1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại thành phố lạng sơn tỉnh lạng sơn

66 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 534,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Em được giới thiệu về thực tập tốt nghiệp tại Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng về đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo : Chính quy

Khoa : Môi trường Khóa học : 2013 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trương Thị Ánh Tuyết

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Em được giới thiệu về thực tập tốt nghiệp tại Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng về

đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại Thành phố Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn”

Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo khoa Môi trường Đặc biệt

em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Trương Thị Ánh Tuyết -

Giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn cho em đề em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp của trung tâm quan trácthành phố Lạng Sơn, gia đình và các bạn… đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá tình thực hiện đề tài

Vì thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên báo cáo thực tập tốt nghiệp không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến quá báu của thầy, cô giáo và các bạn để đề tài em được hoàn

thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Lạng Sơn, ngày tháng năm 2014

Sinh Viên Nguyễn Xuân Kỳ

Trang 3

PHầN 1:MỞ ĐẦU 7

1.1 Đặt vấn đề 7

1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa 8

1.2.1 Mục đích 8

1.2.2 Yêu cầu 8

1.2.3 Ý nghĩa 8

PHầN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

2.1 CƠ Sở KHOA HọC CủA Đề TÀI 9

2.1.1 CƠ Sở PHÁP LÝ 9

2.1.2 CƠ Sở LÝ LUậN 9

2.1.2.1 Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt 10

2.1.2.2 Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp 11

2.1.2.3 Ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp 11

2.1.3 CƠ Sở THựC TIễN 12

2.1.3.1 VAI TRÒ CủA NƯớC ĐốI VớI CƠ THể 12

2.1.3.2 Vai trò của nước đối với đời sống và sản xuất 12

2.2 TổNG QUAN Về NƯớC TRÊN THế GIớI VÀ TạI VIệT NAM 13

2.2.1 TÀI NGUYÊN NƯớC TRÊN THế GIớI 13

BảNG 2.1:Sự PHÂN Bố NƯớC TRÊN TRÁI ĐấT 14

2.2.2 TÀI NGUYÊN NƯớC TạI VIệT NAM 15

2.2.2.1.TÌNH HÌNH Sử DụNG TÀI NGUYÊN NƯớC ở VIệT NAM 15

2.2.2.2.HIệN TRạNG CHấT LƯợNG NƯớC SINH HOạT ở VIệT NAM 18

2.2.2.3.MộT Số VÙNG Ô NHIễM TÀI NGUYÊN NƯớC Bị Ô NHIễM ở VIệT NAM VÀ GIảI PHÁP KHÁC PHụC 20

2.2.2.4.MộT Số BệNH THƯờNG MắC PHảI DO Sử DụNG NGUồN NƯớC Bị Ô NHIễM ở VIệT NAM 22

2.3 TÀI NGUYÊN NƯớC TRÊN ĐịA BÀN TỉNH LạNG SƠN 24

Trang 4

2.3.1 TổNG QUAN Về TÀI NGUYÊN NƯớC TỉNH LạNG SƠN 24

2.3.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 24

PHầN 3ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1.ĐốI TƯợNG VÀ PHạM VI NGHIÊN CứU 26

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 26

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.2.1 Địa điểm: 26

3.2.2 Thời gian tiến hành: 26

3.3.NộI DUNG NGHIÊN CứU 26

3.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại thành phố Lạng Sơn 26

3.3.2.Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn 26

3.3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt thành phố Lạng Sơn 26

3.3.4 Ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt 27

3.3.5 Giải pháp 27

3.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU 27

3.4.1 PHƯƠNG PHÁP THU THậP TÀI LIệU, Số LIệU 27

3.4.2 PHƯƠNG PHÁP LấY MẫU (THEO QCVN 08/2008) 27

3.4.3 PHƯƠNG PHÁP THốNG KÊ VÀ Xử LÝ Số LIệU 27

3.4.4 PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ 27

3.4.5 Phương pháp kế thừa 28

3.4.6 Phương pháp điều tra phỏng vấn 28

3.4.7 Phương pháp lấy mẫu phân tích 29

PHầN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1.ĐIềU KIệN Tự NHIÊN, KINH Tế - XÃ HộI TRÊN ĐịA BÀN THÀNH PHố LạNG SƠN 30

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

4.1.1.2 Địa hình 31

4.1.2.ĐặC ĐIểM, KHÍ HậU, THUỷ VĂN 31

Trang 5

4.1.2.1 Đặc điểm khí hậu: 31

4.1.2.2 Thủy văn 33

4.2.ĐặC ĐIểM DÂN SINH KINH Tế - XÃ HộI 33

4.2.1 Đặc điểm dân số 33

4.2.1.1 Dân số 34

4.2.1.2 Dân tộc 34

4.3.ĐIềU KIệN KINH Tế - XÃ HộI 35

4.3.1 Thực trạng phát triển kinh tế 35

4.3.2 Tăng trưởng kinh tế 35

4.3.3 Tình hình phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản 36

4.3.3.1 Nông, lâm nghiệp 36

4.3.3.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 37

4.3.3.3 Dịch vụ - thương mại 37

4.3.3.4 Các lĩnh vực về cơ sở hạ tầng 37

4.3.3.5 Các lĩnh vực xã hội 38

4.4.TÌNH HÌNH Sử DụNG NƯớC SINH HOạT TạI THÀNH PHố LạNG SƠN 39

4.4.1 Tình hình cung cấp nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn 39

4.4.2 Các loại hình cung cấp nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn 40

4.2.2.1.NƯớC GIếNG 40

BảNG 4.4.HIệN TRạNG Sử DụNG NƯớC SINH HOạT THEO LOạI HÌNH NƯớC GIếNG CủA THÀNH PHố LạNG SƠN 41

4.2.2.2.NƯớC SÔNG, Hồ, SUốI Tự NHIÊN 41

4.2.2.3 N ƯớC MÁY 43

BảNG 4.6.HIệN TRạNG Sử DụNG NƯớC SINH HOạT THEO LOạI HÌNH NƯớC MÁY CủA THÀNH PHố LạNG SƠN 43

4.4.3 Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn 43

4.4.3.1 Nước giếng 43

4.4.3.2 Nước suối, sông, hồ trên địa bàn thành phố 45

4.4.3.3 Nước máy 48

4.4.4 Ý KIếN CủA NGƯờI DÂN Về CHấT LƯợNG NƯớC SINH HOạT 50

4.4.5 M ộT Số GIảI PHÁP CUNG CấP NƯớC SạCH TạI THÀNH PHố L ạNG S ƠN 51

4.4.5.1 Đẩy mạnh công tác thông tin - giáo dục - tuyên truyền một cách rộng rãi và thường xuyên 51

Trang 6

4.4.5.2 Vốn đầu tư 53

4.4.4.2.1 Vốn từ ngân sách nhà nước 53

4.4.5.2.2 Nguồn vốn của dân 53

4.4.5.3 Kỹ thuật công nghệ 54

4.4.5.3.1 Phục hồi, nâng cấp, cải tạo và duy trì hoạt động các công trình cấp nước hiện có 54

4.4.5.3.2 Áp dụng công nghệ thích hợp trên cơ sở ưu tiên các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trong việc cấp nước 54

4.4.5.4 Chính sách 56

4.4.5.4.1.Công tác đào tạo nhân lực 56

4.4.5.4.2.Chính sách xã hội 57

4.4.5.4.3.Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình 57

4.4.6.5 Công tác quản lý 57

4.4.6.6 Công tác quy hoạch cấp nước sinh hoạt nông thôn 58

PHầN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1.KếT LUậN 59

5.2.Đề NGHị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 63

Trang 7

Ủy ban nhân dân

DANH MỤC CÁC BIỂU

Trang

Trang 8

Nước sinh hoạt là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống con người, từ lâu trong đấu tranh sinh tồn và phát triển, người dân nông thôn Việt Nam nói chung và người dân thành phố Lạng Sơn nói riêng đã khai thác các nguồn nước

và hình thức cấp nước thô sơ để phục vụ cuộc sống và tầm quan trọng của nước sinh hoạt đối với sức khỏe con người, nên việc khai thác cũng như sử dụng các nguồn nước phục vụ nhu cấu ăn uống, sinh hoạt, duy trì và phát triển cuộc sống còn hạn chế

Hiện nay, cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các tổ chức kinh tế xã hội trong nước, nước ta đang từng bước giải quyết vấn đề nước sạch cho người dân Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa triệt để, nhu cầu được hưởng nước sạch vấn còn là điều mơ ước của người dân, đặc biệt là đối với người dân

ở khu vực vùng sâu, vùng xa, khu vực miền núi

Với đặc thù là tỉnh miền núi, thành phố Lạng Sơn đang gặp phải những vẫn đề khó khăn trong việc cung cấp nước sạch sinh hoạt Người dân tại thành phố Lạng Sơn sử dụng nguồn nước chủ yếu từ khe, giếng khơi, nước máy Tuy nhiên trong những năm gần đây, do ý thức của người dân và công tác quản lý còn kém, do vậy nguồn nước tại địa bàn thành phố bị suy giảm cả về số lượng

và chất lượng không đảm bảo cho sinh hoạt Chất lượng nước bị suy giảm đến mức có một số nguồn như nước sông không thể sử dụng để làm nước sinh hoạt

do bị ô nhiễm

Trang 9

Đứng trước thực tế trên và do nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa bàn thành phố, việc tìm ra một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt đạt tiêu chuẩn trở nên cấp thiết

Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Tài

Nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Trương Thị Ánh Tuyết giảng viên khoa Tài Nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn”

1.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt thành phố Lạng Sơn

- Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn

- Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân địa phương

- Củng cố lý thuyết, kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập

- Đánh giá vấn đề thực tế về hiện trạng môi trường nước sinh hoạt, công tác cung cấp nước sinh hoạt của thành phố Lạng Sơn

- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở pháp lý

- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015

- Luật số 17/2012/QH13 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về tài nguyên nước

- Nghị định số 201/2013/NĐ – CP của Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm

2013 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Nghị định 142/2013/NĐ – CP ngày 24 tháng10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

- Thông tư số 27/2014/TT – BTNMT ngày 30 tháng 05 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thực hiện Nghị định 201/2013/NĐ –

CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Nghị định số 102/2008/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2008 của Chính

phủ “ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin

về tài nguyên nước”

- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 của Chính phủ “Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước”

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 “Về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/08 năm 2006 của Chính phủ về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường nước

2.1.2 Cơ sở lý luận

Trang 11

Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: Dựa vào nguồn gốc ô nhiễm gồm

ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt Dựa vào môi trường nước

có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương Dựa vào tính chất của ô nhiễm gồm ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: Dựa vào nguồn gốc ô nhiễm gồm ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt Dựa vào môi trường nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương Dựa vào tính chất của ô nhiễm gồm ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý

* Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm do các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường…

* Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất Nitrat, phosphate dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Mn, Cu, Hg

* Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Do hydrôcacbon, nông dược, chất tẩy rửa…

* Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng

2.1.2.1 Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt

Mỗi ngày có một lượng lớn rác thải sinh hoạt ra môi trường mà không qua xử lý, bên cạnh đó do dân số ngày càng tăng dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng Tính từ 1970 - 1990 dân số thế giới đã tăng hơn 40% tương đương với 1,6 tỷ người, mỗi năm dân số thế giới tăng 120 triệu người

Ở Việt Nam mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào hàng thứ

12 trong số các quốc gia có dân số đông nhất thế giới Trong vòng 70 năm gần đây (1921 - 1992), dân số nước ta tăng gần 4 lần, từ 15,5 triệu lên 70 triệu Với mức tăng dân số như hiện nay 2%, mỗi năm tăng 1.4 triệu người và dự báo đến

2015 sẽ là 100 triệu người Dân số tăng, nhu cầu dùng nước cho mọi sinh hoạt

Trang 12

và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn chất thải tăng lên, sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên

Hầu hết các sông hồ ở thành phố lớn như Hà Nội, thành Phố Hồ Chí Minh nơi có dân cư đông đúc, nhiều các khu công nghiệp lớn, đều bị ô nhiễm nặng, phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3/ngày, với khoảng

250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) đều không được xử lý mà

đổ thẳng vào các ao, hồ sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng Châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông Ngoài ra, một số cơ sở sản xuất như các lò mổ và ngay

cả bệnh viện (khoảng 7000m3/ ngày và chỉ có 30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải Do đó nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội đã bị ô nhiễm nặng

Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỷ lệ người chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nướcnhư viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày càng tăng lên Ngoài ra tỷ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước là rất cao

2.1.2.2 Ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp

Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng phát triển kéo theo hàng loạt các khu công nghiệp được thành lập Do vậy, lượng rác thải do các hoạt động công nghiệp ngày càng nhiều và chưa được xử lý triệt để, ví dụ: tại các khu vực Hà Nội mỗi ngày có khoảng 260.000m3 rác thải công nghiệp và chỉ có 10% được xử lý đều được đổ trực tiếp ra các con sông vùng Châu thổ Sông Hồng và sông Mê Kông

Ngoài ra, các khu công nghiệp Hải Phòng, Việt Trì thải ra lượng lớn rác thải gây ô nhiễm nguồn nước nặng nề

2.1.2.3 Ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp

Các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc trừ

cỏ, thuốc trừ sâu gây ô nhiễm nguồn nước Theo ông Descleary cố vấn trưởng

về dự án hỗ trợ kỹ thuật đánh giá nguồn nước Việt Nam cho biét: hiện nay ao

hồ và kênh rạch đang trở thành các khu chứa nước thải và kênh tiêu: hồ tự nhiên

và kênh rạch ở các khu đô thị đang bị ô nhiễm một cáchtrầm trọng Đăc biệt ô nhiễm nước do việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đến mức báo động Ngoài ra, ô nhiễm nguồn nước còn do một số nguyên nhân khác như: thiên tai, sự cố tràn dầu…

Trang 13

2.1.3 Cơ Sở thực tiễn

2.1.3.1 Vai trò của nước đối với cơ thể

Nhiều người trong chúng ta lầm tưởng không được ăn thì sẽ chết nhưng nếu thiếu nước không thể chết, đó là một sai lầm Đối với cơ thể nước còn quan trọng hơn cả chất đạm, chất béo, chất đường và muối khoáng Nếu một người không ăn gì cả, chỉ uống nước thôi sẽ có thể sống được hai tháng nhưng nếu không uống nước chỉ sống được không quá 1 tuần

Trong cơ thể con người, chất lỏng chiếm tỷ trọng nhiều nhất, khoảng 60 - 70% thể trọng Chất lỏng trong cơ thể như máu, tuyến dịch limpa… là do nước

và một số chất khác tạo nên, đã trở thành những dòng sông, kênh rạch vận chuyển chất dinh dưỡng đến từng bộ phận của cơ thể Nước tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp con người hấp thụ chất dinh dưỡng cũng như tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất Nước đóng vai trò quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các dinh dưỡng được đưa vào trong cơ thể Sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước, nước còn giúp các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp Nước còn được gọi là dầu bôi trơn của các khớp xương trong cơ thể, là một chất hoãn xung của hệ thống thần kinh Vì vậy nước uống không chỉ đơn thuần là giải khát Hàng ngày, nếu lượng nước nạp vào cơ thể không đủ, hoặc bị mất nước do các nguyên nhân như tiêu chảy, nôn mửa, sốt cao, xuất huyết… sẽ sinh ra chủng mất nước Khi ấy cơ quan cảm thụ sẽ chuyển đi chất kích thích, tác động vào

“trung khu” khát nước của khu não dưới làm cho người ta có cảm giác khát nước, cơ thể mất nhiều nước sẽ gây ra tình trạng bứt rứt, không yên, kém ăn dẫn đến tay chân tê dại, thở dốc, tim đập nhanh, thân nhiệt tăng cao, thậm chí cơ bắp

co giật Khi bị mất nước đến một mức độ nhất định có thể gây ra tử vong (mất nước 5% có thể hôn mê, mất nước 10 - 15% có thể tử vong) Nước được coi là một phần tất yếu của sự sống

2.1.3.2 Vai trò của nước đối với đời sống và sản xuất

- Đối với đời sống sinh hoạt: Nước được sử dụng cho nhu cầu ăn uống tắm giặt, hoạt động vui chơi giải trí

Trang 14

- Đối với công nghiệp: Nước được sử dụng trong các khâu của qua trình sản xuất như công nghiệp sản xuất giấy, công nghiệp hóa chất và kim loại, xử lý rác thải

- Đối với hoạt động nông nghiệp: Trồng lúa, hoa màu… nước là yếu tố không thể thiếu Dân gian có câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

- Nước có vai trò đối với các hoạt động nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, giao thông vận tải, thủy điện

2.2 Tổng quan về nước trên thế giới và tại Việt Nam

2.2.1 Tài nguyên nước trên thế giới

Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau : trên mặt đất, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng: lỏng (nước song suối, ao hồ, biển), khí (hơi nước), và rắn (băng, tuyêt)

Lượng nước trong thủy quyển theo UNESCO công bố là 1386.106km3 Trong đó nước ngọt là 35.106 km3 chiếm 2,5%, nước mặn là 1351.106 km3 chiếm 97,5% tổng lượng nước trong thủy quyển

Trong thành phần nước ngọt thì dạng rắn chiếm 24,3.106km3 (69,4%), dạng lỏng là 10,7.106km3 (30,6%) Trong thành phần nước lỏng 10,7.106km3 (100%) thì nước ngầm chiếm đại bộ phận 10,5.106km3 (98,3%); khí quyển 0,020.106km3(0,19%) và sinh quyển 0,011.106km3 (0,10%).(Nguyễn Thanh Sơn, 2007)

Sự phân bố của lượng nước trên trái đất không đều tại các đại dương, biển

và các lục địa:

Trang 15

Bảng 2.1: Sự phân bố nước trên Trái Đất

Vùng phân bố

(Lục địa hay vùng)

Đại Tây Dương

Thái Bình Dương

Lưu vực nội địa

Tổng diện tích của đất

F.10

3

km 3

Dòng chảy

các quần đảo ở biển 3880 180 - - 3880 180 Malayan và các quần

Trang 16

Qua bảng 2.1 ta thấy: Nước trên Trái Đất đổ vào 2 đại dương chủ yếu là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, phần còn lại đi vào các vùng không tiếp giáp với đại dương và với biển Nguồn nước ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ lớn nhất trên Trái Đất này

2.2.2 Tài nguyên nước tại việt nam

2.2.2.1 Tình hình sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam

Tài nguyên nước của Việt Nam rất phong phú, chất lượng khá tốt đảm bảo

đủ cho nhu cầu sử dụng hiện nay, ngoại trừ ở một số đô thị lớn và khu công nghiệp tập trung, nước bị nhiễm bẩn, có nơi bị nhiễm bẩn nặng như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa lượng nước lại phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian Tuỳ theo vùng, mùa cạn ít nước (20 - 30% lượng nước hàng năm) trong đó 3 tháng cạn ổn định chỉ chiếm 5 - 10% lượng nước hàng năm, trong khi có đến 70% nhu cầu nước lại vào mùa cạn Vì vậy hiện nay trong mùa cạn, có nơi, có thời đoạn, ngay những sông lớn cũng không đủ nước cho nhu cầu sử dụng (Bộ TN & MT, 2005)

Tài nguyên nước ở nước ta được sử dụng chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt và thuỷ điện, còn các nhu cầu khác sử dụng chưa nhiều

* Tài nguyên nước sử dụng cho nông nghiệp

Bao gồm việc tưới cho hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, cho chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Hiện nay cả nước có khoảng 80 hệ thống thuỷ nông lớn, vừa và nhỏ; 700 hồ đập lớn và vừa, 1000 cống tưới tiêu và 2000 trạm bơm loại lớn Các công trình thuỷ lợi chủ yếu khai thác tài nguyên nước mặt

Để đảm bảo ổn định và tăng sản lượng lương thực bình quân đầu người, cùng với việc tăng diện tích đất canh tác, diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng

vụ, tăng năng suất thì thuỷ lợi cũng là biện pháp quan trọng đầu tiên dự tính đến năm 2020 diện tích đất trồng lúa nước ta sẽ đạt 6,2 triệu ha (tăng 14% so với năm 2000), nhu cầu nước tương ứng sẽ tăng là 72% (khoảng 370 tỷ m3) Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhu cầu nước uống cho vật nuôi, nước vệ sinh

Trang 17

chuồng trại là rất lớn Dự kiến đến năm 2020 nhu cầu sử dụng nước cho chăn nuôi cũng sẽ tăng khoảng 4 đến 5 lần so với năm 2000

Thuỷ sản nước ngọt là một nguồn lợi lớn của nước ta Hiện nay cả nước có trên 500 nghìn ha nước mặt, hồ chứa sử dụng cho chăn nuôi thuỷ sản Lượng nước sử dụng cho việc nuôi thả, thau rửa ao hồ mỗi năm dự tính khoảng 40.000m3 trên 1 ha Tiềm năng phát triển thuỷ sản nước ngọt của nước ta là rất lớn, hiện nay mới chỉ sử dụng hết khoảng 50% Dự tính diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020 sẽ tăng lên gấp 3 lần so với năm 2000

Ngoài tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước ngầm cũng đã được khai thác

để tưới cho diện tích đất nông nghiệp, cho chăn nuôi ở nhiều vùng Đặc biệt cho việc tưới cao su, cà phê vào mùa khô ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (Bộ TN & MT, 2005)

* Tài nguyên nước sử dụng sản xuất điện

Nước ta có tiềm năng thuỷ điện dồi dào, với hơn 2000 sông suối lớn, nhỏ phân bố trên khắp lãnh thổ Tổng tiềm năng lý thuyết nguồn thuỷ điện nước ta khoảng 308 tỷ Kwh Trữ năng kỹ thuật thuỷ điện trên toàn lãnh thổ Việt Nam là

72 tỷ Kwh với công suất từ 10 MW trở lên, có khoảng 360 vị trí lắp đặt máy, tổng công suất 17.500 MW Ngoài ra chưa kể đến tiềm năng thuỷ điện nhỏ Hiện nay sản lượng điện do thuỷ điện phát hàng năm khoảng 23,8 Kwh chiếm 51% tổng sản lượng điện phát ra của cả nước Hiện nay nhà nước ta có những nhà máy thuỷ điện lớn và vừa: Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Đa Nhim, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Yaly, Đa Mi, Đại Ninh và Sông Hinh… với tổng công suất 18,62 Kwh cấp vào lưới điện quốc gia Ngoài ra còn có 13 công trình đang lập báo cáo khả thi để đưa vào xây dựng trong những năm sắp tới với công suất là 6.229

MW và tổng lượng điện phát là 27,6 tỷ Kwh; 6 công trình đề xuất nghiên cứu với công suất là 1.258 MW và tổng lượng điện phát là 5,54 tỷ Kwh; các trạm

thuỷ điện nhỏ với công suất là 1.000 MW và tổng lượng điện phát là 2 tỷ Kwh

* Tài nguyên nước sử dụng cung cấp cho sản xuất công nghiệp và dân cư

Trang 18

Sử dụng nước cho sinh hoạt được xem xét ở 2 khu vực là thành thị và nông thôn Nước ta có khoảng hơn 600 đô thị các loại và gần 100 khu công nghiệp tập trung với dân số khoảng 19 triệu 900 nghìn người, chiếm 25% dân số cả nước (2013) Tỷ lệ dân số thành thị được sử dụng nước sạch còn thấp mới chỉ đạt 75% Năm 2012, tổng lưu lượng cấp nước của 190 nhà máy là 2,6 triệu m3

/ ngày, trong đó nước ngầm khoảng 30% Định hướng cấp nước đô thị của Bộ Xây dựng dự kiến đến năm 2020 là 8,8 triệu m3/ ngày, đến năm 2020 là 15,94 triệu m3/ ngày Hiện nay, tiêu chuẩn định lượng nước cấp cho dân số đô thị còn thấp (từ 40 - 50 lít/ người/ ngày), lượng nước máy bị thất thoát còn lớn (30 - 40%) do hệ thống hạ tầng cấp nước xây dựng từ lâu, chắp vá, xuống cấp nghiêm trọng và quản lý kém

Ở khu vực nông thôn, nơi có khoảng 75% dân số cả nước sinh sống Trong

số đó mới chỉ có 44% dân số được sử dụng nước sạch cho sinh hoạt, số còn lại phải sử dụng nguồn nước ao, hồ, sông, suối… không đảm bảo vệ sinh

Mặt khác, do sự phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm, giữa các vùng địa lý nên tình trạng khan hiếm nước cục bộ vẫn xảy ra ở các thành phố lớn, các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên vào các tháng mùa khô

Trong tình hình phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ như hiện nay, nhu cầu

sử dụng nước sạch là rất lớn, ước tính vào năm 2020 lượng nước dùng sẽ gấp đôi năm 2000 Hiện nay lượng nước dụng chiếm trên 7% tổng lượng nước mặt Theo khả năng và điều kiện tồn tại tài nguyên nước, tình hình quản lý, khai thác

và sử dụng như hiện nay, tương lai sẽ có nhiều vùng bị thiếu nước nghiêm trọng, có nhiều thành phố đông dân, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là những nơi sản xuất nông nghiệp tập trung, dân cư đông đúc Đó chưa kể đến các vùng thường xuyên thiếu nước trong mùa cạn, do ít mưa và mùa khô kéo dài, khắc nghiệt như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên… Mặt khác, với

xu thế ấm dần lên của trái đất, khí hậu thế giới biến đổi kéo theo những dị thường tác động đến tài nguyên nước, làm cho việc quản lí, khai thác tài nguyên

Trang 19

nước trở lên phức tạp hơn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013)

2.2.2.2 Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt ở Việt Nam

Chất lượng nước sinh hoạt đang là một vấn đề nổi cộm ở Việt Nam Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt kể cả ở đô thị và nhiều vùng nông thôn đã lên mức báo động Hầu hết lượng nước thải sinh hoạt hiện nay thải trực tiếp xuống cống rãnh, ao hồ, đầm không qua xử lý Đặc biệt là nước thải của các bệnh viện, cơ sở y tế, các khu chăn nuôi là những nguồn gây ô nhiễm rất nghiêm trọng Chất lượng nước ở mức báo động do bị ảnh hưởng của nước thải từ các nhà máy công nghiệp, làng nghề, khai thác khoáng sản, nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu làm cho nước các sông

hồ bị tạo thành muối và ô nhiễm Nước ô nhiễm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến

sức khoẻ con người và khả năng cạnh tranh thương mại

Qua kết quả kiểm nghiệm 185 nguồn nước trên địa bàn 16 xã trong cả nước đã thực hiện năm 2013 cho thấy: tỉ lệ nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ đạt 1,1%; tỉ lệ đạt các chỉ tiêu về hóa lý là 58,47% (các tiêu chuẩn thông thường gặp: pH: 27%; Fe: 8,19%; nitrat: 8,19%; Cl: 4,91%) Chỉ tiêu vi sinh vật chỉ đạt 1,1% (trong đó 25,95% ô nhiễm vi sinh vật ở mức độ nhẹ và trung bình; 72,95% ô nhiễm ở mức độ cao

Mức độ ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép đến vài nghìn lần Khảo sát các yếu tố liên quan cho thấy: có 25,1% nguồn nước xây dựng gần nhà tiêu; 65,9% gần chuồng gia súc, hồ nước thải Ngoài ra còn

có các yếu tố gây ô nhiễm như: dụng cụ lấy nước không đảm bảo, bơm hỏng tại các điểm tiếp xúc, nền giếng hỏng… chiếm tỷ lệ khá cao Đối chiếu số liệu thống kê (77,11% nguồn nước hợp vệ sinh) với đánh giá của trung tâm Y tế dự phòng sẽ thấy

độ vênh khá lớn giữa loại nước hợp vệ sinh và loại nước đủ tiêu chuẩn nước sạch (Trần Yêm và cs, 1998)

* Nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại nông thôn chủ yếu

là do:

+ Hố xí không hợp vệ sinh

Trang 20

+ Chuồng trại chăn nuôi gia đình

+ Chất thải do hoạt động nông nghiệp: nạn sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật bừa bãi trong sản xuất nông nghiệp

+ Chất thải từ sinh hoạt gia đình: Chất thải sinh hoạt của con người ngày càng tăng lên mạnh mẽ Hai loại chất thải đáng lo ngại nhất là phân người và rác Chúng chứa nhiều vi trùng gây bệnh nguy hiểm cho con người Trung bình

1 người thải ra 0,3 kg phân và 0,5 kg rác trong ngày Như vậy mỗi ngày, mỗi địa phương thải ra hàng trăm, hàng ngàn tấn phân rác

Đặc biệt mối đe dọa ô nhiễm lớn nhất cho nguồn nước sinh hoạt chính là

ô nhiễm asen Ô nhiễm asen trong nguồn nước ngầm được phát hiện ở vùng châu thổ sông Hồng đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân Ở Việt Nam vào đầu những năm 1990, vấn đề ô nhiễm asen được biết đến qua các nghiên cứu của Viện Địa chất và Liên đoàn Địa chất về đặc điểm địa chất thuỷ văn và đặc điểm phân bố asen trong tự nhiên, các dị thường asen Theo nghiên cứu khảo sát phân tích nước bề mặt và các nguồn nước đổ ra sông Mã ở khu vực Đông - Nam bản Phúng, hàm lượng asen trong các mẫu nước đều vượt quá 0,05mg/l Kết hợp với điều tra của trường Đại học Y Hà Nội cho thấy, sự ô nhiễm này có ảnh hưởng tới sức khỏe dân

cư sống ở khu vực đó

Từ năm 1995 đến 2000, nhiều công trình nghiên cứu điều tra về nguồn gốc asen có trong nước ngầm, mức độ ô nhiễm, chu trình vận chuyển… Đã tìm thấy nồng độ asen trong các mẫu nước ở khu vực thượng lưu sông Mã, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá… đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với nước sinh hoạt của Quốc tế

và của Việt Nam

Trước tình hình đó, trong hơn 2 năm (2011 - 2013), Chính phủ Việt Nam và UNICEF đã khảo sát về nồng độ asen trong nước của 71.000 giếng khoan thuộc 17 tỉnh đồng bằng miền Bắc, Trung, Nam Kết quả phân tích cho thấy, nguồn nước giếng khoan của các tỉnh vùng lưu vực sông Hồng: Hà Nam, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương và các tỉnh An Giang, Đồng

Trang 21

Tháp thuộc lưu vực sông Mê Kông đều bị nhiễm asen rất cao Tỷ lệ các giếng

có nồng độ asen từ 0,1 mg/l đến 0,5 mg/l (cao hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và Tổ chức y tế Thế giới 10 - 50 lần) của các xã dao động từ 59,6 - 80% Từ kết quả phân tích đó, Bộ Y tế tiến hành điều tra, đánh giá sơ bộ về ảnh hưởng độc hại của asen tới sức khoẻ cộng đồng dân cư và phát hiện 13 trường hợp bị bệnh nhiễm độc asen mãn tính ở giai đoạn sớm và các biểu hiện ngoài da như: dày sừng, "nhú sừng", biến đổi sắc tố (tăng, giảm hoặc kết hợp 2 dạng) có những nét đặc trưng của biến đổi ngoài do asen và hàm lượng asen có trong nước tiểu và tóc rất cao Có thể thấy tình trạng ô nhiễm asen trong nguồn nước của các giếng khoan tại các xã là rất nghiêm trọng Tỷ lệ các giếng có nồng độ asen cao > 0,1 mg/l (gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép) ở hầu hết các xã chiếm tỷ lệ từ 70 - 96% Mặc dù người dân Việt Nam thường

sử dụng nước giếng khoan khi qua bể lọc sắt, song hiệu quả loại bỏ asen của nhiều bể do dân tự xây lắp chất lượng chưa cao, nên tỷ lệ các bể có khả năng loại bỏ asen tới giới hạn cho phép chỉ là 41,1% Ngoài ra, nhiều hộ gia đình dùng nước giếng khoan trực tiếp không qua bể lọc (Bộ TN & MT, 2013) Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn sinh hoạt hầu hết là do hoạt động sản xuất

và sinh hoạt của con người tạo nên, như: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp thường kèm theo chất thải rắn, chất thải hữu cơ, thuốc trừ sâu, phân bón… Ngoài ra, nguồn nước còn bị ô nhiễm do cấu tạo địa chất, xâm nhập mặn các vùng ven biển, nước sông, kênh, ô nhiễm phèn

2.2.2.3 Một số vùng ô nhiễm tài nguyên nước bị ô nhiễm ở Việt Nam và giải pháp khác phục

Hiện nay ở Việt Nam, Các cấp, cấc ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vẫn đề rất đáng lo ngại

Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số gây

áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm

Trang 22

bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng năm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy, nước thải thường có

độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), nhu cầu ôxy hóa học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép (Bộ TN & MT, 2013)

Hàm lường nước thải của của các ngành này có chứa H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt quá 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng

nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe người dân (Bộ TN & MT, 2013)

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vẫn đề môi trường còn chưa cao…Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo

vệ môi trường nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và

cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa

Trang 23

phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa

có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các lãnh thổ lớn chưa có quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu lụt tài chinh, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường (Bộ TN & MT, 2013)

* Giải pháp khắc phục ô nhiễm nước ở Việt Nam

Thời gian qua chúng ta quá lỏng lẻo với các quy định về bảo vệ sự ô nhiễm của môi trường nói chung và các dòng sông nói riêng

- Tuyên truyền vận động nâng cao ý thức cộng đồng, giáo dục môi trường về

ý thức của mỗi người dân không xả rác bừa bãi, xả đúng nơi quy định

- Ngăn chặn tất cả các nguồn xả từ nhà máy, phân xưởng, khu công nghiệp,

- Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư phải qua khu xử lý trước khi xả ra sông

- Hạn chế dùng các loại phân bón và hóa chất độc hại dùng trong nông nghiệp, thay thế bằng các loại thân thiện với môi trường, nguồn gốc sinh học

- Tích cực trồng cây gây rừng, không để tình trạng sói lở, rửa trôi các tạp chất, xác động thực vật từ đồi, núi, vùng cao xuống đồng bằng

- Lập các hệ thông mương sinh thái trong từng thành phố, từng hộ gia đình làm vườn sinh thái để giữ nước,

- Nghiêm trị các loại tội phạm môi trường và kiểm soát chặt chẽ ý thức thực hiện môi trường

- Nên có quy hoạch các loại cỏ và cây hoa thủy sinh khác để tạo cảnh quan

và hấp thụ các kim loại nặng, dinh dưỡng, tạp chất, để làm sạch nước sông

2.2.2.4 Một số bệnh thường mắc phải do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm ở Việt Nam

Hơn một phần ba dân số Việt Nam đang nhiễm các bệnh có liên quan đến việc sử dụng nguồn nước không an toàn và các điều kiện vệ sinh không đảm bảo Không được tiếp cận đầy đủ nước và vệ sinh còn gây ra những vấn đề

Trang 24

nghiêm trọng cho sức khoẻ của trẻ em (44% trẻ em nhiễm bệnh giun sán và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) Với sự tăng, phát triển của các ngành công nghiệp tại các địa phương, các nguồn nước sẽ bị ô nhiễm nếu không

tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về bảo vệ môi trường (Bộ TN & MT, 2005)

Theo các tài liệu khoa học trên thế giới, có hơn 300 loại bệnh lây truyền qua nước Có 2 nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khoẻ liên quan đến nước,

đó là do vi sinh vật có khả năng truyền bệnh sang người và do các chất hoá học, chất phóng xạ gây ra

Vi sinh vật truyền qua nước gây nên hầu hết các bệnh ở đường tiêu hoá

Vi khuẩn gây bệnh như tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy… Virus gây bệnh như bại liệt, viêm gan… Kí sinh trùng gây bệnh lỵ, amip, giun, sán… Các tác nhân này

có thể xâm nhập vào cơ thể con người trực tiếp qua đường nước uống hoặc nước dùng chế biến thực phẩm Những bệnh này có thể gây thành dịch lớn làm cho số người tử vong cao, rất nguy hại cho cộng đồng nếu không có biện pháp phòng chống tốt (Bộ TN & MT, 2005)

Bên cạnh các nguồn nguyên nhân và một số bệnh thường mắc phải trên, thì nước nhiễm asen cũng là một nguyên nhân đặc biệt nguy hiểm, nó gây ra các bệnh có độ độc tính cao Nếu bị ngộ độc cấp tính bởi asen sẽ có biểu hiện: khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, bí tiểu và tử vong nhanh Nếu bị nhiễm độc asen ở mức độ thấp, mỗi ngày một ít với liều lượng dù nhỏ nhưng trong thời gian dài sẽ gây: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, da sạm, rụng tóc, sút cân, giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thương, rối loạn nhịp tim, đau mắt, đau tai, viêm dạ dày

và ruột, làm kiệt sức, ung thư…

Người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hoá da, gây sạm và mất sắc tố, bệnh Bowen (biểu hiện đầu tiên là một phần cơ thể đỏ ửng, sau đó bị chảy và lở loét) Tình trạng nhiễm độc asen lâu ngày còn có thể gây ung thư (gan, phổi,

Trang 25

bàng quang và thận) hoặc viêm răng, khớp gây bệnh tim mạch, cao huyết áp Ảnh hưởng độc hại đáng lo ngại nhất của asen tới sức khoẻ là khả năng gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, các bệnh tim mạch (cao huyết áp, rối loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi, bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và não), các bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố, sạm da, sừng hoá, ung thư da…), tiểu đường, bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh, ngứa hoặc mất cảm giác ở các chi và khó nghe Sau 15 - 20 năm kể từ khi phát hiện, người nhiễm độc thạch tín sẽ chuyển sang ung thư và chết (Bộ TN &

MT, 2005)

2.3 Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2.3.1 Tổng quan về tài nguyên nước tỉnh Lạng Sơn

Do đặc thù Lạng Sơn là một tỉnh vùng cao, địa hình phức tạp và bị phân cắt mạnh, theo đó tài nguyên nước mặt cũng phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số lưu vực sông lớn như sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Hoá… Một số vùng trong tỉnh còn thường xuyên phải đối mặt với tình trạng thiếu nước

2.3.2 Thực trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Chế độ thủy văn các sông ở Lạng Sơn phụ thuộc chủ yếu vò chế độ mưa

và khả năng điều tiết của lưu vực Chế độ thủy văn trên các sông thay đổi theo hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trên các sông ở Lạng Sơn tương đối đồng nhất về thời gian, thường từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng nước trên các sông suối thường chiếm 65 – 80% lượng nước cả năm Mùa cạn trên các sông bắt đầu từ tháng 10, có năm vào tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, có năm kết thúc vào tháng 6, 7 năm sau

Chất lượng nước tại các sông suối, ao hồ trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây đã và đang bị suy giảm, đặc biệt là các đoạn sông chảy qua địa bàn thị xã

và các khu vực có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản

Trang 26

Trong giai đoạn 2012 – 2013, để tận thu và làm giàu quặng các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống tuyển xoắn, tuyển trọng lực có sử dụng lượng nước lớn gấp nhiều lần so với giai đoạn trước, trong khi đó công nghệ xử lý chưa phù hợp và gây ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực

Các hoạt động khai thác vàng sa khoáng, cát sỏi tại các lòng sông suối không đúng theo quy định đã làm thay đổi dòng chảy ở một số đoạn sông suối, tại các khu vực khai thác trái phép các đoạn sông suối bị ô nhiễm nặng

Tổng lượng nước thải đô thị toàn tỉnh hiện nay ước tính khoảng 8.932

m3/ngày giai đoạn 2005 – 2010, hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn, tình trạng vứt rác thải, vật liệu xây dựng, xác động vật chết xuống sông đã và đang gây ô nhiễm và mất mỹ quan các dòng sông

Tổng lượng nước thải công nghiệp toàn tỉnh vào những tháng sản xuất cao điểm vào khoảng 702.985 m3/tháng (nguồn thống kê từ các cơ sở nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp) Hầu hết lượng nước thải tuyển rửa quặng từ các mỏ được xử lý bằng phương pháp lắng sau đó tuần hoàn tái sử dụng

Toàn bộ các bãi chôn lấp rác thải tại 13 huyện thị hiện nay vận hành không đúng quy trình chôn lấp, không có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc hệ thống xử

lý nước rỉ rác đã bị hư hỏng Nước rỉ rác, nước mưa chảy tràn qua bãi rác ngấm

ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường (UBND thành phố Lạng Sơn (b), 2013)

Trang 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Chất lượng nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn

Nghiên cứu tại thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn

3.2.2 Thịi gian tiịn hành:

Từ ngày 05/05/2014 đến 15/08/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại thành phố Lạng Sơn

* Điều kiện tự nhiên

* Điều kiện kinh tế - xã hội

- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

- Cơ cấu dân số và lao động

3.3.2.Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn

3.3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt thành phố Lạng Sơn

* Nước giếng khoan, giếng đào

* Nước sông, suối, hồ

* Nước máy

Trang 28

3.3.4 Ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt

3.3.5 Giải pháp

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

- Thu thập các số liệu, tài liệu về các loại hình tổ chức cung cấp nước sinh hoạt

- Thu thập các số liệu ở các văn bản, báo chí của tỉnh và trên internet

- Tham khảo các tài liệu, giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn báo cáo khoa học… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài bằng cách thu thập số liệu từ các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục bảo

vệ môi trường và các cơ quan có liên quan

Đây là phương pháp thu thập số liệu truyền thống, nhanh và có hiệu quả Chúng ta có thể thu thập được nhiều kiến thức từ phương pháp này, các tài liệu thu thập được giúp chúng ta khái quát các vấn đề cần nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp lấy mẫu (theo QCVN 08/2008)

Thu thập một số mẫu nước điển hình và thuê phân tích một số chỉ tiêu lý, hóa, sinh chủ yếu

3.4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm Word và phần mềm Excel

3.4.4 Phương pháp so sánh, đánh giá

- So sánh các kết quả phân tích được với tiêu chuẩn môi trường nước mặt của Việt Nam QCVN 08: 2008/BTNMT

Trang 29

3.4.5 Phương pháp kế thừa

- Thu thập và kế thừa số liệu đã có, tổng hợp và so sánh với số liệu điều tra, phân tích năm 2011

3.4.6 Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Nội dung phong vấn:điêu tra ý kiến của người dân về chất lượng nước sinh hoạt

- Đối tượng phỏng vấn: Người dân trên địa bàn thành phố Lạng Sơn -Số mẫu phỏng vấn: 60 hộ dân

- Cách chọn đối tượng

+chọn ngẫu nhiên 10 hộ trong 1 điểm điều tra (6 điểm)

- Địa điêm phỏng vấn:

+ Phường Vinh Trại

+ Phường Hoàng Văn Thụ

+Phường Chi Lang

+Phường Đông Kinh

+ Xã Hoàng Đồng

+ Xã Mai Pha

Trang 30

3.4.7 Phương pháp lấy mẫu phân tích

-Mối loại hình nước sinh hoạt lấy 5 mẫu

Bảng 3.1: Vị trí các điểm lấy mẫu nước trên địa bàn thành phố Lạng Sơn

Hoàng Văn Thụ TP.Lạng Sơn

5 M5 Giếng khoan nhà ông Lương

Mai Pha TP.Lạng Sơn

8 M8 Suối Lao Lý, tại Cầu Phố

Muối

Tam thanh TP.Lạng Sơn

11

Nước

máy

Trang 31

Phần 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Lạng Sơn

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược Nó bắt nguồn từ huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc về huyện Quảng Tây - Trung Quốc Thành phố cách thủ đô Hà Nội154 km, cách biên giới Việt Trung 18 km Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh, đường quốc Lộ 4Ađi Cao Bằng Thành phố nằm trên nền đá cổ, có độ cao trung bình 250 m so với mực nước biển, gồm các kiểu địa hình: xâm thục bóc mòn, cacxtơ và đá vôi, tích tụ.Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn được quy hoạch thành một nút trên tuyến Hành lang kinh

tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, thành một động lực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, vùng Đông Bắc Việt Nam, và sau năm 2010 trở thành một cực của Tứ giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh)

Theo Nghị định 82/2002/NĐ-CP, ranh giới thành phố Lạng Sơn được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc

- Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy - huyện Chi Lăng

- Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên – huyện Cao Lộc

Trang 32

- Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện Văn Quan (UBND thành phố Lạng Sơn (a), 2013)

4.1.1.2 Địa hình

Vùng thành phố Lạng Sơn thuộc điahình núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 250m - 800m Thành phố Lạng Sơn nằm trong thũng lũng dạng hình thoi, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Chiều dài thung lũng 6m, chiều rộng khoảng vài trăm mét đến 4 4,5 km, chiều rộng nơi rộng nhất phần trung tâm thành phố và hẹp dần ở hai đầu Bề mặt thung lũng có độ chênh cao không lớn

và hơi nghiêng về phía trung tâm và phía Đông Nam, độ cao tuyệt đối của địa hình ở đâu từ 53,2 đến 78,4m Trong thung lũng của các núi sót đá vôi ở phía Tây KỳLừa như Tam Thanh, Nhị Thanh và nằm rải rác ở một số nơi như: Chùa Tiên, Đông Kinh… ở phía Nam và Đông Nam thành phố Lạng Sơn phân bổ hai khu đồng bằng khá bằng phẳng, bề mặt phủ bởi phù sa sông Kỳ Cùng Một số nơi ở khoảng giữa các đồi và núi có nhiều dải thung lũng nhỏ có bề mặt tương

đối bằng phẳng Đây là nơi canh tác nông nghiệp của nhân dân địa phương

Đồi núi chiếm diện tích khá lớn, phân bố xung quanh thành phố Lạng Sơn Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu hết là đồi núi thấp, phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi riêng biệt Độ cao phổ biến từ 280 đên 800m Đỉnh núi cao nhất ở phía Tây Bắc có độ cao 800m.Các đồi có vòm rộng, sườn thoải, độ dốc thay đổi từ 150 đến 450 Các núi thường có đỉnh sườn dốc

từ 35 đến 600.Cấu tạo nên địa hình này là các đá trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonát và mangan phun trào Phần lớn bề mặt đồi núi bị phong hóa với mức độ khác nhau Một số nơi vở phong hóa dày, sườn dốc mạnh dễ gây ra tai biến địa chất như: trượt lở, sạt sườn, chảy bùi, lũ quét….(UBND thành phố Lạng Sơn (a), 2013)

4.1.2 Đặc điểm, khí hậu, thuỷ văn

4.1.2.1 Đặc điểm khí hậu:

Trang 33

Do nằm sát Chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu nên khí hậu thành phố mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa nóng ẩm mưa nhiều ( từ tháng 5 đến tháng 10 ), mùa khô lạnh và hanh ( từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Tuy nhiên do sự chi phối của địa hình

và do ảnh hưởng độ cao nên mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao, mùa hè mát mẻ, mùa Đông lạnh hơn so với các tỉnh đồng bằng bắc bộ

Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 21,60C Trong đó cao tuyệt đối là 40,50

C (tháng 6) , thấp tuyệt đối 3,20C (tháng 12) Số giờ nắng trung bình trong năm đạt 1.568,9 giờ Tổng tích ôn trong năm đạt khá: 7.000 - 7.5000C Biên độ dao động nhiệt độ ngày đêm là 8,40C

Về chế độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình là 81%, độ ẩm cao nhất 86%,

độ ẩm thấp nhất 36%

Về chế độ mưa: lượng mưa trung bình năm là 1.020,3mm, cao nhất vào tháng 5: 120,9mm, thấp nhất vào tháng 12: 70,4mm Vào mùa khô lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa gây ra khô hạn cục bộ ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và sản xuất của người dân

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 thường tập trung với cường độ lớn (chiếm tới trên 70% lượng mưa cả năm), cùng với địa hình tương đối dốc , chia cắt mạnh gây ra xói mòn, sạt lở đất đai nghiêm trọng Lượng mưa trung bình năm là 1442,7 mm tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8

Về lượng bốc hơi: lượng bốc hơi trung bình năm là 1.020,3 mm Trong các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa; chỉ số ẩm ướt trong các tháng này thường dưới 0,5 nên gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng

Về hướng gió chủ đạo: Đông Nam và Nam là hai hướng chủ đạo, tốc độ gió mạnh nhất có khi lên tới 40 m/s

Với đặc điểm khí hậu ở thành phố Lạng Sơn như trên, cho phép có thể gieo trồng nhiều vụ cây ngắn ngày trong năm, song mưa lớn thường tập trung

Ngày đăng: 02/05/2018, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Võ Quý, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam,Lưu trữ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, 2001-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam
4. Vũ Quang (2006), “Nước sạch và cuộc sống”.Tạp chí nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, (3), tr 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nước sạch và cuộc sống”
Tác giả: Vũ Quang
Năm: 2006
5. Nguyễn Thanh Sơn (2007). Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam 2005, 2007 6. Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố Lạng Sơn, báo cáo tình hình quảnlý môi trường trên địa bàn thành phố Lạng Sơn năm 2013, TPLS – Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tình hình quản "lý môi trường trên địa bàn thành phố Lạng Sơn năm 2013
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Năm: 2007
7. Trung tâm Quan Trắc môi trương thành phố lạng sơn (2013), Báo cáo quan trắc 2014, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc 2014
Tác giả: Trung tâm Quan Trắc môi trương thành phố lạng sơn
Năm: 2013
8. Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn.(2012), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012-2013 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, TPLS – Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012-2013 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2013
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn
Năm: 2012
10. UBND thành phố Lạng Sơn (a), (2013) , Báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát tình hình phát triển KT - XH của UBND thành phố Lạng Sơn.năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát tình hình phát triển KT - XH của UBND thành phố "Lạng Sơn
11. UBND thành phố Lạng Sơn(b), (2013), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Lạng Sơn.giai đoạn 2012 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố "Lạng Sơn
Tác giả: UBND thành phố Lạng Sơn(b)
Năm: 2013
12. UBND thành phố Lạng Sơn(c), (2013) , Các tài liệu định hướng chiến lược phát triển KT - XH của thành phố Lạng Sơn.đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tài liệu định hướng chiến lược phát triển KT - XH của thành phố "Lạng Sơn
13. UBND thành phố Lạng Sơn(d), (2013), Kế hoạch phát triển KT - XH thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2012 – 2013. Công ty TNHH cấp thoát nước Lạng sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển KT - XH thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2012 – 2013
Tác giả: UBND thành phố Lạng Sơn(d)
Năm: 2013
14. Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn( 2011), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009-2011 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, TPLS – Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009-2011 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2012
16. Một số trang web - www.http://giaiphapmoitruong.com - www.http://google.com.vn Link
15. UBND thị xã Lạng Sơn (2009), Kế hoạch phát triển KT - XH thị xã Lạng Sơn giai đoạn 2007 – 2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w