ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRƯƠNG THỊ THU THỦY QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ THU THỦY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP
CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ THU THỦY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP
CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHÍ THỊ HIẾU
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phí Thị Hiếu
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu có xuất xứ rõràng, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danhmục tài liệu tham khảo của luận văn Các số liệu, những kết luận nghiên cứuđược trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dướibất cứ hình thức nào Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu củamình
Tác giả luận văn
Trương Thị Thu Thủy
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS Phí Thị Hiếu - người đã luôn tâm huyết và nhiệt tình hướng dẫn, động viênkhích lệ, dành nhiều thời gian hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian họctập và nghiên cứu
Xin gửi tấm lòng tri ân tới gia đình của tôi Những người thân yêu tronggia đình luôn là những nguồn động viên lớn lao, luôn dành cho tôi sự quan tâm,giúp đỡ trên mọi phương diện để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trương Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu
4 8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1 Quản lý 7
1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã, hay cấp cơ sở) 9
1.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 12
1.2.4 Bồi dưỡng lý luận chính trị 15
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị 19 1.3 Lý luận về bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Trang 6iiitheo định hướng phát triển nguồn nhân lực 20
Trang 71.3.1 Vai trò, chức năng bồi dưỡng 20
1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 21
1.3.3 Phương pháp bồi dưỡng và hình thức bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 24
1.3.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ mới 25
1.4 Bí thư đảng bộ với hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
28 1.5 Lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 29
1.5.1 Nội dung quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 29
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 32
1.6.1 Những nhân tố khách quan 32
1.6.2 Những nhân tố chủ quan 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 38
2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 38
2.1.1 Vài nét về khách thể khảo sát 38
2.1.2 Tổ chức khảo sát 40
2.2 Thực trạng bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 40
2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng 41
2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy bồi dưỡng các lớp lý luận chính trị 41
iv
Trang 82.2.3 Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng lý luận chính
trị 42
2.2.4 Kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị 46
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 49
2.3.1 Thực trạng quản lý kế hoạch bồi dưỡng LLCT 49
2.3.2 Quản lý tổ chức thực hiện các khóa bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 52
2.3.3 Chỉ đạo thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 54
2.3.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 57
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt dộng bồi dưỡng lý luận chính trị 59
2.4 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 61
2.4.1 Kết quả đạt được 61
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 62
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
66 3.1 Các nguyên tắc đề xuất 66
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 66
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 66
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 67
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 67
v
Trang 93.2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở dựa trên
định hướng phát triển nguồn nhân lực
67 3.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở tại các Trung tâm bồi dưỡng chính trị 69
3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 71
3.2.4 Tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, giảng viên kiêm chức, báo cáo viên 75
3.2.5 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả khóa học và kết quả bồi dưỡng của CBCC cấp cơ sở tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị 77
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 82
Kết luận chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
vi
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giảng viên tham gia giảng
dạy cho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 42Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp giảng dạy trong hoạt động bồi
dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thànhphố Tuyên Quang 43Bảng 2.3 Thực trạng sử dụng hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 45
Bảng 2.4 Kết quả mở các lớp bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt của
Đảng ủy thành phố Tuyên Quang trong 3 năm (từ năm 2014 đến năm 2016) 47Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL, GV về việc lập kế hoạch bồi dưỡng CBCC
CCS theo định hướng phát triển nguồn nhân lực 50Bảng 2.6 Tổ chức thực hiện các khóa bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ
sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang 53Bảng 2.7 Thực trạng chỉ đạo thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT cho
CBCC CCS theo định hướng phát triển nguồn nhân lực (ý kiếncủa CBQL, GV) 55Bảng 2.8 Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng LLCT
cho đội ngũ CBCC CCS 57Bảng 2.9 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi
dưỡng lý luận chính trị cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thànhphố Tuyên Quang 59
Trang 12Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thực hiện vai trò của mình trong việclãnh đạo, tổ chức, động viên quần chúng ở Việt Nam hiện nay là nhằm thúc đẩy
sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá tưtưởng nói riêng và góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi
mới đất nước nói chung, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
Trình độ lý luận chính trị là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầucủa người cán bộ lãnh đạo, quản lý Vấn đề này được xem như chìa khoá giúpcho người cán bộ nhận thức thực tiễn một cách sâu sắc và chỉ đạo thực tiễn đạthiệu quả cao Mọi đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật củaNhà nước có biến thành hiện thực hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực vàtrình độ lý luận của đội ngũ cán bộ Họ là người tiếp thu, bổ sung và phát triểnđường lối, chủ trương của Đảng cho phù hợp với điều kiện cụ thể địa phươngnơi mình công tác
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay nói chung
và ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nói riêng, đa số trưởng thànhtừ
Trang 13thực tế phong trào, họ ít được đào tạo lý luận chính trị một cách bài bản, nặng
về kinh nghiệm, trình độ lý luận chính trị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đếnhoạt động của địa phương Tình trạng suy nghĩ và hành động theo thói quen,kinh nghiệm chủ nghĩa và lối suy nghĩ thiển cận, cảm tính vẫn đang là lực cảntrong bản thân không ít cán bộ cấp cơ sở Tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự chỉ đạohướng dẫn của cấp trên, chưa dám đề xuất những biện pháp tích cực, phù hợpvới đơn vị vẫn còn khá phổ biến Điều này chứng tỏ rằng, trình độ lý luận chínhtrị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của thựctiễn đổi mới Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với chiến lược cán bộcủa Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước
Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ngang tầm, góp phầnthực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải nâng cao trình
độ lý luận chính trị Chính vì vậy, mặc dù vấn đề nâng cao trình độ lý luậnchính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp đã được khá nhiều các nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu, nhưng với mong muốn góp một tiếng nói từ thực tiễnđối với công tác cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi chọn vấn
đề: Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực làm đề tài luận văn Thac sĩ.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
Trang 143.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 15Hoạt động quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố TuyênQuang, Tỉnh Tuyên Quang.
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở của thành phố Tuyên Quang trong những năm gần đây tuy đãđược nâng lên song chưa đáp ứng được theo định hướng phát triển nguồn nhânlực, một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do việc quản
lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều hạn chế bất cập Nếu có một
hệ thống các biện pháp quản lí phù hợp, trên một cơ sở khoa học vững chắc thìchất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở sẽđược nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý bồi dưỡng lý luận chínhtrị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồnnhân lực
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị chođội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ởthành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trịcho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhânlực ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận
chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhânlực của Bí thư Đảng bộ thành phố Tuyên Quang được xác định trong Văn kiệnĐại hội Đảng lần thứ 12, đó là năng lực lý luận và khả năng vận dụng lý luậnvào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sởtrong
Trang 16thời kỳ mới.
- Số liệu được lấy từ năm 2014 đến năm 2016
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp tổng quan lí luận để tìm hiểu tình hình nghiên cứu và khaithác tư liệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộchủ chốt cơ sở
- Phương pháp lịch sử - logic để kế thừa các thành tựu lí luận qua các kếtquả nghiên cứu đã có và xác định cách tiếp cận khoa học về quản lý hoạt độngbồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướngphát triển nguồn nhân lực
- Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết để xác định các khái niệm
và quan điểm cơ bản về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho độingũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
- Phương pháp khái quát hóa để xây dựng khung lí thuyết phù hợp với tên
đề tài nghiên cứu là quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũcán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Chúng tôi xây dựng các mẫu phiếu khảo sát dành cho cán bộ lãnh đạoquản lý để tìm hiểu nhu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng lýluận chính trị cho cán bộ và thực trạng quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
- Phương pháp tổng kết kinh
nghiệmQua thực tiễn nhiều năm công tác và giảng dạy tại Trung tâm Bồi dưỡngchính trị thành phố, qua thực tiễn phụ trách, quản lý các lớp bồi dưỡng tạiTrung tâm bồi dưỡng chính trị, rút ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn
về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt
để từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận
Trang 17chính trị.
Trang 18- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu các Kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị của Thành ủy, Trungtâm Bồi dưỡng chính trị thành phố, rút ra những ưu điểm, hạn chế khó khăn vềcông tác bồi dưỡng lý luận chính trị, từ đó đề xuất các biện pháp để nâng caohiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận chính trị
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về lĩnh vực bồi dưỡng
lý luận chính trị và quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị để tham khảo;đồng thời để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài liệutham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhânlực
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quangtheo định hướng phát triển nguồn nhân lực
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh TuyênQuang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ
SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp cơ sở là một nội dung giáo dục quan trọng, nhằm giúp các trường chính trịtỉnh, thành phố thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện về phẩm chất và năng lực(nhân cách) cho người học Khi còn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “Công việc thành công hay thất
bại đều do cán bộ tốt hay kém ” [17, tr.72] Từ quan điểm đó Người coi trọng
mục tiêu, nội dung giáo dục tư tưởng chính trị thông qua học tập lý luận chính
trị trong các nhà trường như: “ Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải
đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế” [17, tr.73].
Khi bàn về mục tiêu giáo dục, GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc - nhà Tâm lý
học hàng đầu nước ta nêu rõ “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết
về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật văn hóa xã hội Hình thành cho mọi công dân có thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" [13, tr.40].
Dưới góc độ nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị, các biện pháp giáodục lý luận chính trị cho học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều đề tàinghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp của học viên các khoá học tại Học
Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia công bố, chẳng hạn như: “Chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng
Trang 20cán bộ chủ chốt cơ sở xã, phường, thị trấn ở trường Chính trị Lê Duẩn trong giai đoạn hiện nay” (luận văn Thạc sỹ, 2007 - Hoàng Đức Dinh) [10].
Khai thác dưới góc độ phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường,gia đình và xã hội để xây dựng biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức cho sinhviên trường Cao đẳng Kinh tế Thái Nguyên đó là công trình nghiên cứu mang
tên: “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo
đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên”
(luận văn Thạc sĩ, 2009-Chu Mạnh Cường) [9]
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo
dục LLCT khác như: “Quan hệ giữa lý luận và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn [19]; Đào Duy Tùng, “Một số vấn đề về công tác tư tưởng” [28]; “Mấy vấn đề
trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương [20]; “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận" của Trần Đình Huỳnh [15].
Nhìn chung, những công trình trên đã nghiên cứu sâu sắc về đổi mới côngtác giáo dục LLCT cho người làm công tác giảng dạy hoặc người cán bộ lãnhđạo chủ chốt, nhưng chưa đề cập đến đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp cơ sởtheo định hướng phát triển nguồn nhân lực Như vậy, Quản lý hoạt động bồidưỡng lý luận chính trị cho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng pháttriển nguồn nhân lực là mảng đề tài cần được quan tâm nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao độngtrong một tổ chức nhất định Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệuquả và năng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy,phối hợp để điều hành, kiểm tra, điều chỉnh Chính vì vậy, người ta quan niệmquản lý là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xãhội loài
người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm
Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động
của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công
Trang 21việc” hay quản lý là: “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý lý lịch, quản
lý vật tư” [31].
- Theo C.Mác: "Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành
trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [6].
- F.W.Taylor (Mỹ, 1856-1915) được đánh giá là "Cha đẻ của thuyết quản
lý khoa học" đã đưa ra định nghĩa: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [23].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động khách thể quản
lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [21, tr.123].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính “Quản lý là sự tác động có định hướng có
chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra Hay nói cách khác: Quản lý
lŕ quá trěnh đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [24, tr.2,3].
Tóm lại, có nhiều khái niệm, cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song
có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lênđối tượng quản lý nhằm làm cho hệ quản lý vận động phù hợp với quy luậtkhách
quan
Do đó, quản lý là một hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thiết kế và tạo
ra môi trường mà ở đó mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động laođộng của xã hội nhất định để đạt được mục tiêu, dự kiến trong những điều kiện,phương tiện và các hoạt động khác của xã hội Quản lý có tầm quan trọng đặcbiệt đó là tính hiệu quả tối ưu trong các hoạt động Chất lượng phụ thuộc vàolĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người Chất lượng quản lý được đánh
Trang 22giá ở chỗ cùng mục tiêu và kết quả người quản lý giỏi sẽ đưa tập thể đạt đến nhanh
hơn, ít tốn kém hơn và thoả mãn yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý
Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học…) với tư cách
là một hệ thống xã hội cần có cả một khoa học và nghệ thuật để tác động vào
hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằmđạt tới các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động
1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã, hay cấp cơ sở)
Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về CBCC Để nhận thức đầy
đủ và đúng đắn vấn đề này, cần làm rõ một số khái niệm sau đây:
- Thứ nhất, khái niệm "cán bộ"
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: "Cán
bộ: 1 Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước 2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước" [31] Theo Điều 1 của Pháp lệnh Công chức do Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 9/3/1998: "Cán bộ, công chức là công dân
Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách" [22].
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng đểchỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoànthành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công
Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cáchhiểu cơ bản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệpnhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và
cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ
chức để phân biệt với người không có chức vụ
Trang 23Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốn đặctrưng cơ bản:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong
HTCT lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động
+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoànthành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung,chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lýhoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc,hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hìnhthành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổnhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát,
giản dị và dễ hiểu Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng,
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng"
[18]
- Thứ hai, khái niệm "chủ chốt"
Theo Đại từ điển tiếng Việt, từ "chủ chốt" là "quan trọng nhất, có tác
dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào" [31].
- Thứ ba, khái niệm "cán bộ chủ chốt"
Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu "cán bộ chủ chốt" làngười có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, làm nòng cốt trong các tổ chứcthuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các
Trang 24nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức
Trang 25năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnhvực công tác được giao.
Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết địnhtrong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra cácquyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trêngiao Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc;
bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinhnghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, CBCCcòn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúngthực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủyếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng,chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịutrách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn
vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận
Vậy cán bộ chủ chốt là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Cán bộ làgốc của mọi công việc Trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt là gốccủa cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy
tổ chức Đảng và Nhà nước Cán bộ chủ chốt cơ sở, phường, thị trấn (sau đây
gọi chung là cán bộ chủ chốt cơ sở hoặc cấp cơ sở) là những người đứng đầu, phụ trách một đơn vị, một tổ chức, một tập thể nào đó do bầu cử, bổ nhiệm hay chỉ định ở cấp cơ sở Hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đòi hỏi phải ra được những văn bản, quyết định đúng đắn nhằm chỉ đạo kịp thời các lĩnh vực phát triển theo đúng đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với cơ
sở, đơn vị Điều đó đòi hỏi ở người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, một mặt
phải nắm chắc, hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước; mặt khác, phải tường tận tình hình thực tế của cơ sở, đơn vị về mọi mặt
và xu hướng
Trang 26vận động của tình hình đó Đồng thời, họ còn phải biết huy động sức mạnh trítuệ của tập thể, của quần chúng Đó chính là những điều kiện để người lãnh đạochủ chốt cấp cơ sở xây dựng được các quyết định, các chương trình, kế hoạchvừa phù hợp với thực tiễn ở cơ sở vừa là sự cụ thể hóa sinh động, sáng tạo chủtrương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và Nghị quyết của cấp uỷcấp trên [18].
1.2.3 Phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực và phát triển
nguồn nhân lực Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan
hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [dẫn theo 4] Ngân hàng
thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trílực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bêncạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộnhững người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động, nhân lực được hiểutheo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức laođộng cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do
đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theonghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sựphát triển kinh tế
- xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng thamgia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vàoquá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huyđộng vào quá trình lao động
Dưới góc độ kinh tế phát triển: nguồn nhân lực là một bộ phận dân sốtrong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực đượcbiểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao
Trang 27động làm
Trang 28việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từhọ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độlành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độtuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việclàm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Nhưvậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lạikhông phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưngkhông tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìmviệc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổnghoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của mộtquốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo củamột dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinhthần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặcbiệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển conngười, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong
hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảođảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tưcho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở nền tảng cho sự phát triểnbền vững
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn cónhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực
Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồmgiáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Có quan điểm cho rằng: pháttriển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinhthần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngườitrở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp
Trang 29ứng
Trang 30được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.Một số tác giả khác lại quan niệm: phát triển là quá trình nâng cao năng lực củacon người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khaithác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân cônglao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những luận điểm trình bày trên có thể hiểu: phát triển nguồn nhân lực
của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây
thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hộicủa nguồn nhân lực của một quốc gia
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, mộtngười lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng vớimột ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹthuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề).Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đếnchất lượng nguồn nhân lực là nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốcgia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quantrọng, là nhóm tinh tựu nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồnnhân lực chất lượng cao không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lượngnguồn nhân lực nói chung của một đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao lànguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tinhọc; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việchợp tác; có thái độ, tác
Trang 31phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc Như vậy, nguồn nhân lực chấtlượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khảnăng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trongsáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng,nhưng phải thực chất.
Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá,hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượngcao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gầnđây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựatrên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sởhiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọngnhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển,
có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành
“nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới cónhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốcgia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu
tư, có môi trường chính trị - xã hội ổn định
1.2.4 Bồi dưỡng lý luận chính trị
Theo tổ chức UNESCO “Bồi dưỡng với nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá
trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc
kỹ năng chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”
[29]
Như vậy, thực chất của bồi dưỡng là quá trình bổ sung những thiếu hụt về
Trang 32tri thức kỹ năng hoặc để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã
có, làm tăng thêm lượng vốn hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào
đó nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệuquả lao động Và chủ thể bồi dưỡng là những người đã được đào tạo và có trình
độ chuyên môn nhất định, mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất vànăng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao
hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn với phương châm
“Học tập suốt đời” để nâng cao hiệu quả công việc đang làm
1.2.4.2 Lý luận chính trị
Lý luận, theo ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, nghĩa là tôi đang xem xét, đangnghiên cứu Trong nghĩa rộng, lý luận là hệ thống các quan điểm, các tư tưởng,các khái niệm hướng tới việc tiếp cận và giải thích một sự vật, hiện tượng nào
đó Trong nghĩa hẹp, lý luận là hình thức phát triển cao nhất của nhận thức khoahọc mang lại những khái niệm tổng thể về những quy luật và những mối liên hệ
của một phạm vi của hiện thực nào đó V.I.Lênin viết: "nhận thức tồn tại trong
dạng lý luận, học thuyết cần phải đưa lại khách thể trong sự tất yếu của nó, trong các mối quan hệ mọi mặt của nó" [30].
Xét về cấu trúc, lý luận là thể hiện sự phân hoá tri thức bên trong, nhưngtổng hợp hệ thống tri thức có tính phụ thuộc lôgíc của những yếu tố này vàonhững yếu tố kia, phân chia nội dung của lý luận từ tổng số của những khẳngđịnh và khái niệm tức là từ cơ sở xuất phát của lý luận theo các nguyên tắc lôgícphương pháp luận nhất định
Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợpnhững tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy lại trong quá trình lịch sử Bản chấtcủa dư luận nằm ở chỗ, dư luận là một hệ thống những tri thức được khái quát
từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thếgiới khách quan Sự phát triển của nhận thức dẫn đến sự xuất hiện của lý luận
và lý luận được hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được
Trang 33nâng cao dần để trở thành lý luận Nhưng lý luận ra đời không phải do nhu cầucủa bản thân lý luận mà do nhu cầu chủ yếu của hoạt động thực tiễn của conngười, chúng ta khẳng định rằng, thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lýluận.
Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quanniệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực Lý luận
là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan Mọi Lý luận đều quy định bởihoàn cảnh lịch sử, được hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ
thuật và thực nghiệm Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những
kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [18].
Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thunhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạtđộng tổng thể của xã hội Thuật ngữ lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổchức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội Với tư cách là sản phẩm cao nhấtcủa tư duy có tổ chức, Lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của con người đốivới hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức hiện thực
Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy vềmột tổng thể các khách thể nào đó Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặtchẽ với nhau về mặt lôgíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, pháttriển của khách thể để nghiên cứu
Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng Đảng ra đời trênnền tảng tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giácngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó Khi đảng rađời, cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược sách lược do Đảng đề ra cũngdựa trên nền tảng tư tưởng đó
Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và cácmối quan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung củatoàn xã hội Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị Thực chất, chính trị là mốiquan
Trang 34hệ, sự tương tác giữa chủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong
xã hội với quyền lực chi phối chứa đựng bên trong đó, quyền lực chung (quyền
lực xã hội), gọi là quyền lực chính trị.
Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu thế luônluôn muốn giành lấy vai trò thực hiện các công việc chung để xác lập và duy trì
địa vị thống trị của giai cấp mình Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho
rằng, thực chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là những hoạt động xoayquanh vấn đề giành, giữ chính quyền và sử dụng quyền lực nhà nước
Tất nhiên, chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nhà nước Xãhội muốn tồn tại và phát triển thì còn hàng loạt vấn đề chung khác cần giảiquyết như các vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, cácphương án giải quyết các vấn đề chung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớpnắm quyền Vì vậy, bên cạnh nhà nước trong xã hội còn tồn tại các tổ chứcchính trị khác
Với góc độ tiếp cận khái niệm lý luận và khái niệm chính trị ở trên đây, có
thể đưa ra một khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là hệ thống
các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp
để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước Lý luận chính trị là lý luận trong
lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranhgiai cấp để đại diện cho một lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất địnhtrong xã
hội
Như vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giaicấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảngcủa mình - Đảng Cộng sản Đó là kim chỉ nam của giai cấp vô sản trong cuộcđấu tranh giải phóng mình, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lộtcủa giai cấp tư sản và trả con người về đúng vị trí của nó
1.2.4.3 Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị là quá trình phổ biến, truyền bá một
Trang 35cách cơ bản, có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cươnglĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước chocán bộ, đảng viên và nhân dân Bồi dưỡng lý luận chính trị được thực hiện theocác chương trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luậnkhoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sởkhoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; nâng cao năng lựccông tác thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tích cựctrong các công tác xã hội.
Như vậy khi nói đến hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị của Đảng, cóthể thấy chủ thể bồi dưỡng là các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấp tham giacông tác bồi dưỡng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy các cấp Về đối tượngtham gia công tác bồi dưỡng lý luận chính trị là đội ngũ cán bộ, đảng viên, côngchức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấpvới mục tiêu là nâng cao nhận thức về lý luận chính trị, nhằm trang bị cho họnắm được những kiến thức, kỹ năng mới, có khả năng vận dụng sáng tạo vàphát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn lãnh đạo,chỉ đạo, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các phong trào quần chúng ở địaphương, đơn vị
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Là quá trình quản lý việc bổ sung những thiếu hụt về tri thức kỹ nănghoặc để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã có, làm tăng thêmlượng vốn hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứngnhững yêu cầu mới của chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệu quả lao động
Quản lý bồi dưỡng là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm cácthành tố: mục tiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng, hìnhthức tổ chức bồi dưỡng, người dạy, người học, công tác kiểm tra, đánh giá bồidưỡng
Hoạt động bồi dưỡng LLCT là một việc có ý nghĩa rất quan trọng, gắnliền với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trở thành một
Trang 36phương
Trang 37thức chủ yếu của mọi hoạt động giáo dục, đào tạo Quản lý hoạt động bồi dưỡng
là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt được mụctiêu đề ra
Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sảnViệt Nam về LLCT có nhiều cấp độ khác nhau như: Cử nhân, Cao cấp, Trungcấp, Sơ cấp; các chương trình bồi dưỡng lý luận chuyên đề; chương trình họctập, quán triệt các Nghị quyết của Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban chấp hànhTrung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở là sự tác động
có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực LLCT cho CBCC cấp cơ sở.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực là sự tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực lý luận chính trị
và việc vận dụng lý luận vào thực tiễn quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp
cơ sở đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.3 Lý luận về bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
1.3.1 Vai trò, chức năng bồi dưỡng
Bồi dưỡng lý luận chính trị là một trong các bộ phận quan trọng của côngtác tư tưởng của Đảng, có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng
C Mác đã chỉ rõ: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [6] V.I Lênin khẳng định:“Không có lý luận cách
mạng thì cũng không có phong trào cách mạng” và “chỉ đảng nào được lý luận tiên phong
hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [30] Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa
Trang 38làm
Trang 39cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”;
“Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm” [18] Như vậy, truyền bá lý luận
cho cán bộ, đảng viên và quần chúng chính là quá trình “vật chất hóa” lý luận,góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước đi vào cuộc sống
Bồi dưỡng lý luận chính trị là thực hiện việc giáo dục lý luận chính trịnhằm tăng cường kiến thức lý luận chính trị cho đối tượng được bồi dưỡngnhằm củng cố hoặc bổ sung, làm sâu sắc thêm, cập nhật, mở rộng kiến thức đãđược
học
Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt góp nâng cao ýthức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân gópphần phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên
1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay là một trọngtâm thiết thực Đó là bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhvới những nội dung cụ thể, thiết thực và sâu sắc Bởi vì tư tưởng Hồ Chí Minhnhư Đảng ta khẳng định, là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam Tư tưởng ấy là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc bồi dưỡng lý luận chính trị theo
tư tưởng Hồ Chí Minh là bồi dưỡng những vấn đề lý luận cơ bản, những quanđiểm cốt yếu về cách mạng nước ta hiện nay, gồm:
1 Bồi dưỡng những nội dung lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - LêninĐảng ta xác định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nềntảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Trang bị những nội dung cơ bản của
Trang 40chủ nghĩa Mác - Lênin là được trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoahọc để nhận thức và hành động đúng đắn, quyết liệt.
Chủ nghĩa Mác - Lênin có nội dung lý luận hết sức sâu sắc và rộng lớn.Cho nên tùy từng đối tượng mà người dạy và người học phải biết chọn lọc, đểrồi điều học được trở nên có ích với mỗi người, mỗi cương vị công tác cụ thể.Tránh tình trạng người dạy cứ dạy, người học cứ học, còn hiệu quả trước mắt vàlâu dài thế nào chưa được đặt ra để tính toán từng khâu của các hoạt động ấy.Hoặc tránh tình trạng học cho xong, cho qua cốt để tiêu chuẩn hóa chức danh,
để "dãn nhãn", còn hiểu sâu, nắm chắc bản chất những vấn đề cốt lõi của chủnghĩa Mác - Lênin, sử dụng vào đời sống, vào công việc hằng ngày thì lại bỏqua, ít quan tâm Để khắc phục tình trạng trên - cơ sở bảo đảm Đảng ta thật sựvững mạnh từ những thành viên của mình, Đảng và Nhà nước có cơ chế chínhsách quy định đối với người dạy, người học, lấy hiệu quả thiết thực làm mụctiêu, làm thước đo đánh giá Mặt khác, không ngừng đổi mới nội dung chươngtrình, đổi mới phương pháp dạy và học lý luận Mác - Lênin dưới mọi hình thức
ở các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng hiện nay
2 Bồi dưỡng những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộchủ chốt cấp cơ sở
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nước ta là những người lãnh đạo,người tập hợp các tầng lớp nhân dân ở khắp các địa phương, các vùng miền củađất nước thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng đặt ra Do đó, họ phải học tập
tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững những quan điểm lý luận của Người về việcnhận thức và giải quyết các vấn đề của cách mạng nước ta Trong muôn vànvấn đề của cuộc sống đặt ra đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nắm được những nộidung chính yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh để cùng với chủ nghĩa Mác - Lêninlàm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc xem xét, xử lý, hành động đúngđắn của mình