1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử THCS

32 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 36,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đấu hoặc áp dụng thử 15.1.2 Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong trường THCS hiện nay b Xác định mối liên hệ, xâu chuỗi giữa cá

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

=====***=====

B¸O C¸O KÕT QU¶

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: PH¸T HUY TÝNH TÝCH CùC CñA HäC SINH

Trang 2

B¸O C¸O KÕT QU¶

NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: PH¸T HUY TÝNH TÝCH CùC CñA HäC SINH

TRONG D¹Y HäC LÞCH Sö THCS

Vĩnh Tường, Năm 2018

Trang 3

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đấu hoặc áp dụng thử 1

5.1.2 Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh

trong trường THCS hiện nay

b Xác định mối liên hệ, xâu chuỗi giữa các câu hỏi với các sự

kiện, hiện tượng trong bài học

6

a Vị trí, ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 10

b Phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 10

c Cách sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 12

Trang 4

6 Những thông tin cần được bảo mật 28

8 Đánh giá lợi ích thu được hoặc có thể thu được 288.1 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo tác giả 288.2 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

“Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”- câu danh ngôn của Xi- xê rông đã chỉ

rõ vai trò, ý nghĩa to lớn của lịch sử trong cuộc sống con người Những kinhnghiệm sản xuất, chiến đấu, bảo vệ và xây dựng đất nước đều được rút ra từ thựctiễn lịch sử của mỗi dân tộc

Nhưng những nhận thức, quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của khoa họclịch sử và môn lịch sử trong đời sống xã hội, trong giáo dục đã dẫn tới phươngpháp nghiên cứu, học tập không đúng làm giảm sút chất lượng của bộ môn trênnhiều mặt.Tình trạng học sinh không biết những sự kiện lịch sử cơ bản, phổ thông,nhớ sai hoặc nhầm lẫn kiến thức là hiện tượng khá phổ biến ở nhiều trường học nóichung và trường THCS nói riêng

Dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung, lịch sử THCS nói riêng, họcsinh phải nắm vững các sự kiện, các mốc thời gian, phải biết so sánh các sự kiện,

… từ đó có cái nhìn khái quát quá trình lịch sử mà mình đã học

Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, việc phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn đang là mối quan tâm hàngđầu Riêng với bộ môn lịch sử, người giáo viên cũng không ngừng tìm kiếm, vậndụng các biện pháp để phát huy vai trò chủ thể của học sinh, nâng cao chất lượnggiáo dục

Trong quá trình dạy học lịch sử tại Trường THCS tôi đã không ngừng đi sâuvào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của các em học sinh để cóbiện pháp khắc phục cũng như tìm tòi, vận dụng nhiều biện pháp khác nhau vàoviệc hướng dẫn học sinh khám phá những tri thức mới Từ đó nâng cao hiệu quảdạy học bộ môn lịch sử

Trải qua nhiều năm liên tục giảng dạy lịch sử tôi đã tích lũy được cho mình rấtnhiều kinh nghiệm dạy học về phương pháp và kĩ năng để phát huy tính tích cựccủa học sinh cũng như nâng cao chất lượng bộ môn

2 Tên sáng kiến: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử

THCS”

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử THCS

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 1/9/2016

5 Mô tả bản chất của sáng kiến:

Trang 7

5.1 NỘI DUNG

5.1.1 Cơ sở lý luận.

Hiện nay có nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về vấn đề phát huy tính tíchcực của học sinh trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng.Việc xây dựng

cơ sở lí luận là điều quan trọng trong thực tiễn dạy học bộ môn

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đối với học sinh THCS mục tiêu giáo dục đặt

ra ở đây là các em phải nắm được những kiến thức cơ bản nhất lịch sử dân tộccũng như lịch sử thế giới được xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9.Các em phải được rènluyện ở mức độ cao hơn khả năng tự học, tự nhận thức và hành động cũng như cónhững tìm tòi trong tư duy, sáng taọ

So sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học nhằm phát huytính tích cực của học sinh chúng ta thấy rõ những điều khác biệt cơ bản

Có thể so sánh đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học mới như sau:

Tiêu chí so

sánh Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học mới

Quan niệm

Học là qúa trình tiếp thu và lĩnh

hội, qua đó hình thành kiến

thức, kĩ năng, tư tưởng, tìnhcảm

Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát

hiện, luyện tập, khai thác và xử

lý thông tin,… tự hình thành

hiểu biết, năng lực và phẩm chất.

Bản chất

Truyền thụ tri thức, truyền thụ

và chứng minh chân lí của giáo

năng, kĩ xảo Học để đối phó

với thi cử Sau khi thi xong

những điều đã học thường bị bỏquên hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng

lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao

động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu

của cuộc sống hiện tại và tương

lai Những điều đã học cầnthiết, bổ ích cho bản thân họcsinh và cho sự phát triển xã hội.Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau:

Trang 8

SGK, GV, các tài liệu khoa họcphù hợp, thí nghiệm, bảo tàng,thực tế… gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm vànhu cầu của HS

- Tình huống thực tế, bối cảnh

và môi trường địa phương

- Những vấn đề học sinh quantâm

Phương pháp Các phương pháp diễn giảng,truyền thụ kiến thức một chiều.

Các phương pháp tìm tòi, điều

tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác.

Như vậy qua so sánh hai kiểu dạy học trên thì ta thấy phương pháp phát huytính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.Tuy nhiên nó đòi hỏi giáoviên và học sinh phải được “tích cực hoá” trong quá trình dạy - học, phải chủ độngsáng tạo Cần phải tiếp thu những điểm cơ bản có tính nguyên tắc của cách dạytruyền thống song phải luôn luôn đổi mới, làm một cuộc cách mạng trong ngườidạy và người học để khắc phục sự bảo thủ, thụ động như : Giáo viên chỉ chuẩn bịgiảng những điều học sinh dễ nhớ, học sinh chỉ chú trọng ghi lời giảng của giáoviên và kiến thức trong sách để trình bày lại khi kiểm tra

5.1.2 Thực trạng của việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong trường THCS hiện nay.

Trong vài năm gần đây, bộ môn lịch sử nói chung và môn lịch sử nói riêngtrong trường THCS đã được chú trọng hơn trước Điều đó được thể hiện ở chỗ mônlịch sử được xếp ngang hàng với các môn khác như Vật lí, Hoá học,… được tổchức thi tuyển học sinh giỏi các cấp được cung cấp thêm các trang thiết bị và tàiliệu tham khảo phục vụ cho việc daỵ và học Tuy nhiên qua nhiều năm giảng dạy

bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy học môn lịch sử hiện nay vẫn còn giặp rất nhiềukhó khăn, trở ngại nhất là việc phát huy tính tích cực của học sinh tuy đã được phổ

Trang 9

biến, học tập bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ nhưng kết quả đạt được khôngđáng là bao Điều đó đã dẫn đến chất lượng bộ môn đối với học sinh khi ra trường

là không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và mục tiêu đào tạo đặt ra.Thực trạng của vấn đề này có thể giải thích ở những nguyên nhân cơ bản sauđây:

Thứ nhất là vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng môn Lịch sử cũngnhư địa lí, kĩ thuật, thể dục, giáo dục công dân,… đều là những môn phụ Điều nàyđược thể hiện việc quan tâm đến chất lượng bộ môn từ cấp lãnh đạo chưa đúngmức Theo tìm hiểu của cá nhân tôi nhiều trường không có giáo viên chuyên sử màgiáo viên dạy ngữ văn, địa lí … có thể dạy sử do đó không đáp ứng yêu cầu của bộmôn đặc biệt trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai là về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu tưnhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay Tình trạng dạy chay vẫn cònkhá phổ biến Trong suốt quá trình học bộ môn từ lớp 6 đến lớp 9 cả thầy và trò ít

có điều kiện tham quan một di tích lịch sử vì không có kinh phí Điều đó làm chovốn kiến thức kiến thức của các em chỉ bó gọn trong sách vở và bài giảng

Nguyên nhân thứ ba là việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh tronghọc tập bộ môn lịch sử còn nhiều hạn chế một phần là do những quy định từ cấptrên Trong những năm trở lại đây môn lịch sử được quan tâm nhiều hơn, đồ dùng,tài liệu học tập được cung cắp đầy đủ hơn nhưng do nhu cầu của xã hội nên họcsinh ít thích học môn lịch sử

Cuối cùng điều quan trọng là ý thức trách nhiệm của mỗi giáo viên Sự nguyhại của việc “thi gì học nấy” làm cho học vấn của học sinh bị què quặt, thiếu toàndiện Tình trạng mù lịch sử hiện nay ở không ít học sinh là hậu quả tất yếu của việchọc lệch, không toàn diện

* Kết quả khi chưa thực hiện đề tài

- Theo kết quả điều tra ở các lớp……… Trường THCS …………

+ Kết quả điều tra về thái độ của học sinh đối với việc học lịch sử

Trang 10

+ Kết quả xếp loại bài kiểm tra.

Sau đây tôi xin đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong môn học:

5.1.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi

Trang 11

Sử dụng câu hỏi trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là mộttrong những biện pháp quan trọng, rất có ưu thế để phát triển tư duy cho học sinh.Trong thực tế dạy học ở trường THCS nhiều giáo viên đã có kinh nghiệm và thànhcông trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi.

Nhìn chung để sử dụng tốt các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cầnlưu ý mấy điểm sau:

a Nêu câu hỏi đặt vấn đề.

* Đối với giáo viên:

- Trước khi bước vào bài mới, giáo viên nên nêu ngay câu hỏi định hướngnhận thức cho học sinh Các câu hỏi nêu vấn đề đưa ra vào đầu giờ nhằm độngviên sự chú ý, huy động các năng lực nhận thức của học sinh vào việc theo dõi bàigiảng để tìm câu trả lời Những câu hỏi này là những vấn đề cơ bản của bài học màhọc sinh phải nắm Đương nhiên, khi đặt câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lờingay mà chỉ sau khi giáo viên đã cung cấp đầy đủ sự kiện thì học sinh mới trả lờiđược

Ví dụ:

Khi dạy bài 7: Các nước Mĩ La tinh (lịch sử lớp 9 sách giáo khoa trang 29)

để phần chuyển ý sang mục II gây được sự chú ý cho học sinh chúng ta có thể nói:Trong cơn bảo táp của cách mạng Mĩ La tinh thì hình ảnh đất nước Cu Ba đẹp nhưmột dãi lụa đào, đang bay lên giữa màu xanh của trời biển Ca ri bê với nắng vàngrực rỡ, đó chính là Cu Ba hòn đảo của tự do – hòn đảo anh hùng Vậy hòn đảo anhhùng này đã tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như thế nào và công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Cu Ba đạt được kết quả gì? Chúng ta chuyển sangmục II “Cu Ba - Hòn đảo anh hùng”

- Trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn tuân thủ trình tự cấu tạo của sáchgiáo khoa, song cần khai thác nhấn mạnh, giúp học sinh trả lời câu hỏi nêu trên.Học sinh trả lời được câu hỏi này tức là đã nắm và hiểu được kiến thức chủ yếucủa bài

* Đối với học sinh:

Câu hỏi loại này thường là câu hỏi có tính chất bài tập muốn trả lời phải huyđộng kiến thức cơ bản của toàn bài Chính vì vậy học sinh phải chuẩn bị bài và trảlời trước các câu hỏi cuối mục ở nhà, chú ý, tập trung cao độ theo dõi bài giảng,chọn lọc sự kiện và trình bày trên lớp

b Xác định mối liên hệ, xâu chuổi giữa câu hỏi với các sự kiện, hiện tượng trong bài học.

Trang 12

Một trong những biện pháp sư phạm là xác lập mối liên hệ giữa câu hỏi các

sự kiện, hiện tượng lịch sử trong bài

Ví dụ 3: Bài 30: Phong trào yêu nước nhống Pháp từ đầu thế kỷ XX đến

năm 1918, chương trình lớp 8

Vì sao các phong trào yêu nước trong giai đoạn này đều thất bại? Sự thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra yêu cầu gì cho cách mạng Việt Nam?

Đây là một dạng câu hỏi khó, để trả lời câu hỏi, học sinh phải tư duy cao,phải biết xâu chuỗi những kiến thức đã học để tìm ra nguyên nhân thất bại củaphong trào yêu nước kỷ XX, đồng thời phải nhận thức được yêu cầu cấp bách củacách mạng Việt Nam

+ Nguyên nhân thất bại: do con đường cứu nước theo khuynh hướng dânchủ tư sản không đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, không đưa ra đượcmục tiêu, nội dung và phương pháp cứu nước đúng đắn

+ Yêu cầu đặt ra cho cách mạng Việt Nam: cần phải có một giai cấp tiên tiếnnắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Phải có một đường lối, phương pháp cứu nướcđúng đắn

- Đây là một cách để giáo viên chuyển ý, giới thiệu Trước yêu cầu của Lịch

sử, ngày 5-6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìmđường cứu nước

c Xây dựng hệ thống câu hỏi ở trên lớp.

Ngoài câu hỏi có tính chất bài tập mà giáo viên nêu ra đầu giờ học trong quátrình giảng dạy, giáo viên còn phải biết đặt ra nhiều câu hỏi và giúp học sinh giảiquyết các câu hỏi đó Một hệ thống câu hỏi tốt nêu ra trong giảng dạy phải phù hợpvới khả năng của các em, kích thích tư duy phát triển, đồng thời còn tạo ra mốiquan hệ bên trong của học sinh và giữa học sinh với giáo viên

Trong sách giáo khoa thường sau mỗi mục, mỗi bài có từ 1 đến 3 câu hỏi.Những câu hỏi này là cơ sở để giáo viên xác định kiến thức trong sách, đồng thơi

bổ sung để xây dựng hệ thông câu hỏi của bài Câu hỏi phải có sự chuẩn bị khisoạn giáo án, phải có dự kiến nêu ra lúc nào? Học sinh sẽ trả lời như thế nào? Đáp

án trả lời ra sao?

Một đặc trưng của phương pháp mới mà giáo viên dạy ở trường THCS nóichung và bộ môn lịch sử nói riêng thường áp dụng trong giảng dạy và thu được kếtquả cao là phương pháp nêu câu hỏi thảo luận nhóm Ưu điểm của việc nêu câu hỏi

là để học sinh tự học phát huy tính tích cực tư duy của mình, kết hợp với bạn bè,tranh luận cùng nhau tt́m kiến thức cho bài học

Một số loại câu hỏi thường sử dụng trên lớp:

Trang 13

* Loại câu hỏi về sự phát sinh các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chúng ta thường hỏi về nguyên nhân, bối cảnh hay hoàn cảnh lịch sử của sự kiện, hiện tượng lịch sử và thường áp dụng cho đối tượng học sinh yếu kém.

Ví dụ:

Bài 6: Các nước châu Phi (lịch sử lớp 9)

Sau khi dạy bài này giáo viên cần nêu câu hỏi để học sinh học sinh thảoluận:

Hiện nay các nuớc châu phi đang gặp những khó khăn gì trong công cuộcphát triển kinh tế, xã hội đất nuớc?

Qua phần các em sẽ cùng nhau tìm tòi tranh luận đúc kết lại những khó khăn

mà các nuớc châu phi hiện nay phải đứng đầu đó là:

- Xung đột, sắc tộc, tôn giáo

- Đói nghèo, bệnh dịch,…

- Nợ nuớc ngoài,…

* Loại câu hỏi về quá trình, diễn biến, phát triển của sự kiện hiện tượng lịch

sử như diễn biến của các cuộc khỡi nghĩa, diễn biến các cuộc cách mạng.

* Câu hỏi nêu lên đặc trưng bản chất của các hiện tượng lịch sử, bao gồm

sự đánh giá và thái độ của học sinh đối với các hiện tượng lịch sử ấy Loại câu hỏi này thường dùng cho học sinh khá giỏi khi thảo luận để bổ trợ kiến thức cho các đối tượng yếu kém.

Ví dụ:

Tại sao nói từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầuhàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược (bài 25, lịch sử lớp 8,trang 124)

Khi dạy bài 23: Tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng 8 năm 1945

Câu hỏi nhận thức: Tại sao khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng taquyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc?

Trang 14

Câu hỏi gợi mở: Chủ trương khởi nghĩa vũ trang đề ra trong hội nghị TW lầnthứ VIII ( tháng 5- 1941) là gì? Các yếu tố nào (về thời cơ cách mạng) đã xuất hiệnđầy đủ ở nước ta lúc bấy giờ chưa?

* Loại câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý nghĩa lịch sử của sự kiện với dạng câu hỏi này cũng dùng cho đối tượng hoạ sinh yếu kém để các em tự phát hiện và chiếm lĩnh được kiến thức cơ bản và giúp các em hoạt động liên tục trong quá trình học tập.

Ví dụ:

Khi học bài 29: Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước 1973)” (lịch sử 9, trang 142) có câu hỏi: Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và

(1965-“chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở Miền Nam có điểm gì giống nhau và khác nhau?

Khi dạy bài 9: Nhật Bản (lịch sử 9, trang 36) có câu hỏi so sánh sự giốngnhau và khác nhau trong chính sách đối ngoại của Mĩ và Nhật Bản sau chiến tranhthế giới lần thứ hai

Tóm lại: Các loại câu hỏi nêu trên tạo thành một hệ thống câu hỏi hoàn

chỉnh, giúp cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân,diễn biến, kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hay một quá trình lịch sử Những câuhỏi đó giáo viên vận dụng nhuần nhuyễn trong các tiết dạy không chỉ cho các embiết được các sự kiện mà đi sâu hiểu bản chất của sự kiện, nó không chỉ đòi hỏi họcsinh nhớ các sự kiện lịch sử cơ bản mà phải suy nghĩ nhận thức sâu sắc bản chấtcủa sự kiện lịch sử Để sử dụng tốt hệ thống các câu hỏi trong quá trình dạy học

chúng ta cần lưu ý mấy điểm sau:

Trang 15

- Câu hỏi phải bám sát nội dung cơ bản chương trình học, có nội dung chínhxác, rõ ràng, dễ hiểu.

- Câu hỏi có thể dùng cho từng mục, toàn bài, chương hoặc những nội dunglớn có liên quan chặt chẽ giữa các bài

- Câu hỏi phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, đồng thời phát huyđược tư duy học sinh, rèn luyện kỹ năng học tập của học sinh

- Câu hỏi phải vừa sức, đúng đối tượng, không quá khó hoặc quá dễ

- Mỗi giờ học chỉ nên sử dụng từ 5 đến 7 câu hỏi Sau mỗi chương có câuhỏi bài tập

- Triệt để khai thác các câu hỏi trong SGK kết hợp với câu hỏi sáng tạo

5.1.3.2 Sử dụng đồ dùng trực quan

a Vị trí, ý nghĩa của đồ dựng trực quan

Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, làphương tiện rất có giá trị để hình thành các khái niệm lịch sử giúp cho học sinhnắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội

Đồ dùng trực quan có vai trò rất to lớn giúp học sinh nhớ kỹ, nhớ lâu, hiểusâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắctrong trí nhớ đó là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy nhìnvào bất cứ đồ dùng trực quan nào học sinh cũng phải nhận xét, phán đoán, hìnhdung quá khứ lịch sử được phản ánh,minh hoạ như thế nào Học sinh suy nghĩ, tìmcách diễn đạt bằng lời, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể hoá bức tranh xã hội đó

Đồ dùng trực quan có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm xúc, thẩm mỹ cho họcsinh Ví dụ: xem cuốn phim tài liệu về chiến thắng của Hồng quân Liên Xô trongchiến tranh thế giới hai, học sinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu mếnkhâm phục nhân dân Liên Xô và các chiến sĩ Hồng quân, quý trọng nhân dân, cămthù bọn phát xít và chiến tranh

Với tất cả ý nghĩa nêu trên, đồ dùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chấtlượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh Nó là chiếc cầu nối giữaquá khứ và hiện tại

b Phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.

Có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trườngphổ thông Xong về cơ bản chúng ta có thể chia chúng thành 3 nhóm lớn:

Nhóm 1 : Đồ dùng trực quan hiện vật: Bao gồm những di tích lịch sử và cách

mạng (như thành Cổ Loa, hang Pác Bó, ) những di vật khảo cổ và các di vật và

Trang 16

các di vật thuộc thời đại lịch sử như mũi tên đông Cổ Loa, Trống đồng ĐôngSơn ).

Đồ dùng trực quan hiện vật là một loại tài liệu gốc rất có giá trị, có ý nghĩa

to lớn về mặt nhận thức thông qua việc tiếp xúc với những di tích hay những dấuvết còn lại của quá khứ - bằng chứng hiểu, nhớ sự tồn tại thực của mỗi thời kì lịch

sử - học sinh sẽ có những hình ảnh chân thực về quá khứ và từ đó có tư duy lịch sử

Nhóm 2 : Đồ dùng trực quan tạo hình: Bao gồm các loại mô hình, sa bàn,

tranh ảnh lịch sử, Nó có khả năng khôi phục lại hình ảnh của những con người,

đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một cách cụ thể sinh động và xác thực

Nhóm thứ 3: Đồ dùng trực quan quy ước:

Bao gồm các loại, bản đồ lịch sử, đồ thị, sơ đồ, niên biểu loại đồ dùng trựcquan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng

Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông thường sử dụng các loại đồ dùngtrực quan quy ước sau:

* Bản đồ lịch sử: Nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian vàkhông gian xác định Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp học sinh suy nghĩ và giảithích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả và quá trình phát triển lịch sử,giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học Về hình thức, bản đồ lịch sửkhông cần có những ký hiệu về biên giới các quốc gia, sự phân bố dân sự, thànhphố, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cố quan trọng (các cuộc khởinghĩa, cách mạng, chiến dịch ) mà cần có những ký hiệu về biên giới các quốcgia, sự phân bố dân cư, thành phố, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cốquan trọng (các cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến dịch ) Các minh họa trên bản

đồ phải được trình bày chính xác, đẹp, rõ ràng

* Niên biểu: Hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồngthời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trongmột thời kỳ Để đạt thể niên biểu có thể chia làm 2 loại:

- Niên biểu tổng hợp: Là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra sau một thờigian dài

- Niên biểu chuyên đề: Đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổibật nào đấy của một thời kỳ lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu được bảnchất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ

* Đồ thị: Dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiệnlịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê bài học Đồ thị có thể biểu diễnbằng một mũi tên để minh họa sự vận động đi lên, sự phát triển của một hiện tượnglịch sử hoặc biểu diễn trên các trục hoành (ghi thời gian) và trục tung (ghi sự kiện)

Ngày đăng: 02/05/2018, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w