1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

HỆ THỐNG TÍN CHỈ HỌC TẬP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC.TÍNH HIỆU QUẢ VÀ SỰ THÍCH HỢP Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

30 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Sau 3 thập kỷ phát triển nhanh chóng trong giáo dục đại học, nhiều nước đang phát triển hiện đang phải đối mặt với tình hình tăng trưởng không kiểm soát được về số lượng sinh viên, các nguồn lực giảm sút, chất lượng giảng dạy và nghiên cứu yếu kém, hiệu suất bên trong của giáo dục đại học hạ thấp, số sinh viên tốt nghiệp nhiều mà người tìm được việc làm thì ít (Verspoor, A). 2. Việc nâng cao chất lượng và sự phù hợp của chương trình đào tạo đối với đòi hỏi của thị trường việc làm là mục tiêu quan trong của nhiều cuộc cải cách. Những cải cách này có thể thành công thông qua việc áp dụng nhiều cơ chế, một trong các cơ chế đó là đưa vào những đổi mới trong cơ cấu học tập. Các cơ cấu được xây dựng qua các hệ thống giáo dục đại học ở nhiều nước đang phát triển có thể phân loại khái quát theo hai mô hình cực đoan: mô hình Châu Âu truyền thống và mô hình tín chỉ Mỹ. Là những cái ngoại lai đối với những nước đang phát triển, các mô hình ấy biến đổi về kiểu quản lý, về cấu trúc, về tổ chức và về mức độ cứng nhắc; một số mô hình là có định hướng chuyên môn và cấu trúc hơn các mô hình khác. Mô hình Châu Âu truyền thống có chương trình giảng dạy bị giới hạn rất hẹp. Mô hình Mỹ, ngược lại, được xây dựng theo các module, cho phép chẳng những mở rộng sĩ số sinh viên mà còn mở rộng phạm vi chương trình đào tạo. Các trường đại học và Viện đại học Mỹ dần dần thoát khỏi quan niệm nhân văn tư do theo truyền thống Anh và khái niệm nghiên cứu theo kiểu Đức. Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập thông qua việc sử dụng một hệ thống tín chỉmôn học đã thay thế cho các kỳ thi hàng năm bố trí theo truyền thống. Các môn học bố trí ngắn hơn, và việc đánh giá cho điểm được làm thường xuyên nên sinh viên luôn luôn bị quản lý. Ngày nay đã có nhiều trường đại học ở các nước đang phát triển bắt đầu thử nghiệm mô hình Mỹ về tín chỉ học tập ở các cơ sở thí điểm. 3. Mục tiêu của công trình khảo cứu này không phải là ủng hộ hoặc phê phán việc sử dụng hệ thống tín chỉ, nhưng là để phân tích khả năng của nó như là một cách tiếp cận mà các nước đang phát triển có thể xem xét nhằm giúp nâng cao chất lượng và hiệu suất giá thành đào tạo của các trường đại học. Ngày nay trong các vấn đề mà hệ thống đại học của các nước đang phát triển gặp phải có các biểu hiện kém hiệu quả, chẳng hạn số lượng ở lại lớp cao và tỷ lệ bỏ học lớn; một khoảng cách lớn giữa những cái được giảng dạy và những gì là nhu cầu của thị trường lao động; và một đòi hỏi đang tăng lên là cung cấp giáo dục cho nhiều nhóm sinh viên khác nhau. Công trình khảo cứu này sẽ đưa ra đánh giá về hệ thống tín chỉ nếu được các nước đang phát triển chấp nhận áp dụng một cách thận trọng thì có thể làm giảm các áp lực mà các trường đại học gặp phải và giúp nâng cao chất lượng của quá trình học tập. Công trình khảo cứu chú ý đặc biệt đến cơ sở và nguyên nhân hình thành hệ thống tín chỉ học tập ( mô hình Mỹ) và việc chấp nhận áp dụng ở nước ngoài. Phần thảo luận về việc triển khai áp dụng rất hạn chế vì rất thiếu tài liệu nghiên cứu về các chủ đề đó ở các nước đang phát triển. 4. Phần đầu của công trình khảo cứu này cung cấp một tổng quan về hệ thống tín chỉ và mô tả sự tiến triển của nó hiện nay. Những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống tín chỉ sẽ để được đánh giá ở phần thứ hai. Phần thứ ba sẽ minh hoạ về việc áp dụng của hệ thống tín chỉ ở một số nước đang phát triển được chọn, và phần thứ tư sẽ xem xét những bài học gì có thể rút ra từ các kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ.

Trang 2

1 Sau 3 thập kỷ phát triển nhanh chóng trong giáo dục đại học,nhiều nớc đang phát triển hiện đang phải đối mặt với tình hìnhtăng trởng không kiểm soát đợc về số lợng sinh viên, các nguồn lựcgiảm sút, chất lợng giảng dạy và nghiên cứu yếu kém, hiệu suất bêntrong của giáo dục đại học hạ thấp, số sinh viên tốt nghiệp nhiều màngời tìm đợc việc làm thì ít (Verspoor, A).

2 Việc nâng cao chất lợng và sự phù hợp của chơng trình đào tạo

đối với đòi hỏi của thị trờng việc làm là mục tiêu quan trong củanhiều cuộc cải cách Những cải cách này có thể thành công thông quaviệc áp dụng nhiều cơ chế, một trong các cơ chế đó là đa vàonhững đổi mới trong cơ cấu học tập Các cơ cấu đợc xây dựng quacác hệ thống giáo dục đại học ở nhiều nớc đang phát triển có thểphân loại khái quát theo hai mô hình cực đoan: mô hình Châu Âutruyền thống và mô hình tín chỉ Mỹ Là những cái ngoại lai đối vớinhững nớc đang phát triển, các mô hình ấy biến đổi về kiểu quản

lý, về cấu trúc, về tổ chức và về mức độ cứng nhắc; một số môhình là có định hớng chuyên môn và cấu trúc hơn các mô hình khác.Mô hình Châu Âu truyền thống có chơng trình giảng dạy bị giới hạnrất hẹp Mô hình Mỹ, ngợc lại, đợc xây dựng theo các module, chophép chẳng những mở rộng sĩ số sinh viên mà còn mở rộng phạm vichơng trình đào tạo Các trờng đại học và Viện đại học Mỹ dần dầnthoát khỏi quan niệm nhân văn t do theo truyền thống Anh và kháiniệm nghiên cứu theo kiểu Đức Việc đánh giá liên tục các hoạt độnghọc tập thông qua việc sử dụng một hệ thống tín chỉ-môn học đãthay thế cho các kỳ thi hàng năm bố trí theo truyền thống Các mônhọc bố trí ngắn hơn, và việc đánh giá cho điểm đợc làm thờngxuyên nên sinh viên luôn luôn bị quản lý Ngày nay đã có nhiều trờng

đại học ở các nớc đang phát triển bắt đầu thử nghiệm mô hình Mỹ

về tín chỉ học tập ở các cơ sở thí điểm

3 Mục tiêu của công trình khảo cứu này không phải là ủng hộhoặc phê phán việc sử dụng hệ thống tín chỉ, nhng là để phân tíchkhả năng của nó nh là một cách tiếp cận mà các nớc đang phát triển

có thể xem xét nhằm giúp nâng cao chất lợng và hiệu suất giá thành

đào tạo của các trờng đại học Ngày nay trong các vấn đề mà hệthống đại học của các nớc đang phát triển gặp phải có các biểu hiệnkém hiệu quả, chẳng hạn số lợng ở lại lớp cao và tỷ lệ bỏ học lớn; một

Trang 3

khoảng cách lớn giữa những cái đợc giảng dạy và những gì là nhu cầucủa thị trờng lao động; và một đòi hỏi đang tăng lên là cung cấp giáodục cho nhiều nhóm sinh viên khác nhau Công trình khảo cứu này sẽ

đa ra đánh giá về hệ thống tín chỉ nếu đợc các nớc đang phát triểnchấp nhận áp dụng một cách thận trọng thì có thể làm giảm các áplực mà các trờng đại học gặp phải và giúp nâng cao chất lợng của quátrình học tập Công trình khảo cứu chú ý đặc biệt đến cơ sở vànguyên nhân hình thành hệ thống tín chỉ học tập ( mô hình "Mỹ")

và việc chấp nhận áp dụng ở nớc ngoài Phần thảo luận về việc triểnkhai áp dụng rất hạn chế vì rất thiếu tài liệu nghiên cứu về các chủ

đề đó ở các nớc đang phát triển

4 Phần đầu của công trình khảo cứu này cung cấp một tổng quan về hệ thống tín chỉ và mô tả sự tiến triển của nó hiện nay Những u điểm và nhợc điểm của hệ thống tín chỉ sẽ để đợc đánh giá ở phần thứ hai Phần thứ ba sẽ minh hoạ về việc áp dụng của hệ thống tín chỉ ở một số nớc đang phát triển đợc chọn, và phần thứ t sẽ xem xét những bài học gì có thể rút ra từ các kinh nghiệm của Mỹ vàthế giới về hệ thống tín chỉ

I hệ thống tín chỉ

A tổng quan

5 Về lịch sử, hệ thống tín chỉ học tập Mỹ đã đợc hình thànhxuất phát từ các mô hình Châu Âu, đặc biệt là mô hình Anh và Đức.Mô hình Anh đợc du nhập sang Hoa Kỳ và thống trị trong việc tổchức, trong các tiêu chuẩn và các chơng trình giảng dạy của giáo dục

đại học Mỹ cho đến thế kỷ 19 Trong nửa sau thế kỷ 19, giáo dục đạihọc Mỹ bị ảnh hởng bởi hệ thống Đức khi việc nghiên cứu đã đợc đavào các trờng đại học, viện đại học nh là một chức năng chính, vàgiáo dục sau đại học đã phát triển( Brubacher Jone S.,1976)

6 Một trong những đặc trng chính của hệ thống giáo dục đạihọc Mỹ ngày nay là nó sử dụng việc tích luỹ tín chỉ học tập để đạt

đợc một văn bằng Cho đến thập kỷ 1980, các trờng đại học ở Mỹ đợc

tổ chức theo kiểu chơng trình học tập cổ điển nhất loạt giống nhmọi hệ thống giáo dục Châu Âu Trong một ít chơng trình giảng dạysinh viên có rất ít hoặc hầu nh không có quyền lựa chọn môn học.Vào nhng năm của thập kỷ 1870, hệ thống đã trải qua một s thay đổi

Trang 4

mau chóng ở giác độ triết học, khái niệm học tập xem sinh viên làtrung tâm và ý niệm và sự tự thể nghiệm bản thân thông qua việchọc tập phù hợp với những lợi ích cá nhân của Jone Dewey ngày càng

đợc thừa nhận nhiều hơn Đòi hỏi về việc phải làm cho các môn học cónội dung thực tiễn có mối quan hệ rõ rệt với thế giới hiện thực cũngngày càng tăng lên ở giác độ thực tiễn bức xúc, các trờng đại học vàviện đại học đã bắt đầu gặp những khó khăn về tuyển dụng; có sựgiảm sút của các thị trờng có kích thích đối với các sáng chế phátminh

7 Vào năm 1872, Viện trởng Eliot đã có sáng kiến đa ra một hệthống lựa chọn ở Viện đại học Harvard (Morison, Samuel E., 1964) Ông

ta thay đổi hệ thống chơng trình đào tạo cứng nhắc cổ điển bằngmột sự lựa chọn ngày càng rộng rãi các môn học đối với sinh viên Bắt

đầu bằng sự lựa chọn chỉ cho các sinh viên năm cuối, đến năm 1884Viện đại học cho phép hầu nh hoàn tự tự do lựa chọn cho mọi sinhviên và cho đến năm 1890 chuyển sang việc đo lờng quá trình tiếntới một văn bằng trên cơ sở tích luỹ các môn học riêng lẻ hơn là hoànthành toàn bộ tiến trình học tập Các trờng đại học và viện đại họckhác nhanh chóng làm theo Viện đại học Harvard

8 Hệ thống tín chỉ xuất hiện nh là một kết quả của sự lựa chọn.Vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, ngày càng nhiều trờng đạihọc và viện đại học công bố trong niên lịch giảng dạy của họ bảng liệt

kê số lợng các tín chỉ đợc cung cấp cho mỗi môn học; con số đó đợcxác định bởi các giờ lên lớp và thực hành thí nghiệm dành cho mộtmôn học trong một tuần Những yêu cầu để đạt văn bằng cũng đợccông bố bằng số lợng các tín chỉ đòi hỏi cũng nh bằng sự phân phốimôn học Cũng vào những năm đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ đã

mở rộng ra ngoài phạm vi chơng trình giảng dạy cấp đại học bao trùmcả các chơng trình sau đại học

9 Động lực ngầm thúc đẩy việc du nhập hệ thống tín chỉ lựachọn ở Hoa Kỳ có thể có liên quan với việc các nớc phát triển cân nhắctìm kiếm một cấu trúc tơng tự cho hệ thống giáo dục đại học của họ.Yếu tố chính đã thôi thúc sự thay thế các chơng trình giảng dạy theokiểu nhất loạt cổ điển là đòi hỏi làm cho hệ thống mềm dẻo hơn vàthích hợp hơn với các nhu cầu hiện tại Không phải hệ tín chỉ đợc đa

ra để thoả mãn nhu cầu của sinh viên và của các trờng đại học trong

Trang 5

việc tạo phơng tiện để chuyển đối sinh viên giữa các trờng, yếu tố

đó chỉ xuất hiện nh một động lực vào thời gian sau này

B Hệ thống tín chỉ đợc thực hiện nh thế nào?

10 Sử dụng các tín chỉ học tập tạo điều kiện cho sinh viên tìmkiếm một văn bằng đại học thông qua việc tích luỹ một tập hợp rộngrãi các hoạt động giáo dục, các hoạt động này đợc bổ sung dần đểcuối cùng đạt một văn bằng; và tạo nên cả sự khác biệt trong các chơngtrình giảng dạy lẫn khả năng di chuyển giữa các trờng đại học vớinhau

Một tín chỉ có thể đợc định nghĩa nh sau:

"Đơn vị mà một tổ chức đào tạo có thể đo đợc khối lợng công việc của một môn học của mình Số lợng giờ tín chỉ gán cho một môn học thờng đợc xác định bởi số lợng giờ lên lớp của một tuần và số lợng tuần trong một học kỳ (session) Một giờ tín chỉ thờng đợc gán cho một buổi lên lớp 50 phút trong một tuần với khoảng thời gian một học kỳ hai quý, học kỳ một quý hay một đợt học khác; ở phòng thí nghiệm, thực tập hoạ, nhạc, nghệ thuật biểu diễn, giáo dục thể chất hoặc các loại hình đạo tạo tơng tự thì một giờ tín chỉ đợc gán cho một buổi học từ 2 đến 3 giờ mỗi tuần trong một học kỳ một quý, học

kỳ hai quý hay 1 đợt học khác Hệ thống tín chỉ cho học kỳ một quý

và học kỳ hai quý là hai hệ thống thông dụng nhất để đo khối lợng công việc của một môn học Các tổ chức đào tạo dùng niên lịch với học

kỳ một phần ba năm thờng dùng hệ thống tín chỉ của học kỳ hai quý Các giáo trình theo lịch khác với học kỳ hai quý, kể cả học kỳ hè, có thể đợc tính theo giờ tín chỉ của đợt học hay tính theo giờ tín chỉ của học kỳ một quý hay học kỳ hai quý" (Robert H Bonthius…)

11 Việc triển khai hệ thống tín chỉ thờng liên quan tới cách tổchức một năm học trong hai học kỳ 2 quý Theo ý nghĩa từ "semester"(học kỳ hai quý) có nghĩa là 6 tháng, tuy nhiên vì những lý do về tổchức học tập, ở các viện đại học Mỹ một năm thờng đợc chia làm haihọc kỳ 15-16 tuần giảng dạy Độ dài của một học kỳ hai quý là một yếu

tố quan trọng, trong đó nó phải đảm bảo 80 ngày làm việc trong học

kỳ 2 quý hoặc 160 ngày làm việc trong một năm học 9 tháng ở nhiềuViện đại học, năm học đợc chia theo học kỳ 1 quý kéo dài cỡ 10 tuần r-ỡi

Trang 6

12 Phần lớn các viện đại học Mỹ đòi hỏi cỡ 120 giờ tín chỉ chovăn bằng đầu tiên, và phần lớn các môn học có 3 hoặc 4 giờ tín chỉ,tức là lớp học phải tụ họp 3 hoặc 4 giờ hàng tuần Các môn học 4 giờthờng là điển hình đối với các môn khoa học tự nhiên có đòi hỏi làmthí nghiệm.

13 Mỗi sinh viên khi vào một viện đại học hoặc trờng đại học đợc

bố trí một cố vấn học tập Cố vấn học tập giúp sinh viên chọn các mônhọc thích hợp để tiến đến theo một ngành chuyên môn chính Việclựa chọn các môn học đợc giảng dạy là khá tự do, và mỗi ngời có thểghi danh các môn học thuộc chuyên môn khác căn cứ vào năng lực vàmối quan tâm riêng của họ Yếu tố đó tạo nên tính mềm dẻo và đadạng cho cả sinh viên và giáo chức

14 Trong một học kỳ 16 tuần, các bài trắc nghiệm thờng xuyên

đợc đa ra để đánh giá sự tiến bộ của sinh viên Điểm xếp hạng kếtthúc cho một văn bằng đại học dựa trên sự đánh giá thờng xuyên đó

Đối với các bằng cấp sau đại học, ngoài các môn học ra còn đòi hỏi một

kỳ thi tổng hợp và một tiểu luận hoặc luận án

15 Việc đánh giá chất lợng các trờng đại học khác nhau tại Hoa Kỳ

đợc thực hiện bởi các cơ quan kiểm định chất lợng Khác với ở nhiềunớc quá trình kiểm định chất lợng thờng đợc thực hiện bởi Nhà nớc, tạiHoa Kỳ chức năng đó đợc thực hiện bởi các tổ chức t nhân Cókhoảng hơn 80 tổ chức kiểm định chất lợng khác nhau, tuy nhiên chỉ

có 6 tổ chức kiểm định chất lợng của khu vực đợc thừa nhận rộng rãi.Mỗi tổ chức khu vực có trách nhiệm kiểm định chất lợng toàn bộ mộttrờng đại học Tuy nhiên, khi một tổ chức chuyên môn hoá kiểm địnhchất lợng một viện đại học thì chỉ một trờng riêng biệt của viện đạihọc đợc kiểm định chất lợng (ví dụ Trờng Quản trị kinh doanh) Trongtrờng hợp đó chỉ trờng Quản trị kinh doanh của viện đại học đó đợccông nhận chất lợng Sự kiểm định chất lợng chuyên môn hoá nh vậy

là nhằm phục vụ các chơng trình đào tạo đã xác định

II Ưu điểm và nhợc điểm của hệ thống tín chỉ học tập

16 Đối với nhiều ngời quan sát, u điểm đầu tiên của hệ thống tínchỉ là nó đã phân chia các hoạt động học tập thành các đơn nguyên

có thể đo đợc, các đơn nguyên có thể tích luỹ để đạt đợc một văn

Trang 7

bằng trong các tổ hợp rộng rãi các hoạt động giáo dục ở những thờigian và địa điểm khác nhau.

Ưu điểm của hệ thống đó có thể trình bày trên ba bình diện: a)hiệu quả học tập cao; b) độ mềm dẻo và khả năng đáp ứng lớn; c)hiệu quả tốt về quản lý và giá thành

A Ưu điểm

Hiệu quả học tập cao.

a) Hệ thống tín chỉ cung cấp một cách ghi nhận kịp thời sự tiến

bộ của sinh viên để hởng đến đạt đợc một văn bằng và một kế hoạchcho toàn bộ hoạt động giáo dục của sinh viên Thông qua việc sử dụng

hệ thống tín chỉ ở bậc trung học, các kế hoạch học tập sau khi tốtnghiệp có thể chuẩn bị thậm chí trớc khi nhập học đại học, vì rằngnhững sự quan tâm và những con đờng của sinh viên để dẫn đến

đạt đợc một vốn giáo dục về nghề nghiệp và giáo dục tiếp tục (futhereducation) đợc mô tả rất tờng minh trong cấu trúc tín chỉ và mônhọc Hệ thống đó còn cung cấp những kỳ vọng và mục tiêu ngắn hạn

để hoàn thành, chúng rất có lợi đối với những sinh viên không thể xác

định chắc chắn đợc kế hoạch dài hạn của họ

b) Vì các môn học chứ không phải các kỳ thi tổng hợp là đặc trngcủa hệ thống tín chỉ, nên nó tạo cho thầy giáo một sự độc lập rõ rệttrong việc xác định điều gì ông ta cần dạy và cần dạy nh thế nào.Một giáo trình kéo dài một học kỳ cũng làm nhẹ mối lo lắng của sinhviên trong thi cử Vì các môn học kéo dài một học kỳ chứa ít tài liệuhơn môn học kéo dài một năm học, chúng cho phép tạo nên một quátrình đánh giá sinh viên liên tục và cho sinh viên rất ít thời gian đểchây lời.ở nớc nh ấn Độ, Senegal, Uganda và Zimbabwe, các viện đạihọc rất vất vả về sự bất mãn của sinh viên, những mối lo về thi cử th-ờng dẫn đến những hành động chống đối, và việc buộc phải đóngcửa các viện đại học Đối với trờng hợp Senegal điều đó thể hiện rõtrong thời kỳ "année blanche" (1987 - 1988) khi Viện đại học Dakarphải bị đóng cửa trọn một năm do kết quả của sự náo động của sinhviên

c) Đối với các trờng đại học có cấp tín chỉ cho các hoạt động giáodục ngoài lớp học, hệ thống tín chỉ làm cho việc học tập độc lập củasinh viên và hàng loạt các kiểu hoạt động giáo dục không truyền thốngkhác có thể đợc đánh giá bằng tín chỉ để dẫn đến văn bằng, điều

Trang 8

đó mở rộng rất đáng kể các hoạt động giáo dục đối với sinh viên Tinhthiêng liêng của ba buổi gặp gỡ ở lớp học hàng tuần cho một môn học

đợc đòi hỏi phải xem lại Một số công trình nghiên cứu đã đề nghịrằng các sinh viên có thể học tốt tơng tự hoặc thậm chí tốt hơn nếu

đòi hỏi số giờ lên lớp ít hơn Nhiều thí nghiệm đã chứng tỏ việcnghiên cứu độc lập hoặc triển khai các cách học không truyền thống

là những chơng trình rất có hiệu quả, chúng đã đợc triển khai ởReed, Oberlin, Antoch, Sata Cruz, Goldard và các nơi khác

d) Khi hệ thống tín chỉ đợc kết hợp với việc lựa chọn các môn học,

nó làm cho giáo dục đại học trở nên một nền giáo dục hớng vào sinhviên và cá nhân hoá nhiều hơn so với hệ thống có chơng trình giảngdạy tơng đối cứng nhắc

Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao.

e) Hệ thống tín chỉ tạo điều kiện để có thể cung cấp học vấn

đại học nhờ các tập hợp khác nhau các đơn nguyên kiến thức bằngcách gán các số lợng tín chỉ khác nhau cho các môn học khác nhau(chẳng hạn, các môn học kéo dài một năm, một học kỳ, ba tuần hoặcthậm chí một tuần), điều đó giúp hạn chế điều huyền thoại rằngkhông kể môn học khác nhau nh thế nào các môn học đều có trọng

số nh nhau

f) Hệ thống tín chỉ tạo nên sự mềm dẻo để sinh viên có thể thay

đổi ngành chuyên môn của chính họ ở nửa chừng tiến trình học.Thay cho việc sinh viên phải học lại chơng trình từ đầu, hệ thống tínchỉ ghi nhận các công việc trớc kia dẫn đến một văn bằng, chỉ đòihỏi những công việc bổ sung cần thiết để hoàn tất tri thức củangành chuyên môn và các đòi hỏi liên quan

g) Hệ thống tín chỉ cung cấp các biến thể khác nhau trong niênlịch giảng dạy, vì việc học tập có thể đợc phân chia ra thành mộtloạt các phần nhỏ ứng với các khối lợng khác nhau của tín chỉ học tập

đợc cấp Đặc điểm đó của hệ thống tín chỉ tạo điều kiện để sửdụng trờng đại học trọn cả năm bằng cách chấp nhận các học kỳ hè trởthành một bộ phận hữu cơ để cung cấp học vấn đại học Học kỳ hèthờng kéo dài cỡ 8 tuần và đem lại lợi ích chủ yếu cho sinh viên ngắnhạn, thí dụ nh cho các giáo viên phổ thông là những ngời phải làmviệc trong suốt năm học, cho các sinh viên mong muốn học nhanh vàcho những ngời lớn tuổi muốn đợc tiếp tục giáo dục đào tạo

Trang 9

h) Hệ thống tín chỉ cho phép xây dựng một cơ chế tạo điềukiện cho sinh viên làm việc để tiến tới đạt đợc một văn bằng theo tốc

độ và nhịp điệu riêng của họ, bằng cách khuyến khích theo đuổigiáo dục đại học trên cơ sở bán thời gian, bố trí xen kẽ các giai đoạnlàm việc và học tập, và ngừng lại ở trong hoặc ngoài giáo dục đại họckhi họ thấy phù hợp Nh vậy hệ thống có thể kết hợp việc học để lấyvăn bằng với việc giáo dục thờng xuyên hoặc đào tạo lại Một côngtrình nghiên cứu của Ban thi tuyển vào các trờng đại học năm 1988cho thấy rằng 4,3% ngời lớn trên 25 tuổi (ở Mỹ) đã gắn bó với các trờng

đại học trong việc học tập lấy tín chỉ Tính theo con số 4,3% của cỡ

147 triệu ngời lớn có tuổi trên 25 vào năm 1985, ta sẽ có xấp xỉ 6,2triệu sinh viên trong năm ấy là ngời lớn tuổi

i) Trong hệ thống tín chỉ, sáng kiến đề xuất một môn học mới trởnên dễ dàng thực hiện so với hệ thống cũ có chơng trình giảng dạy đ-

ợc quy định cứng nhắc, điều đó làm cho các trờng đại học có thểnhanh chóng đáp lại thị trờng trong việc cải thiện chơng trình đàotạo cho thích hợp Tính thích ứng đó đợc tăng cờng hơn nữa do khảnăng làm cân bằng yêu cầu của sinh viên, tránh đợc việc giảm nhanh

số lợng Các trờng đại học có thể phân phối các nguồn lực cho cáckhoa "hợp thời trang" và cắt bỏ bớt những môn học giảng dạy ở cáckhoa mà ít sinh viên có nhu cầu học tập So với hệ thống quản lý đàotạo truyền thống cũ, bản chất mềm dẻo của hệ thống tín chỉ cũng tạo

điều kiện cho việc cải cách chơng trình giảng dạy một cách liên tục.j) Một sức mạnh khác của hệ thống tín chỉ là nó chấp nhận sự dichuyển sinh viên giữa các trờng đại học với nhau, tạo khả năng cho mọicá nhân phát triển hết khả năng của mình bằng cách cho phép họchuyển từ một trờng đại học đến một trờng đại học khác tuỳ theokhả năng và sở thích của họ Các tín chỉ có thể đợc xem nh đã tạo ramột ngôn ngữ chung giữa các trờng đại học, điều đó làm cho việcchuyển tiếp sinh viên giữa các trờng đại học gặp ít khó khăn nhất

Hệ thống tín chỉ còn tạo nên tính tự chủ về chơng trình đào tạo củacác trờng đại học, chẳng hạn nh nhiều sinh viên từ các trờng cao

đẳng cộng đồng đợc chuyển tiếp về các trờng đại học 4 năm vìrằng nó không đòi hỏi trờng gửi sinh viên phải có một chơng trình

đào tạo giống y hệt chơng trình của các trờng nhận sinh viên chuyểntiếp

Trang 10

k) Việc sử dụng hệ thống tín chỉ cho phép phát triển trong cáctrờng đại học các chơng trình đào tạo sóng đôi và các chơng trìnhchuyển tiếp Các chơng trình này thờng tạo cho sinh viên giỏi một cơhội để nhận đợc bằng đại học ở nớc ngoài, đối với cả cấp đại học vàcấp sau đại học, mà không mất những chi phí không cần thiết, bằngcách giảm bớt số năm học ở ngoài nớc Sinh viên có thể ở trong nớc đểhoàn thành phần đầu của chơng trình đào tạo và sau đó ra nớcngoài hoàn thành phần còn lại của chơng trình theo yêu cầu của vănbằng hoặc ngợc lại Việc tổ chức các chơng trình sóng đôi còn làm

mở rộng thêm số giáo trình giảng dạy ở mỗi trờng đại học

Hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo.

l) Trong hệ thống tín chỉ, thành tích học tập của sinh viên đợc

đo trên cơ sở từng môn học Việc hỏng một môn học không ảnh hởngnhiều trong việc ngăn cản quá trình học tập, vì sinh viên hoặc cóthể học lại môn học đó hoặc chọn học một môn học thay thế khác.Việc hỏng đó không bị xem nh hỏng cả năm học, nh vậy sinh viênkhông buộc phải học lại cả năm học hoặc phải bỏ học Do đó hệ thốngtín chỉ chỉ có hiệu quả hơn trong việc giảm giá thành đào tạo vàgiảm số lợng ngời bị học lại lớp và bỏ lớp so với hệ thống tổ chức đàotạo truyền thống có một đầu vào và một đầu ra Một thí dụ rất rõ về

u điểm của hệ thống tín chỉ có thể lấy từ Indonesia, nơi mà hệthống đó đạt thành công tốt nhất trong việc nâng cao hiệu quả trongcủa đào tạo Bắt đầu từ năm 1984 hệ thống tín chỉ đã dần dần đợc

đa vào hệ thống giáo dục đại học Sự chuyển hớng đó đợc xem là rất

có hiệu quả trong việc làm giảm bớt số sinh viên học lại lớp và số sinhviên phải bỏ học và trong việc làm gia tăng số sinh viên hoàn thànhvăn bằng đầu tiên của họ trong 4 - 5 năm nhiều hơn là 7 - 8 năm Cácnớc phải gánh chịu tỉ số học lại lớp và bỏ học cao, chẳng hạn Senegal

và Venezuela, có thể mong muốn xem xét áp dụng hệ thống tín chỉ

để làm tăng hiệu quả bên trong Đối với Senegal, khi sử dụng mô hìnhdòng sinh viên tiêu chuẩn, Ngân hàng Thế giới đã ớc lợng đợc rằng cóthể đào tạo đợc một số lợng ngời tơng tự nh số ngời tốt nghiệp UCADvới mức số năm sinh viên 40% ít hơn nếu tỉ số ở lại lớp giảm từ mứccao hiện nay xuống mức trung bình 20%

m) Chơng trình học tập đòi hỏi thấp nhất đối với mọi sinh viên,bao gồm các hoạt động trí tuệ, thẩm mỹ và triết học, đã đợc tin chắc

Trang 11

là giúp tạo nên một cá nhân phát triển toàn diện Với quan niệm đó,các trờng đại học phải giảng dạy các chơng trình liên ngành, từ đótránh đợc việc lặp lại các môn học cần giảm ở mọi khoa và hạ đợc giáthành Thêm vào các đòi hỏi đối với giáo trình cơ bản, sinh viên còn

có thể lựa chọn nhằm thoả mãn các đòi hỏi để đạt thêm văn bằng của

họ bằng cách dự học các môn học mà các khoa khác giảng dạy, ví dụsinh viên kỹ thuật công nghiệp có thể học thêm một môn học tiếptheo về toán học từ khoa toán Khái niệm liên ngành đó có thể thấy rõ

ở công trình nghiên cứu năm 1990 do Hội đồng Quốc tế về phát triểnGiáo dục đại học của Bộ trởng Giáo dục Mehico tiến hành, công trình

đó đề nghị "thay đổi tổ chức truyền thống với cấu trúc viện đạihọc gồm các khoa" bởi cấu trúc "bộ môn", kiểu tổ chức đó còn nhómgộp các môn học cùng nguồn gốc từ các bộ môn vào một Phân bộ môn.Kiểu tổ chức đó có một số u điểm Nó chấp nhận tổ chức giảng dạy

"các môn học phục vụ" có hiệu quả hơn cho sinh viên các bộ môn khác.Với một sự nhạy cảm thích hợp, nó sẽ khuyến khích và tạo phơng tiệncho các môn học và nghiên cứu liên ngành Bằng cách mang mọi thầygiáo dạy một môn học xác định nào đó ngồi lại dới một mái nhà, nó sẽlàm tăng rất nhiều khả năng để tiến hành đào tạo sau đại học vànghiên cứu Một điều không ít quan trọng hơn, một cấu trúc theo bộmôn làm tăng chất lợng và sự phù hợp của việc giảng dạy với một giáthành thấp hơn so với một cấu trúc theo "khoa" truyền thống"

"International Council for Educational Development, 1990)

n) Nếu hệ thống tín chỉ đợc kết hợp với việc cấp tín chỉ qua các

kỳ thi đối với sinh viên đang đi làm thì nó sẽ tạo cơ hội cho sinh viên

đợc sử dụng các hoạt động học tập bên ngoài hệ thống giáo dục đạihọc để dẫn đến một văn bằng Hiện nay có cỡ 1000 trờng đại học vàviện đại học ở Hoa Kỳ cấp cho sinh viên nhiều tuổi các tín chỉ vì cáctừng trải trong cuộc sống Để nhận đợc tín chỉ, sinh viên thờng phảitập hợp các hồ sơ dày để ghi nhận bằng những hiểu biết của họ Cặptài liệu, thờng xem nh một portfoloi, thờng chứa các bài tiểu luận, các

th đề nghị, khen thởng, bằng sáng chế và các bản sao những côngtrình mà sinh viên đã thực hiện trong công việc Cặp tài liệu đó đợc

đánh giá bởi các thành viên giáo chức ở một số trờng đại học, một sinhviên có thể đợc cấp tín chỉ nếu tri thức mà anh ta nói là anh ta tíchluỹ đợc cũng giống nh các thông tin đợc trình bày trong các môn học

mà nhà trờng cung cấp ở một số trờng khác, sinh viên có thể tìm

Trang 12

kiếm các tín chỉ với các kiến thức không song song với một môn họcxác định nếu các thành viên giáo chức xác định rằng kiến thức đó là

số giờ tín chỉ đã dạy, phơng tiện đợc cung cấp theo giờ tín chỉ, vàcác chơng trình học tập cũng đòi hỏi đăng ký theo giờ tín chỉ

p) Hệ thống tín chỉ còn cho phép các bộ môn kết hợp đợc cácnguồn lực và phối hợp đợc với nhau giảng dạy các lớp học để tránh sựtrùng lặp về các môn học So với hệ thống điều hành đào tạo đại học

cũ, hệ thống tín chỉ tối u hoá việc sử dụng các nguồn nhân lực vàvật lực Chúng còn cho phép sử dụng đội ngũ giáo chức có hiệu quảhơn Các giáo s có thể đợc phân công dạy một số lớp học trong mộthọc kỳ; do đó họ sẽ dạy đợc nhiều sinh viên hơn

q) Với sự tăng nhanh số lợng sinh viên đại học và mức chi tiêu nhảyvọt, việc sử dụng giờ tín chỉ có thể đợc xem nh biện pháp để manglại một trật tự nào đó cho các vấn đề quản lý đại học đang bị đedoạ bởi sự tăng trởng quá nhanh chóng Nhiều bang ở Hoa Kỳ có đềxuất các công thức cấp kinh phí cho các trờng đại học công lập, cơ sởcủa công thức này là: hỗ trợ kinh phí dựa trên số lợng giờ tín chỉ đợcthực hiện Các viện đại học còn có thể thấy rằng việc dùng hệ thốngtín chỉ sẽ thích hợp hơn khi phải đối mặt với khó khăn về ngân sách.Tính mềm dẻo của hệ thống tín chỉ cho phép làm sao cho các mônhọc đợc lựa chọn có thể giảm xuống mà không bị ngắt quãng khi kinhphí bị cắt giảm

B Nhợc điểm

"ở các trờng trung học và đại học, chơng trình giảng dạy đợc tổchức theo các đơn nguyên tính theo phút làm việc Mặc dầu cónhững cố gắng để tạo điều kiện cho một bộ phận sinh viên theo

đuổi một loạt môn học nhất định hay chọn một chơng trình giảngdạy, kết quả cuối cùng chỉ là một bộ su tập các điểm và tín chỉ Hơnthế nữa, vì sinh viên còn lu lại trờng đại học từ học kỳ này sang học

kỳ khác, sự thành công và thất bại của anh ta trong việc tích luỹ các

Trang 13

tín chỉ quý giá ấy cũng đợc ghi chép rất tỉ mỉ lại thành các con số và

tỉ lệ phần trăm ở một số văn phòng, cơ quan Sau khi sinh viên bị đòihỏi phải tích luỹ một số lợng thích hợp các đơn nguyên khác nhau nhvậy, với một ít biện pháp cung cấp để anh ta gắn kết các kiến thức,anh ta sẽ nhận đợc chứng chỉ tốt nghiệp của trờng phổ thông trunghọc hoặc văn bằng của trờng đại học Thậm chí, việc cấp học vị báchọc vinh dự nhất nh bằng tiến sĩ, ở một số viện đại học lớn cũng bị hạthấp xuống hầu nh thành những đòi hỏi liên quan đến những chơngtrình gặp mặt" (Counts, George, 1930)

17 Cũng nh đối với mọi hệ thống khác, hệ thống tín chỉ cũng bịnhiều ngời phê phán Từ lâu, 40 năm trớc đây, những ngời phê phán

hệ tín chỉ nh Abraham Flexner đã mô tả nó nh là "một hệ thống tồi

tệ, phá hoại sự nỗ lực trí tuệ không vụ lợi và lâu dài" (Flexner,Abraham 1968) Flexner không phải là ngời đầu tiên tấn công hệthống tín chỉ, và trong những năm gần đây số ngời phê phán nócũng tăng lên Sự tranh cãi về việc sử dụng hệ thống tín chỉ học tậpchủ yếu là ở cấp giáo dục đại học ở đây, vấn đề gây cấn là một sốvăn bằng sẽ đợc xác định bởi loại tri thức đạt đợc hay khối lợng tri thức

đòi hỏi Một số nhợc điểm của hệ thống tín chỉ đợc nhiều nhà phêbình nêu ra là:

a) Hệ thống tín chỉ có thể gây nên sự cắt vụn kiến thức Mộtmôn học cơ bản chỉ kéo dài một học kỳ, khối lợng học tập thông th-ờng cho sinh viên trong một học kỳ thờng là 4 hoặc 5 môn học Tiếp

đến, sinh viên thờng học 40 môn học để đạt văn bằng Sự cắt vụn sẽ

đợc giảm nhẹ bớt nếu giáo trình thông thờng kéo dài cả một năm họcchứ không phải chỉ một học kỳ, và nếu khối lợng môn học thông thờng

là 3 chứ không phải 5 môn học Khi ấy, kiến thức có thể tích luỹ quamột thời gian dài hơn, và sinh viên sẽ học 12 chứ không phải 40 mônhọc để hoàn thành văn bằng

b) Việc thừa nhận rằng hoạt động học tập có thể trao đổi lẫnnhau và bằng các hoạt động khác nhau cung cấp cùng một số lợng tínchỉ sẽ có giá trị nh nhau có thể làm giảm giá trị của các hoạt độngkhoa học nghiêm túc Những phê phán đối với chơng trình tích luỹ hồsơ (portfolio, xem điểm trớc đây) cho ngời lớn tuổi công nhận rằngnhững sinh viên nhiều tuổi có thể có lợi rất nhiều qua kinh nghiệmsống của họ, nhng các trờng đại học sẽ không muốn cấp tín chỉ cho

Trang 14

việc học tập mà nhà trờng không phải làm gì cả Nh lời của ChesterE.Finn Jr., giáo s về giáo dục và chính trị công cộng Viện đại họcVanderbult:

"Văn bằng đợc đa ra để chứng nhận một mức độ học vấn nào

đó hoặc một bộ phận của nó, khái niệm ấy nay đã biến mất, nơi cấpvăn bằng chẳng còn việc gì để mà làm cả… Các trờng đại học đang

đói sinh viên và sẽ cố gắng hết sức để khuyến khích mọi ngời rằng

đạt đến nơi đây là một việc rất dễ dàng Điều đó cũng giống nhnói rằng: "Chúng tôi sẽ cấp cho anh tín chỉ ba học kỳ chỉ vì anh đãlớn"

c) Hệ thống tín chỉ làm méo mó động cơ của sinh viên trongquá trình học tập Sinh viên nhìn mức độ học vấn quy định cho mộtvăn bằng nh là sự tích luỹ các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vìlợi ích cuối cùng của nó

d) Khả năng chuyển tiếp tín chỉ không phải bao giờ cũng đợc

đảm bảo Sự mất mát có thể rất lớn nếu sinh viên chuyển dịch từ đạihọc này sang đại học khác Một vấn đề gây cấn liên quan đến việcchuyển tiếp sinh viên giữa các trờng đại học với nhau là làm thế nào

để điều hoà giữa sự đa dạng của các trờng đại học khi duy trì tiêuchuẩn chất lợng cao Việc một trờng đại học hoặc một viện đại học đ-

ợc công nhận qua kiểm định chất lợng (accredited) chỉ là một trongnhiều yếu tố để giải quyết việc chuyển tiếp tín chỉ Về nguyêntắc, nếu một trờng đại học đợc công nhận qua kiểm định chất lợngbởi nhiều cơ quan kiểm định khác nhau (phần lớn các cơ quan đókhông xác định công việc do một đơn vị tín chỉ học tập đòi hỏi),công việc ở một trờng đại học xem là đợc chấp nhận bởi mọi thànhviên của cơ quan đó hoặc các tổ chức kiểm định của khu vực khác.Tuy nhiên, các trờng đại học và viện đại học ít khi bị buộc phải nhậnsinh viên chuyển tiếp chỉ vì lý do trờng "gửi" sinh viên đã đợc côngnhận qua kiểm định chất lợng Phần lớn các trờng ra quyết định liênquan đến các sinh viên chuyển tiếp dựa trên sự đánh giá sơ bộ riêngcủa họ về chất lợng trờng "gửi" sinh viên, đánh giá này có thể có đợcnhờ mạng lới giao tiếp không chính thức giữa các giáo s và các nhàquản lý

e) Bản chất mềm dẻo của hệ thống tín chỉ có tác động ngợc lại

đối với sinh viên khi các viện đại học bị đe doạ cắt giảm ngân sách

Trang 15

Hậu quả thờng xảy ra là việc thu hẹp trong phạm vi các môn học bắtbuộc, điều đó làm tăng khả năng là một số sinh viên có thể buộc phải

ở lại trờng đại học lâu hơn để đợc tốt nghiệp

18 Từ những điều nói trên có thể thấy rằng dờng nh hệ thốngtín chỉ không thích hợp với việc đánh giá bản thân nó một cách dễdàng Hệ thống tín chỉ, nh đã triển khai ở Hoa Kỳ, có cả những ngờiủng hộ và những ngời phê phán Những ngời phê phán cảm thấy rằngbằng cách cắt vụn học vấn giáo dục đại học ra từng mảnh nhỏ màkhông đòi hỏi tích hợp chúng lại, hệ thống tín chỉ thờng thất bại trongviệc đào tạo nên "con ngời đợc giáo dục" Những ngời ủng hộ hệthống đó, mặt khác, cho rằng không có khả năng xác định "con ngời

đợc giáo dục", đã phản đối ý tởng về một định nghĩa cứng nhắc vàlỗi thời, và xem việc lựa chọn chơng trình học của sinh viên và nềngiáo dục hớng về sinh viên là thích hợp hơn đối với một kỷ nguyên đợc

đặc trng bởi sự biến đổi công nghệ rất nhanh chóng, bởi việc thunhận rộng rãi sinh viên vào giáo dục đại học, bởi một thị trờng lao

động đa dạng và không thể dự báo trớc

III Hệ thống tín chỉ và khả năng áp dụng vào các nớc đang phát triển.

19 Không có một hệ thống học tập nào phát triển trọn vẹn chỉtrên bản thân nó, và có những yếu tố của hệ thống tín chỉ có thể cólợi cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý ở các nớc

đang phát triển Các phần trớc đã nêu tổng quan một vài nét theo góc

độ lịch sử và hiện trạng của hệ thống tín chỉ, phần này sẽ trình bàynhững điểm cũng liên quan đến các góc độ đó ở các nớc khác

20 Việc đổi mới và sử dụng hệ thống tín chỉ ở Mỹ có thể có lợicho suy nghĩ về các lời giải cho các vấn đề mà giáo dục đại học ở các

Ngày đăng: 02/05/2018, 16:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w