1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí nâng cao trên địa bàn thị xã long khánh, tỉnh đồng nai

112 225 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện Chương trình số 77-CTr/TU ngày 15/10/2008 của Tỉnh ủy về thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chương t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Phạm Minh Quân học viên cao học khóa K22 trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam (cơ sở 2 - Đồng Nai) xin cam đoan, đề tài dưới đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Đồng Nai, ngày tháng năm 2016

Người cam đoan

Phạm Minh Quân

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc gửi đến PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến quý thầy cô đã tham gia giảng dạy các môn học trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Kinh tế tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia chuyên ngành đã đóng góp ý kiến, tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND Thị xã Long Khánh đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập thông tin, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên của tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt quá trình theo học và hoàn thành luận văn của bản thân

Đồng Nai, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Phạm Minh Quân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI THEO BỘ TIÊU CHÍ NÂNG CAO 5

1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng NTM và NTM nâng cao 5

1 1 1 M t s n m 5

1.1.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới 8

1.1.3 Nông thôn mới nâng cao 12

1.2 Thực tiễn phát triển nông thôn trên thế giới và ở Việt Nam 14

1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới 14

1.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 17

1.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến xây dựng NTM 25

1.3.1 Nước ngoài 25

1.3.2 Trong nước 26

1.3.3 Kết quả và hạn chế 28

Chương 2 29

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ XÃ LONG KHÁNH 29

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm cơ bản của Thị xã Long Khánh - tỉnh Đồng Nai 29

2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 29

2.1.2 Các đặc điểm kinh tế - xã hội 33

2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường của Thị xã 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

Trang 4

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 37

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 38

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng trong luận văn 40

Chương 3 41

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Kết quả thực hiện chương trình XD NTM tại thị xã Long Khánh 41

3.1.1 Nội dung chương trình XD NTM của Thị xã Long khánh 41

3.1.2 Công tác tổ chức thực hiện chương trình XD NTM của Thị xã Long Khánh 41

3.1.3 Kết quả thực hiện chương trình XD NTM của Thị xã Long khánh 44

3.1.4 Những bài học kinh nghiệm từ xây dựng NTM tại Thị xã Long Khánh46 3.2 Chương trình nâng cao chất lượng nông thôn mới của Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai 47

3.2.1 Chủ trương về nâng cao chất lượng NTM của Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai 47

3.2.2 Nội dung kế hoạch nâng cao chất lượng xây dựng NTM của Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai 48

3.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện chương trình XD NTM nâng cao trên địa bàn nghiên cứu 66

3.3.1 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao tại thị xã Long khánh, tỉnh Đồng Nai 66

3.3.2 Kết quả điều tra, khảo sát về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao tại 3 xã nghiên cứu thuộc thị xã Long khánh, tỉnh Đồng Nai 68

3.4 Những thành công, tồn tại trong xây dựng nông thôn mới nâng cao của Thị xã Long Khánh 80

3.5 Giải pháp góp phần thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao tại thị xã Long Khánh 82

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GTNT: Giao thông nông thôn

HĐND: Hội đồng nhân dân

HTX: Hợp tác xã

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NTM: Nông thôn mới

NXB: Nhà xuất bản

PTNT: Phát triển nông thôn

UBND: Ủy ban nhân dân

XDCB: Xây dựng cơ bản

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn thị xã Long Khánh 32

Bảng 2.2 Diện tích dân số và mật độ dân số năm 2003 34

Bảng 2.3 Tốc độ phát triển bình quân kinh tế thị xã Long Khánh 36

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả thực hiện 19 tiêu chí NTM ở các xã 44

Bảng 3.2 Kết quả thực hiện XD NTM nâng cao tại thị xã Long Khánh 66

Bảng 3.3 Khái quát về 3 xã Suối Tre, Xuân Tân, Bảo Quang 68

Bảng 3.4 Thực trạng nông thôn của xã Suối Tre, Xuân Tân, Bảo Quang 69

Bảng 3.5 Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của xã Suối Tre, Xuân Tân, Bảo Quang (tính đến tháng 12 2015) 71

Bảng 3.6 So sánh tiêu chí đạt được khi bắt đầu xây dựng nông thôn mới và kết quả tính đến tháng 12/2015 của 3 xã 72

Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả phòng vấn hộ dân 73

Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả phòng vấn cán bộ 76

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Long Khánh 30

Hình 3.1 Quang cảnh lễ đón nhận danh hiệu Nông thôn mới của TX.Long

Khánh 46

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nông thôn nước ta có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng Chính sách đối với phát triển nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng ban hành đổi mới để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy kinh tế, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân

Long Khánh là một thị xã, đô thị loại 3 thuộc tỉnh Đồng Nai, Việt Nam Với nhiều loại trái cây nhiệt đới đặc sản miền Đông và là vùng kinh tế trọng điểm phía Đông tỉnh Đồng Nai Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X), Kế hoạch số 97-KH/TU ngày 29/12/2008 của Tỉnh ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 2418 QĐ-UBND ngày 26/09/2011 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 05/05/2014 của Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Long Khánh về xây dựng các xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015

Xây dựng nông thôn mới trong từng thời kỳ là vấn đề luôn được sự quan tâm của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Kế thừa những thành tựu sau hơn

20 năm "Đổi mới", nông thôn Tỉnh đã liên tục phát triển góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nông dân Qua các giai đoạn cách mạng giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng Nông nghiệp là ngành mang lại việc làm và thu nhập cho đa số người dân ở nông thôn, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực tạo cơ sở ổn định xã hội; nông thôn là môi trường sống của đa số nhân dân, nơi bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn các truyền thống văn hoá dân tộc

Trang 9

Thực hiện Chương trình số 77-CTr/TU ngày 15/10/2008 của Tỉnh ủy về thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chương trình thí điểm xây dựng mô hình xã nông thôn mới dựa trên các tư tưởng chỉ đạo trên và xuất phát từ thực tiễn, nêu lên những đề xuất mới nhằm từ nay đến năm 2015 tại xã nông thôn mới có nền nông nghiệp đô thị hiện đại, bền vững, có khả năng cạnh tranh cao; nông thôn hiện đại, văn minh; nông dân có đời sống vật chất và tinh thần phát triển, không quá chênh lệch so với đô thị và có đóng góp hiệu quả vào quá trình CNH - HĐH tỉnh

Đến ngày 31/12/2014, Thị xã Long Khánh được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo Quyết định số 2394 QĐ-TTg

Để tiếp tục xây dựng và nâng cao đời sống kinh tế - xã hội tại các xã đạt chuẩn nông thôn mới; xây dựng nông thôn có đời sống kinh tế cải thiện, có đời sống văn hóa tốt, có kết cấu hạ tầng kinh tế phát triển, có môi trường sinh thái được bảo

vệ Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; thể hiện 4 điểm mới trong xây dựng nông thôn mới: Con người mới - Diện mạo mới - Sức sống mới - Động lực mới UBND tỉnh Đồng Nai

có Quyết định số 387 QĐ-UBND ngày 10/2/2015 Ban hành bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao tỉnh Đồng Nai Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao của tỉnh bao gồm

18 tiêu chí, 36 chỉ tiêu trên 05 lĩnh vực: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế xã hội; Kinh tế

và tổ chức sản xuất; Văn hóa Xã hội Môi trường; Hệ thống chính trị Bộ tiêu chí nâng cao của tỉnh là cơ sở để UBND thị xã Long Khánh điều chỉnh, bổ sung Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao của thị xã và tổ chức thực hiện trên địa bàn trong thời gian tới nhằm tiếp tục nâng chất, phát huy thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng nông thôn mới

Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao của tỉnh để các xã đạt chuẩn nông thôn mới làm cơ sở để tiếp tục giữ vững, duy trì và nâng cao các tiêu chí đã đạt đảm bảo tính bền vững nhằm thúc đẩy phong trào ở trình độ, chất lượng cao hơn Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao chỉ xác định những tiêu chí và chỉ tiêu mới hoặc có mức

Trang 10

yêu cầu mới, không lặp lại các tiêu chí và các chỉ tiêu không thay đổi trong Bộ tiêu chí đã ban hành Do đó việc duy trì và nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới tại Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là việc làm cần thiết, cấp bách và khách quan

2 Mục tiêu nghiên cứu:

+ Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới

và nông thôn mới theo Bộ tiêu chí nâng cao tại Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

+ Đánh giá được thực trạng kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

+ So sánh giữa tiêu cũ với tiêu chí nâng cao để tiếp tục thực hiện bộ tiêu chí NTM nâng cao tại địa bàn nghiên cứu

+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thị xã Long Khánh

+ Đánh giá việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí nâng cao trên địa bàn Thị xã Long Khánh, từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí nâng cao chất lượng trên địa bàn Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi về n i dung:

Đề tài nghiên cứu về thực trạng xây dựng Nông thôn mới của Thị xã và gần đây tiếp tục có kế hoạch thực hiện xây dựng Nông thôn mới theo bộ tiêu chí nâng

Trang 11

cao của UBND tỉnh, sự khác nhau giữa bộ tiêu chí cũ và bộ tiêu chí nâng cao, các yếu tố ảnh hưởng, các mối quan hệ tác động đến hiệu quả của công tác xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí nâng cao chất lượng ở các phường, xã của Thị xã Qua đó đề xuất các giải pháp thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới theo

bộ tiêu chí nâng cao chất lượng trên địa bàn Thị xã Long Khánh

4 Nội dung nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM và xây dựng NTM theo bộ tiêu chí nâng cao

- Thực trạng kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM tại thị xã Long Khánh

- Nhiệm vụ xây dựng NTM theo bộ tiêu chí nâng cao tại thị xã Long Khánh

- Nhân tố ảnh hưởng tới kết quả xây dựng NTM trên địa bàn thị xã Long Khánh

- Giải pháp thực hiện thành công chương trình xây dựng NTM theo bộ tiêu chí nâng cao trên địa bàn thị xã Long Khánh

Trang 12

1.1.1.1 Khái ni m nông thôn

Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam

Theo truyền thống và thực tế hiện nay thì nông thôn là nơi sinh sống của những người chủ yếu sống bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chính, một số

ít sống bằng nghề nghiệp phi nông nghiệp, phương thức sản xuất nhỏ lẻ và có đặc thù cơ bản là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn

Nông thôn đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái bao gồm tài nguyên đất, nước, khoáng sản, động thực vật Cư dân nông thôn có mối quan hệ về gia tộc, gia đình khá chặt chẽ Ngoài ra nông thôn còn là nơi lưu giữ và bảo tồn di sản văn hóa của quốc gia, của dân tộc như các phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề truyền thống, các lễ hội, các di tích lịch

sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về nông thôn Khi nói đến khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị Có nhiều chỉ tiêu so sánh như dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư, mức độ phát triển

cơ sở hạ tầng, chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp, phát triển ngành nghề kinh tế …

Trang 13

Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì “nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là

Uỷ ban nhân dân xã” [9]

Theo TS Mai Thanh Cúc và cộng sự (2005) cho rằng “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [10]

Ta có thể thấy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế-xã hội Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của các cộng đồng dân cư, trong đó đa số là nông dân Tập hợp cư dân này cùng tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và mang tính cộng đồng cao

1 1 1 2 K n m về p t tr ển nông t ôn

Theo như khái niệm khoa học về phát triển nông thôn thì “Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi có chủ ý về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương” Với khái niệm này, cả thế giới đã biết và đã thực hiện theo, họ công nhận phát triển nông thôn là một quá trình, có nghĩa là cần có thời gian, không thể một sớm một chiều mà đạt mục tiêu của phát triển nông thôn mới toàn diện, bền vững được Nếu chúng ta lấy việc xây dựng nông thôn mới là “mục tiêu thành tích”,

là “mục tiêu phát triển địa phương”, nhằm phô trương “hình dạng mới của nông thôn” chứ không tập trung nâng cao đời sống người dân thì việc bán đất để làm nông thôn mới như một vài nơi làm là cách làm phù hợp theo kiểu tư duy không lối thoát, nóng vội

Xem xét cho đầy đủ khái niệm trên thì phát triển nông thôn là để nâng cao đời sống người dân và sự phát triển đó phải là quá trình thay đổi toàn diện

về kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường, trong đó có hàm ý là tạo ra những

“con người mới” có văn hoá trong môi trường nông thôn mới Nếu phân tích

Trang 14

thêm sẽ thấy nông thôn mới được hình thành với diện mạo không phải chỉ là

có đường giao thông mới, nhà văn hoá mới, chợ búa mới, trụ sở xã mới to

đẹp… Xét cho cùng xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí đều phải đạt nhưng

cần phải có quá trình,chứ không thể áp đặt thời gian hoàn thành, không thể nóng vội vì còn tuỳ thuộc nguồn lực nội tại của người dân, trình độ của lãnh đạo cộng đồng, tùy vào sự nhận thức làm chủ của người dân và mục tiêu phải đạt trọng tâm là làm sao nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng đó, làm sao họ được sống trong một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá truyền thống, đồng thời ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo

1.1.1.3 K n m về nông t ôn mớ

Hiện cũng chưa có một khái niệm đầy đủ về nông thôn mới, đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới, như “Nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung

cơ bản sau: (i) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (ii) sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; (iii) đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; (iv) bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; (v) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ” (Hồ Xuân Hùng, Bản tin ISG, 2010) [16]

Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;

xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” [1]

Như vậy, có thể hiểu Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự

Trang 15

cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ

kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự xã hội

1.1.2 C ươ g trì xây dự g ô g t ô ới

1.1.2.1 N dung xây dựng NTM

Cũng giống như mỗi hệ thống kinh tế xã hội, nội dung cơ bản của xây dựng NTM thuộc 3 nhóm là: Phát triển kinh tế; xây dựng xã hội nông thôn văn minh, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại và bảo vệ môi trường sinh thái mang tính nông thôn Từ đó những nội dung cụ thể của xây dựng NTM bao gồm:

- Về p t tr ển n tế

Nội dung quan trọng nhất của phát triển kinh tế là phát triển sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và kết hợp chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn Trong đó, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá là quan trọng

và là điều kiện cơ bản để ổn định đời sống cho người dân; bên cạnh đó là phát triển các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở mỗi địa bàn nông thôn Nội dung kinh tế của xây dựng nông thôn đảm bảo tạo điều kiện vật chất, năng lực của cộng động dân cư nông thôn để phát triển xã hội, văn hóa và các lĩnh vực khác của nông thôn

Sản xuất hàng hóa là điều kiện căn bản để tăng thu nhập cho người dân nông thôn và là điều kiện để phát triển đời sống văn hóa, xã hội nông thôn Tuy nhiên sản xuất hàng hóa ở các vùng nông thôn là không giống nhau, mà phải theo lợi thế tự nhiên sinh thái từng vùng, có thể là sản xuất nông nghiệp hàng hóa hoặc có thể là sản xuất hàng hóa phi nông nghiệp nhưng gắn với điều kiện, môi trường nông thôn

Nói một cách cụ thể, những vùng nông thôn có lợi thế về nông nghiệp thì tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa bằng các hình thức kinh tế trang trại hàng hóa phù hợp để tạo kết cấu cho PTNT và xây dựng NTM gắn chặt với sản xuất

Trang 16

nông nghiệp Các ngành nông nghiệp có thể là trồng trọt, chăn nuôi hàng hóa với quy mô lớn và sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp, duy trì môi trường nông nghiệp trong lành, bền vững Cùng với sản xuất nông nghiệp các vùng này có thể phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản để làm tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và gắn sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ thông qua các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp

Tuy nhiên, những vùng nông thôn có lợi thế về phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, chẳng hạn có nguồn khoáng sản nguyên liệu dồi dào cho phát triển một ngành công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng, thì nội dung kinh tế phải là phát triển nông nghiệp mà đẩy mạnh và mở rộng quy mô ngành khai thác và chế biến vật liệu xây dựng hiện đại, hiệu quả cao gắn với duy trì, tạo dựng môi trường sinh thái

tự nhiên mang tính nông thôn (có nhiều cây xanh, sinh thái nông thôn…) NTM ở đây có kinh tế sản xuất vật liệu xây dựng là chủ đạo

Tóm lại, phát triển kinh tế là nội dung căn bản, là nền tảng của xây dựng triển NTM theo lợi thế từng vùng Kinh tế nông thôn dựa trên phát triển các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và các hoạt động dịch vụ đa dạng trên địa bàn nông thôn

- P t tr ển ết cấu ạ tầng n tế-xã nông t ôn

Nội dung tiếp theo trong phát triển kinh tế là xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế và xây dựng xã hội NTM Kết cấu hạ tầng là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế và còn là yếu tố tạo cơ hội nâng cao đời sống xã hội, văn hóa của người dân Kết cấu hạ tầng bao gồm: đường giao thông, hệ thống thủy lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu phát triển đời sống, sản xuất ở nông thôn

Những công trình hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất ở nông thôn là hệ thống thuỷ lợi, kho tàng, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung… cần được quan tâm đầu tư thích đáng để thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện phát triển các kết cấu hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống ở nông thôn

Trang 17

Bên cạnh hạ tầng phục vụ sản xuất, trong xây dựng NTM còn phải chú trọng phát triển các loại hạ tầng xã hội khác như công trình y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao, thông tin, lễ hội truyền thống…

- P t tr ển văn o và nâng cao dân trí

Việc nâng phát triển văn hoá, cao dân trí là một trong những động lực để giải phóng sức lao động, kích thích sáng tạo, đẩy mạnh sản xuất trong nông thôn Người dân nông thôn có thu nhập cao, có trình độ văn hoá, có lối sống văn minh hiện đại,

có tinh thần hợp tác, tự giác chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong cộng đồng sẽ là mẫu người dân trong xã hội NTM, đây là mục tiêu lâu dài của công cuộc PTNT ở mỗi quốc gia Để thực hiện được nội dung này, việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn là cơ sở vật chất để xây dựng con người có trình độ văn hoá chuyên môn, vừa có văn hoá có tính lâu dài

Xây dựng NTM không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng hiện đại, mà phải xây dựng cho được các phong trào văn hoá, thể thao, phát triển dân trí mang tính cộng đồng cao, thiết thực và được lôi kéo từng người dân tham gia Do đó, cùng với xây dựng các hạ tầng văn hoá xã hội phải đi đôi với phát triển các hoạt động cộng đồng trong nông thôn

Một địa phương tiến hành xây dựng NTM phải triển khai các phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh

- Đảm bảo dân c ủ, công bằng ở nông t ôn

Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ

ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội

Cộng đồng dân cư nông thôn cần tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện hoạt động xây dựng NTM với mục tiêu cuối cùng là PTNT giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- P t tr ển nguồn lực con ngườ c ất lượng cao

Trang 18

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, yêu cầu cấp thiết là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Nông dân trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa phải là người nông dân có tinh thần tự chủ, sống có trách nhiệm cao với cộng đồng,

có tinh thần phát triển kinh doanh, làm giàu và đóng góp thiết thực vào xây dựng xã hội cộng đồng nông thôn của mình

Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ nông dân để nông dân và dân cư nông thôn

tự xây dựng NTM theo các nội dung trên đây để đạt được mục tiêu đặt ra, đặc biệt

là giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, tiếp cận thị trường, quản lý tài chính… Do vậy, các chương trình, dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương là các công cụ quan trọng của Nhà nước trong xây dựng NTM

- Bảo v mô trường và tà nguyên

Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện thiết yếu để PTNT, song điều đó không

có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Tuy nhiên nếu phát triển kinh tế mà không giữ gìn, bảo vệ môi trường thì phát triển kinh tế sẽ không thể bền vững

Vì vậy, giữ gìn và bảo vệ môi trường là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp, hơn nữa nếu kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển các cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn, còn có thể tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái

Về lâu dài, nông thôn phải là nơi có cảnh quan và môi trường tự nhiên trong lành, là lá phổi xanh cho cả quốc gia trong CNH-HĐH

Sáu nội dung chủ yếu trên đây đồng thời là 6 yêu cầu cơ bản phải được thực hiện trong suốt quá trình xây dựng NTM Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp, khó khăn đối với một nền kinh tế nghèo nàn như Việt Nam Do vậy, tuỳ từng điều kiện

cụ thể của mỗi địa phương mà lựa chọn ưu tiên để thực hiện mỗi nội dung cho phù hợp điều kiện về nhân lực và tài chính và đảm bảo công cuộc xây dựng NTM thu được thành công

1.1.2.2 T êu c í xây dựng NTM

Ngày 16/04/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 491 QĐ-

Trang 19

TTg, kèm Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí, các tiêu chí này được phân chia thành 5 nhóm sau đây: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội; Nhóm tiêu chí về kinh tế sản xuất; Nhóm tiêu chí về VHXH, môi trường; Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị [6]

Một xã được công nhận là NTM khi đạt đầy đủ các quy định của 19 tiêu chí, một huyện đạt NTM khi có ít nhất 75% số xã trong huyện đạt NTM; một tỉnh đạt NTM có ít nhất 80% số huyện trong tỉnh đạt huyện NTM [6]

Tuy nhiên, do điều kiện từng vùng miền trong cả nước khác nhau, do đó áp dụng các tiêu chí đánh giá của Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM cũng được áp dụng cho từng vùng khác nhau Cụ thể khi áp dụng Bộ tiêu chí này được phân ra thành 7 vùng (vùng trung du miền núi phía Bắc; vùng Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ; vùng Đồng bằng sông Cửu Long)

Từng nhóm với 19 tiêu chí được sắp xếp thứ tự theo Bộ tiêu chí Quốc gia được áp dụng cho vùng

1.1.3 Nô g t ô ới nâng cao

1 1 3 1 Đặc trưng cơ bản của nông t ôn mớ nâng cao

Nông thôn mới theo tiêu chí nâng cao chính là giai đoạn tiếp theo của công cuộc xây dựng NTM sau khi đã hoàn thành bộ tiêu chí NTM theo quy định của Nhà nước

NTM theo bộ tiêu chí nâng cao có những đặc trưng có bản sau đây:

- Tiếp tục giữ vững, duy trì và nâng cao các tiêu chí đã đạt, đảm bảo tính bền vững nhằm thúc đẩy phong trào ở trình độ, chất lượng cao hơn

- Đời sống, thu nhập của người nông dân ngày càng cao hơn

- Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng đồng bộ, hoàn thiện theo hướng hiện đại hơn

- Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần, bảo tồn và phát huy tốt hơn các giá trị truyền thống ở nông thôn, an ninh, an toàn, an sinh xã hội ở nông thôn ngày càng tốt hơn

Trang 20

- Đảm bảo môi trường sinh thái phát triển đa dạng và bền vững hơn Phấn đấu sớm rút ngắn khoảng cách về trình độ và tính chất phát triển giữa nông thôn và

đô thị

1 1 3 2 Mục đíc xây dựng nông t ôn mớ nâng cao

Tiếp tục xây dựng và nâng cao đời sống kinh tế - xã hội tại các xã, phường đạt chuẩn nông thôn mới; xây dựng nông thôn có đời sống kinh tế cải thiện, có đời sống văn hóa tốt, có kết cấu hạ tầng kinh tế phát triển, có môi trường sinh thái được bảo vệ Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; thể hiện 4 điểm mới trong xây dựng nông thôn mới: Con người mới - Diện mạo mới - Sức sống mới - Động lực mới

Tổ chức tuyên truyền nhằm nâng cao vai trò chủ thể của người dân, giúp người dân hiểu rõ về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là của nhân dân, do người dân làm chủ, Đảng đóng vai trò chỉ đạo, lãnh đạo, nhà nước định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện xây dựng nông thôn mới để phát huy được nội lực của người dân trong cộng đồng dân cư đảm bảo theo phương châm

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ”

1.1.3.3 Nguyên tắc xây dựng nông t ôn mớ nâng cao

Các xã, phường đạt chuẩn nông thôn mới tiếp tục giữ vững, duy trì và nâng cao các tiêu chí đã đạt, đảm bảo tính bền vững nhằm thúc đẩy phong trào ở trình độ, chất lượng cao hơn

Xác định những tiêu chí và chỉ tiêu mới hoặc có mức yêu cầu mới, không lặp lại các tiêu chí và các chỉ tiêu không thay đổi trong Bộ tiêu chí đã ban hành theo Quyết định số 2276 QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc điều chỉnh, bổ sung bảng tiêu chí nông thôn mới đính kèm theo Quyết định số

1527 QĐ-UBND ngày 22/5/2013 của UBND tỉnh Đồng Nai Các xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, ngoài việc đạt được các tiêu chí, chỉ tiêu theo Bộ tiêu chí này, còn phải đảm bảo duy trì đạt các tiêu chí và chỉ tiêu khi được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới

Trang 21

1.1.3.4 B T êu c í nông t ôn mớ nâng cao tạ tỉn Đồng Na

Để cụ thể hóa UBND tỉnh Đồng Nai đã xây dựng và ban hành quyết định

số 387 QĐ-UBND ngày 10 02 2015 “Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao” và Quyết định số 2947 QĐ-UBND ngày 25 09 2015 “Điều chỉnh, bổ sung bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao kèm theo quyết định số 387 QĐ-UBND ngày 10/02/2015 của UBND tỉnh”

Đây là Bộ tiêu chí để các xã, phường đạt chuẩn nông thôn mới làm cơ sở tiếp tục giữ vững, duy trì và nâng cao các tiêu chí đã đạt, đảm bảo tính bền vững nhằm thúc đẩy phong trào ở trình độ, chất lượng cao hơn

Bộ tiêu chí này gồm 18 tiêu chí với 36 chỉ tiêu Trong đó, đáng chú ý là tiêu chí Phát triển sản xuất nâng cao thu nhập, gồm có 4 chỉ tiêu hướng đến việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh cơ giới hóa, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm [23]

1.2 Thực tiễn phát triển nông thôn trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Ki g i xây dự g ô g t ô ở t số quốc gia trê t ế giới

1.2.1.1 Xây dựng nông t ôn t eo mô ìn “Làng mớ ” ở Hàn Qu c

Hàn Quốc là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên, diện tích tự nhiên 100.140 km2, dân số 48.860 triệu người, (2012) mật

độ dân số 500 người/km2 Từ những năm 1950, Hàn Quốc là một trong các quốc gia nghèo nhất trên thế giới Tuy nhiên, từ xuất phát điểm cực thấp trong đống tro tàn của cuộc chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc đã vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, hiện nay, Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba Châu Á và thứ 13 trên thế giới, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người là 24.329 USD (2013) Nói đến thành công của Hàn Quốc không chỉ các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ mà có sự đóng góp quan trọng của nông nghiệp mà phải kể đến đó là phong trào Saemaul hay phong trào Làng mới

Cuối thập niên 60 thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có

85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông

Trang 22

nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên

Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái

lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có [15]

Từ kết quả đạt được của phong trào Làng mới (Saemaul) của Hàn Quốc có thể tổng kết thành 6 bài học lớn như sau:

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật

tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong

Trang 23

trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các

dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ

sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn

để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định

nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào Làng mới (SU) là đội ngũ cán bộ

cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội

đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ ă , phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng, Hàn Quốc đã

thiết lập lại các HTX kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX, hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn

dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng

1.2.1.2 Mô ìn “Mỗ làng m t sản p ẩm” trong xây dựng nông t ôn ở T Lan

Trang 24

Thái Lan đã lựa chọn chiến lược xuất khẩu nông sản từ năm 1977 Chiến lược đó, đặt mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế của Thái Lan với tính cách một nước nhiệt đới có thể chiếm lĩnh được thị trường thế giới bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến Công nghiệp chế biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy

Từ quan điểm đó, họ đã xúc tiến các hoạt động theo công thức 4 nhà: Nhà nước, Nhà doanh nghiệp, Nhà ngân hàng, Nhà nông Kết quả cuối cùng là Thái Lan

có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy mô hợp lý Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang mô hình trồng trọt như gạo và đặc biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện nay Thái Lan đang là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Đến năm 1998, Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này

Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm” tại Thái Lan: thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp quốc gia “mỗi xã, một sản phẩm” (OTOP: One Tambon, one Product) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí: có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu; Sản xuất liên tục và nhất quán; Tiêu chuẩn hóa; Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối sống của người dân địa phương [15]

1.2.2 Ki g i của Vi t Na

1.2.2.1 C ủ trương, c ín s c của N à nước về xây dựng NTM:

- Chủ trương của Đảng: Nghị quyết 26-NQ TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã xác định rõ “CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH-HĐH đất nước”, trong đó “nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng NTM gắn với xây dựng các cơ sở công

Trang 25

nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”

Mục tiêu tổng quát xây dựng nông thôn được xác định rõ trong Nghị quyết:

“Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”, với mục tiêu đến năm

2010 “triển khai một bước chương trình xây dựng NTM”

Nghị quyết cũng chỉ rõ một số giải pháp cơ bản để đạt được mục tiêu về xây dựng NTM, trong đó cần phải xây dựng các tiêu chí cụ thể cho mô hình NTM Việc xây dựng các tiêu chí này phải “phù hợp với đặc điểm của từng vùng, chú ý các xã còn nhiều khó khăn ở miền núi, biên giới, bãi ngang, hải đảo” Triển khai chương trình “xây dựng NTM”, trong đó “thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng đi trước một bước” Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn “là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”

Chính sách của Nhà nước: Để triển khai, thực hiện hóa chủ trương của Đảng, nhiều chính sách của Nhà nước đã được xây dựng và ban hành trong suốt giai đoạn vừa qua, trong đó có một số văn bản mang tính định hướng lớn hoặc liên quan trực tiếp đến chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, như: Nghị quyết 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một trong những nội dung quan trọng của chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW Bên cạnh đó, nhiều chương trình, đề án, chính sách được nêu ra trong chương trình hành động của Chính phủ cũng góp phần vào việc xây dựng NTM…

1.2.2.2 K n ng m xây dựng nông t ôn mớ ở V t Nam n ững năm qua

Từ 11 xã được chọn làm thí điểm, đến nay số xã tham gia vào Chương trình

Trang 26

xây dựng NTM đã tăng lên nhiều Sau 10 năm thử nghiệm, Chương trình xây dựng NTM đã được phát triển thành chương trình quốc gia được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5-8-2008 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về

“nông nghiệp, nông dân và nông thôn”

Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ NN&PTNT, các Bộ, ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, hợp tác hoá, dân chủ hoá” (gọi chung là mô hình phát triển NTM cấp xã) tại các vùng sinh thái Chương trình PTNT đã được triển khai tại 14 xã điểm của Bộ NN&PTNT và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình đã thu được một số kết quả đáng khả quan như: Kết cấu hạ tầng và bộ mặt nông thôn thay đổi đáng kể nhưng cũng bộc lộ một số tồn tại như: Quy hoạch chưa phù hợp, chưa quan tâm đến phát triển sản xuất

Hội nghị sơ kết xây dựng thí điểm mô hình NTM ngày 16/7/2011 tại Hà Nội

đã đánh giá tất cả 11 xã thí điểm mô hình NTM đã hoàn thành công tác quy hoạch chung, các công trình hạ tầng xây dựng mới hoặc nâng cấp cơ bản đều dựa theo quy hoạch được duyệt, 902/1.188 công trình hạ tầng theo kế hoạch đã được hoàn thành, hai xã Thụy Hương (TP Hà Nội) và Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh) đã cơ bản đạt tiêu chí hạ tầng (đạt 98%), 8 xã khác đạt từ 75 đến 80%, một xã đạt 68% [14]

Dưới đây là kinh nghiệm xây dựng NTM tại 2 xã: Thụy Hương và Tân Thông Hội, là hai xã được chọn là mô hình thí điểm xây dựng NTM của Trung ương Tính đến nay thì 2 xã đã đạt đủ 19 tiêu chí với những kết quả và thành công nhất định Từ thành công của 2 xã này nhiều địa phương đã tham khảo những bài học quý giá để vận dụng vào triển khai xây dựng NTM

- Xã Thụy Hương (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) là 1 trong 11 xã được chọn xây dựng thí điểm mô hình NTM của toàn quốc vào tháng 6 2009 Đây là một xã đồng bằng, thuần nông nằm ven sông Đáy cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km về phía Tây Nam Thời điểm bắt đầu xây dựng NTM, mặc dù là địa phương có tiềm năng về canh tác nông nghiệp với tỉ lệ đất màu chiếm tới 40%, thuận lợi để hình

Trang 27

thành vùng sản xuất thâm canh cho năng suất, chất lượng nông sản cao song trong sản xuất nông nghiệp của xã vẫn chưa hình thành được quy hoạch; Sản xuất vẫn ở thế độc canh, khai thác tiềm năng đất đai, lao động còn hạn chế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm Bên cạnh đó, hệ thống giao thông liên xã, đường trục thôn, xóm, đường điện, trường học, trạm y tế, hệ thống thủy lợi… cũng chưa hoàn thiện Tuy nhiên, sau 4 năm thực hiện chương trình, với sự giúp đỡ của Trung ương,

TP Hà Nội và sự quyết tâm của chính quyền, nhân dân địa phương, Thụy Hương đã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí Mọi mặt về đời sống, sản xuất đã đổi mới rõ rệt Toàn bộ các thôn đã được xây dựng nhà văn hóa đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn - thể - mỹ của người dân trong thôn Hệ thống đường giao thông trong xã đã được trải nhựa, đổ bê tông kiên cố Thậm chí, đường bê tông đã được xây dựng ở hầu hết các tuyến đường nội đồng, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất ở địa phương Đến nay, Thụy Hương đã hoàn thành khảo sát thăm dò dự án xây dựng hệ thống cấp nước sạch với công suất 500 m3 ngđ, đồng thời đang triển khai thi công trạm cấp nước sạch tập trung với kinh phí gần 12 tỷ đồng Xã cũng đồng thời hoàn thành bãi tập kết rác thải tập trung, thành lập 7 tổ thu gom rác thải ở 7/7 thôn và hợp đồng với công ty đô thị môi trường Xuân Mai thu gom, xử lý rác Đặc biệt, Thụy Hương cũng đã hoàn thiện hệ thống kênh mương nội đồng, nhất là mương Bảy tiêu úng cho cánh đồng phía Tây Nam xã, nhận thức về xã hội, về phương thức sản xuất của người dân được nâng cao Vấn đề ô nhiễm môi trường đã được xử lý về cơ bản Qua 4 năm xây dựng NTM, tăng trưởng kinh tế ở Thụy Hương đạt trung bình 23% năm Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 14,98% xuống còn 3,78% Hoạt động nông - lâm - ngư nghiệp chỉ còn chiếm 33% trong cơ cấu kinh tế của xã [4]

- Xã Tân Thông Hội (H Củ Chi, TP Hồ Chí Minh): Sau ba năm triển khai thực hiện chương trình NTM, Tân Thông Hội đã trở thành một điểm sáng văn hóa, cũng như những mô hình nông dân sản xuất giỏi đã được nhân rộng Trên kết cấu quán triệt, triển khai chủ trương xây dựng chương trình NTM của Trung ương, cũng như các văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành và của Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM TP Hồ Chí Minh, ban quản lý xây dựng NTM xã đã triển khai thực

Trang 28

hiện và đã có những kết quả Cụ thể như về công tác quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có Xã đã tổ chức nghiệm thu đưa vào sử dụng 4 tuyến đường nội xã qua các ấp, cụ thể như ấp Tần Thành, Bàu Sim,

ấp Hậu Bên cạnh đó, các công trình văn hóa - xã hội như xóa nhà tạm, nhà dột nát

đã hoàn thành thực hiện đúng yêu cầu đặt ra UBND Thành phố đã chủ trì và làm việc với các doanh nghiệp trong việc phối hợp và hỗ trợ cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm cho xã NTM Do đó, chương trình NTM đã được triển khai ở xã trong thời gian qua và tạo ra được sự chuyển dịch cơ cấu lao động như: tổ chức lớp dạy nghề trang điểm và lớp sơ cấp thú y cho các cháu trong xã Cùng với đó là hỗ trợ 40% kinh phí cho mô hình khuyến nông trồng hoa Vạn Thọ, hỗ trợ kinh phí cho các

hộ trồng hoa lan để có thêm thu nhập, nâng cao đời sống Xã có mô hình tổ chức điểm cà phê khuyến nông tại ấp Hậu, đây chính là một câu lạc bộ cho bà con nông dân gặp gỡ trao đổi về nông vụ cũng như trao đổi về khoa học kỹ thuật Trung tâm khuyến nông quốc gia sẽ hỗ trợ mô hình cơ giới hóa trong chăn nuôi bò sữa cũng như xã đã phối hợp với chi cục PTNT về việc hỗ trợ phát triển HTX bò sữa cho Tân Thông Hội Cho đến nay, những mô hình chăn nuôi đàn bò sữa đã tăng, mô hình trồng rau an toàn đã được nhân rộng Bên cạnh đó, Ban quản lý xây dựng NTM của

xã đã phối hợp với chi cục PTNT đã tổ chức Hội nghị phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, phối hợp với tổng công ty nông nghiệp Sài Gòn tiến hành khảo sát và ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ cho các hộ trồng ớt và trồng cà tím Liên minh HTX Thành phố đã tổ chức trao vốn vay cho 225 hộ gia đình, mà chủ yếu là chị em phụ nữ, mỗi hộ 3 triệu đến 10 triệu đồng để phát triển sản xuất Do

đó, tính đến đầu năm 2013 xã đã đạt 19/19 tiêu chí dụng và trong nhân dân) đạt 613,348 tỷ đồng) [20]

1.1.2.3 Kin ng m xây dựng NTM ở tỉn Đồng Na

Đồng Nai tự hào có hai huyện đầu tiên của cả nước đạt danh hiệu Huyện NTM Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM, tỉnh Đồng Nai đã lựa chọn 34 xã 136 xã để làm điểm tại 09 huyện và 01 Thị xã, trong đó chọn huyện Xuân Lộc là huyện điểm xây dựng NTM

Trang 29

Huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh của tỉnh Đồng Nai là hai huyện đầu tiên của cả nước vinh dự đón nhận danh hiệu này sau hơn 4 năm cả nước thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về Xây dựng NTM

Đặc biệt, Xuân Lộc và Long Khánh đã hoàn thành quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xác định được sản phẩm chủ lực, hỗ trợ mô hình sản xuất hiệu quả và vùng sản xuất tập trung

Tại Xuân Lộc đã hình thành các vùng chuyên canh, như: xoài, tiêu, ngô, cây

ăn trái đặc sản, nhân rộng mô hình trồng trọt và chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao giúp đạt giá trị sản xuất bình quân 115,5 triệu đồng/ha

Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo đạt 75%, gần 91% lao động có việc làm thường xuyên Thu nhập bình quân đầu người đạt 37,6 triệu đồng người năm, tăng gấp 3 lần so với năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% xuống còn 1%

Trong khi đó, tại thị xã Long Khánh, sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,1% năm, giá trị sản xuất bình quân trên 1

ha đạt 170 triệu đồng - mức cao nhất toàn tỉnh Nhờ đó, thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt 38,6 triệu đồng người năm, tăng 2,13 lần so với năm 2009,

tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,84%

Điều đáng mừng là, xây dựng NTM ở Xuân Lộc và Long Khánh không chỉ đơn thuần là hoàn thành các tiêu chí đề ra mà còn tạo cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn cho người dân Người nông dân đã thực hiện được “4 xóa” là xóa

tư tưởng trông chờ, ỷ lại; xóa vườn tạp, độc canh; xóa tư tưởng lạc hậu và xóa nghèo

Không chỉ có hai huyện đầu tiên của cả nước đạt chuẩn huyện nông thôn mới, mà Chương trình Xây dựng NTM ở Đồng Nai đạt được những thành tựu to lớn Từ 39 chỉ tiêu mà Trung ương đưa ra (thuộc 19 tiêu chí nông thôn mới), Đồng Nai còn cụ thể hóa, phát triển thành 54 tiêu chí Toàn tỉnh có 52 138 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 32,8%, gấp gần 4 lần tỷ lệ chung cả nước

Chương trình NTM giúp Tỉnh có giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 98,3 triệu

Trang 30

đồng 1 ha 1 năm, nâng thu nhập bình quân đầu người lên 32,6 triệu đồng 1 người/1 năm và giảm hộ nghèo toàn tỉnh từ 6,2% năm 2011 xuống còn 1% năm 2014

Bên cạnh đó, phong trào xây dựng NTM đã tạo được nguồn lực lớn với số tiền huy động trong 4 năm thực hiện là gần 63.000 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp tới 27.000 tỷ đồng (chiếm 43%) và doanh nghiệp đóng góp gần 9.000 tỷ đồng

Kinh nghiệm thành công bước đầu xây dựng NTM là tinh thần đoàn kết cùng chung sức xây dựng NTM của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể và cộng đồng dân cư; Chú trọng công tác tuyên truyền về NTM để người dân hiểu và

tự giác tham gia chương trình; Khai thác có hiệu quả tiềm năng về nông nghiệp, xây dựng thương hiệu các mặt hàng nông - lâm - thủy sản của bà con nông dân, nhân rộng mô hình đạt hiệu quả; huy động được các nguồn lực vào xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn

1 2 2 4 N ận xét c ung về n ân t đưa tớ t àn công và ạn c ế trong xây dựng NTM ở V t Nam t ờ g an qua n ư sau

Các yếu tố dẫn tới thành công

Một là: Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân trong xã nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng để xây dựng NTM, đây là một chương trình lớn mang tính tổng hợp về kinh

kế, VH-XH, an ninh quốc phòng, do đó đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị

Hai là: Thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn của cấp trên, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo, Ban quản lý từ xã đến ấp Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận, từng thành viên, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng né tránh, tập trung lãnh đạo với phương châm “dễ làm trước khó làm sau” không nóng vội, càng không để mất cơ hội

Ba là: Thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong cộng đồng dân cư, con em thành đạt xa quê và các doanh nghiệp có tiềm lực và tâm huyết với nông thôn, khai thác các nguồn thu tại địa phương “Lấy sức dân để lo cho dân”

Trang 31

tạo nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thuộc nhóm không có hỗ trợ của nhà nước

Bốn là: Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân

- Các yếu tố dẫn đến hạn chế

Một là: Các xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa quan tâm đúng mức đến phát triển sản xuất Một số xã quá thiên về phát triển nông nghiệp, chưa được đầu tư thoả đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hoá

Hai là: Phương châm của chỉ đạo xây dựng mô hình là dựa vào nguồn lực tại chỗ là chính, Nhà nước hỗ trợ một phần, nhưng chỉ khoảng một nửa số xã tự huy động được sự đóng góp của người dân từ 47 - 55% tổng vốn đầu tư, các xã còn lại

có mức huy động chỉ đạt 10% Tâm lí ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước còn phổ biến

Ba là: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho các xã đòi hỏi vốn lớn, nhưng đến nay ngoài nguồn vốn thông qua một số chương trình dự án của Bộ NN&PTNT, của tỉnh còn lại các Bộ, ngành khác chưa có sự quan tâm thoả đáng

Bốn là: Chương trình này, từ khi xây dựng và thông qua đã không xác định

rõ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và không được ghi vốn riêng Do vậy, khi triển khai đã thiếu nguồn lực cụ thể, không thể tạo ra động lực thu hút nguồn vốn đóng góp của nhân dân Do không có nguồn vốn riêng cho chương trình, các dự án mô hình đều phụ thuộc vào việc lồng ghép các chương trình dự án khác, từ đó dẫn đến việc triển khai các hoạt động của chương trình rất thụ động, không thường xuyên và hiệu quả rất hạn chế

Năm là: Việc phối hợp tổ chức thực hiện mô hình của các cấp, các ngành từ Trung ương đến kết cấu chưa tập trung đồng bộ; đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo nhưng trình độ vẫn còn hạn chế, chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển khai dự án, nhiều xã điểm chưa phát huy được tiềm năng sẵn có, việc nhân rộng mô

Trang 32

hình gặp nhiều khó khăn

Sáu là: Một trong những nhược điểm quan trọng nhất là việc thực hiện chương trình vẫn chủ yếu xuất phát từ mong muốn của cấp trên đưa xuống, sự tham gia của người dân còn rất yếu, nhiều nơi người dân hầu như không được tham gia

mà chỉ được vận động khi cần đóng góp, do đó nhiều công trình không thực sự là nhu cầu cần thiết của nhân dân nên xây dựng xong không được đưa vào sử dụng một cách có hiệu quả và nhanh chóng xuống cấp

Những đánh giá tổng kết trên đây là bài học rất bổ ích để tham khảo cho xây dựng NTM nâng cao ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

1.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến xây dựng NTM

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, Học viên đã khảo cứu các tài liệu trong

và ngoài nước sau:

1.3.1 Nước goài

Trước hết phải kể đến công trình “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do NXB Nông nghiệp ấn hành năm 1994 Trong tác phẩm này, tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh Cuốn sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa Điều đặc biệt cần lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình thành công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn

và giải quyết vấn đề nông dân Công trình “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict j tria kerkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, NXB Hà Nội ấn hành năm 2000 [27]

Trong công trình này tác giả đã nghiên cứu về vai trò đặc điểm của nông dân,

Trang 33

thiết chế nông thôn của một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam

Những điểm đáng lưu ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sách PTNT nước ta hiện nay như tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, các hình thức sở hữu đất đai, những mô hình tiến hóa nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa Đặc biệt lưu ý là những kết quả nghiên cứu của công trình về làng truyền thống ở Việt Nam, quan hệ làng xóm Nhà nước ở ta trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

1.3.2 Tro g ước

Có hàng loạt công trình nghiên cứu giới thiệu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài Theo hướng này một số nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn đã có những công trình nghiên cứu công phu và có giá trị

Công trình nghiên cứu của PGS, PTS Nguyễn Văn Bích và KS.Chu Tiến Quang do NXB Chính trị Quốc Gia ấn hành năm 1996 với tiêu đề “Chính sách kinh

tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã luận giải nhiều nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về chính sách, các nội dung của chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới và những tác động của chúng [19]

Công trình “Phát triển nông thôn” do GS Phạm Xuân Nam (chủ biên) do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu chuyên sâu

về PTNT

Trong công trình này tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển KT- XH nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo [19]

Công trình “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử”

do GS Phan Đại Doãn và PGS Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, NXB Chính trị Quốc Gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong PTNT nước ta Sau khi nêu lên sự quan tâm của nhà nước trong các thời kỳ về quản

lý làng xã và xây dựng thiết chế chính trị - xã hội nông thôn nước ta, các tác giả đã

Trang 34

trình bày khá toàn diện về quản lý nông thôn nước ta trong lịch sử như vấn đề nhà nước quản lý nông thôn trong các thế kỷ XVI- XVIII, nhà Nguyễn đối với vấn đề nông thôn trong thế kỷ XIX Công trình còn đề cấp mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt Nam ở các vùng cụ thể ở nước ta nhất là ở Bắc bộ và Nam bộ Công trình

đã cung cấp những sử liệu rất có giá trị về vai trò của nhà nước, tính cộng đồng tính bền vững của mô hình làng xã ở Việt Nam [12]

Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc, NXB thống kê năm 2003 Đây là công trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết phục

về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như một niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ Công trình đã luận giải quá trình đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam [11]

Đặc biệt công trình nghiên cứu do PGS, TS Vũ Trọng Khải chủ trì được NXB Nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển của nông thôn Việt Nam Công trình nghiên cứu này được xuất bản trên kết cấu đề tài cấp nhà nước do tác giả làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại” đã phản ánh những trăn trở, suy tư trước các vấn đề bức xúc nẩy sinh trong thực tiễn quản lý phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta [17]

Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng làm cơ sở cho việc đề xuất chính sách xây dựng nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam” do TS Nguyễn Quang Dũng làm chủ nhiệm đề tài năm 2010 Đề tài hỗ trợ nội dung, phương pháp và quy trình xây dựng mô hình phát triển NTM trên cơ sở cách tiếp cận phát triển dựa vào cộng đồng trong điều kiện của Việt Nam Đề xuất các chính sách phát triển NTM trong điều kiện của Việt Nam [13]

Trang 35

3 3 Kết quả và ạ c ế

- Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã cung cấp những luận

cứ, luận chứng, dữ liệu rất quan trọng về chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề về nông dân, nông thôn có thể tham khảo cho Việt Nam

- Điểm chung nhất của các công trình nghiên cứu là, sau khi phân tích thực tiễn về vấn đề chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn các tác giả đã đưa ra các kiến nghị xứ lý và giải quyết những vấn đề thực tiễn về phát triển nông nghiệp, nông thôn ở các nước và ở Việt Nam hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu trên đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng

mà Học viên sẽ tiếp thu, sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này

- Những hạn chế trong các công trình đã tổng quan là: Các công trình ấy chưa đi sâu nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách nông nghiệp, nông thôn nói chung và mô hình NTM của một tỉnh, một huyện, một xã của Việt Nam

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ XÃ LONG KHÁNH

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của Thị xã Long Khánh - tỉnh Đồng Nai

2.1.1 C c đặc điể tự iê

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Long Khánh là một đô thị loại 3 thuộc tỉnh Đồng Nai Với nhiều loại trái cây nhiệt đới đặc sản miền Đông và là vùng kinh tế trọng điểm Với vị trí địa lý nằm ở phía Đông của tỉnh Đồng Nai; tọa độ địa lý và ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Đông giáp huyện Xuân Lộc; Phía Tây giáp huyện Thống Nhất; Phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ; Phía Bắc giáp huyện Định Quán

Thị xã có 15 đơn vị hành chính, bao gồm 06 phường và 9 xã Tổng diện tích đất tự nhiên là: 19.186 ha, trong đó diện tích 6 phường là 952,3 ha, chiếm 5%, diện tích 9 xã là 18.233,7 ha,chiếm 95% Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 16.465 ha, chiếm 85,8% diện tích đất tự nhiên toàn thị xã; giá trị sản xuất khu vực nông thôn (9 xã) chiếm 62% trong tổng giá trị sản xuất trên địa bàn thị xã Dân số trung bình 143.650 người, mật độ dân số 740 người km2; cơ cấu dân số: thành thị 57.761 người, chiếm 40%, nông thôn 85.889 người, chiếm tỷ lệ 60% Thị xã nằm trong vùng trọng điểm kinh tế của tỉnh Đồng Nai cách thành phố Biên Hòa 45 km và thành phố Hồ Chí Minh 80 km, có hệ thống giao thông thuận tiện như Quốc Lộ 1A, Quốc Lộ 56, đường sắt Bắc nam, Đường cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây

đi qua thuận lợi cho giao thông đi lại, vận chuyển nông sản hàng hóa và phát triển kinh tế - xã hội

Thị xã nằm gần các khu đô thị lớn và các khu công nghiệp thuận lợi cho việc tiêu thụ nông sản phẩm; mặt khác do nằm gần các khu đô thị nên có điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp Đất đai, khí hậu, thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển quanh năm, cho phép bố trí đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, đặc biệt thích hợp với các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế

Trang 37

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Long Khánh

Trang 38

2.1.1.2 Địa ìn , í ậu, t ủy văn

Thị xã Long Khánh nằm ở độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng

150m Địa hình Thị xã Long Khánh là cao nguyên bazan dạng vòm bao gồm 2 bậc địa hình chính Dạng địa hình bậc thấp: chiếm hầu hết toàn bộ diện tích thị xã Dạng địa hình bậc giữa: chiếm khoảng 20,3% tổng diện tích tự nhiên, là các đồi núi cao, sườn dốc đỉnh tương đối bằng phẳng

Thị xã Long Khánh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo có 2 mùa

rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với những đặc trưng chính như sau: Năng lượng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và cao đều quanh năm trung bình 25,40C, không có thiên tai như: bão, lụt nên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Lượng mưa lớn (trung bình từ 1.956-2.139 mm năm) Nhìn chung, đặc điểm khí hậu thời tiết trên địa bàn thị xã Long Khánh là vùng được thiên nhiên ưu đãi, không bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt nghiêm trọng, không có gió bão lớn,có nhiều thuận lợi, cho phép bố trí đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, đặc biệt thích hợp với các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, nhất là cây công nghiệp và cây ăn quả

Nguồn nước mặt của thị xã Long Khánh hiện nay là rất hạn chế, chủ yếu do các suối nhỏ từ Bình Thuận chảy về Nguồn nước ngầm trong huyện khá dồi dào, tại huyện đã khoan thăm dò 20 giếng và khoan khai thác 5 giếng với lưu lượng 10-20m3/h/giếng

2.1.1.3 Cơ cấu đất đa

Theo Quy hoạch phát triển nông nghiệp thị xã Long Khánh giai đoạn

2011-2020 thì, trên địa bàn toàn thị xã có 4 nhóm đất chính trong đó nhóm đất tầng mỏng

và nhóm đất đá bọt có diện tích không đáng kể, chủ yếu ở các ngọn đồi, núi và những nơi có thảm thực vật thưa thớt Hai nhóm này ít có ý nghĩa trong sản xuất nông - lâm nghiệp Nhóm đất đỏ hình thành trên mẫu chất bazan là nhóm đất điển hình, có diện tích lớn nhất, kế đó là nhóm đất đen, cả 02 nhóm đất này đều có tầng đất dày thành phần cơ giới nặng, thích hợp với các loại cây như: cao su, cà phê, điều, hồ tiêu và nhiều loại cây ăn trái Trong những năm qua, tài nguyên đất đai

Trang 39

đƣợc khai thác sử dụng khá hợp lý Cơ cấu sử dụng đất nhƣ sau:

Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn thị xã Long Khánh

Trang 40

2.13 Đất ở tại nông thôn 165,5 0,86

2.19 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà

số còn lại thuộc các dân tộc nhƣ: Hoa, Nùng, Tày, ChâuRo… chiếm 7,3% dân số

Ngày đăng: 02/05/2018, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w