các phân tích tình hình dựa trên quyền và tập trung vào vấn đề bình đẳng

làm cơ sở cho các quá trình lập kế hoạch quốc gia.

vấn đề cấp bách

Trong bối cảnh toàn cầu hiện tại về tăng giá lương thực và hàng hóa, bất ổn về

kinh tế và tài chính, tính dễ tổn thương gia tăng do ảnh hưởng của biến đổi khí

hậu, đô thị hóa gia tăng và mất an ninh chưa từng có trên khắp thế giới thì trọng

tâm vào trẻ em là đặc biệt cấp bách nhằm đảm bảo quyền và hạnh phúc của trẻ

em được bảo vệ thông qua các giải pháp cụ thể trong các chính sách và chương

trình quốc gia

17 UNICEF (2010) “Tiến bộ vì trẻ em : Hoàn thành MDG với sự công bằng”

Trang 18

Ở Việt Nam, mặc dù tác động của suy giảm toàn cầu không đáng kể và triển vọng phát triển vẫn sáng sủa, song sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai sẽ dễ bị cuốn theo xu thế kinh tế chung toàn cầu, đặc biệt là thông qua tác động của thương mại và xuất khẩu và dòng chảy ODA (Theo Báo cáo tổng hơp của LHQ) Việt Nam cũng đặc biệt dễ bị tổn thương đối với tác động của biến đổi khi hậu, được nhìn nhận như một thách thức chính đối với phát triển bền vững Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể giúp chính phủ kiểm định được xem liệu các cơ chế cụ thể nhằm giám sát các kết quả đầu ra vì trẻ em có được dự tính và thực thi hay không;

có thể giúp khẳng định liệu khả năng dễ tổn thưởng của trẻ em có được nhận thức

và liệu rằng lợi ích của trẻ có được bảo vệ trong các chính sách bảo trợ xã hội hay các giải pháp khẩn cấp hay không, và liệu rằng có thể hình thành nhận thức về nhu cầu phân tích và đánh giá sâu hơn tác động và ảnh hưởng đối với trẻ em của các

xu thế và cải cách kinh tế vĩ mô.

ví dụ về các công cụ đánh giá tính nhạy cảm trẻ em trong thực tiễn quốc tế

Mặc dù không có một công cụ chuẩn mực nào cho việc đánh giá tính nhạy cảm trẻ em trong các chính sách, chương trình và thực tiễn quốc gia, và không có một

‘công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em ‘ tồn tại trên thế giới xét về danh nghĩa, song trên thực tế đã có hàng loạt các công cụ được xây dựng cho các mục đich khác nhau (bao gồm lập kế hoạch, đánh giá, phân tích, tổng hợp và giám sát) Trong khi phương pháp kiểm toán giới được dùng làm khung tham khảo nhưng cũng đã học hỏi từ nhiều công cụ này để xây dựng bộ công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em Các công cụ này cũng sẽ cung cấp thêm kiến thức và định hướng cho việc điều chỉnh và áp dụng công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em này cho nhu cầu đánh giá trong các lĩnh vực cụ thể cũng như việc phân tích kinh

tế xã hội có liên quan đến nghèo đói nói chung

Dưới đây là trình bày ngắn gọn về một vài công cụ với đường dẫn đến các thông tin tham khảo rộng hơn Như sẽ thấy trong các thí dụ được trình bày, các công

cụ đều có các thành tố chung nhưng cũng có những chi tiết khác biệt về loại hình

và tiêu chí thông tin riêng cho việc đánh giá của các ngành khác nhau hay môi trường vĩ mô khác nhau Cần phải luôn ghi nhớ điều này như một quy tắc thuộc lòng trong khi xây dựng và áp dụng công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em ở Việt Nam

phương pháp và bộ công cụ đánh giá thành phố bạn hữu trẻ em18

Sáng kiến Thành phố Bạn hữu trẻ em (CFCI) nhằm mục đích hướng dẫn các thánh phố và các hệ thống chính quyền địa phương khác trong việc đưa quyền trẻ em làm hợp phần quan trọng trong mục tiêu, chính sách, chương trình và tổ chức của mình Tiêu chí cơ bản được xây dựng để định nghĩa cộng đồng bạn hữu trẻ em là những cộng đồng thể hiện cam kết chung của chính quyền đối với trẻ em; có sự tham gia tích cực của trẻ em vào quá trình ra quyết định;

và thực thi quyền trẻ em trong các lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên các chỉ số chính

xác cần cho việc giám sát và đánh giá các nỗ lực này cần phải được rà soát và điều chỉnh cho từng bối cảnh cụ thể Một bộ công cụ được xây dựng với nhiều công cụ đánh giá được thiết kế cho việc áp dụng ở nhiều thành phố và cộng đồng khác nhau Các công cụ bao gồm: các công cụ tự đánh giá (dành cho trẻ em,

18 http://www.childfriendlycities.org/en/research/final-toolkit

Trang 19

vị thành niên, phụ huynh học sinh mầm non, tiểu học và trung học, và các nhà

cung cấp dịch vụ tại cộng đồng); công cụ để đối thoại và phân tích quản trị

nhà nước vì trẻ em (bao gồm một danh sách kiểm tra quản trị nhà nước thân

thiện với trẻ em, hướng dẫn thảo luận và công cụ kịch bản); và các công cụ báo

cáo tổng hợp

Danh sách kiểm tra quản trị quốc gia thân thiện trẻ em xác định các lĩnh vực

chính cần těm hiểu để đánh giá bản chất về mức độ của cam kết tổng thể của

chính quyền đối với trẻ em (trong việc ra quyết định các chính sách cấp thành

phố; điều phối, lập ngân sách, số liệu, kế hoạch hành động; nhận thức công

cộng và ngành nghề; vận động chính sách và quan hệ đối tác cộng đồng) cũng

như mức độ nhận thức quyền trẻ em trong các lĩnh vực cụ thể (bao gồm dịch

vụ xã hội và bảo trợ xã hội; pháp lý vị thành niên; giáo dục; vui chơi, giải trí và

thể thao; vận tải, sức khỏe môi trường; sức khỏe công cộng; quy hoạch đô thị

và công trình công cộng; phòng ngừa và ứng phó trong tình trang khẩn cấp;)

(Xem Danh sách kiểm tra ở phụ lục) Bên cạnh đó, chín “thành tố” được xác định

cho việc xây dựng và giám sát tính thân thiện trẻ em của thành phố Chúng bao

gồm: sự tham gia của trẻ em; khung pháp lư thân thiện với trẻ em; chiến lược

cấp thành phố về quyền trẻ em; một đơn vị hay cơ chế điều phối quyền trẻ em;

đánh giá tác động đối với trẻ em; ngân sách vì trẻ em; Báo cáo định kỳ của trẻ

em thành phố; cơ chế tuyên truyền về quyền trẻ em; và vận động chính sách độc

lập vì trẻ em

Các quốc gia có CFCI bao gồm, ở châu á – Thái Bình Dương, indonesia (15

thành phố tham gia vào năm 2008) malaysia (nơi một sáng kiến từ cộng đồng

đã xây dựng một phiếu báo cáo trẻ em), philippines (được một mối quan hệ đối

tác liên ngành toàn quốc phát động với nghiên cứu thử nghiệm công cụ đánh

giá tiến hành vào năm 2009 – xem phụ lục) và việt nam (chương trình tỉnh bạn

hữu trẻ em)

khung chính sách của nghiên của toàn cầu của uniceF về

nghèo đói và bất bình đẳng trẻ em19

Hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới đã tham gia vào Nghiên cứu Toàn cầu do

UNICEF khởi xướng về Nghèo đói và Bất bình đẳng Trẻ em, trong đó có Việt

Nam Để thực hiện Nghiên cứu Toàn cầu, một khung chính sách được tạo dựng

để:

● thu thập thông tin về chính sách kinh tế vĩ mô, ngân sách công và hợp

tác phát triển vì chúng tác động đến bối cảnh của các chính sách xã

hội và/hoặc nghèo đói của gia đình và trẻ em;

● xây dựng một bản tổng hợp chuẩn về luật pháp và các chính sách

công (chiến lược, khung pháp lý và chương trình quốc gia) ở một quốc

gia cụ thể có tác động nhiều nhất đến tình trạng nghèo đói và trẻ em

và bất bình đẳng trong thu nhập hộ gia đình; dinh dưỡng trẻ em, sức

khỏe, bảo vệ trẻ em và giáo dục; và

● xác định các kết nối giữa bối cảnh kinh tế và thiết chế; và

● xác định các tác nhân chủ yếu về người cung cấp dịch vụ và người

ra quyết định đối với quyền và phúc lợi của trẻ em trong các bối cảnh

khác nhau

19 http://www.unicefglobalstudy.blogspot.com/

Trang 20

Mặc dù được thiết kế đặc thù làm cơ sở cho một nghiên cứu chuyên sâu, khung chính sách này có vẫn có thể được điều chỉnh để sử dụng như một công cụ đánh giá “đơn giản” trong các lĩnh vực về trẻ em và kết quả đầu ra liên quan đến bình đẳng, dựa trên một vài tiêu chí lĩnh vực chính được xác định cho việc đánh giá Nhiều nghiên cứu cấp quốc gia về nghèo đói trẻ em cũng kết hợp phương pháp cùng tham gia với trẻ em để bổ sung cho các thông tin thu được bằng các phương pháp khác với hiểu biết về ‘kinh nghiệm sống’ của trẻ em Cụ thể là trong trường hợp của Việt Nam phần phân tích ban đầu về nghèo đói trẻ em được làm giàu thêm bằng thông tin từ nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ – young Lives”

sử dụng phương pháp toàn diện và hòa nhập trong việc tổng hợp kết quả nên

đã tạo dựng được một khung mô phỏng sự phức tạp và các nguyên nhân ảnh hưởng tới cuộc sống trẻ em

lồng ghép tập trung vào trẻ em vào phân tích tác động xã hội và nghèo đói (psia)20

UNICEF và Ngân hàng Thế giới đã xây dựng một Gói tài liệu nguồn và Hướng dẫn về lồng ghép trẻ em vào Phân tích tác động xã hội và Nghèo đói (PSIA) PSIA bao gồm các phân tích về tác động của công cuộc cải cách chính sách công đối với đời sống của các nhóm người có liên quan khác nhau, với trọng tâm đặc biệt vào nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương Bản Hướng dẫn:

● phác thảo những tác động xã hội và nghèo đói tiềm ẩn của các cái cách chính sách xã hội và kinh tế đối với trẻ em và con đường hình thành nên những tác động này cùng với các chỉ số gợi mở để giám sát các phương diện khác nhau;

● mô tả khái quát các công cụ và phương pháp hiện có cả định lượng và định tính có thể dùng để phân tích các tác động;

● phác thảo một vài phương pháp tiếp cận nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và tăng tính tích cực đối với trẻ em; và

● xem xét các thức lồng ghép các quan điểm của trẻ em vào PSIA Ngoài ra, bản hướng dẫn còn phác thảo một vài khía cạnh dễ bị tổn thương của trẻ em theo độ tuổi; xác định các kênh truyền tải chính mà qua đó các cải cách

có thể tác động đến trẻ em (gồm việc làm và lương, giá cả, trợ cấp và thuế, tiếp cận với hàng hóa và dịch vụ, tài sản và quyền lực), và tổng hợp các tác động tiềm

ẩn ngắn, trung và dài hạn đối với trẻ em mà cải cách chính sách mang lại Bản hướng dẫn cũng trình bày kỹ thuật thu thập dữ liệu khác nhau, cả định tính và định lượng (trong đó có cả các phương pháp cùng tham gia với trẻ em) và cung cấp hướng dẫn quá trình ra quyết định đối với hành động cần thiết để giảm thiểu ảnh hưởng của cải cách chính sách đối với trẻ em

Bản hướng dẫn bao gồm một danh mục kiểm tra với một loạt các câu hỏi tổng hợp để tiến hành PSIA tập trung vào trẻ em; các chỉ số về phúc lợi của trẻ em và các nguồn số liệu tiềm năng; thí dụ về những tác động của cải cách ngành đối với trẻ em; và một đánh giá nhanh tác động tiềm tàng đối với trẻ em (xem phụ lục

để có thêm chi tiết) Bản hướng dẫn còn được bổ sung bằng Gói tài liệu nguồn trong đó hướng dẫn người dùng đến với các nguồn thông tin có liên quan khác

về phương pháp luận, nguồn dữ liệu, phương pháp tiếp cận chính sách, và các thức lồng ghép ý kiến của trẻ em

20 http://www.childimpact.unicef-irc.org/documents/view/id/130/lang/en

Trang 21

lồng ghép quyền trẻ em vào chiến lược giảm nghèo và kế

hoạch phát triển quốc gia21

Được xây dựng như một phần của bộ công cụ do EC tài trợ và do UNICEF điều

phối nhằm làm nổi bật quyền trẻ em trong các quá trình chính sách quốc gia, mục

tiêu của hợp phần này gồm 5 phần:

● Nhấn mạnh tầm quan trọng và cần thiết của việc lồng ghép các phương

pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, nhất là quyền trẻ em, đối với

chiến lược giảm nghèo (PRS), kể cả các tài liệu kế hoạch phát triển

quốc gia (NDP) và chu kỳ kế hoạch;

● Cung cấp hướng dẫn về các thức tốt nhất để lồng ghép quyền trẻ em

vào các cơ chế PRS/NDP đang được xây dựng;

● Cung cấp công cụ và kỹ thuật thúc đẩy hiện thực hóa các cam kết đối

với quyền trẻ em thành hiện thực chương trình;

● Cung cấp công cụ để giám sát quá trình hiện thực hóa này;

● Nhấn mạnh các nguồn thông tin có liên quan khác và hướng dẫn liên

quan đến lồng ghép quyền trẻ em vào các quá trình PRS/NDP

Ngoài ra, bộ công cụ còn cung cấp lập luận về sự cần thiết phải lồng ghép quyền

trẻ em vào quá trình lập kế hoạch và xây dựng chính sách quốc gia (tài liệu này

đã trích dẫn rất nhiều từ nguồn này); xác định hệ quả chính sách của các nguyên

tắc quyền trẻ em quan trọng được trình quy định tại CRC; rà soát kinh nghiệm

và cung cấp bằng chứng về tác động của việc lồng ghép phương pháp tiếp cận

dựa trên quyền trẻ em vào các quá trình PRS/NDP (với thí dụ cụ thể ở Rwanda,

Nepal, Brazil và Honduras); trình bày các công cụ, kỹ thuật và hướng dẫn cụ thể

cách thức lập kế hoạch Việt Nam vì quyền trẻ em trong các quá trình PRS/NDP;

xác định các điểm khởi đầu cho các quá trình khác nhau (cũng được sử dụng

nhiều trong tài liệu này); và cung cấp thông tin về kết quả thử nghiệm các công cụ

ở Nepal và Uganda Bộ công cụ cũng đưa ra hướng dẫn về vận động chính sách;

xác định vai trò quan trọng của các đối tác; và cung cấp các danh sách kiểm tra

hữu ích về các nhân tố tạo điều kiện cho việc thực thi quyền trẻ em (xem phụ lục)

cũng như một danh mục các chỉ số cần rà soát

Trong số các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc rà soát sự hiện diện của trẻ em

trong các quá trình PRS/NDP, các nhu cầu sau đây được xác định (tất cả đều có

liên quan đến việc xây dựng công cụ hiện tại):

● Nhận thức và hiểu biết đầy đủ hơn của các nhà hoạch định chính sách

và chương trình đối với quyền trẻ em;

● Có đầy đủ và sử dụng nhiều hơn các số liệu bóc tách đáp ứng các

nguyên tắc của CRC về phổ cập và không phân biệt đối xử;

● Có sự điều phối tốt hơn nữa giữa những người chịu trách nhiệm đối

với PRS/NDP và những người chịu trách nhiệm trong từng lĩnh vực

cụ thể có liên quan đến quyền trẻ em (các chương trình ‘tập trung vào

trẻ em’);

21 UNICEF/EC Bộ công cụ Quyền trẻ em Hợp phần 3: Quyền trẻ em trong các chiến lược giảm

nghèo (Chương trình Phát triển xã hội của ODI, Dự thảo, 2010)

Trang 22

● Tăng cường quan tâm đến quyền tham gia và được bảo vệ (để bổ sung cho xu hướng hiện tại mới chỉ chú trọng đến cung cấp dịch vụ vì

phân tích bảo trợ xã hội thân thiện với trẻ em

Với mục địch tiến hành một phân tích bảo trợ xã hội nhạy cảm với trẻ em ở 5 nước Tây Phi, được UNICEF Khu vực Tây và Trung Phi ủy thác, ODI đã xây dựng một loạt các dự thảo công cụ nghiên cứu định tính dựa trên phương pháp phỏng vẫn sâu khai thác các khía cạnh khác nhau của bảo trợ xã hội để đánh giá mức độ mà các chính sách bảo trợ xã hội đã lồng ghép các ưu tiên liên quan đến nghèo đói trẻ em và khả năng dễ tổn thương, làm nổi bật sự hiện hữu của trẻ em trong các chính sách đó.22

các nguyên tắc chính trong công tác bảo trợ xã hội nhạy cảm với trẻ em:

• Chính sách và chương trình tránh tác động tiêu cực đến trẻ em và giảm thiểu

các rủi ro kinh tế và xã hội có thể có tác động trực tiếp đến cuộc sống của trẻ em

• Các giải pháp được thiết kế có hiệu quả trong việc can thiệp sớm nhất có thể

tới những nơi mà trẻ em chịu rủi ro nhằm ngăn ngừa khiếm khuyết hay thiệt hại không tránh khỏi.

• Các chương trình cân nhắc những rủi ro và khả năng dễ bị tổn thương theo

độ tuổi và giới của trẻ em trong cả chu kỳ sống.

• Các can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của các cú sốc, sự cô lập và nghèo đói đối vơi các gia đình, trên cơ sở nhận thức rằng gia đình nuôi con cái cần

được trợ giúp để đảm bảo cơ hội công bằng.

• Có các quy định đặc biệt dành cho trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương và trẻ bị

cô lập/lề hóa, bao gồm trẻ em không nơi nương tựa, và trẻ em bị thiệt thòi trong

gia đình và cộng đồng vì lý do giới, khuyết tật, dân tộc thiểu số, HIV/AIDS hay các yếu tố khác.

• Các can thiêp được thiết kế để tính tới các cơ chế và động thái trong nội

bộ gia đình mà có thể ảnh hưởng việc tiếp cận trẻ em, đặc biệt chú ý đến

sự cân bằng quyền lực giữa nam và nữ trong hộ gia đình và cộng đồng xung quanh

Tiếng nói và ý kiến của trẻ em, người chăm sóc được cân nhắc đưa vào

thiết kế các hệ thống và chương trình bảo trợ xã hội

Nguồn: Xây dựng dựa trên tuyên bố về bảo trợ xã hội nhạy cảm với trẻ em (2009)

Các lĩnh vực chính mà đánh giá này đề cập bao gồm kinh tế chính trị tổng thể; các thiết chế về bảo trợ xã hội và chương trình hiện hành; vấn đề xác định đối tượng; khả năng tài khóa và tài chính cho bảo trợ xã hội đối với trẻ em; và các

22 Nicola Jones and Rebecca Holmes, 2009 (tài liệu dự thảo).

Trang 23

kết nối giữa bảo trợ xã hội và bảo vệ trẻ em.

Nghiên cứu này phù hợp với sự đồng thuận quốc tế ngày càng gia tăng về những

nguyên tắc cơ bản đối với việc xây dựng và đánh giá hệ thống bảo trợ xã hội

nhạy cảm với trẻ em (xem hộp 1) và kết quả là sự ra đời của hàng loạt báo cáo

chủ để ở tầm khu vực và năm nghiên cứu điển hình về bảo trợ xã hội và trẻ em

ở Tây và Trung Phi.23 Nghiên cứu cũng đóng vai trò là nền tảng và khuyến khích

việc xây dựng chính sách, chiến lược và chương trình bảo trợ xã hội nhạy cảm

với trẻ em ở nhiều nước trong khu vực Ở Niger, chẳng hạn, dựa trên đánh giá

bảo trợ xã hội nhạy cảm với trẻ em, chính phủ đã xây dựng một chính sách quốc

gia đa ngành về bảo trợ xã hội và hiện tại đang nỗ lực xây dựng các kế hoạch

hành động cho 5 trụ cột chính của chính sách này.24

tiêu chí đánh giá chất lượng trường học bạn hữu trẻ em:

Trường học bạn hữu trẻ em (CFS) bao gồm một khung lý luận đa chiều về chất

lượng và giải quyết nhu cầu tổng thể của trẻ em với tư cách là người học Sác

hướng dẫn CFS cung cấp một hướng dẫn đầy đủ về phương pháp tiếp cận với

các tiêu chí chung được xác định để đánh giá “tính bạn hữu” của trường học,

cùng các thí dụ rút ra từ nhiều nước Sách hướng dẫn giới thiệu vè khung lý luận

bạn hữu trẻ em, tư tưởng căn bản và các nguyên tắc chính mà từ đó có thể xác

định được những đặc điểm chủ yếu của một trường bạn hữu trẻ em trong các

bối cảnh khác nhau

23 Xem, thí dụ như, báo cáo tổng thể: UNICEF WCARO và ODI (2009) Tăng cường Bảo trợ xã hội

đối với trẻ em ở Tây và Trung Phi (tháng 2)

24 République du Niger, Ministère de la Population, de la Promotion de la Femme et de la

Protection de l’Enfant (2011) Politique Nationale de Protection Sociale

25 http://www.unicef.org/lac/Child_Friendly_Schools_Manual_EN_040809(2).pdf

Trang 24

ví dụ về các nguyên tắc đánh giá chất lượng giáo dục của các trường bạn hữu trẻ em:

• Học sinh nam và nữ được chuẩn bị như thế nào để bắt đầu và tiếp tục đi học;

• Học sinh được đón tiếp như thế nào bởi nhà trường và giáo viên những người

được chuẩn bị để đáp ứng những nhu cầu và đảm bảo quyền của học sinh;

Sức khỏe và hạnh phúc của học sinh được lồng ghép vào việc khuyến khishc

học tập như thế nào;

• Trường học an toàn ở mức độ nào và tạo ra một môi trường nhạy cảm về giới

có lợi cho học tập như thế nào;

• Mức độ nhà trường và giáo viên tôn trọng quyền trẻ em và hành động vì lợi

ích cao nhất của trẻ em;

• Mức độ ứng dụng các phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trở

thành phương pháp tiêu chuẩn của giáo viên và nhà trường;

• Mức độ khuyến khích sự tham gia của trẻ em như một thông lệ chuẩn mực

trong lớp học cũng như trong các hoạt động khác và trong công tác quản lý của nhà trường;

• Mức độ nỗ lực và nguồn lực được đầu tư để xây dựng lớp học sôi nổi bằng các hoạt động học tập tích cực cho mọi học sinh;

• Đầy đủ các trang thiết bị và dịch vụ đáp ứng nhu cầu toàn diện và của tất cả trẻ

em ;

• Sử dụng phương pháp sư phạm không thừa nhận và xóa bỏ phân biệt đối xử

về giới, dân tộc hay địa vị xã hội.

Nguồn: UNICEF (2009) Sách hướng dẫn: Trường học thân thiện

Bản hướng dẫn CFS cung cấp ‘đường dẫn’ tới giáo dục có chất lượng chứ không phải là kế hoạch chi tiết ấn định trước và cung cấp hướng dẫn thực tế về thiết kế, xây dựng và duy trì trường học thân thiện như những môi trường an toàn và chào đón nơi mà trẻ em có thể học tập và nhấn mạnh mối quan hệ với cộng đồng, ảnh hưởng của những suy xét sư phạm, chi phí cho tính hiệu quả và bền vững Các lĩnh vực đề cập chủ yếu là: vai trò của đồ dùng và tài liệu giảng dạy, sự tương tác giữa giáo viên và học sinh; quá trình sư phạm; quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng; và xây dựng trường học như một phần của môi trường bảo vệ cho trẻ em

Mô hình CFS đã ảnh hưởng đến hành loạt các chương trình cải thiện chất lượng

ở nhiều nước trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam nơi mà dự án Môi trường Học tập Bạn hữu đã đặc biệt chú trọng đến việc phát triển và ững dụng một hệ thống đánh giá chương trình và giáp sát dựa vào cộng đồng (COMPAS) nhằm nâng cao và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương pháp tiếp cận và kết quả đầu

ra dựa trên quyền trẻ em trong giáo dục

bộ công cụ hệ thống và đánh giá hệ thống bảo vệ trẻ em26

Một bộ công cụ Hệ thống và Đánh giá hệ thống bảo vệ trẻ em mới được xây dựng làm “công cụ phân tích để hệ thống và đánh giá các chính sách, luật và dịch vụ bảo vệ trẻ em hiện hành xem đã đầy đủ và xác định các trở ngại và cơ hội trong việc thực hiện, nhất là trong việc đến với những nhóm thiệt thòi nhất

26 UNICEF Tháng 5 2010) Bộ công cụ tổng hợp; Bộ công cụ cơ bản; Hướng dẫn sử dụng http:// www.unicef.org/protection/57929_58020.html

Trang 25

Được đúc rút từ hành loạt những tài liệu với ý tưởng mới nhất về bảo vệ trẻ em

trên khắp thế giới, và được thử nghiệm tại bảy quốc gia, bộ công cụ này nhằm

để hỗ trợ xây dựng một hệ thống tổng thể; đánh giá việc huy động nguồn lực và

trách nhiệm giải trình ngân sách; đánh giá môi trường bảo vệ trẻ em; hướng dẫn

xây dựng chiến lược tổng thể và thu thập thôn tin cụ thể về một loạt các lĩnh vực

chương trình và chính sách quan trọng Các lĩnh vuejc bao gồm: đăng ký khai

sinh; lao động trẻ em; các tạp tục truyền thống có hại; trẻ em không nơi nương

tựa hay không người chăm sóc; tâm thầm, lạm dụng và bị bỏ rơi tâm lý và tình

dục; buôn bán trẻ em; bóc lột tình dục thương mại; trẻ em và pháp lý; bảo vệ trẻ

em trong tình trạng khẩn cấp và xung đột vũ trang

Một Bộ công cụ cơ bản đi kèm một bản Hướng dẫn sử dụng cung cấp các mức

độ khác nhau để tổng hợp các hệ thống quốc gia về bảo vệ trẻ em và giúp chỉ rõ

trên một bức tranh tổng thể những điểm mạnh và yếu của các hệ thống này Bộ

Công cụ bao gồm 12 công cụ chia thành năm phần, tất cả tạo thành một khung

mẫu để áp dụng cho cấp quốc gia Mục đích là giúp người sử dụng xác định và

sắp xếp ưu tiên các hành động góp phần xây dựng một hệ thống bảo vệ trẻ em

vững chắc và tổng hợp Mục đích cuối cùng là hỗ trợ xây dựng các hệ thống bảo

vệ trẻ em đầy đủ và hiệu quả, được cấu trúc hợp lý có đủ nguồn tài chính nhằm

đến được và cung cấp dịch vụ cho trẻ em và gia đình các em

Bộ công cụ này cung cấp thêm nhận thức và định hướng để xác định những rủi

ro chính đối với công tác bảo vệ trẻ em ở từng quốc gia trong phạm vi khung

về quyền và đánh giá phạm vi và năng lực của hệ thống bảo vệ trẻ em hiện tại

(từ chính thức đến không chính thức), các cơ chế trách nhiệm giải trình và các

phương pháp huy động nguồn lực Theo phương pháp này, việc tổng hợp và

đánh giá thành công cần đạt được:

● Cung cấp cho các bên liên quan chính một bức tranh rõ ràng về cấu

trúc và chức năng của hệ thống bảo vệ trẻ em hiện tại;

● Mô tả khung pháp lý và quy phạm, chỉ ra điểm mạnh cũng như phác

thảo ra chương trình nghị sự chính sách về bảo vệ trẻ em của quốc

gia trong tương lai;

● Chỉ rõ những rủi ro mà trẻ em gặp phải và sắp xếp ưu tiên những yêu

cầu về dữ liệu cho việc giám sát và đánh giá công tác bảo vệ trẻ em ở

quốc gia đó; xác định những nhu cầu dữ liệu về các chủ đề ít nổi bật

hơn

● Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, đánh giá năng lực của các cấu trúc

chính thức và không chính thức (các bộ, cơ quan, đối tác, cộng đồng )

để xây dựng, quản lý và triển khai hiệu quả, giám sát và đánh giá trách

nhiệm của chúng đối với công tác bảo vệ trẻ em;

● Xác định và sắp xếp ưu tiên các cơ hội cải thiện chất lượng cung cấp

Các câu hỏi cụ thể được xây dựng xoay quanh bảy thành tố chính là những

mảng chính của một hệ thống bảo vệ trẻ em hiệu quả (Xem Bảng 1) Người sử

Trang 26

dụng bộ công cụ này sẽ phải trả lời các câu hỏi nhằm xác định các ưu tiên để xây dựng hệ thống và sau đó áp dụng phương pháp này vào từng lịnh vực được lựa chọn

bảng 1 ưu tiên xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em: các thành tố và chủ đề đánh giá chính

các thành tố của một hệ thống bảo vệ trẻ em các chủ để cần tập hợp thông tin

1 Luật, chính sách, chuẩn và quy chế

7 Cơ chế trách nhiệm giải trình

(i) đăng ký khai sinh; (ii) lao động trẻ em; (iii) các tập tục văn hóa có hại (như cắt bộ phận sinh duchj nữ, tảo hôn, phân biệt đối xử); (iv) trẻ em bị lạm dụng hay bỏ rơi về cơ thể, tình dục và thâm lý; (iv) trẻ em không nơi nương tựa, (vi) buôn bản trẻ em; (vii) bóc lột tình dục thương mại; (viii) trẻ em và pháp lư; và (ix) bảo vệ trẻ

em trong t́nh trạng khẩn cấp/xung đột vũ trang.

Nguồn: UNICEF 2010

Tổng kết lại, những ví dụ trên đây đã cung cấp các khung mẫu, hướng dẫn, công

cụ và nguyên tắc rất hữu ích cho việc xây dựng một công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em cơ bản đủ linh hoạt để áp dụng và điều chỉnh cho hợp với nhiều chương trình và chính sách ở Việt Nam

các thông số chung của một kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em

Phạm vi

Phù hợp với kinh nghiệm quốc tế ngày càng nhiều về các phương pháp đánh giá tính nhạy cảm trẻ em có thể nói kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể được tiến hành để đánh giá cả (i) các khung chính sách và pháp lý tổng thể, các cấu trúc thiết chế và năng lực, nguồn lực và các quá trình lập kế hoạch (ví dụ

trong trường hợp công cụ đánh giá quản trị quốc gia được xây dựng cho Sáng kiến Cộng đồng thân thiện với trẻ em, hay Khung Chính sách được xây dựng cho Nghiên cứu Toàn cầu về nghèo đói trẻ em), cũng như (ii) nội dung cụ thể của các chính sách và chương trình (chẳng hạn như trường hợp Trường học bạn

hữu xây dựng các tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng giáo dục; hay công cụ tập hợp được xây dựng để đánh giá hệ thống bảo vệ trẻ em) Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em cũng có thể được dùng để đánh giá, thông qua các quá trình cùng tham gia, mức độ (iii) các mục tiêu được tuyên bố trong các chương trình

và chính sách vì trẻ em là xuất phát từ thực tiễn sống (chẳng hạn như được

gợi ý từ các phương pháp định tính dùng trong công cụ đánh giá tác động nghèo đói và xã hội (PSIA) Trong mỗi trường hợp, đương nhiên, các phương pháp cần được điều chỉnh để bao quát được những vấn đề trọng tâm của việc đánh giá.Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể được tiến hành đối với chương trình và chính sách ở cả cấp trung ương và địa phương và có thể được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu cụ thể Kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể được áp dụng cho: (i) chính sách và chương trình tập trung vào trẻ em (như giáo dục, bảo

vệ trẻ em, dinh dưỡng); (ii) các chính sách và chương trình tổng quát hơn có

Trang 27

hợp phần trẻ em (như bảo trợ sức khỏe cộng đồng; đào tạo và tạo việc làm);

(iii) các chương trình chuyên ngành khác có thể không có hợp phần về trẻ

em song có thể có tác động quan trọng đến đời sống của trẻ em trong hộ

gia đình (nông nghiệp, công nghiệp, môi trường, phát triển đô thị); và (iv) các cải

cách kinh tế vĩ mô; tự do hóa thương mại, chính sách tài khóa những chính

sách mà thông thường được gọi là ‘trung lập với trẻ em’ song có thể có tác động

mạnh mẽ tới trẻ em

Cũng cần phải lưu ý rằng việc áp dụng các công cụ bổ sung có thể được yêu cầu

bổ sung thông tin có thể thu thập thông qua các phương pháp kiểm toán xã hội

dựa trên quyền trẻ em đã đề xuất (ví dụ đánh giá tác động tiêu chuẩn hoặc đánh

giá yêu cầu các kỹ thuật chặt chẽ về thu thập và phân tích dữ liệu định lượng nằm

ngoài phạm vi của công cụ hiện hành)

các nguyên tắc tổng quan, lĩnh vực phân tích và tiêu chí đánh

giá

Công ước về Quyền trẻ em cung cấp một khung pháp lý tổng quan từ đó các

nguyên tắc và tiêu chí cho việc đánh giá tính nhạy cảm trẻ em có thể được hình

thành Bốn nguyên tắc chính của Công ước là không phân biệt đối xử; hành động

vì lợi ích cao nhất của trẻ em; quyền được sống, tồn tại và phát triển; và tôn trọng

quan điểm của trẻ em Theo thuật ngữ chương trình các quyền phổ quát quy định

tại Công ước thường được nhóm thành quyền đối với sự sống còn (thông qua

sức khỏe, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường và điều kiện sống đầy

đủ), phát triển (giáo dục, đào tạo, giải trí), cùng tham gia (thông qua các cấu trúc

và quá trình tham vấn) và được bảo vệ (khỏi bạo lực, lạm dụng và bỏ rơi) Khái

niệm về quyền gắn liền với khái niện về trách nhiệm giải trình với trách nhiệm

thực hiện quyền trẻ em thuộc về ‘những người mang nghĩa vụ’ ở các cấp Trên cở

sở các quyền và nguyên tắc này, các chính sách, chương trình và khung thiết chế

có thể được đánh giá theo các tiêu chí cơ bản, như được minh họa trong Bảng 2

Trang 28

bảng 2 các lĩnh vực và tiêu chí đánh giá cơ bản của công ước về quyền trẻ em

nguyên tắc/tiêu chí cơ

bản tiêu chí đánh giá tổng quan

không phân biệt đối xử

và đảm bảo tính phổ quát • có hệ thống dữ liệu bóc tách để xác định sự bất bình đẳng hay không• có các giải pháp để đáp ứng nhu cầu của những trẻ em thiệt thòi nhất nhằm

đảm bảo tính phổ quát của việc cung cấp dịch vụ hay không

hành động vì lợi ích cao

nhất cho trẻ em • các chính sách và chương trình có được thiết kế để tăng cường những kết quả đầu ra tích cực vì trẻ em và tránh tác hại hay không (bao gồm các cơ

chế xác định và phản ứng với các tác động tiêu cực tiềm tàng của việc triển khai các chương trình và chính sách)

tôn trọng quan điểm của

trẻ em • có các cơ chế khuyến khích các quá trình lập kế hoạch cùng tham gia với trẻ em hay không

• có các định chế đại diện mà qua đó trẻ em có thể nêu quan điểm của mình

về các vấn đề chúng quan tâm hay không

• Có các chương trình theo ngành cụ thể (y tế/dinh dưỡng/bảo trợ xã hội/

GD-ĐT…) có nội dung, phạm vi và chất lượng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và cam kết quốc gia hay không

• Các kế hoạch/chính sách/hệ thống và cấu trúc phát triển của quốc gia có đảm bảo và thúc đẩy các quyền này hay không

trách nhiệm giải trình • có các cơ chế phù hợp để tằng cường hiểu biết về trách nhiệm của người

mang nghĩa vụ để giúp đánh giá kết quả và buộc người mang nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm cho việc thực thi các quyền trẻ em hay không

Hiển nhiên là những tiêu chí tổng quan này cần được điều chỉnh, gọt tỉa, và chi tiết thành các nhóm câu hỏi cụ hể để dùng cho mục đích đánh giá và phải được kết nối với những cam kết quốc gia cụ thể như được nêu trong các văn bản chương trình và chính sách Để làm điều này, việc xác định lĩnh vực cần phân tích là đòi hỏi bắt buộc

Bảng 3 bên dưới trình bày một ví dụ về việc chuyển các thông số cơ bản và tiêu chí đánh giá thành các câu hỏi cụ thể có thể được dùng trong kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em ở cấp độ khung tổng quan, các quá trình và thiết chế (trong các kế hoạch phát triển tổng thể cũng như cho các chính sách và chương trình cụ thể) Những câu hỏi này được điều chỉnh từ các công cụ đánh giá của Thành phố Bạn hữu trẻ em dùng để giám sát cam kết tổng thể của chính quyền đối với trẻ em (bằng phương pháp kiểm toán giới để đánh giá mức độ các vấn đề về giới được lồng ghép có hệ thống vào một chính sách, chương trình hay tổ chức) Các lĩnh vực được xác định để đánh giá có thể được tùy chỉnh phù hợp với khung tổng quan cũng như các chuyên ngành, chính sách hay chương trình cụ thể

Mặc dù những thông số chung cơ bản này có thể được áp dụng cho kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em ở cấp độ khung và quá trình tổng quan, cần phải xây dựng các nhóm tiểu chuẩn và tiêu chí riêng rẽ để đánh giá tính nhạy cảm trẻ em của

Trang 29

các chương trình hay chính sách cụ thể và phải được hiệu chỉnh cho phù hợp

tương tự như việc xây dựng các chỉ số giám sát cụ thể cho các kết quả đầu ra

vì trẻ em ở các lĩnh vực khác nhau (như trong thí dụ ở phần trước về tiêu chí

trường học thân thiện; hay nguyên tắc cơ bản dánh giá công tác bảo trợ xã hội

Thu thập và phân tích dữ liệu bóc tách (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

• Có cơ chế thu thập dữ liệu về

hoạch hay không?

• Có tồn tại những cơ chế như vậy cho các chính sách/ chương trình cụ thể hay không?

• Những dữ liệu như vậy có thu thập một cách có hệ thống các thông số

về tuổi theo từng chuyên ngành và bóc tách theo giới không?

• Những khác biệt về chỉ số kết quả đầu ra cho trẻ em theo từng chuyên ngành có được thu thập và giám sát một cách có hệ thống?

• Dữ liệu về trẻ em và người trẻ theo từng chuyên ngành được phân tích, báo cáo và phổ biến một cách có hệ thống?

• Các dữ liệu sẵn có có được dùng cho mục đích lập kế hoạch của chuyên ngành/chương trình đó hay không hay không?

• Có giải pháp nào

để xây dựng và/ hoặc tăng cường các cơ chế thu thập và phân tích

dữ liệu bóc tách đó hay không?

Quá trình ra quyết định chính sách và lập kế hoạch cùng tham gia (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

tham gia vào các quá trình

lập kế hoạch hay không?

• Các quá trình lập kế hoạch cùng tham gia và tham vấn có được dùng

để xây dựng các chương trình nghị

sự và chương trình cho trẻ em và người trẻ trong lĩnh vực/ chương trình này không?

• Trẻ em và người trẻ có được tham gia vào các quá trình lập kế hoạch này hay không?

• Có giải pháp nào

để xây dựng và/ hoặc tăng cường các quá trình lâpk

kế hoạch cùng tham gia và tham vấn đó hay không? Giải pháp chung? Giải pháp riêng cho trẻ em và thanh niên?

khung pháp lý và chiến lược vì quyền trẻ em

Trang 30

• Các luật quốc gia có được

điều chỉnh cho phù hợp với

• Nếu có luật về trẻ em thì chương trình/chính sách này có phù hợp với luật đó không?

• Các biện pháp đề ra trong chương trình/chính sách có được thực thi theo luật pháp hay không?

• Các thông tin về chương trình/chính sách này có được đưa vào một cách

có hệ thống trong báo cáo thực thi CRC hay không?

• Có giải pháp nào

để tăng cường khung pháp lý tổng thể cho trẻ em không?

• Có giải pháp nào

để rà soát và hài hoà các chương trình ngành với các nguyên tắc CRC hay không?

khung thiết chế (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

• Có các vụ, ủy ban, hội đồng

cụ thể hay các cơ quan khác

chịu trách nhiệm về việc lập

• Các quan chức nhà nước và đối tác chịu trách nhiệm về chương trình/

chính sách này có được tập huấn bài bản về các vấn đề quyền trẻ em hay không?

• Có giải pháp nào

để tạo lập và tăng cường khung thiết chế cho trẻ em và tăng cường năng lực về quyền trẻ

em một cách có hệ thống hay không?

xây dựng ngân sách cho trẻ em (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

• Có cơ chế để phân bổ có hệ

thống nguồn lực cho trẻ em

và người trẻ từ ngân sách

tổng thể hay không?

• Có cơ chế giám sát chi tiêu

cho trẻ em hay không?

• Có các quá trình hiệu quả

để chia sẻ thông tin về ngân

chương trình này không?

• Có cơ chế giám sát chi tiêu cho trẻ

em trong ngành/ chương trình này hay không?

• Có các quá trình hiệu quả để chia sẻ thông tin về ngân sách cho ngành/

chương trình này, và cụ thể là về phần phân bổ cho trẻ em va người trẻ hay không?

• Có giải pháp nào

để tăng cường lập

và phân bổ ngân sách cũng như các quá trình thực hiện nhằm đảm bảo đầu tư có hiệu quả cho quyền trẻ em hay không?

giám sát và đánh giá quyền và đời sống của trẻ em và trách nhiệm giải trình (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

Trang 31

hướng của các vấn đề quyền

và cuộc sống của trẻ em hay

không?

• Các chỉ số đó có được đưa

vào để đánh giá thường

xuyên và dùng cho việc rà

soát chỉnh sửa các chương

trình/ chính sách hay không?

• Các hoạt động giám sát có

cân nhắc đặc biệt tới những

khác biệt trong xu hướng và

chỉ số về quyền trẻ em (theo

giới, chỗ ở, khuyết tật, tính

trạng kinh tế - xã hội, dân tộc

hay tiêu chí xã hội?)

• Có cơ chế để giám sát tác

động và ảnh hưởng của các

cải cách chính sách quốc gia

quan trọng hay các điều kiện

kinh tế vĩ mô hay không?

quốc gia quan trọng hay các

điều kiện kinh tế vĩ mô hay

không?

• Có các chỉ số cụ thể được xây dựng

để giam sát xu hướng của các vấn

đề quyền và cuộc sống của trẻ em trong ngành/chương trình này hay không?

• Các chỉ số đó có được đưa vào để đánh giá thường xuyên và dùng cho việc rà soát chỉnh sửa các chương trình/ chính sách hay không?

• Các hoạt động giám sát của ngành/

chương trình có cân nhắc đặc biệt tới những khác biệt trong xu hướng

và chỉ số về quyền trẻ em (theo giới, chỗ ở, khuyết tật, tính trạng kinh tế -

xã hội, dân tộc hay tiêu chí xã hội?)

• Có cơ chế để thực hiện các giải pháp uốn nắn khi việc giám sát phát hiện

ra những kết quả tiêu cực đối với trẻ

em mà nguyên nhân là do các quá trình của ngành và/hay việc thực hiện các chương trình những cải cách chính sách quốc gia quan trọng/chính sach hay không?

• Có giải pháp nào

để tăng cường thu thập dữ liệu hiện có, các nỗ lực giám giá và đánh giá liên quan đến quyền và đời sống của trẻ em hay không?

nỗ lực vận động chính sách và quan hệ đối tác (cấp quốc gia/tỉnh/xã/ngành)

• Có các nỗ lực để nâng cao

nhân thức công chúng về

quyền trẻ em và trách nhiệm

của những người mang

nghĩa vụ hay không?

• Có cơ quan chuyên trách vận

• Có cán bộ chủ chốt trong ngành chịu trách nhiệm vận động và đảm bảo quyền trẻ em hay không?

và truyền thông

về trẻ em và tăng cường và mở rộng quan hệ đối tác.

Nguồn: Dựa trên tiêu chí đánh giá Thành phố Bạn hữu trẻ em và các tài liệu khác

Với bất kỳ một kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em nào tiến hành với một chương

trình hay chính sách cụ thể sẽ có một số bước quan trọng cần cân nhắc Hình 1,

Trang 32

được trích ra từ sách hướng dẫn trường học thân thiện, cho thấy trong thí dụ về giáo dục quá trình cơ bản cần thiết là đi từ ‘các nguyên tắc hàng đầu’ của CRC và các ưu tiên ké hoạch quốc gia để xác định các đặc điểm mong muốn, xây dựng tiêu chuẩn và phân tích thiếu hụt.

hình 1 xây dựng tiêu chí đánh giá từ các nguyên tắc cơ bản của crc

Nguồn: UNICEF (2009) Sách hướng dẫn, Trường học bạn hữu trẻ em

NGUyêN TẮC CƠ BẢNXuất phát từ CRC và diễn giải phù hợp với các kế hoạch và ưu tiên quốc gia

để xây dựng các đặc điểm lớn cần có

CáC ĐẶC ĐIểM CẦN CóTạo ra từ việc diễn giải các nguyên tắc cơ bản và được

rà soát dựa vào thực tế

PHÂN TÍCH KHOẢNG TRỐNG

Chỉ ra các lĩnh vực mà trường chưa đáp ứng được mục tiêu của CRC là mọi trẻ

em có một nền giáo dục co chất lương

CáC TIêU CHUẨN CFSDựa trên rà soát các tiêu chí cần có và thực tiễn của các nguồn lực sẵn có và kiến thức chuyên gia trong một khung thời gian nhất định

Trang 33

các điểm khởi đầu để lồng ghép kiểm toán tính nhạy cảm trẻ

em vào các quá trình lập kế hoạch quốc gia

Các công việc trình bày ở trên về lồng ghép quyền trẻ em vào các quá trình phát

triển quốc gia và chiến lược giảm nghèo đã chỉ ra một số điểm khởi đầu trong

chu trình lập kế hoạch cần được cân nhắc cẩn thận để đảm bảo quyền trẻ em

được phản ánh trong suốt quá trình.27 Những điểm khởi đầu này cũng có tương

tự đối với kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em Một khung gồm năm điểm đã được

xây dựng để kết nối các giai đoạn chủ chốt của các quá trình lập kế hoạch quốc

gia với các hành động cụ thể để đảm bảo quyền trẻ em luôn được chú trọng và

lồng ghép (xem Bảng 4 bên dưới)

bảng 4 điểm khởi đầu cho việc lồng ghép quyền trẻ em vào các kế

hoạch và quá trình quốc gia

các giai đoạn của quá trình lập kế

hoạch quốc gia giải pháp lồng ghép quyền, lợi ích và mối quan tâm của trẻ em

1 xây dựng chương trình nghị sự

và khung chính sách Xác định các bằng chứng về trải nghiệm của trẻ em về đói nghèo và cuộc sống (ví dụ như thông qua phân tích tình hình về quyền trẻ em);

dùng những bằng chứng này làm công cụ vận ðộng chính sách; làm cho các bằng chứng thân thiện với chính sách

2 tham vấn và cùng tham gia (và

sắp xếp ưu tiên/xây dựng mục

tiêu)

Xác định các bên liên quan đến quyền trẻ em và người mang nghĩa

vụ để tiến hành tham vấn có hệ thống về các tài liệu chính sách và kế hoạch; tạo điều kiện để trẻ em cùng tham gia an toàn và hiệu quả

3 lập ngân sách quốc gia/địa

phương Tiến hành phân tích ngân sách cho quyền trẻ em (xem xét phần phân bổ cho chính sách và chương trình dành cho trẻ em những cũng phải

biết phần phân bổ ngân sách xét theo kết quả đầu ra về quyền chứ không chỉ là đầu ra đơn thuần); đảm bảo các chính sách cam kết trong các kế hoach quốc gia được thực thi theo đúng ngân sách

4 thực hiện (chiến lược và kế

hoạch triển khai): quốc gia,

ngành và địa phương

Xác định những tác nhân vận động chính sách trong các cơ chế thực thi khác nhau và cung cấp hướng dẫn vận dụng các cơ chế này sử dụng các nguyên tắc lập kế hoạch theo quyền vào việc hoàn thành các kế hoạch, chương trình và dịch vụ

5 giám sát và đánh giá Đảm bảo các chỉ số có tính nhạy cảm với quyền trẻ em (thông qua các

dự liệu bóc tách về các lĩnh vực quyền trẻ em cơ bản) và dựa vào thay đổi chứ không phải kết quả đầu ra; đối chiếu bằng chứng với các qua trình lập kế hoạch tương ứng; đồng bộ các bằng chứng do các tổ chức phi chính phủ có được; để trẻ em tham gia vào các hoạt động giám sát

và đánh giá

Nguồn: Tổng hợp từ UNICEF/EC Bộ công cụ quyền trẻ em Hợp phần 3 (Bản thảo 2010)

Các công cụ kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em có thể được áp dụng để đóng góp

hiệu quả vào mỗi giai đoạn của chu kỳ kế hoạch, mà mỗi giai đoạn lại củng cố và

đóng góp cho giai đoạn tiếp theo Trong giai đoạn xây dựng chương trình nghị

sự, phần rà soát tư liệu và đánh giá chính sách của kiểm toán tính nhạy cảm trẻ

em có thể giúp chỉ ra nhiều lỗ hổng trong các chính sách hiện tại và xác định ưu

tiên cần chú trọng Phương pháp kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em bao gồm các

27 UNICEF/EC Bộ công cụ quyền trẻ em Hợp phần 3 (Dự thảo 2010)

Trang 34

quy trình tham vấn rộng lớn với các bên có liên quan, bao gồm cả trẻ em, nhằm củng cố các quy trình lập kế hoạch cùng tham gia về các vấn đề của trẻ em Trong giai đoạn triển khai, kiểm toán các chính sách quan trọng có thể giúp chỉ ra khoảng cách giữa những gì đề ra trên văn bản và những gì diễn ra trên thực tế Bằng cách đó phương pháp kiểm toán sẽ đóng góp những nhận thức quan trọng vào các nỗ lực giám sát và đánh giá nói chung, bao gồm cả việc giúp xác định các lĩnh vực chính đòi hỏi phải có phân tích và đánh giá sâu.

Trang 35

các phương pháp chính

Công cụ chung đề xuất dùng cho kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em được chỉnh

sửa từ công cụ kiểm toán giới đã quen thuộc với các cán bộ chính phủ của Việt

Nam Như định nghĩa trong bộ công cụ kiểm toán giới dùng cho Việt Nam, “Kiểm

toán giới là một công cụ để đánh giá mức độ mà các vấn đề về giới được lồng

ghép (đưa vào có hệ thống) vào một chính sách, chương trình hay tổ chức nào

đó Thông qua kiểm toán giới, các điều phối viên của kiểm toán sẽ kiểm tra mọi

mặt của một chủ đề nhất định – có thể là một chương trình, một văn phòng hay

một thể chế – nhằm xác định xem vấn đề giới có được đưa đầy đủ và thích hợp

vào các mục tiêu và mục đích, thiết kế dự án và triển khai, cũng như giám sát

và đánh giá để đảm bảo rằng các tác động đầu ra và chính sách tương thích với

các mục tiêu về giới ở cấp cao hơn.”28 Phương pháp này cũng được áp dụng để

đánh giá cấu trúc và quá trình thực hiện chương trình về mức độ đề cập đến mối

quan tâm, nhu cầu và quyền của trẻ em, theo nguyên tắc của CRC và các cam

kết quốc gia

Công cụ Kiểm toán Giới cũng đề xuất một phương pháp chủ yếu là ‘định tính’ và

đề ra 3 phương pháp thu thập dữ liệu chính đó là:

(i) rà soát tài liệu;

(ii) phỏng vấn sâu (KII); và

(iii) thảo luận nhóm trọng tâm (FGD).29

Công cụ kiểm toán dựa trên quyền trẻ em được xây dựng và điều chỉnh từ các

phương pháp kể trên với sự tham gia của trẻ em và những người chăm sóc trẻ

em vào các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn những người cung cấp tin chính,

cùng với

(iv) một phương pháp được đề xuất với trọng tâm là các hoạt động có

sự tham gia với trẻ em

Những phương pháp định tính kể trên đã được công nhận rộng rãi là nguồn bổ

sung quý báu cho các phương pháp định lượng sử dụng các dữ liệu hành chính

hoặc khảo sát; bằng cách đó các phương pháp định tính này đã trở thành những

thành tố chính của phương pháp kiểm toán xã hội Phần tiếp theo sẽ mô tả khái

quát các phương pháp được đề xuất cho kiểm toán dựa trên quyền trẻ em

rà soát tài liệu

Đây là bước đầu thiên quan trọng của bất kỳ nghiên cứu hay quy trình đánh giá

nào và là phương tiện quan trọng của cả (i) rà soát các công trình nghiên cứu

hay đánh giá trước đó đã được thực hiện trong lĩnh vực đã chọn, và (ii) gắn kết

phân tích mục tiêu của chiến lược và mục đích đề ra trong các kế hoạch, chính

28 “Phương pháp kiểm toán giới Một công cụ đánh giá kết quả thực hiện KHPT KTXH của Việt

Nam ” (Dự thảo, tháng 1, 2012)

29 Cần lưu ý rằng phương pháp kiểm toán giới cũng sử dụng các bảng hỏi như các công cụ

điều tra nhằm lượng hóa bằng cách nào đó mức độ lồng ghép giới trong bộ máy chính quyền

Phương pháp kiểm toán nhạy cảm trẻ em được đề xuất ở đây không sử dụng các bảng hỏi như

vậy Điều này được lý giải chủ yếu là vì sứ mệnh và hiểu biết về nhu cầu lồng ghép các vấn đề

nhạy cảm trẻ em vào kế hoạch và chương trình phát triển có lẽ không bao trùm bộ máy chính

quyền bằng việc lồng ghép vấn đề giới Vì thế có lẽ phương pháp định tính ‘tập thể’ thông qua

thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu và rà soát tư liệu sẽ cung cấp đầy đủ các kết quả và đủ để

chỉ ra các thiếu hụt và đưa ra các chỉ dẫn cụ thể để tiếp tục tiến hành

tổng quan

về phương pháp luận

Trang 36

sách và chương trình quốc gia với triển khai thực hiện trên thực tế Ở một mức

độ phương pháp này là ‘bài tập về nhà’ cần thiết phải tiến hành trước khi thiết kế các công cụ thu thập số liệu khác vì nó cung cấp nền tảng để xây dựng các câu hỏi chắc chắn để tìm hiểu tiếp theo

Quan trọng là phải xác định ngay từ đầu các tài liệu quan trọng bắt buộc phải phân tích nhưng đồng thời cũng phải để chỗ cho các phân tích tiêp tục về các vấn

đề khác mà có thể được phát hiện sau trong quá trình phân tích, kiểm toán hay

rà soát Cũng cần hình thành một dạng khung sườn để tổ chức, phân loại hay lập bảng các kết quả của việc phân tích cũng như ghi nhận việc đánh giá định tính.Tại lần rà soát tài liệu đầu tiên có thể đặt ra một số câu hỏi chính hoặc một số chủ

đề quan trọng để kiểm tra theo nội dung đã được đặt ra Một vài trong số những câu hỏi trên có thể giúp xác định nhu cầu cần có thêm tài liệu để rà soát, trong khi

đó các câu hỏi khác lại có thể chỉ dẫn về việc xây dựng các cuộc thảo luận nhóm trọng tâm hoặc các cuộc phỏng vấn những người cung cấp tin chính Tổng hợp lại, những câu hỏi này sẽ hỗ trợ quá trình xây dựng khung chi tiết cho việc phân tích tài liệu theo các tiêu chí đã đặt ra

thảo luận nhóm trọng tâm (Fgd)

Một cuộc thảo luận nhóm trọng tâm là một cuộc phỏng vấn nhóm gồm 6 đến 12 người có cùng đặc điểm hay lợi ích Một cán bộ hướng dẫn sẽ hướng dẫn nhóm dựa trên những chủ đề đã được lựa chọn trước Cán bộ hướng dẫn cần tạo ra một bầu không khí thân thiện để khuyến khích những người tham gia chia sẻ nhận thức và quan điểm của mình Không khí làm việc nhóm sẽ giúp cung cấp những thông tin hữu ích mà dữ liệu thu được từ các cá nhân không có được Thảo luận nhóm là một phương pháp thu thập số liệu định tính, tức là dữ liêu ở dưới dạng mô tả chứ không đo bằng con số được Tuy nhiên, thảo luận nhóm thường được thiết kế là một trong nhóm những phương pháp tổng hợp (cả định lượng và định tính) Phương pháp này đặc biệt hữu dụng: (i) để có được thông tin sâu hơn về nhận thức, hiểu biết và thái độ, kinh nghiệm hay niềm tin; (ii) trong thu thập thêm thông in bổ sung cho số liệu định lượng; và (iii) trong việc củng cố quy trình cùng tham gia trong nghiên cứu và tham vấn

Các câu hỏi và cách thức tiến hành thảo luận nhóm sẽ thay đổi tùy theo nhóm đối tượng tham gia; chẳng hạn như khi chuẩn bị cho thảo luận nhóm trẻ em sẽ khác

so với khi chuẩn bị cho thảo luận nhóm quan chức chính phủ và đòi hỏi cán bộ hướng dẫn phải có kỹ năng làm việc với trẻ em Cũng cần phải cân nhắc các yếu

tố về giới hay xã hội khi xây dựng một thảo luận nhóm để đảm bảo người tham gia cảm thấy thoải mái khi diễn đạt ý kiến của mình

Cũng có thể tổ chức các nhóm “hỗn hợp” bao gồm các đối tượng khác nhau nếu,

ví dụ có mục đích là để tìm hiểu nhận thức và quan điểm khác nhau về một vấn

đề cụ thể nào đó, hoặc để phổ biến các kết quả của các cuộc thảo luận nhóm hỗn hợp trước đó Trong trường hợp này, quan trọng là phải tạo lập được các điều kiện không gây nguy cơ nơi mà các đại diện của mỗi nhóm đối tượng có thể thoải mái chia sẻ quan điểm của họ mà không xâu hổ, tức giận hay lo sợ sẽ

bị ảnh hưởng Nếu như những điều kiện đó không được đảm bảo, kết quả của các cuộc thảo luận nhóm cá nhân có thể được cán bộ hướng dẫn phổ biến tới các nhóm khác

Trang 37

phỏng vấn những người cung cấp tin chính (kii)

Phỏng vấn những người cung cấp tin chính là một phương pháp định tính và là

phương pháp phỏng vấn sâu những người được lựa chọn dựa trên kinh nghiệm

và kiến thực thực tế của họ về một chủ đề cần quan tâm Cuộc phỏng vấn thường

thiết kế với cấu trúc mở, dựa vào một danh sách các vấn đề cần thảo luận

Phỏng vấn những người cung cấp tinh chính giống như một cuộc nói chuyện

giữa những người quen biết, tạo ra một dòng thông tin và ý tưởng cởi mở Người

phỏng vấn sẽ đặt câu hỏi một cách tự nhiên, gợi mở thêm thông tin và ghi chép

các ý kiến để nghiên cứu sau đó Phương pháp này hữu ích trong tất cả các giai

đoạn hành động phát triển – xác định, lập kế hoạch, triển khai và đánh giá Phỏng

vấn những người cung cấp tin chính có thể cung cấp những thông tin giúp diễn

giải hoặc cung cấp giải thích cho các kết quả của việc thu thập số liệu định lượng

hay khảo sát; chúng cũng có thể được dùng để đưa ra những khuyến nghị cho

các nghiên cứu tiếp theo hay các vấn đề cần tìm hiểu thêm Lợi thế chính của

phương pháp này là tính linh hoạt giúp khám phá thêm các ý tưởng hay vấn đề

mới mà khi lập kế hoạch chưa tính đến Nó cũng hỗ trợ các quy trình tham vấn

có ý nghĩa quan trọng trong các cách tiếp cận cần củng cố sự tham gia hay xây

dựng sự đồng thuận về những vấn đề xã hội cụ thể

Có một số bước quan trọng để chuẩn bị, thực hiện và phân tích các cuộc phỏng

vấn, bao gồm:

(i) lựa chọn người có kiến thức;

(ii) chuẩn bị định hướng câu hỏi/vấn đề;

(iii) xây dựng không khí thân thiện (giải thích về mục đích, mục tiêu

sử dụng thông tin thu được, các vấn đề nhạy cảm, );;

(v) sắp xếp thứ tự câu hỏi (bắt đầu với những câu hỏi thực tế trước

khi hỏi về chính kiến hay nhận xét; các vấn đề hiện thời trước khi

hỏi về quá khứ hay tương lai);

(vi) đặt câu hỏi thận trọng để khiêu gợi thông tin chi tiết và giảm thiểu

khó khăn trong dịch thuật;

(vii) sử dụng kỹ thuật gợi mở dựa trên những thông tin ban đầu bằng

những câu hỏi tiếp nối để thu thập thêm thông tin cụ thể;

(viii) duy trì một thái độ trung lập, thông cảm và không phán xét;

(ix) ghi chép cẩn thận các thông tin (có thể cùng ghi âm);

(x) phân tích ngay các kết quả (dùng các tiêu chí của phiếu tổng hợp

phỏng vấn); và

(xi) diễn giải, ghi chép lại và trình bày các phát hiện (kể cả dùng trích

dẫn lời trực tiếp)

Quan trọng:

Về sự tham gia của các bên liên quan, quan trọng là phải đảm bảo đại diện đầy đủ

của cả nam và nữ trong kiểm toán xã hội để quan điểm của cả hai giới đều được

phản ánh trong thảo luận và trong các biện pháp đề xuất

Trang 38

các hoạt động có sự tham gia với trẻ em

Nghiên cứu cùng tham gia với trẻ em là dựa trên các phương pháp định tính hiện

có (như thảo luận nhóm và các phương pháp khác) và thường được điều chỉnh hoặc mở rộng theo cách phù hợp nhất để khám phá các quan điểm hay nhận thức của trẻ em Các phương pháp sáng tạo nhất thường dùng đến các trò chơi (bao gồm cả kịch, đóng vai), các kỹ thuật hình ảnh (trẻ em vẽ tranh, chụp ảnh hay làm video); và kể chuyện Cũng như với mọi nghiên cứu, phải chú ý tới các yếu

tố về nhóm tuổi, giới và những khác biệt khác khi thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cùng tham gia với trẻ em liên quan đến một số vấn đề đạo đức cần cân nhắc như sự cho phép, tính bí mật và bảo vệ khỏi xâm hại Nguyên tắc chính, bên cạnh các nguyên tắc nghiên cứu cơ bản, là phải có sự đồng ý của cả trẻ

em và cha mẹ hoặc người giám hộ; tìm kiếm sự hưởng ứng của trẻ em; thông báo cho trẻ biết rằng khi có thông tin có tể rủi roc ho chính trẻ thì tính bảo mật không được đảm bảo; và đưa ra các phương pháp hỗ trợ đưa trẻ em vào đề xuất nghiên cứu Nghiên cứu định tính cần tuân thủ nghiêm các hướng dẫn về những vấn đề này.30

Nghiên cứu cùng tham gia với trẻ em ngày càng được khuyến thích trên khắp thế giới với căn nguyên là các phương pháp quyền trẻ em nhằm thực thi và cải thiện quyền trẻ em đối với cùng tham gia và đảm bảo tiếng nói và nhân thức của trẻ em về các vấn đề chúng quan tâm được lắng nghe Lồng ghép ý kiến của trẻ em là quan trọng vì trai nghiệm của trẻ em (về nghèo đói, tước đoạt, hạnh phúc) là rất quan trọng và quan điểm của trẻ em khác với của người lớn Nhiều sáng kiến gần đây được UNICEF hỗ trợ Bao gồm đưa trẻ em tham gia vào các phân tích nghèo đói và bất bình đẳng trẻ em bằng việc kết hợp phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu và các kỹ thuật khác (nhiều thí dụ từ các khu vực khác nhau, bao gồm thí điểm với trẻ em làm video về môi trường của chúng ở Uganda); lấy quan điểm của trẻ em làm một phần trong quá trình phân tích tình hình (thí dụ gần đây là ở Zambia năm 2008; Algeria năm 2011); thảo luận nhóm với trẻ em là đối tác chính trong thiết kế các chương trình và chiến lược bảo trợ xã hội quốc gia (như ở Kenya và Mauritania); và đưa trẻ em tham gia vào giám sát và đánh giá

xã hội (bao gồm đánh giá tác động của trợ cấp tiền mặt ở Malawi và những nỗ lực mới đây đưa trẻ em và nhạy cảm trẻ em cùng giám sát theo ‘thời gian thực’

ở Uganda

Việt Nam, một nước tham gia vào nghiên cứu trục dọc ‘young Lives’nên có thể

có được kinh nghiệm từ kết quả của các hoạt động nghiên cứu khác nhau với trẻ

em và có thể so sánh kết quả theo thời gian

điều chính công cụ cho các mục đích cụ thể

Các câu hỏi được cung cấp trong công cụ ở Mođun 4-8 là các câu hỏi chung được xây dựng để hướng dẫn tiến hành kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em trong các giai đoạn khác nhau của quy trình lập kế hoạch và triển khai với các bước thực hiện chính Tuy nhiên, như lưu ý ở trên, các câu hỏi này cần được điều chỉnh và gọt tỉa cho phù hợp với đối tượng kiểm toán Một phân tích chính sách

sẽ cần phương pháp khác hơn một phân tích chương trình, cũng như một phân tích chỉ chú trọng vào lồng ghép các vấn đề nhạy cảm trẻ em trong các tài liệu

kế hoạch sẽ khác so với một phân tích tập trung đặc biệt vào tính nhạy cảm trẻ

em của việc triển khai chương trình hay phức tạp hơn là phân tích tác động của chương trình

30 Ví dụ: Neill, Sarah (2005) “Nghiên cứu với trẻ em: Rà soát kỹ lưỡng các hướng dẫn,” Tạp chí Chăm sóc sứs khỏe trẻ em, 9 (1), 46-58.

Trang 39

chương trình (và các cấu trúc thiết chế và năng lực để triển khai của các thiết

chế) trong các ngành “tập trung vào trẻ em” (như bảo vệ trẻ em, giáo dục, y tế)

với phân tích nhạy cảm trẻ em của các ngành “không tập trung vào trẻ em” (như

phát triển nông thôn, bảo trợ xã hội và các ngành khác) Phạm vi của các câu

hỏi cho phân tích các ngành không tập trung vào trẻ em có thể sẽ hạn chế hơn

vì các chính sách, kế hoạch và chương trình cũng như quan chức chính phủ làm

trong các ngành này không nhất thiết phải có nhiệm vụ tăng cường tính nhạy

cảm trẻ em hay sửng dụng những lăng kính như vậy trong công việc của mình,

mặc dù cũng là hợp lý nếu học làm như vậy để có được những tác động đầu ra

tốt hơn cho trẻ em Câu hỏi đặt ra trong từng công cụ khác nhau cần phản ánh

nhận thức này

Do vậy, có một vấn đề khái niệm có thể cần được thống nhất xác định từ giai

đoạn đầu, đó là sự khác nhau giữa các yêu cầu dành cho các chương trình “tập

trung vào trẻ em” và tầm quan trọng của “tính nhạy cảm trẻ em” ở các kế hoạch,

chính sách và chương trình phát triển có phạm vi rộng lớn hơn Cụ thể, khi phân

biệt rõ một đối tượng hưởng lợi là “trực tiếp” hay “gián tiếp”: Tại các chương trình

“tập trung vào trẻ em” như các chương trình giáo dục, y tế trẻ em, dinh dưỡng,

bảo trợ trẻ em, v.v…, trẻ em là đối tượng hưởng lợi trực tiếp; trong khi đó, tại các

chương trình ngành có phạm vi lớn hơn, trẻ em có thể hoàn toàn không phải là

đối tượng mục tiêu hoặc có thể chỉ đơn giản là được coi là sẽ được hưởng lợi với

vai trò là đối tượng hưởng lợi gián tiếp của các hoạt động được thiết kế cho hộ

gia đình và cộng đồng nơi các em đang sinh sống Những khác biệt này cần phải

được đưa ra thảo luận ngay từ giai đoạn đầu và đây sẽ là một yếu tố quan trọng

trong việc hướng dẫn xây dựng các câu hỏi cụ thể về “tính nhạy cảm trẻ em”

các điểm chính cần lưu ý:

• Công cụ kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em được xây dựng trên cơ sở và

ups dụng ba phương pháp chính của phương pháp tiếp cận kiểm toán giới, đó

là: (i) rà soát tài liệu; (ii) phỏng vấn những người cung cấp tin chính; và (iii) thảo

luận nhóm trọng tâm Ngoài ra còn phương pháp (iv) các hoạt động tham gia

cùng trẻ em

• Các phương pháp định tính này đã được công nhận rộng rãi là một nguồn bổ

sung quý báu cho các phương pháp định lượng sử dụng các dữ liệu hành chính

hoặc khảo sát; bằng cách đó các phương pháp định lượng trở thành những

thành tố chính của phương pháp kiểm toán xã hội

• Các câu hỏi được cung cấp trong công cụ là các câu hỏi chung được xây dựng

để hướng dẫn tiến hành kiểm toán tính nhạy cảm trẻ em trong các giai đoạn

khác nhau của quy trình lập kế hoạch và triển khai với các bước thực hiện

chính Tuy nhiên, như lưu ý ở trên, các câu hỏi này cần được điều chỉnh và gọt

tỉa cho phù hợp với đối tượng kiểm toán.

• Có thể có một điểm khác biệt chính giữa các kế hoạch hoặc chương trình tập

trung vào trẻ em và các chương trình có phạm vi lớn hơn không nhất thiết là

“tập trung vào trẻ em” Câu hỏi đặt ra trong từng công cụ khác nhau cần phản

ánh nhận thức về sự khác biệt này

Trang 40

chuẩn bị và lập kế hoạch

Bước quan trọng khởi đầu cho quá trình kiểm toán là xác định chính xác kiểm toán cái gì (một kế hoạch, chính sách hay chương trình?); thuộc loại nào (‘tập trung vào trẻ em’ hay tổng quan hơn?) và vào giai đoạn nào (lập kế hoạch, triển khai hay đánh giá?) Cần xây dựng một ‘khung khái niệm’ phác thảo mục tiêu tổng thể và mục đích của kiểm toản và giải trình người sử dụng dự kiến là ai.Nhóm công tác triền khai việc rà soát và giám sát việc thực hiện phải được thành lập với vai trò và phân công trách nhiệm rõ ràng giữa chính quyền (các cấp), trung ương và đối tác quốc tế với kinh nghiệm có sẵn hay từ bên ngoài (nếu cần) Thường th́ nên thành lập ban chỉ đạo để đảm nhận vai trò hướng dẫn tổng thể, chỉ đạo, quản lý và giám sát toàn bộ quá trình, được đặt nằm trong vụ thuộc

bộ được giao thực hiện công việc này Ban chỉ đạo sẽ chịu trách nhiệm giám sát công tác lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán, cũng như truyền thông kết quả thực hiện và xây dựng kế hoạch hành động để đưa ra các khuyến nghị kiểm toán trong các hoạt động tiếp nối

Cũng cần phải thành lập một nhóm kỹ thuật để thực hiện kiểm toán với các quyết định chủ yếu được Ban chỉ đạo đưa ra về sự kết hợp giữa yêu cầu về trình độ

kỹ thuật chuyên môn và các kỹ năng; về nhu cầu cần chuyên gia trong nước hay quốc tế hay hỗn hợp; và về phương pháp báo cáo cho Ban chỉ đạo Đối với kiểm toán xã hội dựa trên quyền trẻ em, kinh nghiệm và kỹ năng về các kỹ thuật đánh giá định tính, phương pháp nghiên cứu cùng với trẻ em, phân tích về giới

và quyền trẻ em là những điều cần được xem xét kỹ lưỡng Kiến thức chuyên sâu về ngành cũng có thể là một vấn đề quan trọng, phụ thuộc vào vấn đề được nghiên cứu Những nhiệm vụ chủ yếu của Ban chỉ đạo bao gồm quyết định xem

sẽ cần chuyên gia/hỗ trợ kỹ thuật trong nước hay quốc tế, soạn Điều khoản tham chiếu và tiến hành các thủ tục đấu thầu cạnh tranh cần thiết trong công tác mua sắm

Các bước của quá trình chuẩn bị bao gồm:

● Xác định các tài liệu quan trọng cần thu thập và rà soát: điều này tùy

thuộc từng lĩnh vực cần đánh giá

● Xác định các bên liên quan chính cần liên hệ để phỏng vấn và tham

vấn (tiêu chí xác định các bên liên quan nào là quan trọng nhất - để thảo luận nhóm và phỏng vấn?); và

● Xác định địa điểm cho các tham vấn và phỏng vấn (Tại thủ phủ? Tại

khu vực? Địa điểm nào? Tiêu chí lựa chọn là gì?)

● Xây dựng ngân sách cho tất cả các bước của quá trình và xắp sếp

đầu vào: bao gồm thời gian nhân viên, chuyên gia kỹ thuật, ngân sách công tác, chi phí tài liệu, hỗ trợ thực địa, tập huấn định hướng, đi lại tại địa phương, bữa ăn và giải khát, v.v ;

● Xây dựng và duy trì kế hoạch triển khai và tiến độ tổng thể: bao

gồm cả phạm vi và mức độ kiểm toán; chu kỳ chính sách và kế hoạch của chính phủ; nguồn cán bộ nhà nước và người dân địa phương; các vấn đề về hậu cần liên quan đến việc đánh giá nếu công việc phải tiến hành ở các vùng hẻo lánh

Quan trọng là ngay từ đầu phải quyết định phạm vi và mức độ của ‘tính đại diện’ của kiểm toán: mặc dù dựa chu yếu vào các phương pháp định tính, song cũng

Ngày đăng: 03/05/2018, 01:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w