Theo tổ chức y tế thế giới trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10 % là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ , chất gây độc tế bào, các chất đ
Trang 1NGUYỄN VĂN DIỆP
Tên đề tài:
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Người hướng dẫn : PGSTS: Nguyễn Ngọc Nông
Ths: Nguyễn Ngọc Sơn Hải
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tếnhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái’’
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, báo cáo thực tập của
em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn em,
Đặc biệt em xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy PGSTS: Nguyễn Ngọc Nông và thầy Ths: Nguyễn Ngọc Sơn Hải đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các bác, các chú, các anh, các chị tại bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này Đặc biệt là Giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên, Ông: Hoàng Văn Công đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình về thực tập tại cơ quan Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các cô, các chú, các anh, chị tại các phòng: Kế hoạch – Tổng hợp, phòng Điều dưỡng, phòng tổ chức đã giúp đỡ, cung cấp những tư liệu cần thiết để em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình được tốt nhất
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 08 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Diệp
Trang 3Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam 6
Bảng 2.3: Các loại CTR đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế 11
Bảng 2.4: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện 11
Bảng 2.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 12
Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 12
Bảng 2.7: Thành phần trong CTR từ các bệnh viện đa khoa 13
Bảng 2.8 Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 19
Bảng 2.9: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn 20
Bảng 4.1: Nhân lực y tế của Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên 34
Bảng 4.2: Số lượt khám bệnh các tháng năm 2013 35
Bảng 4.3: Nguồn gốc phát sinh rác thải y tế tại bệnh viện 37
Bảng 4.4 Khối lượng rác thải phát sinh/Ngày của bệnh viện 39
Bảng 4.5: Tổng lượng rác thải nguy hại phát sinh qua các tháng năm 2013 39
Bảng 4.6: Lượng rác thải nguy hại phát sinh ba tháng đầu năm 2014 tại các khoa của bệnh viện 40
Bảng 4.7: Khối lượng từng loại rác thải nguy hại tại bệnh viện 41
Bảng 4.8 Thực trạng phương tiện thu gom và vận chuyển chất thải rắn 44
Bảng 4.9 Thực trạng nhà lưu trữ chất thải rắn y tế 45
Bảng 4.10: Nhân lực quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 46
Bảng 4.11: Các loại hình xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 46
Bảng 4.12: Hiểu biết về quy chế quản lý chất thải y tế của nhân viên bệnh viện 47 Bảng 4.13: Hiểu biết và nhận thức của nhân viên về quản lý rác thải của bệnh viện .48
Bảng 4.14: Hiểu biết về công tác quản lý chất thải của bệnh viện của bệnh nhân và người nhà 49
Trang 4Hình 2.2 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp vật lý đơn giản( Lắng cặn, JICA,
2006) 24
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học truyền thống(Màng lọc nhỏ giọt, JICA,2006) 24
Hình 2.4 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học truyền thống(Bùn kích hoạt, JICA, 2006) 25
Hình 2.5 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học cải tiên(Thông gió tiếp xúc màng sinh học, JICA, 2006) 25
Hình 4.1 vị trí địa lý của huyện Lục Yên 29
Hình 4.2: Số lượt khám trung bình/tháng tại bệnh viện 36
Hình 4.3: Quy trình xử lý rác thải tại Bệnh viện đa khoa huyện lục Yên .36
Hình 4.4: Khối lượng rác thải y tế phát sinh qua các tháng năm 2013 40
Hình 4.5: Lượng rác thải nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện 41
Hình 4.6: Tỷ lệ từng loại rác thải nguy hại tại bệnh viện 42
Hình 4.7: Hiểu biết của nhân viên về quy chế quản lý chất thải y tế 48
Trang 5CTRYT Chất thải rắn y tế
CTYTNH Chất thải y tế nguy hại
QLCTYT Quản lý chất thải y tế
RSHYT Rác sinh hoạt y tế
WHO Tổ chức y tế thế giới
CHXHCNVN Công hòa xã hội chủ nghĩaViệt nam
RSHYT Rác sinh hoạt Y tế
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Cơ sở pháp lý 8
2.2.1 Một số văn bản liên quan đến quản lý chất thải rắn 8
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9
2.3.1 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 9 2.3.2 Tác động của chất thải Y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng18 2.3.3 Các biện pháp xử lý chất thải Y tế 22
2.3.4 Một số công nghệ xử lý nước thải Y tế 24
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Lục Yên 26
3.3.2 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên 26
Trang 73.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Các chỉ tiêu cần nghiên cứu 27
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 27
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn 27
3.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp và xử lý số liệu 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Lục Yên 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên và Môi trường 29
4.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa, xã hội 32
4.2 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa Huyện Lục Yên 33
4.2.1 Địa điểm xây dựng và quy mô Bệnh viện đa khoa Huyện Lục Yên 33 4.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và hoạt động chuyên môn của Bệnh việc đa khoa huyện Lục Yên 33
4.3 Điều tra đánh giá hiện trạng công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên 37
4.3.1 Nguồn phát sinh chất thải y tế tại Bệnh viện 37
4.3.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn Y tế tại bệnh viện 38
4.3.3 Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Y tế tại Bệnh viện đa khoa Huyện Lục Yên 43
4.3.4 Hiểu biết của cán bộ, nhân viên và bệnh nhân về tình hình quản lý rác thải y tế của bệnh viện 47
4.3.5 Hạn chế trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa Huyện Lục Yên 50
4.4 Thuận lợi, khó khăn và các giải pháp khắc phục, nâng cao công tác quản lý và xử lý chất thải tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên 51
4.4.1 Những thuận lợi và khó khăn 51
4.4.2 Các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý và xử lý chất thải tại Bệnh viên đa khoa huyện Lục Yên 52
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng , đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của loài người, nó đang được các quốc gia và cộng đồng thế giới quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường
có ảnh hưởng trực tiếp đến không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau Toàn thế giới đều nhận thức được rằng: Bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bên vững là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia
và cộng đồng quốc tế
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng không ngừng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh gia tăng, các cơ sở y tế không ngừng được mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên trong quá trình hoạt động hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải bỏ ra môi trường một lượng lớn chất thải y tế bao gồm cả những chất thải bỏ nguy hại Theo tổ chức y tế thế giới trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10 % là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ , chất gây độc tế bào, các chất độc hại phát sinh từ trong quá trình chuẩn đoán và điều trị đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh đến những vùng xung quanh dẫn tới nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và gia tăng tỉ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cư trong vùng tiếp giáp Hiện nay chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh vện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân
cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng
Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh những thành quả đạt được, vấn đề tồn tại hiện nay tại bệnh viện đó là tình trạng Chất Thải rắn Y Tế ( CTRYT ) thải ra với khổi lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng
Trang 10cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy
cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải nguy cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện
Đa Khoa Lục Yên – Yên Bái kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Từ đó nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm ý tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản chất thải hiện nay của huyện là nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự nhất trí của Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy PGSTS: Nguyễn Ngọc Nông và thầy Ths: Nguyễn Ngọc Sơn
Hải Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái’’
- Số liệu phải khách quan, trung thực, chính xác
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn
y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái
Trang 11- Các chỉ tiêu nghiên cứu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Áp dụng các kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
- Bổ xung tư liệu cho học tập
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
-Đề tài hoàn thành sẽ giúp mọi người hiểu hơn về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây của huyện Lục Yên
- Đánh giá thực trạng chất thải y tế tại Bệnh viện huyện Lục Yên
- Đánh giá được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế còn có những mặt hạn chế gì Từ đó đưa ra được giải pháp cũng như những kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở nhằm cải thiện những thiếu sót còn mắc phải trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – Yên Bái
-Kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ để tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về môi trường
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
1 Chất thải rắn y tế ( CTRYT ) là vật chất ở thể rắn , lỏng và khí được thải ra từ
các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
2 Chất thải y tế nguy hại ( CTYTNH ) là chất thải y tế chữa yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy,
dễ nổ, dễ ăn mòn, hoặc có tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được thiêu hủy an toàn
3 Quản lý chất thải y tế ( QLCTYT ) là hoạt động quản lý việc phân loại, xử
lý ban đầu, thug on, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiêu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện
4 Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải các chất thải y tế bao gồm: Giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sẻ dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác
5 Rác sinh hoạt y tế ( RSHYT ) là chất thải không được xếp loại chất thải nguy
hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt, là chất thải phát sinh
từ các khu vực bệnh viện như: giấy, plastic, thực phẩm, chai, lọ…
2.1.1.2 Nguồn gốc phát sinh
- Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể
- Các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động chuyên môn, từ các quá trình khám chữa bệnh
- Các chất thải sinh hoạt của bệnh nhân, thân nhân người bệnh, cán bộ nhân viên y tế tại bệnh viện
- Chất thải từ các hoạt động chung của bệnh viện như lá cây, giấy các loại…
2.1.1.3 Thành phần của chất thải rắn y tế
- Thành phần vật lý
Trang 13+ Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
+ Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…
+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
+ Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…
+ Rác, lá cây, đất đá…
- Thành phần hóa học
+ Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất…
+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa…
+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro
- Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh
Bảng 2.1: Thành phần rác thải y tế
STT Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ (%) Thành phần chất
nguy hại
5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc thủy tinh 2,3 Có
9 Đất, cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,9 Không
Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6
( Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển )
Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần rác thải y tế gồm 09 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ CTNH chiếm 22,6% Tuy chiếm ¼ thành phần nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định
Trang 14Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức WHO thành phần một số rác thải ở bệnh viện Việt Nam như sau:
Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam
3 Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3,2
( Nguồn: Bộ Y tế, 2009 ) 2.1.1.4 Phân loại chất thải rắn y tế
Căncứvàocácđặcđiểm lýhọc,hoáhọc,sinhhọcvàtínhchấtnguyhại thì việc phân loạichất thảitrongcáccơsởytế ở đa số các nước trên thế giới và của tổ chức WHO đượcphânthành5nhóm:
Chất thải lây nhiễm
- Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng gạc, bông, găng tay, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lưu
- Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm kim tiêm, lưỡi và cán dao
mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt
và chọc thủng cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn
- Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
- Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng, thuốc gây độc tế bào
Trang 15- Nhóm E: là các mô, cơ quan người, động vật, bao gồm: tất cả các mô của cơ thể,
các cơ quan, tay chân, nhau thai, bào thai…sau khi phẫu thuật bị loại bỏ
Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt động riêng giống như các chất phóng xạ Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu
và nghiên cứu Chất thải phóng xạ gồm: chất thải rắn, lỏng, khí
- Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như: gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe Các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…
Chất thải hóa học
Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng, khí Chất thải trong các
cơ sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ và chất thải hóa học nguy hại bao gồm:
- Formaldehyde được sử dụng trong khoa giải phẫu, lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác
- Các chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng phim hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde
Trang 16- Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như: phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol, methanol, acide
Bình chứa áp suất
Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng O2,
CO2, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này dễ gây cháy
nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng
Chất thải sinh hoạt
Chất thải sinh hoạt làchấtthảikhông chứacácyếutốlâynhiễm,hoá họcnguyhại, phóngxạ,dễ cháy,nổ,baogồm:
-Chấtthảisinhhoạttừcácbuồngbệnh(trừcácbuồngbệnhcáchly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại
-Chấtthảiphátsinhtừcáccôngviệchànhchính: giấy,báo,tàiliệu,vậtliệu đónggói, thùngcáctông,túinilon,túiđựngphim
-Chấtthảingoạicảnh:lá câyvà ráctừcáckhuvựcngoạicảnh
2.2 Cơ sở pháp lý
2.2.1 Một số văn bản liên quan đến quản lý chất thải rắn
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI kỳ học thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thì hành từ ngày 01/07/2006
- Chỉ thị số 17/2008/CT – TTg ban hành ngày 05/06/2008 về “ một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ – TTg”
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủsửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng
08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
Trang 17- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”;
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 đến
2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
- QCVN 02: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải y tế
- TCVN 6707 - 2009: Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải nguy hại
- Chương trình hành động của chính phủ trong “ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ
sở gây ô nhiễm môi trườn nghiêm trọng” trong đó cơ 84 bệnh viện theo quyết định số 64/2003/QĐ – TTg ngày 22/04/2003 của thủ tướng chính phủ
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.3.1 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
2.3.1.1 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ các loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả các chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 18Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại, đồng thời áp dụng cả với các chất thải y tế Công ước này đã đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp các chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ không thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật phù hợp để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc Polutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần tiến
hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ dài gây ô nhiễm môi trường Xử lý chất thải bệnh viện tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có nhiều biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
2.3.1.2 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
Chất thải y tế nói chung, chất thải y tế nguy hại nói riêng đang trở thành vấn
đề môi trường và xã hội cấp bách ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm: 1.361 cơ sở khám, chữa bệnh thuộc các tuyến trung ương, tỉnh, huyện, viện nghành và viện tư nhân; 789 cơ sở thuộc hệ dự phòng tuyến trung ương, tỉnh
và huyện; 77 cơ sở đào tạo y dược tuyến trung ương, tỉnh; 180 cơ sở sản xuất thuốc
và 11.104 trạm y tế xã Tổng lượng chất thải rắn ( CTR ) phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại phải được
xử lý bằng những biện pháp phù hợp Tổng lượng nước thải y tế phát sinh tại các
cơ sở khám, chữa bệnh cần xử lý khoảng 125.000 m3/ngày chưa kể chất lượng nước thải của các cơ sở y tế thuộc hệ dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược, sản xuất thuốc và cơ sở y tế y tế Bộ, nghành
Trang 19Bảng 2.3: Các loại CTR đặc thù phát sinh từ hoạt động y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, khu nhà hành chính,
các loại bao gói…
Chất thải chứa các vi trùng
gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của cá động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân…
Bảng 2.4: Nguồn gốc phát sinh chất thải tại bệnh viện
STT Nguồn phát sinh Loại chất thải phát sinh
1 Buồng tiêm Chất thải hóa học, bình áp suất, chất
thải sinh hoạt
2 Phòng mổ Chất thải lâm sàng, chất thải hóa
học, chất thải sinh hoạt
3 Phòng xét nghiệm X-quang Chất thải phóng xạ, chất thải hóa
học, bình áp suất, chất thải sinh hoạt
4 Phòng cấp cứu Chất thải lâm sàng, chất thải phóng
xạ
5 Phòng bệnh nhân không lây lan Chất thải sinh hoạt
6 Phòng bệnh nhân truyền nhiễm Chất thải phóng xạ, bình áp suất,
chất thải sinh hoạt
7 Khu bào chế dược Chất thải lâm sàng, chất thải phóng
xạ, chất thải sinh hoạt
8 Khu vực hành chính Chất thải sinh hoạt
(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, Quản lý chất thải nguy hại, 2003)
Trang 20Bảng 2.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
BV Trung ương (TW)
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
( Nguồn: Bộ Y tế - Quy hoạch quản lý chất thải y tế, 2009 )
Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
xử lý đúng cách sẽ là ẩn họa cho cuộc sống của người dân
Tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% và thu gom chất thải rắn y tế là 90,9% Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên thực hiện phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Phương tiện thu gom chất
Trang 21thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn chưa đồng bộ, chưa đạt yêu cầu Tỷ lệ bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế bằng lò đốt là 35,9%, số bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là 39,2% và 26,9% bệnh viện xử lý bằng cách thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu là bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi)
Trong tổng số 1.188 cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trên toàn quốc, có tới 62% cơ
sở không có hệ thống xử lý chất thải theo quy định, số đã có thì 68% không đạt yêu cầu, 73% cơ sở không đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại, 79% số không có giấy phép xử
lý nước thải vào nguồn tiếp nhận Đây là con số do Đại tá Lương Minh Thảo, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an đưa ra, đã cho thấy tính cấp báo trong vấn đề môi trường y tế hiện nay, khi nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Bảng 2.7: Thành phần trong CTR từ các bệnh viện đa khoa
Thành phần phân loại
Chất thải sinh hoạt (vỏ bánh, lá cây, hoa quả thừa…) 26,8- 40
( Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2007)
Trong thời gian qua, tại các cơ sở khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh viện có thực hiện phân loại CTR y tế là 95,6% và thu gom CTR y tế hàng ngày là 90,9%
Trang 22Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của quy chế quản lý chất thải y tế Chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom CTR y
tế đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Tỷ lệ bệnh viện xử lý CTR y tế bằng lò đốt 2 buồng hoặc sử dụng công nghệ vi sóng/nhiệt ướt khử khuẩn CTR y tế nguy hại là 29,4%, số bệnh viện hợp đồng với công ty môi trường thuê xử lý là 39,8% và 30,8% bệnh viện xử lý bằng lò đốt 1 buồng, thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (chủ yếu ở bệnh viện tuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi) Hiện
có 369 lò đốt hai buồng, 127 lò đốt một buồng Trong đó đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao
Theo số liệu thống kê cho thấy, có 773 bệnh viện cần được xây dựng và trang bị mới hoặc sửa chữa nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, trong đó khoảng gần 563 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải (chủ yếu là ở tuyến huyện và tỉnh) Hiện có khoảng 54,4% các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải (73,5% các bệnh viện tuyến Trung ương; 60,3% các bệnh viện tuyến tỉnh và 45,3% các bệnh viện tuyến huyện) Tuy vậy, hệ thống xử lý chất thải ở nhiều bệnh viện đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Theo danh sách tại Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003, ngành
Y tế có 84 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lý triệt để bao gồm 6 cơ sở do Bộ Y tế quản lý; 5 cơ sở do Bộ Quốc phòng quản lý; 73 cơ sở do các tỉnh quản lý
Theo thống kê báo cáo, tính đến hết tháng 6/2012, đã có 45/84 cơ sở (chiếm 53,6%) đã được Sở TN&MT các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chứng nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt để; 27/84 cơ sở (chiếm 32,1%) đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để nhưng chưa được Sở TN&MT các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chứng nhận hoàn thành; 12/84
Trang 23cơ sở còn lại (chiếm 14,3%) đang tiến hành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để
Đối với 6 bệnh viện do Bộ Y tế trực tiếp quản lý đã có 5/6 bệnh viện (chiếm 83,3%) được chứng nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt để, bao gồm: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Bệnh viện 74 Trung ương; Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện K và Bệnh viện C Đà Nẵng Riêng Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên hiện đang tiến hành các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường triệt để
Tính riêng cho 35 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong 1 ngày khoảng 32 tấn Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và Tâm thần Trung ương Hầu hết các chất thải rắn là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù
Theo báo cáo của tổ chức JICA năm 2011, các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và TP HCM hầu hết sử dụng thùng nhựa và các dụng cụ vận chuyển rác thải bằng tay khác Hiện việc xử lý chất thải rắn ở hệ thống bệnh viện vẫn còn thiếu, đặc biệt là hệ thống xe chuyên dụng, hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện đến nơi chôn lấp chủ yếu do các công ty môi trường đảm nhiệm, các thiết bị vận chuyển vẫn chưa bảo đảm tính
an toàn
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 vừa được Bộ TNMT công bố, khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý mới chỉ đạt 68%, tổng khối lượng chất thải phát sinh Chất thải rắn y tế xử lý không đạt chuẩn là 32% là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Theo Thượng tá Nguyễn Việt Tiến, Phó trưởng phòng PCTPVMT, Công an
TP Hà Nội, thì thủ đô hiện có trên 1000 cơ sở KCB với 169 cơ sở sử dụng máy chụp X-quang, thế nhưng đến hết năm 2010, chỉ có 25 bệnh viện, viện, phòng khám đa khoa đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Việc vi phạm trong thu gom,
xử lý chất thải rắn y tế còn phổ biến Bệnh phẩm lẽ ra phải được chôn, hoặc tiêu hủy bằng hóa chất, rồi đưa vào lò đốt, nhưng nhiều cơ sở, nhất là ở các cơ sở y tế
Trang 24tư nhân, đã không chấp hành, mà đưa vào rác thải sinh hoạt Chỉ một số đơn vị có
hệ thống nước thải tập trung như Bệnh viện Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Việt - Đức, Bạch Mai v.v… còn lại, đều xả trực tiếp ra môi trường, trong đó có những cơ sở y
tế đầu ngành của thành phố trong việc KCB lây nhiễm như Bệnh viện Đống Đa
Người dân tại thôn Vân Trì (xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội) phát hiện một cơ sở sản xuất khung nhôm kính tại xóm Trại chăn nuôi rộng khoảng 300
m2, tập kết hàng trăm bao tải chứa rác thải y tế đã được dùng cho người bệnh Đặc biệt, nhiều loại rác thải y tế có nguồn gốc từ khoa lây nhiễm của một bệnh viện, đã bốc mùi hôi thối và nồng nặc mùi thuốc kháng sinh
Một lo ngại nữa đã được Cục an toàn bức xạ hạt nhân, Bộ Y tế và Cục PCTPVMT kiểm tra cho thấy: Việc sử dụng các thiết bị bức xạ như máy X-quang được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện lớn, nhưng lại chưa bảo đảm an toàn cho người bệnh khi 90% liều bức xạ mà con người nhận được từ các nguồn nhân tạo là do chiếu xạ y tế
Cả nước hiện có hơn 2.000 cơ sở X- quang, nhưng tới 55% phòng chụp không đảm bảo che chắn, 70% không đủ tiêu chuẩn kích thước và nhiều phòng chụp có mức chiếu xạ vượt 2,5 lần giới hạn cho phép
Đó là chưa kể chất bài tiết của những người vừa chụp X-quang cũng gây hại lớn với những người xung quanh nếu không được kiểm soát chặt chẽ Chỉ một số ít bệnh viện có hệ thống kiểm soát nguồn phóng xạ hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (TP Hồ Chí Minh) … còn hầu hết chưa có Mà theo các chuyên gia y tế, tác hại của nhiễm phóng xạ là lâu dài với các hậu quả như có thể ngừng hoạt động tủy xương, tiêu chảy, sụt cân, nhiễm độc máu, vô sinh, ung thư …
Để cho việc quản lý chất thải được tốt thì việc phân luồng chất thải trong bệnh viện trước khi đem đi xử lý là rất cần thiết
Trang 25
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)
Hình 2.1: Sơ đồ phân luồng chất thải trong các bệnh viện trước khi xử lý
2.3.1.3 Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải Y tế tại tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (157 xã và
23 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong
61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước…Để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân trong tỉnh các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh
đã tăng cả số lượng và quy mô giường bệnh Vì vậy lượng rác thải y tế ngày càng
Chất thải sinh hoạt
Chất thải phóng
xạ, hóa học và thủy ngân
Lưu giữ tạm thời
Vận chuyển tới khu tiêu hủy đặc biệt
Thu gom tại chỗ
Trang 26gia tăng tuy nhiên hệ thống xử lý rác thải và nước thải tại đây vẫn chưa đủ hiện đại nên việc xử lý rác thải y tế còn quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnh nếu không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ô nhiễm nguồn nước Mặt khác việc thiêu hủy bằng lò thiêu ngoài trời, thủ công đã
và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và thải ra các chất độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân như: Chì, cadimi, Furan… gây mưa axit, gây hiệu ứng nhà kính, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm đất do tro lò đốt có chứa kim loại nặng
Hiện nay trên địa bàn tỉnh, nhu cầu xây dựng mới và nâng cấp, sửa chữa các
cơ sở xử lý chất thải rắn y tế nguy hại là rất lớn Tuy nhiên địa phương còn trong tình trạng thiếu vốn, hạn chế về công nghệ, kỹ thuật, kêt cả việc quy hoạch đất để xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại, vì vậy việc đầu tư nguồn vốn để xây dựng và mua sắm trang thiết bị hiện đại để xử lý chất thải y tế nguy hại là rất cần thiết
2.3.2 Tác động của chất thải Y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
Chất thải y tế không được xử lý đúng cách thì sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái
Chất thải rắn tại nơi tập trung nếu không được bảo quản tốt sẽ sinh ra mùi gây ô nhiễm môi trường xung quanh, các vi khuẩn lây nhiễm có hại trong rác thải
sẽ phát tán trong không khí gây các bệnh về đường hô hấp
Nước mưa hòa tan các chất độc hại và vi trùng có trong rác từ đó ảnh hưởng đến đất đai và nguồn nước mặt cũng như nước ngầm
Quá trình đốt chất thải y tế sẽ sinh ra các khí độc hại như đioxin, furan…gây
ô nhiễm môi trường
Các phương tiện giao thông của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân ra vào bệnh viện cũng sẽ phát sinh một lượng khí thải như: SO2, NO2, Pb, bụi…
Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh tình trạng tổn thương nghề nghiệp của các nhân viên y tế
Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế đều là đối tượng có nguy cơ Họ có thể là nhân viên và người bệnh trong các cơ sở y tế làm phát sinh ra các chất thải, những người trực tiếp tham gia xử lí, tiêu hủy chất thải và
Trang 27người dân trong cộng đồng dân cư trong trường hợp chất thải y tế chưa được xử
lí thích đáng
2.3.2.1.Tác động đến sức khỏe cộng đồng
a Tác động của chất thải nhiễm khuẩn
Chất thải nhiễm khuẩn chứa hàng loạt các vi sinh vật gây bệnh, những tác nhân gây bệnh này có thể tác động đến sức khỏe qua các con đường như:
- Xâm nhập qua vết da bị nứt nẻ hoặc bị thương
ăn phải)
Bảng 2.8 Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế
Các dạng nhiễm
khuẩn
Nhiễm khuẩn đường
tiêu hóa
Vi khuẩn đường tiêu hóa:
Salmonella, shigella, trứng giun
Phân và chất nôn
( Nguồn Bộ Y tế, 2006)
Trang 28Theo điều tra của WHO, điều dưỡng viên, hộ lý và những người thu gom vận chuyển rác thải là nhóm người có nguy cơ cao do bị tổn thương bởi các vật sắc nhọn trong khi tiếp xúc trực tiếp với chúng, trong quá trình phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải
Các vật sắc nhọn không chỉ là các nguyên nhân gây ra các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ các vật sắc nhọn được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 2.9: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn
(Nguồn: Hồng Hải, 2010)
c Tác động của hóa chất thải và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn mòn, chất dễ cháy, chất gây phản ứng, gây nổ Có thể là các loại thuốc quá hạn, hết tác dụng cần vứt bỏ
Bác sỹ hay dược sỹ gây mê có thể mắc các bệnh về đường hô hấp hoặc viêm
da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân Chúng có thể gây độc cho người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng như tổn thương qua da hoặc bị bỏng…
Các hoá chất khử khuẩn dược sử dụng với một lượng lớn và thường gây ăn mòn Các chất thải hoá học thải bỏ vào hệ thống cống rãnh cũng gây ảnh hưởng vì chúng chứa kháng sinh, một số kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol, chất sát khuẩn hoặc khử khuẩn khác
d Tác động của chất thải phóng xạ
Phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu…của khoa y học hạt nhân Trong quá trình làm việc nếu không cẩn thận những người tiếp xúc với chúng có thể bị nhiễm xạ Trên thế giới có rất nhiều trường hợp bị nhiễm xạ từ chất thải bệnh viện, tại Brazil năm 1988 có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp
Trang 29tính và 28 người bị bỏng phóng xạ nặng, một trường hợp bị ung thư do rò rỉ phóng
xạ trong bệnh viện
Biến cố có thể xảy ra bởi các chất thải có tính hoạt hoá thấp do lớp bề mặt bên ngoài của các thùng chứa bị ô nhiễm hoặc do bảo quản không đúng cách Mọi nhân viên y tế tiếp xúc với chất thải phóng xạ đều có nguy cơ mắc bệnh cao
2.3.2.2.Tác động tới môi trường
a.Môi trường không khí
Môi trường không khí có thể bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân sau:
- Chất lỏng sau khi được xử lý đổ ra mương thoát do quá trình bay hơi nên gây mùi khó chịu cho môi trường xung quanh
- Sự phát tán vi khuẩn gây bệnh trong không khí, đặc biệt từ các bệnh lây
nhiễm qua đường hô hấp
- Một số xét nghiệm độc chất, phòng chiếu xạ Cobalt, X-quang tạo ra một lượng ít chất độc hại và bụi, khí thải từ quá trình đốt chất thải y tế (HF, HCl, CO,
Hg,…)
- Khí thải của các phương tiện giao thông vận tải đi lại tại khu vực bệnh viện
b Môi trường nước
Đặc trưng của chất thải bệnh viện là bị nhiễm BOD, COD, kim loại nặng và các vi khuẩn gây bệnh…do vậy nếu không được quản lý nghiêm ngặt thì nước mua chảy tràn sẽ cuốn nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt gây ô nhiễm nguồn nước mặt Gây ra các bệnh truyền nhiễm đường ruột như: thương hàn, tả,…
c Môi trường đất
Nước thải khi thải vào đất sẽ gây biến đổi tính chất đất rất nghiêm trọng, có thể gây kiềm hóa đất, phá vỡ kết cấu đất và hủy hoại hệ sinh thái trong đất Đất tiếp nhận nước thải bị ô nhiễm bởi hàm lượng chất hữu cơ bán phân hủy cao, lượng các ion có tính năng phân hủy các keo đất lớn làm biến đổi cấu trúc đất, hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật có lợi cho đất
Như vậy để tránh được sự nguy hại của chất thải y tế đối với sức khỏe và môi trường và bảo vệ những người thường xuyên tiếp xúc với chất thải y tế thì ngành y tế phải quan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác xử lý chất thải y tế Người đứng đầu các cơ sở y tế cần lập kế hoạch quản lý chất thải y tế và xây dựng đề án đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng cho quản lý chất thải y tế của đơn vị, mua và cung
Trang 30cấp đầy đủ các phương tiện chuyên dụng, phối hợp với các cơ quan môi trường, các cơ sở quản lý chất thải địa phương để xử lý tiêu hủy chất thải y tế đúng quy định Các nhân viên y tế cần thực hiện tốt công tác thu gom, phân loại rác thải ngay tại nơi phát sinh và lưu giữ đúng quy định Người bệnh khi đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế cần có ý thức giữ gìn vệ sinh chung …( Trần Duy Thạch,
2.3.3.2 Công nghệ lò hấp
Lò hấp được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành y tế để tiệt trùng các thiệt
bị y tế và xử lý rác thải y tế lây nhiễm trở thành rác thải thông thường Công nghệ lò hấp sử dụng sự kết hợp giữa xử lý ở nhiệt độ cao, hấp hơi và tạo áp lực lớn để khử vi trùng, vi rút gây bệnh và các mầm sinh học để biến rác thải y tế độc hại trở thành rác thải thông thường có thể được xử lý theo quy trình bình thường như chôn xuống đất Công nghệ lò hấp có mức độ tiêu diệt virus và tác nhân gây bệnh cao nhất so với các loại hình công nghệ khác Vì những ưu điểm trên, công nghệ lò hấp được lựa chọn phổ biến sử dụng trong các bệnh viện để thay thế dần cho công nghệ lò đốt
Trang 312.3.3.3 Tiệt trùng bằng hóa chất
Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ sự độc hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường Hóa chất được kết hợp với nước nóng để khử trùng Các loại hóa chất hay sự dụng là Chlorine, khí Ozone, Formaldehyde, Ethylene, khí oxit, khí propylene oxide và axít periacetic Công nghệ này cho phép xử lý triệt để một số loại rác thải,tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứng phụ đối với phần rác thải sau xử lý Vì vậy việc sử dụng cách thức tiệt trùng bằng hóa chất ít được sử dụng trong các bệnh viện do các loại rác thải y tế rất đa dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng
2.3.3.4 Xử lý bằng công nghệ vi sóng
Công nghệ xử lý bằng vi sóng được sử dụng khá phổ biến tại các cơ sở y
tế Quy trình xử lý đó là rác thải trước hết được nghiền và trộn với nước, sau đó dùng vi sóng xử lý Khi kết hợp việc nghiền rác thải khi xử lý khiến cho tổng khối lượng rác thải giảm tới 80% trong quá trình tiêu diệt các chất độc hại và tiệt trùng Tuy nhiên xử lý vi sóng được đánh giá không phù hợp với một số loại rác thải chứa hóa chất do tạo ra những tác động phụ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của người tham gia vào quy trình xử lý rác thải Mặt khác công nghệ vi sóng chỉ thích hợp cho những trung tâm y tế có quy mô xử lý rác thải nhỏ
2.3.3.5 Xử lý bằng công nghệ sinh học
Hình thức xử lý này đang dần phát triển Quy trình xử lý có việc sử dụng chất vi sinh để tiêu diệt vi trùng Về cơ bản quy trình xử lý này khá giống với việc xử lý bằng hóa chất vì tận dụng các tính năng của vi sinh (hóa chất) để tiêu diệt vi trùng
2.3.3.6 Xử lý bằng chất phóng xạ
Hình thức xử lý này chỉ phù hợp với một số loại rác thải đặc biệt Nguyên
lý là sử dụng chất phóng xạ nhằm tiêu diệt vi khuẩn, mầm bệnh Phương pháp này đòi hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ Việc sử dụng phương pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng để đảm bảo an toàn cho người sử dụng
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển Vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn
Trang 32đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp
2.3.4 Một số công nghệ xử lý nước thải Y tế
Nhóm 1: Nước thải được đưa vào bể tự hoại và xử lý ban đầu với bể lắng, sau đó nước thải được khử trùng với Clo rồi được xả ra ngoài Đây là công nghệ phổ biến được sử dụng trong các bệnh viện cũ
Hình 2.2 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp vật lý đơn giản
( Lắng cặn, JICA, 2006)
Nhóm 2: Nước thải sau khi dời bể chứa sẽ được xử lý hóa học tại bể lắng, lọc qua bộ lọc giỏ giọt và được khử trùng bằng Clo, trước khi được thải ra hệ thống thoát nước chung Tại một số bệnh viện, nước thải sau khi lắng cặn tại bể lắng sẽ được bơm lên bể chứa và phân hủy tự nhiên ( xử lý theo hệ thống hồ cạn và hệ thống ngập nước)
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học truyền thống
(Màng lọc nhỏ giọt, JICA,2006)
Ổn định
Ép Thu bùn
Trang 33Nhóm 3: Nước thải sau khi ra khỏi bể tự hoại được xử lý bằng công nghệ bùn kích hoạt và được khử trùng trước khi xả thải Công nghệ này áp dụng chủ yếu
ở các cơ sở y tế xây dựng sau 1990
Hình 2.4 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học truyền thống
(Bùn kích hoạt, JICA, 2006)
Nhóm 4: Là nhóm công nghệ cải thiện từ 3 nhóm trên và là nhóm công nghệ
xử lý nước thải tiên tiến Nước thải sau khi dẫn từ bể tự hoại sẽ được xử lý sơ bộ tại bể lắng và sau đó được xử lý sinh học với một lượng lớn vi sinh vật Sau đó là giai đoạn lắng và khử trùng thứ cấp
Hình 2.5 Sơ đồ xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học cải tiên
(Thông gió tiếp xúc màng sinh học, JICA, 2006)
Khử trùng
Phản ứng sinh học
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái
- Cơ sở vật chất ,trang thiết bị quản lý chất thải rắn y tế của Bệnh viện
- Dụng cụ thu gom , vận chuyển ,lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế
- Hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Nhân viên y tế, vệ sinh và bệnh nhân là những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên, công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – Yên Bái
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – Yên Bái
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 05/05 – 05/08/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Lục Yên
- Điều kiện tự nhiên và môi trường
- Điều kiện kinh tế - văn hoá – xã hội
3.3.2 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên
- Quá trình hình thành và phát triển
- Cơ cấu tổ chức và quy mô của Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên
- Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên
3.3.3 Điều tra đánh giá các công tác thu gom và xử lý chất thải rắn Y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên
- Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh/ngày tại bệnh viện
- Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên
Trang 35- Hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân và người nhà đang điều trị tại bệnh viện
3.3.4 Thuận lợi, khó khăn và các giải pháp khắc phục
- Thuận lợi và khó khăn
- Các giải pháp khắc phục
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu cần nghiên cứu
- Khối lượng chất thải rắn y tế/ ngày:
+ Khối lượng chất thải rắn y tế/giường bệnh/ngày
+ Tần suất thời gian thu gom/ngày
+ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
- Các số liệu thu thập tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – Yên Bái, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo, đề tài nghiên cứu…
- sử dụng tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên bằng cách thu thập số liệu từ các cơ quan quản lý
- Thu thập thông tin qua sách báo, mạng internet và các tài liệu liên quan khác…
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn
- Điều tra khảo sát thực địa tại bệnh viện về tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của bệnh viện
+ Cân chất thải tại từng khoa/ tuần: 3 lần/ tuần vào thứ 2, thứ 4, thứ 6
+ Thu thập một số hình ảnh về công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện + Kiểm tra dụng cụ thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải rắn y tế của bệnh viện
- Điều tra phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên: 40 nhân viên bệnh viện và 20
bệnh nhân và người nhà bệnh nhân