Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý và xử lý chất thải tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Bắc Kạn ..... Mục đích của đề tài Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG ĐÌNH GIA
Tên đề tài:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Người hướng dẫn : T.S Nguyễn Thanh Hải
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập là một quá trình giúp cho bản thân sinh viên áp dụng kiến thức
đã học vào thực tế, từ đó giúp cho sinh viên hoàn thiện bản thân phục vụ cho công tác sau này
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp bản báo cáo của em
đã hoàn thành Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Tài Nguyên và Môi Trường cùng toàn thể thầy cô giáo đã giảng dạy và đào tạo hướng dẫn giúp em hệ thống hóa lại kiến thức đã học và kiểm nghiệm lại trong thực tế
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo T.S Nguyễn Thanh Hải đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn các anh chị tại Công ty Cổ phần Tư vấn Tài nguyên và Môi trường HTKT tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành được nhiệm vụ và hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến gia đình bạn bè, những người đã giúp đỡ rất nhiều để em hoàn thành được chương trình học tập cũng như báo cáo tốt nghiệp
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên thực tập nên đề tài nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè đề khóa luận của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 8 năm 2014
Sinh viên
Nông Đình Gia
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Yêu cầu của đề tài 2
1.5 Ý nghĩa của đề tài 3
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế 4
2.1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 5
2.1.1.3 Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh 8
2.1.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế 10
2.1.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 11
2.1.2 Căn cứ pháp lý 14
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 15
2.2.1 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế trên thế giới 15
2.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17
2.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 22
2.2.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thị xã Bắc Kạn 25
Trang 4Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 27
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu 27
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 28
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.1.1 Vị trí địa lý 29
4.1.1.2 Khí hậu thời tiết 30
4.1.1.3 Địa hình, địa mạo 31
4.1.1.4 Thủy văn 32
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 32
4.1.1.6 Thực trạng môi trường sinh thái của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 34
4.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 35
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động của thị xã Bắc Kạn 35
4.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 37
4.1.2.3 Hạ tầng kỹ thuật 39
4.2 Tình hình hoạt động của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 40
4.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 40
4.2.2 Vị trí, diện tích và khu vực xung quanh Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 40
Trang 54.2.3 Quy mô bệnh viện 41
4.2.4 Chức năng và nhiệm vụ 41
4.2.5 Đánh giá môi trường, đăng kí và xin phép 42
4.2.6 Kết quả hoạt động của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 43
4.2.7 Cơ cấu tổ chức 43
4.2.8 Số lượng cán bộ công nhân viên 44
4.3 Điều tra, đánh giá thực trạng công tác thu gom và xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 44
4.3.1 Các nguồn phát sinh và khối lượng chất thải 44
4.3.1.1 Các nguồn phát sinh 44
4.3.1.2 Khối lượng chất thải phát sinh qua các năm 48
4.3.2 Công tác bảo vệ môi trường 49
4.3.3 Công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải 50
4.3.3.1 Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải 50
4.3.3.2 Hệ thống xử lý và tiêu hủy 59
4.4 Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế 61
4.4.1 Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải 61
4.4.2 Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý và xử lý chất thải tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Bắc Kạn 62
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
5 CP MT & CTĐT BK Cổ phần Môi trường & Công trình đô thị
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa tại Việt Nam 10
Bảng 2.2 Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới theo tuyến Bệnh viện 16
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 18
Bảng 2.4 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau 20
Bảng 2.5 Lượng CTRYT phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh qua các năm 25
Bảng 4.1 Tài nguyên đất của thị xã Bắc Kạn 33
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động của thị xã Bắc Kạn năm 2013 35
Bảng 4.3 Diện tích và dân số thị xã Bắc Kạn năm 2013 36
Bảng 4.4 Phân bố diện tích trong bệnh viện 41
Bảng 4.5 Số liệu khám, chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2011 - tháng 7/2014 43
Bảng 4.6 Nguồn thải từ hoạt động khám chữa bệnh 47
Bảng 4.7 Lượng chất thải phát sinh từ 2011 đến nay 48
Bảng 4.8 Thực trạng công tác phân loại chất thải rắn y tế tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn 52
Bảng 4.9 Công tác thu gom chất thải rắn y tế ở BVĐK tỉnh Bắc Kạn 53
Bảng 4.10 Nhân lực và phân bổ nhân lực trong công tác thu gom CTRYT ở BVĐK tỉnh Bắc Kạn 54
Bảng 4.11 Công cụ thu gom chất thải rắn tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn 55
Bảng 4.12 Phương tiện vận chuyển chất thải rắn y tế tại BVĐK 56
Bảng 4.13 Thực trạng công tác vận chuyển chất thải rắn y tế tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn 56
Bảng 4.14 Phương tiện lưu giữ chất thải 58
Bảng 4.15 Các thông số kĩ thuật của lò đốt rác Mediburner 60
Bảng 4.16 Khối lượng các loại CTYT trong một lần đốt 61
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 9
Hình 2.2 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế 19
Hình 2.3 Sơ đồ cơ cấu hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 24
Hình 2.4 Biểu đồ lượng CTRYT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn qua các năm 25
Hình 4.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Kạn 30
Hình 4.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức bệnh viện 43
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại BVĐK tỉnh
Bắc Kạn 45
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ các thành phần chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 47
Hình 4.5 Biểu đồ lượng chất thải phát sinh từ 2011 đến nay 48
Hình 4.6 Sơ đồ quy trình thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 50
Hình 4.7 Sơ đồ bộ máy tổ chức bệnh viện 63
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh
mẽ Đời sống cuả người dân ngày càng được cải thiện hơn và họ đã nhận thức khá đầy đủ rằng sự phát triển kinh tế - xã hội một mặt nâng cao mức sống, mặt khác gây ảnh hưởng tiêu cực đến con người và tự nhiên Đây là vấn đề không phải lúc nào cũng được chú trọng đúng mức Ngày nay, trên thế giới vấn đề môi trường và sức khỏe đang được quan tâm hàng đầu Việt Nam là một nước nằm trong số đó, tuy nhiên vấn đề sức khỏe và môi trường chưa được chú trọng trong sự phát triển
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương,
bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển kinh tế -
xã hội, đất nước cũng được phát triển hơn những thập niên trước đây rất nhiều Nhu cầu của con người tăng lên về vật chất lẫn tinh thần kéo theo đó là các bệnh viện, phòng khám mọc lên nhanh chóng không chỉ phát triển về mặt số lượng mà còn đi sâu về chất lượng Đi đôi với sự phát triển kéo theo lượng chất thải của bệnh viện cũng tăng lên về số lượng và phức tạp về thành phần, còn việc quan
tâm xử lý, quản lý chất thải của bệnh viện chưa theo kịp
Hiện nay chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho khu dân
cư xung quanh, gây dư luận cho cộng đồng Các chất thải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn, v.v những người tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại đều có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở Y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi
Trang 102
nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Các chất thải y
tế này có chứa các chất hữu cơ nhiễm mầm bệnh gây ô nhiễm, bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường xung quanh bệnh viện ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người dân
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y
tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu
để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng
về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn” dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: T.S Nguyễn Thanh Hải
Đề tài đã thực hiện với mong muốn góp phần vào việc cải thiện và bảo
vệ môi trường của BVĐK Bắc Kạn nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung
1.2 Mục đích của đề tài
Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Điều tra đặc điểm phát thải, thực trạng công tác thu gom, phân loại và
xử lý CTYT tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn
- Đánh giá công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom
và quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác
Trang 113
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế
tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở
1.5 Ý nghĩa của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
- Bổ sung tư liệu cho học tập
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Đánh giá được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế còn có những mặt hạn chế Từ đó đưa ra các giải pháp cũng như những kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở nhằm cải thiện những thiếu sót còn mắc phải trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
Trang 124
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế
* Các khái niệm
- Môi trường: Theo Điều 3, Chương I, Luật Bảo vệ Môi trường 2005
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [9]
- Chất thải y tế: Theo Điều 3, Chương I, Quy chế quản lý chất thải y tế năm 2007: “Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các
cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Chất thải
y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế” [3]
- Chất thải rắn y tế: Là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế như
khám chữa bệnh, bào chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu…
- Chất thải rắn y tế thông thường: Là chất thải rắn y tế không chứa các
chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người
- Chất thải rắn y tế nguy hại: Là chất thải rắn y tế có chứa các chất và
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người
- Quản lý chất thải rắn y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý
ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ rác thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Trang 135
2.1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
Hầu hết các chất thải rắn từ quá trình khám chữa bệnh là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù riêng Các chất thải này phải được phân loại cẩn thận trước khi thải chung với các loại rác thải sinh hoạt, nếu không sẽ gây ra những nguy hại tới cộng đồng, như gây bệnh, hay làm lây lan dịch bệnh…Vì vậy phân lọai chất thải là một khâu rất quan trọng Nếu việc phân loại chất thải được tiến hành tốt ngay từ đầu thì những khâu quản lý và xử lý sau này sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa sự ô nhiễm đối với môi trường xung quanh Hiện nay trên thế giới có nhiều cách phân loại chất thải y tế khác nhau
Có thể kể tới một số cách như sau:
* Theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
- Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất
nó tương tự chất thải sinh hoạt
- Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật, máu, dịch thể…
- Chất thải chứa phóng xạ: Là chất thải từ các quá trình chiếu, chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan cho cơ thể, điều trị và khu trú khối u…
- Chất thải hóa học: Loại này có tính chất độc hại, có tính ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen
- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa các tác nhân gây bệnh, ví dụ như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn…
- Các vật sắc nhọn: Là các vật như kim tiêm, lưỡi dao… có thể gây thương tích
- Dược liệu: Là các dược liệu dư thừa hay quá hạn sử dụng
Trang 146
* Theo hệ thống phân loại của Mỹ:
- Chất thải cách ly: Có thể gọi là chất thải truyền nhiễm mạnh bao gồm chất thải bản chất sinh học, các phế liệu bị ô nhiễm máu, các chất bài tiết, dịch
rỉ, các chất thải của người bệnh bị cách li
- Chất thải động vật, xác động vật, các phần cơ thể của động vật kiểm nghiệm…
- Các vật sắc nhọn thải bỏ: Kim tiêm, bơm tiêm, lưỡi dao, dụng cụ mổ… dùng trong chăm sóc bệnh nhân, điều trị và nghiên cứu y học, đồ thủy tinh vỡ
có tiếp xúc với tác nhân gây nhiễm trùng
- Chất thải có chứa máu: máu lỏng, các dụng cụ chứa máu, các đồ thấm máu…
- Những vật sắc nhọn không sử dụng: Kim tiêm, bơm tiêm, lưỡi dao…bị thải bỏ
- Các chất thải gây độc tế bào
Trang 157
Nhóm B: Là các vật sắc nhọn bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao
mổ đinh mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn Nhóm C: Là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm bao gồm găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh khiết, xét nghiệm nuôi cấy, túi đựng máu
Nhóm D: Là chất thải dược phẩm, bao gồm
» Dược phẩm quá hạn
» Dược phẩm bị nhiễm khuẩn
» Dược phẩm bị đổ
» Dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng
» Thuốc gây độc tế bào
Nhóm E: Là các mô và cơ quan người, động vật bao gồm tất cả các mô của cơ thể (dù bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn), các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm
+ Chất thải phóng xạ
» Chất thải phóng xạ rắn gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
» Chất thải phóng xạ lỏng gồm: Dung dịch có chứa nhân phóng xạ, phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
» Chất thải phóng xạ khí gồm: Các chất khí dùng trong lâm sàng như các khí , các khí thoát ra từ các kho chứa chứa chất phóng xạ…
+ Chất thải hóa học
Chất thải hóa học gồm hai loại:
» Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axít béo, một số muối vô cơ và hữu cơ
Trang 16+ Chất thải sinh hoạt
Chất thải này không bị nhiễm các yêú tố nguy hại, nó phát sinh từ buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà ăn…
Ngoài ra còn có lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
2.1.1.3 Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
* Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO: Chất thải bệnh viện
là tất cả các chất thải từ các bệnh viện (kể cả dạng lỏng và rắn) mà trong đó khoảng 85% thực sự là chất thải không độc, khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% không nhiễm khuẩn nhưng là chất thải độc hại
Như vậy có thể thấy chất thải bệnh viện gồm hai phần chính:
- Phần không độc hại chiếm khoảng 85% tổng số chất thải bệnh viện, phần này có thể xử lý như xử lý rác thải sinh hoạt
- Phần độc hại chiếm khoảng 15% tổng số chất thải bệnh viện, phần này cần được thu gom và xử lý riêng, tránh gây nguy hại tới cộng đồng
Các phần chất thải này phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong bệnh viện như: từ sinh hoạt của cán bộ công nhân viên và bệnh nhân, từ các hoạt động khám chữa bệnh
Trang 17Chất thải sinh hoạt
Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4]
* Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
Khối lượng chất thải phát sinh trong bệnh viện tuỳ thuộc vào đặc điểm của bệnh viện
Năm 2005 ở Việt Nam tổng lượng chất thải rắn phát sinh là 300 tấn/ngày, trong đó 40 tấn là chất thải y tế nguy hại (CTYTNH)
Buồng tiêm
Phòng mổ
Phòng bệnh nhân không lây lan
Phòng bệnh nhân truyền nhiễm
Phòng xét nghiệm,
chụp và rửa phim
Khu bào chế dược
Khu hành chính Phòng cấp cứu
Trang 1810
Theo bảng trên đã cung cấp thông tin về việc phát sinh CTYT tại các bệnh viện và các khoa thuộc bệnh viện trung ương, tỉnh và quận Do tổng số giường bệnh tại các Bệnh viện đa khoa, chuyên ngành chiếm tới 150.000 giường bệnh nên lượng chất thải y tế từ các cơ sở này cũng chiếm tới 70% tổng lượng phát sinh Khối lượng CTYT mỗi ngày trong năm 2010 khoảng 380 tấn/ngày, trong
đó 45 tấn/ngày là CTYTNH (Đặng Thị Kim Loan, 2010) [8]
Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa
tại Việt Nam
Bệnh viện/ khoa
Tổng lượng chất thải y tế phát sinh (kg/giường/ngày)
Lượng chất thải nguy hại phát sinh (kg/giường/ngày)
Trang 19▪ Rác thải không nguy hại – mang đi xử lý chung với rác thải sinh hoạt đô thị
▪ Rác thải nguy hại – xử lý bằng các phương pháp chôn lấp, phân hủy sinh học hay thiêu đốt
* Phương pháp khử trùng
Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong bệnh viện
- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… đây là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết
Trang 2012
vi khuẩn trong chất thải Vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử
lý không hiệu quả Hóa chất bản thân đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ hóa chất thải để giảm thể tích
- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: Đây là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp
- Khử trùng bằng siêu cao tầng: Phương pháp có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
Do đặc tính nguy hại của chất thải bệnh viện, phương pháp chôn lấp chỉ
áp dụng cho chất thải rắn sinh hoạt của bệnh viện và tro của chất thải bệnh viện sau quá trình xử lý bằng phương pháp đốt
* Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Đây là phương pháp xử lý cuối cùng, được coi là có hiệu quả cao Phương pháp này sử dụng các lò đốt chuyên dụng để đốt rác thải y tế với công nghệ tiên tiến, dựa trên nguyên lý đốt phân giải nhiệt độ cao, đảm bảo đốt cháy hoàn toàn các hợp chất hữu cơ của chất thải, lượng khói bụi và lượng tro còn lại cũng rất ít
Trang 2113
Đốt chất thải là quá trình ôxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt độ cao Ở nhiệt độ lớn hơn 1000oC, các chất hữu cơ và vô cơ bị phân hủy thành dạng khí và tro xỉ Khí sinh ra sẽ được xử lý tiếp để giảm độ độc hại trước khi thải ra môi trường Phần tro xỉ sau khi đốt được đem chôn lấp
Ưu điểm của phương pháp đốt:
- An toàn về mặt sinh học
- Làm giảm tới 90 % thể tích rác thải
- Không đòi hỏi mặt bằng lớn
- Ít gây ô nhiễm môi trường
Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì chi phí cho xử lý rác bằng phương pháp đốt còn quá cao, và nếu không lắp đặt hệ thống xử lý khí sau lò đốt thì quá trình xử lý vẫn gây ảnh hưởng tới khu vực dân cư xung quanh
Phương pháp này được áp dụng cho các loại chất thải không thể tái sử dụng hoặc chất thải độc hại, chất thải bệnh viện
* Xử lý bằng công nghệ sinh học
Phương pháp này nhằm phân hủy các chất hữu cơ trong rác thải nhờ các loài vi sinh vật hô hấp kỵ khí hay hiếu khí để sản xuất phân bón, khí biogas phục vụ cho nông nghiệp và cho sinh hoạt
- Phương pháp xử lý bằng hầm biogas (phương pháp yếm khí): Rác được cắt nhỏ sau đó đưa vào hầm biogas hoặc bể liên hợp Tại đây xảy ra quá trình lên men, khí thoát ra được thu lại để phục vụ cho sinh hoạt
- Phương pháp sản xuất phân hữu cơ (phương pháp hiếu khí): Rác thu
về được chất thành đống, sau đó được dảo trộn thường xuyên 3 lần/ngày (hoặc cấp khí cưỡng bức qua hệ thống phân phối khí ở đáy) Quá trình phân hủy kéo dài 30 ngày, nhiệt độ phải đảm bảo 55 – 60oC và độ ẩm 60 –
Trang 2214
65 % để quá trình phân hủy hoàn toàn Phân hữu cơ thu được dùng phục vụ trong nông nghiệp
Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng đòi hỏi thời gian dài và không
có khả năng phân hủy những chất độc vô cơ, do đó phương pháp này thường
áp dụng cho các chất thải sinh hoạt, khó áp dụng với các bệnh viện vì không loại trừ được mầm bệnh có trong rác
* Xử lý bằng chất phóng xạ
Hình thức xử lý này chỉ phù hợp với một số loại rác thải đặc biệt Nguyên lý là sử dụng chất phóng xạ nhằm tiêu diệt vi khuẩn, mầm bệnh Phương pháp này đòi hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ Việc sử dụng phương pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng
để đảm bảo an toàn cho người sử dụng
2.1.2 Căn cứ pháp lý
- Quyết định 370/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Y
tế về việc Ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động
- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước
Trang 2315
- Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y
tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 2149/QĐ/TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải Y tế giai đoạn 2011
- 2015 và định hướng đến năm 2020
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế
2.2.1 Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại chất thải y tế, quản lý chất thải y tế (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, sức khỏe, biện pháp làm giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ
lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng.[15], [16]
Trang 2416
* Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng chất thải y tế phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khác quan như: Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và rác thải bệnh nhân ở các khoa phòng.… Điều này được thể hiện trên bảng 2.2
Bảng 2.2 Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới theo tuyến
Bệnh viện Tuyến bệnh
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4]
* Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của Tổ Chức Y tế Thế Giới WHO (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại chất thải y tế thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm các chất thải không lây nhiễm các yếu
tố nguy hại), chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm), chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn), chất thải hóa học
và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc với tế bào), chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình có chứa khí có áp suất cao)
Tuy nhiên, ở các nước phát triển, việc phân loại chất thải y tế được thực hiện nghiêm ngặt hơn Ví dụ, ở Mỹ phân loại chất thải y tế được chia thành 8 loại:
- Chất thải cách ly: Chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh
Trang 2517
- Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan
- Những vật sắc nhọn được dùng trong điêu trị, nghiên cứu
- Máu và các sản phẩm của máu
- Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể)
Các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ và cuối cùng là xử lý được thực hiện nghiêm ngặt theo đúng quy định, đặc biệt là ở các nước phát triển Như ở Hoa Kỳ vào năm 1996 đã bắt đầu có các luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu của khí thải phải lọc bằng hệ thống lọc trước khi đưa vào không khí Đối với nước thải, biện pháp xử lý phổ biến và đạt hiệu quả cao là biện pháp công nghệ sinh học Trong khi đó việc xử lý rác thải phức tạp và khó khăn hơn do khối lượng lớn và thành phần đa dạng Đối với rác thải y tế ít nguy hại, biện pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, và đối với rác thải nguy hại thường được đốt Công nghệ đốt rác được các nước phát triển thực hiện cẩn thận và hiệu quả
2.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
* Tình hình chung
Việt Nam là quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên điều này cũng làm nảy sinh nhiều thách thức đối với môi trường, đặc biệt tại những khu đô thị lớn chiếm 24% dân số
Trang 26Loại
đô thị Tỉnh/Tp
Lượng CTR y tế
(tấn/năm)
Loại
đô thị Tỉnh/Tp
Lượng CTR y tế
Bạc Liêu 134,8
Tỉnh
có đô thị loại III
Quảng
Trị 272,116Khánh
Bình Dương 1.241
Sóc Trăng 266,7 Lâm
Tp Hồ Chí Minh
2800 (**)
Nam 602,25
Ghi chú: (*) Số liệu năm 2006; (**) Số liệu năm 2007
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4]
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 500 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2 kg/giường/ngày CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh, tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế, dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Trang 2719
Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTNH, do nguy
cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người Lượng CTNH y tế phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam
Bộ phát sinh lượng thải nguy hại lớn nhất trong cả nước (32%), với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%) Các tỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500 tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như sau: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An
Hình 2.2 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4]
Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày Trên cả nước các bệnh viện có chất thải phóng xạ là Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện đa khoa Trung ương Huế, Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện K Các
Trang 2820
phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y tế đắt hơn rất nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả và chính xác (Bảng 2.4)
Bảng 2.4 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh
tại các loại cơ sở y tế khác nhau
(ĐVT: kg/giường bệnh/ngày)
Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 - 0,29 0,21 - 0,35
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4]
Quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế
đã có nhiều tiến bộ, nhiều cơ sở y tế thực hiện đúng theo quy chế quản lý chất thải y tế Nhiều bệnh viện đã xây dựng khu lưu giữ chất thải tập trung tại bệnh viện
Tuy nhiên, sự hỗ trợ của các ban, ngành trong việc cấp kinh phí đầu tư trang bị phương tiện cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại còn hạn chế và chưa đồng bộ
Năm 2010, cả nước hiện có 1.087 bệnh viện (trong đó 1.023 bệnh viện Nhà Nước, 64 bệnh viện tư nhân) với tổng số hơn 140.000 giường bệnh Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hàng chục ngàn phòng khám tư nhân, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất dược phẩm, sinh phẩm y tế Ước tính mỗi ngày cả nước thải ra 500 tấn rác thải y tế
Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những
Trang 2921
người tái chế phế liệu Bộ Y tế sẽ có hướng dẫn cho phép tái chế và tái sử dụng một số chất thải y tế thông thường theo quy trình kiểm soát các vật liệu nhằm hạn chế tối đa lượng chất thải phải xử lý, tiết kiệm nguyên liệu
- Quản lý chất thải rắn
Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường
- Phân loại chất thải rắn y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo Việc phân loại chất thải rắn ở tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản
lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
- Thu gom chất thải rắn y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và
y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác
sĩ, y tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải
y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải
- Lưu trữ chất thải rắn y tế
Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số nhà lưu giữ chất thải không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập
- Vận chuyển chất thải rắn ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng chất thải rắn y tế ở Việt Nam đều được thu gom bởi công ty Môi trường đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng
Trang 30Công nghệ xử lý chất thải rắn tại một số bệnh viện ở Việt Nam
- Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam: Sử dụng lò đốt Beli để xử lý chất thải rắn y tế Đây là lò đốt được sản xuất tại Việt Nam, lò đốt điều khiển tự động chu kỳ đốt, nhiệt độ, chế độ cấp khí và các thiết bị kèm theo, vận hành đơn giản
- Lò đốt chất thải y tế URENCO Hà Nội xử lý rác thải rắn trong y tế bằng lò đốt kép
- Tại Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn: Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng lò đốt VHI
2.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Công tác quản lý nhà nước về môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn y tế nói riêng ở tỉnh Bắc Kạn được thực hiện tương đối tốt, được thống nhất theo ngành dọc bao gồm: Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, bộ phận phụ trách về môi trường tại các phường/xã
Hiện nay, đa số các huyện trong tỉnh đã tổ chức mô hình làm công tác vệ sinh môi trường với nhiều hình thức như công ty, hợp tác xã, tổ vệ sinh, ban
Trang 3123
vệ sinh môi trường có nhiệm vụ thu gom chất thải rắn y tế tại các Bệnh viện
đa khoa tỉnh và Trung tâm Y tế các huyện trong tỉnh
Mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo từ các ngành các cấp của tỉnh, tuy nhiên, vấn đề quản lý chất thải rắn y tế hiện nay tại tỉnh Bắc Kạn vẫn tồn tại nhiều bất cập Cụ thểsố lượng cán bộ có chuyên môn trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các huyện còn rất hạn chế, việc phân loại CTR y tế chưa đúng quy định, chưa có phương tiện thu gom và phân loại CTR y tế thích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom CTR y tế chưa có kiến thức cơ bản để phân loại, kinh phí phục vụ cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTR y tế còn rất hạn hẹp, bảo hộ lao động còn rất thô sơ và thiếu
Thời điểm mới tái lập tỉnh, bộ máy y tế của Bắc Kạn trong tình trạng thiếu thốn về mọi mặt Với 06 Trung tâm Y tế cấp huyện và 01 Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, nhưng tổng số giường bệnh chỉ vẻn vẹn 350 giường bệnh Đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu Toàn tỉnh mới chỉ có 123 bác sĩ, 08 dược
sĩ đại học và 12 bác sĩ chuyên khoa I Về cơ sở hạ tầng nhìn chung rất nghèo nàn, thiếu thốn và xuống cấp Các Trạm Y tế xã hầu hết là nhà tạm, thậm chí phải ở nhờ trụ sở uỷ ban nhân dân xã, cá biệt có xã còn “trắng” về y tế Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
Huyện Chợ Mới được thành lập năm 1998 và huyện Pác Nặm được thành lập năm 2003, theo đó bệnh viện của 02 Trung tâm Y tế thuộc 02 huyện này cũng lần lượt được đầu tư xây dựng Những năm sau này, bệnh viện của các huyện, thị xã đều lần lượt được đầu tư, xây dựng khang trang, hiện đại Đến nay, tổng số giường bệnh tại 09 bệnh viện trong toàn tỉnh đã lên tới 760 giường Các trang thiết bị của các cơ sở y tế thường xuyên được đầu tư, bổ sung từ nhiều nguồn lực khác nhau
Trang 32Hiện nay Bắc Kạn có 01 Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, 05 Trung tâm Y tế thuộc hệ dự phòng (tuyến tỉnh), 08 Bệnh viện tuyến huyện và 122 Trạm Y tế
xã, phường với tổng số giường bệnh toàn tỉnh là 760 giường phục vụ nhu cầu
SỞ Y TẾ BẮC KẠN
Phòng y tế huyện, thị
Khối phòng chức năng Các khoa lâm sàng
Các khoa cận lâm sàng
Phòng khám
tư nhân UBND TỈNH BẮC KẠN
UBND HUYỆN, THỊ
Trang 3325
khám chữa bệnh của người dân toàn tỉnh Toàn tỉnh có 1.652 cán bộ hoạt động trong ngành y tế, trong đó có 316 bác sĩ và 130 bác sĩ sau và trên đại học
2.2.4 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thị xã Bắc Kạn
Khối lượng chất thải y tế phát sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như:
Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng được thể hiện qua bảng 2.5
Bảng 2.5 Lượng CTRYT phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh qua các năm
CTR nguy hại
CTR thông thường
CTR nguy hại
CTR thông thường
CTR nguy hại
Trang 3426
Qua bảng 2.5 (hình 2.4) trên ta thấy tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh thường chiếm tỷ lệ cao so với các bệnh viện tuyến dưới và trạm y tế xã, phường Lượng thải qua các năm cũng tăng nhanh, do dân
số tăng, dẫn đến nhu cầu về khám chữa bệnh của người dân tăng, dịch vụ và cơ
sở khám chữa bệnh cũng tăng nhanh Cụ thể, từ năm 2011 đến năm 2012 lượng chất thải y tế thông thường phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh tăng trung bình 243,54 kg/ngày (7.306,2 kg/tháng), chất thải y tế nguy hại tăng trung bình 12,84 kg/ngày (385,2 kg/tháng) Năm 2013 lượng chất thải rắn thông thường tăng 156,9 kg/ngày (4.707 kg/tháng), chất thải rắn nguy hại tăng 10,97 kg/ngày (329,1 kg/tháng) so với năm 2012
Trang 3527
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
- Công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Công tác thu gom và quản lý CTRYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết tháng 7/2014
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu của đề tài: Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: 5/5/2014 đến 5/8/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Kạn
* Tổng quan về Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
* Điều tra, đánh giá thực trạng công tác thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn
- Các nguồn phát sinh và khối lượng của chất thải rắn y tế
- Công tác bảo vệ môi trường tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn
- Công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
* Các chỉ tiêu cần nghiên cứu
- Khối lượng chất thải rắn y tế/ngày
- Chủng loại
Trang 3628
- Tần suất, thời gian thu gom trên/ngày
- Tần suất, thời gian vận chuyển
- Các biện pháp xử lý
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung tại khu vực nghiên cứu,
như công tác phân loại, thu gom CTRYT ở BVĐK tỉnh Bắc Kạn
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các tài liệu có liên quan như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương, hiện trạng chất thải rắn y tế, công tác thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại địa phương thông qua cơ quan quản lý môi trường tỉnh
- Các số liệu thu thập tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn: Các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo, đề tài nghiên cứu
- Thu thập thông tin qua tìm hiểu sách, báo, mạng internet, các tài liệu liên quan khác…
3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
- Tham khảo ý kiến của cán bộ tại Công ty cổ phần Tư vấn Tài nguyên & Môi trường HTKT
- Tham khảo ý kiến của cán bộ trực tiếp phụ trách việc thu gom và quản
lý chất thải rắn y tế tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Quản lý và phân tích số liệu bằng các phần mềm máy tính
- Tiến hành phân tích xử lý căn cứ vào những tiêu chuẩn môi trường hiện hành, sau đó so sánh, nhận xét đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở
Trang 3729
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Bắc Kạn là đô thị vùng cao, nằm sâu trong nội địa của vùng Đông Bắc, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của tỉnh cũng như cả nước Thị xã Bắc Kạn gồm có 4 phường nội thị và 4 xã thuộc ngoại thị Trên địa bàn
thị xã có đường Quốc lộ số 3 chạy xuyên suốt (Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng) là tuyến giao thông chính giao lưu với bên ngoài, đồng thời có một số
tuyến kết nối thị xã đi các huyện và các tỉnh khác, hiện đang trong quá trình cải tạo, nâng cấp Ngoài ra, thị xã có sông Cầu và suối Nặm Cắt chảy qua, tạo môi trường sinh thái tốt, cảnh quan đẹp, là nơi cung cấp nguồn nước mặt quan trọng phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
Cách thủ đô Hà Nội 166 km về phía Đông Bắc, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, thị xã có ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương sau:
- Phía Đông giáp xã Mỹ Thanh - huyện Bạch Thông;
- Phía Tây giáp xã Quang Thuận, Đôn Phong - huyện Bạch Thông;
- Phía Nam giáp xã Thanh Vận, Hòa Mục - huyện Chợ Mới;
- Phía Bắc giáp xã Cẩm Giàng, Hà Vị - huyện Bạch Thông;
Là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh, là nơi tập trung các cơ quan hành chính, kinh tế - xã hội, các sở, ban ngành tỉnh, nơi tập trung hầu hết các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến… Do có những lợi thế
đó, thị xã Bắc Kạn có sức hút, có khả năng giao thương, hội nhập trao đổi mọi mặt với bên ngoài, đồng thời tác động lan toả đến phát triển kinh tế - xã hội của các huyện trong tỉnh
Tất cả những đặc điểm về vị trí địa lý kinh tế kể trên là những điều kiện làm nên lợi thế, những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thị
xã hiện tại cũng như trong tương lai Tuy nhiên nếu so với nhiều thị xã khác
Trang 3830
trên địa bàn vùng Đông Bắc thì thị xã Bắc Kạn còn có nhiều hạn chế, nhất là
hệ thống cơ sở hạ tầng hiện vẫn còn thiếu và chất lượng thấp, kém hiện đại
Hình 4.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Kạn
(Nguồn: UBND thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn) [12] 4.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Thị xã Bắc Kạn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với điều kiện địa hình nên mùa
đông thường giá lạnh, nhiệt độ thấp, trời khô hanh, có sương muối (bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau), mùa hè thường nóng ẩm, mưa nhiều (bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9)
Trang 3931
* Lượng mưa: Mùa mưa ở Bắc Kạn kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
nhưng tập trung nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9 chiếm 80% lượng mưa của
cả năm và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tổng lượng mưa hàng năm toàn thị xã đạt 1.436 mm Ngoài ra trên địa bàn thị xã còn có
hiện tượng mưa phùn (32 ngày/năm) và ít có bão, tuy nhiên vào mùa mưa dễ
gây lụt lội, lũ quét ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế của địa phương
* Độ ẩm: Thị xã Bắc Kạn là một trong những vùng có độ ẩm tương đối
cao ở hầu hết các mùa trong năm, độ ẩm bình quân là 83%, trong đó tháng
cao nhất là 89% (tháng 7 và 8), tháng thấp nhất là 79% (tháng 3) Độ ẩm cao
không diễn ra vào các tháng cuối mùa đông mà diễn ra vào các tháng cuối mùa hạ
* Nắng: Nhìn chung số giờ nắng bình quân cả thị xã khoảng 1.540 -
1.750 giờ/năm, trong đó tháng nhiều nhất là 181 giờ và tháng ít nhất là 64 giờ
* Gió: Hướng gió chính Tây Nam ở thị xã phụ thuộc vào địa hình thung
lũng, gió thay đổi theo mùa nhưng do vướng các dãy núi nên tốc độ gió thường nhỏ hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ
4.1.1.3 Địa hình, địa mạo
Thị xã Bắc Kạn là thung lũng lòng chảo nằm ven theo hai bờ sông Cầu xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi có độ cao trung bình từ 150 -
200m, đỉnh núi cao nhất là đỉnh Nặm Dật (xã Xuất Hóa) cao 728m, núi Khau Lang (xã Dương Quang) cao 746m, hướng dốc chính từ Tây sang Đông Nhìn
chung, thị xã Bắc Kạn có ba dạng địa hình chính:
* Địa hình núi đá vôi: Tập trung ở xã Xuất Hóa, vùng này bao gồm chủ
yếu núi đá vôi xen kẽ với các vùng đất hẹp, khá bằng phẳng, chạy dọc theo các chân đồi núi là các mảnh ruộng bậc thang nhỏ đứt đoạn
* Địa hình đồi núi thấp: Phân bố hầu hết ở các xã, phường độ cao trung
bình từ 150 - 160m so với mực nước biển
* Địa hình thung lũng: Hầu hết phân bố các phường nội thị là khu vực có
địa hình tương đối bằng phẳng