1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THƠNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM

80 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 915,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THƠNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM

Trang 1

MỤC LỤ

Chương 1 11

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 11

1.1 Hạ tầng giao thông 11

1.1.1 Khái niệm hạ tầng giao thông 11

1.1.2 Quá trình xây dựng hạ tầng giao thông ở Việt Nam 11

1.1.3 Đặc điểm đầu tư hạ tầng giao thông ở Việt Nam 12

1.2 Hợp tác công tư 14

1.2.1 Khái niệm hợp tác công tư 14

1.2.2 Cơ sở hình thành hợp tác công tư 15

1.2.3 Bản chất của hợp tác công tư 15

1.2.4 Các hình thức hợp tác công tư 19

1.2.5 Đặc điểm của hợp tác công tư 19

1.2.6 Nguyên tắc và điều kiện để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam 20

1.2.6.1 Nguyên tắc để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam 20

1.2.6.2 Điều kiện để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam 21

1.2.7 Mô hình hợp tác công tư được áp dụng trong thực tế Việt Nam 21

1.3 Mối quan hệ giữa hợp tác công tư và phát triển hạ tầng giao thông 23

1.3.1 Tác động của hợp tác công tư đến phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam 23

1.3.2.1 Nhóm nhân tố khách quan 25

Trang 2

1.3.2.2 Nhóm nhân tố chủ quan 25

1.4 Kinh nghiệm và bài học của một số quốc gia từ về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư 25

1.4.1 Kinh nghiệm của một số Quốc gia về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư 25

Chương 2 30

THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 30

2.1 Thực trạng về hệ thống giao thông và nhu cầu đầu tư phát triển CSHTGT Việt Nam 30

2.1.1 Thực trạng hệ thống giao thông Việt Nam hiện nay 30

2.1.2 Nhu cầu đầu tư phát triển CSHTGT Việt Nam 31

2.1.3 Mục tiêu phát triển ngành GTVT ở Việt Nam đến năm 2020 32

2.2 Một số nghị định, luật pháp hiện hành về hợp tác công tư đối với phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam 33

2.2.1 Nghị quyết về hợp đồng PPP tại Việt Nam 33

2.2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PPP 34

2.2.3 Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư 35

2.2.4 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư mới được ban hành, sẽ có hiệu lực từ ngày 10/04/2015 Ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư, có hiệu lực kể từ ngày 10/04/2015 35

2.3 Thực trạng hoạt động đầu tư theo hình thức hợp tác công tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam Mô hình PPP và thực trạng áp dụng tại Việt Nam 36

Trang 3

2.3.1 Thực trạng đầu tư xây dựng kết câu hạ tầng giao thông theo hình thức

hợp tác công tư ở Việt Nam 36

2.3.2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư 42

2.3.3 Những thuận lợi khi áp dụng hình thức PPP vào đầu tư phát triển CSHTGT ở Việt Nam 45

2.2.3 Những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt khi áp dụng hình thức PPP vào đầu tư phát triển CSHTGT 46

2.4 Kết quả đạt được về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông về hình thức hợp tác công tư ở Việt Nam 47

2.4.1 Kết quả đạt được từ việc áp dụng hình thức hợp tác công tư 47

2.5 Những hạn chế, nguyên nhân của các hạn chế về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông về hình thức hợp tác công tư ở Việt Nam 55

2.5.1 Hạn chế 57

2.5.2 Nguyên nhân của hạn chế 62

Chương 3 66

GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 66

3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 66

3.1.1 Hoàn thiện cơ chế, hành lang pháp lý của đầu tư theo hình thức đối tác công tư 67

3.1.2 Nâng cao chất lượng đầu tư 68

3.1.3 Giải pháp về chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư 71

3.2 Các giải pháp liên quan tới khu vực tư nhân 73

Trang 4

3.3 Các giải pháp nhằm hài hòa lợi ích giữa các bên………74

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSHTGT Cơ sở hạ tầng giao thông

CSHTGTĐB Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

ODA Official Development Assistance

FDI Foreign Direct Investment

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Trang 5

Bảng 2.1 Nhu cầu nguồn vốn xã hội hóa đầu tư CSHT đến năm 2020 31

Biểu đồ 2.1 Nhu cầu nguồn vốn xã hội hóa đầu tư CSHT đến năm 2020 32

Biểu đồ 2.2 Dự án đàu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP tại Việt

Biểu đô 2.3 Cơ cấu chi cho hạ tầng giao thông của Việt Nam giai đoạn 2013 43

Biểu đồ 2.5 Biểu đồ tăng chỉ số cạnh tranh về hạ tầng giao thông Việt Nam 53

Biểu đồ 2.6 Chỉ số phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam 53

ĐỀ CƯƠNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Trang 6

NĂM HỌC 2017 - 2018

Sinh viên: Nguyễn Thị Cẩm Hà - CQ52/62.01

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP

TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Theo Rostow “ giao thông là điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh phát triển”, còn Hilling và Hoyle thì cho rằng “ giao thông có vai trò liên kết sự phát triển kinh tế với quá

trình tiến lên của xã hội” Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày

càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất Giao thông vận tải trong thế kỷ 21 phát triển hết sức nhanh chóng góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững trắc

Để tạo ra của cải vật chất, các tác nhân kinh tế cần được di chuyển một cách thuận tiện vànhanh chóng Do vậy, có thể nói có một mối quan hệ khá chặt chẽ giữa giao thông và mức thu nhập

Hiện nay trên thế giới, để phát triển nhanh và toàn diện nhất cơ sở hạ tầng giao thông, cácnước có xu hướng thắt chặt chi tiêu công và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho những lĩnhvực kinh tế quan trọng và vì thế mô hình đầu tư công tư (Public Private Partnership - PPP) đã ra đời và đang ngày càng trở nên phổ biến, được triển khai mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Các chuyên gia khẳng định rằng quan hệ đối tác giữa Nhà nước và tư nhân (Public - Private) hiện đang là một xu hướng trên thế giới và Việt Nam cũng nằm trong xu hướng đó Khái niệm mô hình hợp tác công - tư (PPP) tuy mới mẻ và được triển

Trang 7

khai chưa rõ nét ở Việt Nam nhưng đối với các nước khác trên thế giới mô hình này đã được áp dụng hơn 50 năm

Với quan điểm chỉ những gì tư nhân không thể làm hoặc không thể tham gia thì Nhà nước mới làm Ttheo mô hình PPP, nhà nước khuyến khích để tư nhân tham gia đầu tư ở hầu hết các lĩnh vực và đặc biệt là lĩnh vực hạ tầng giao thông đang rất được chú trọng hiện nay Mô hình PPP kết hợp được nhiệm vụ của dịch vụ công với hiệu quả của một hay nhiều doanh nghiệp tư nhân cho phép các chính quyền địa phương nhanh chóng đạt được những tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất trong các dịch vụ công, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại Xu hướng đó cũng được Việt Nam tiếp cận dần, thực hiện trên chủ trương thống nhất của Đảng, Nhà nước tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: "Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại Tiếp tục hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng caochất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh,

áp dụng các hình thức thu hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực cho phát triển" Có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình hợp táccông - tư, nhưng cách phổ biến nhất là nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi bên trong việc xây dựng một cơ sở hạ tầng hay cung cấp một dịch vụ công nào đó

Tuy nhiên, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang phát triển khác luôn có một khoảng cách giữa nhu cầu phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội như giao thông, môi trường… so với tiềm lực thực tế Trong các lĩnh vực quan trọng này, Nhà nước luôn phải thực hiện tất cả các khâu dẫn đến sự quá tải trong nhiều bộ phận hành chính công khiến các dịch vụ công phát triển chậm, chất lượng thấp Sự góp mặt bình đẳng của lĩnh vực

Trang 8

kinh tế tư nhân theo mô hình PPP là một giải pháp khả thi trong xu hướng hiện nay Hợp tác công - tư (PPP) đang được xem như giải pháp hữu hiệu thay thế cho các mô hình cũ Với nguồn vốn ngân sách hạn hẹp việc kêu gọi các nguồn vốn đầu tư ngoài ngânsách, đặc biệt là mô hình hợp tác công tư (PPP) được xem là giải pháp hiệu quả.

Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “ Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Mô hình PPP đã xuất hiện khá sớm trên thế giới và thực tiễn áp dụng cũng vô cùngphong phú Bởi thế, mô hình PPP đã được các nước trên thế giới nghiên cứu nhiều song

nó chỉ mang tính định hướng mà chưa có hệ thống bởi đó là sự kết tinh lại từ các thựctiễn khác nhau tại từng quốc gia Tại Việt Nam mô hình này còn mới mẻ nên việc nghiêncứu về cơ sở vận hành và khung pháp lý của nó còn rất ít và chưa có hệ thống Có thể kể

ra một số bài viết, nghiên cứu như: Hợp tác công tư trong xây dựng hạ tầng giao thôngđường bộ - lý luận và thực tiễn của PGS.,TS.Nguyễn Trọng Cơ, PGS.,TS Lê XuânTrường – Học Viện Tài chính, ngày 18/12/2016; Hợp tác công - tư trong phát triển hạ

tầng giao thông vận tải (2012) của Đoàn Duy Khương; Hiện trạng và các phương án huy

động vốn cho các dự án giao thông vận tải theo mô hình PPP tại Việt Nam của TS HàKhắc Hảo, ngày 24/11/2009; Luận án tiến sĩ: Hình thức hợp tác công tư (Public PrivatePartnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, của HuỳnhThị Thúy Giang (2012) Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu tổng quát và chuyênsâu về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức này trong bối cảnh hiện naycủa Việt Nam Ngoài ra, các bài nghiên cứu và tài liệu về PPP của các tổ chức kinh tếquốc tế như Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triểnchâu Á (ADB) rất đa dạng, có giá trị khoa học, đặc biệt có thể ứng dụng các bài học rút ra

từ thực tiễn các nước đang phát triển có nhiều nét tương đồng với Việt Nam Đây là mộtnguồn tư liệu rất quý giá hỗ trợ thực hiện nghiên cứu

Trên cơ sở đó, kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước và gắn với

Trang 9

hoàn cảnh hiện nay, tôi tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này dưới góc độ phát triển hạ tầnggiao thông theo hình thức Hợp tác công tư hiệu quả tại Việt Nam.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu lý luận khoa học, kinh nghiệm quốc tế về mô hình công-tư PPP tronglĩnh vực đầu tư CSHT Tiến hành đánh giá thực trạng việc phát triển mô hình PPP cũngnhư xác định rõ phương hướng phát triển mô hình PPP để đề ra các giải pháp và khuyếnnghị về mặt cơ sở pháp lý và chính sách, nhằm các mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình PPP trong đầu tư CSHT trên cơ sở cácđiều kiện thực tế của Việt Nam

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới (nước phát triển vànước đang phát triển ở Châu Á) trong vận dụng mô hình PPP vào đầu tưCSHT

- Thu thập số liệu, đánh giá thực trạng việc triển khai các dự án PPP trong lĩnhvực CSHT, tập trung phân tích các dự án trong lĩnh vực giao thông đường bộ,cầu cảng và dịch vụ công ích

- Nhận diện các nhân tố chủ yếu tác động đến phát triển mô hình PPP trong lĩnhvực đầu tư CSHT

- Đề xuất các giải pháp và đưa ra các khuyến nghị để phát triển mô hình PPPtrong lĩnh vực đầu tư CSHT đến năm 2020

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các dự án đầu tư CSHT được vận dụng theo mô hìnhhợp tác Công- tư (PPP)

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các dự án đầu tư vận dụng mô hình hợp tác Công- tư(PPP) trong lĩnh vực CSHT được lựa chọn khảo sát trong các lĩnh vực cụ thể như đầu tưCSHT đường bộ, cầu cảng và các công trình công ích từ năm 2010 tới nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được trình bày dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp sau:

 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, phân tích vấn đềnghiên cứu một cách khoa học và khách quan

 Phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu báo cáo của Tổng cụcthống kê

+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: thu thập số liệu qua các trang mạng xãhội

 Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, điều tra phỏng vấn, thu thập thông tin

từ cơ sở và một số phương pháp khác

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các bảng biểu, biểu đồ, tài liệutham khảo, phụ lục thì đề tài kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợptác công tư tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợp táccông tư tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp đề xuất nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng giao thôngtheo hình thức hợp tác công tư ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO

HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM

1.1 Hạ tầng giao thông

1.1.1 Khái niệm hạ tầng giao thông

Hạ tầng giao thông : là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, là một hệ thống các công trình và vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của xã hội bao gồm các công trình và mạng lưới giao thông vận tải ( đường tỉnh lộ, quốc lộ, đường giao thông nông thân, đường giao thông đô thị,…)

Hiện nay, cơ sở hạ tầng giao thông là một trong những nhân tố giúp cho Việt Nam duy trì

và đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, cân đối với các vùng

1.1.2 Quá trình xây dựng hạ tầng giao thông ở Việt Nam

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành sự quan tâm lớn đến đầu

tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông kinh tế - xã hội

Trang 12

Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư nguồn lực đầu tư phát triển CSHTGT ngày càng lớn và đa dạng Trong mười năm qua, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển CSHTGT chiếm khoảng 24,5% tổng đầu tư xã hội, bằng khoảng 9% GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và

có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chiếm 65% Cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng, ngoài nguồn lực nhà nước, đã và đang mở rộng sự tham gia của toàn xã hội, đặt biệt là sựtham gia đóng góp tự nguyện của nhân dân với nhiều hình thức đa dạng trong phát triển

hạ tầng nông thôn Nhiều hình thức đầu tư phát triển CSHTBT cùng các mô hình, phươngthức đầu tư, kinh doanh các dịch vụ hạ tầng được đa dạng hóa, mở rộng, các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án giao thông theo hình thức BOT, BTO và BT ngày càng nhiều Nhờ có sự đầu tư trên, hệ thống CSHTGT ở nước ta có bước phát triển mạnh cả vềchiều rộng và chiều sâu, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giảm nhẹ thiên tai và bảo đảm an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền Nhiều công trình hiện đại đã được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo diện mạo mới của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

1.1.3 Đặc điểm đầu tư hạ tầng giao thông ở Việt Nam

- Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông cần khối lượng vốn lớn

Đầu tư phát triển HTGT chủ yếu là từ vốn ngân sách nhà nước ( vốn ngân sách thường chiếm từ 60 – 70% tổng vốn đầu tư ) Do các công trình hạ tầng giao thông vận tải

thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian xây dựng lâu, hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cá nhân Bên cạnh đó các công trình giao thông phục vụ cho nhu cầu đi lại của toàn xã hội, được mọi thành phần kinh tế tham gia khai thác một cách triệt để, khi hư hỏng lại ít ai quan tâm đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng để duy trì tuổi thọ cho chúng Vì vậy nhà nước hàng năm đều trích ngânsách để đầu tư xây dựng mới, sửa chữa khắc phục những công trình hư hỏng góp phần cảitạo bộ mặt giao thông đất nước

Trang 13

- Đầu tư phát triển HTGT mang tính xã hội hoá cao, khó thu hồi vốn nhưng đem lại nhiềulợi ích cho nền kinh tế- xã hội.Tuy hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông không đem lại lợi ích trực tiếp cho chủ đầu nhưng lợi ích mà nền kinh tế xã hội được hưởng thì không thể cân đong đo đếm được Có thể coi hoạt động đầu tư này là đầu tư cho phúc lợi xã hội, phục vụ nhu cầu của toàn thể cộng đồng.

- Sản phẩm đầu tư xây dựng các công trình giao thông là một loại hàng hoá công cộng, yêu cầu giá trị sử dụng bền lâu nhưng lại do nhiều thành phần tham gia khai thác sử dụng

Vì vậy nhà nước cần tăng cường quản lý chặt chẽ các giai đoạn hình thành sản phẩm, lựa chọn đúng công nghệ thích hợp, hiện đại để cho ra các công trình đạt tiêu chuẩn và chất lượng quốc tế, đảm bảo an toàn cho mọi hoạt động của nền kinh tế

- Đầu tư phát triển HTGT có tính rủi ro rất cao do chịu nhiều tác động ngẫu nhiên trong thời gian dài, có sự mâu thuẫn giữa công nghệ mới và vốn đầu tư, giữa công nghệ đắt tiền

và khối lượng xây dựng không đảm bảo Do đó trong quản lý cần loại trừ đến mức tối đa các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư, nhà thầu khoán và tư vấn

- Đầu tư xây dựng các công trình giao thông thường liên quan đến nhiều vùng lãnh thổ Các nhà quản lý cần tính đến khả năng này để tăng cường việc đồng bộ hoá trong khai thác tối đa các tiềm năng của vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế để phát triển giao thông, nhằm giảm hao phí lao động xã hội

- Xây dựng các công trình giao thông là một ngành cần thường xuyên tiếp nhận những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật, của công nghệ sản xuất hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Trong quá trình xây dựng phát triển HTGT luôn đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại, vì có thể một công trình không đảm bảo chất lượng sẽ gây ra thiệt hại về tính mạng và tải sản của rất nhiều người

Trang 14

Xây dựng các công trình giao thông là một ngành có chu kỳ sản xuất dài, tiêu hao tài nguyên, vật lực, trí lực, khối lượng công việc lớn và thường thiếu vốn Do đó việc xác định tiến độ đầu tư cần có căn cứ khoa học, xây dựng tập trung dứt điểm Đó là biện pháptiết kiệm vốn đầu tư tích cực nhất.

1.2 Hợp tác công tư

1.2.1 Khái niệm hợp tác công tư

PPP (Public - Private Partner) là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện

Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án

Hợp tác công tư - PPP (Public Private Partnerships) là mô hình hợp tác giữa Nhà

nước và khu vực tư trong việc đầu tư cung cấp dịch vụ và hàng hóa công

Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hìnhthức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó

sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân

Trang 15

Hình 1.1 Sơ đồ hình thức hợp tác PPP

1.2.2 Cơ sở hình thành hợp tác công tư

Hợp đồng BOT trong nhiều năm gần đây đã được sử dụng và đóng vai trò quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng, các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp ở các nước nhất là các nước đang phát triển Bởi vì, một mặt việc phát triển cơ sở hạ tầng được coi làđiều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế Mặt khác, nguồn vốn của nhà nước để đầu tư vào những lĩnh vực khác nhau của cơ sở hạ tầng còn rất hạn hẹp, chưa thể đáp ứng đủ và càng chưa thể đáp ứng tốt nhu cầu

Cơ sở hình thành các thỏa thuận PPP xuất phát từ việc đầu tư các dự án/công trình kết cấu hạ tầng và/hoặc cung cấp dịch vụ công nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống

xã hội, như xây dựng và vận hành hệ thống đường bộ, cấp điện, cấp nước … Những dự

án, dịch vụ này đòi hỏi đầu tư lớn nhưng khó sinh lời nên thường do nhà nước đứng ra thực hiện Tuy nhiên, có một thực tế là nhu cầu sử dụng các công trình, dịch vụ công, đặcbiệt là trước sức ép tăng trưởng kinh tế, luôn vượt quá khả năng thu xếp nguồn lực hữu hạn của nhà nước mà ngay cả các quốc gia phát triển cũng phải đối mặt với tình huống này Chính vì vậy mà một trong những giải pháp để khắc phục tình trạng này là thu hút các nguồn lực đầu tư vào các dự án, dịch vụ công thông qua đối tác nhà nước – tư nhân (PPP)

1.2.3 Bản chất của hợp tác công tư

Trang 16

Để có thể hiểu rõ bản chất hợp đồng PPP trước hết phải đặt chúng trong mối quan hệ với khái niệm PPP nói chung Theo đó, trên bình diện tổng quát, PPP là một cơ chế pháp lý

có thể thích ứng tùy theo tính chất của dự án, loại hình quan hệ đối tác mà dự án đòi hỏi

và cũng có thể thích ứng với từng phương thức cung cấp tài chính Như vậy, PPP có thể

áp dụng với nhiều trường hợp thực tiễn khác nhau Khi sử dụng cho những dự án về cơ

sở hạ tầng - trường hợp thường được sử dụng nhất - PPP được hiểu là phương thức huy động vốn của nhà đầu tư tư nhân để tài trợ, xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng thường do nhà nước thực hiện

Thỏa thuận PPP cũng gắn liền với phát triển cơ sở hạ tầng Trong dự án PPP, nhà đầu tư

tư nhân được đặc quyền xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng mà thường do chính phủ thực hiện Nhà đầu tư tư nhân này cũng có trách nhiệm tài trợ, thiết kế dự án

và vào cuối giai đoạn đặc quyền nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình cho nhà nước Giai đoạn đặc quyền chủ yếu xác định bởi độ dài thời gian cần thiết để doanh thu từ công trìnhtrả hết được nợ của doanh nghiệp và tạo ra được một tỷ suất sinh lời hợp lý cho việc đầu

tư và rủi ro mà doanh nghiệp đó phải chịu

Để thực hiện dự án PPP, đòi hỏi có nhiều hợp đồng được ký kết, song hợp đồng PPP là

cơ sở pháp lý quan trọng nhất, là tiền đề cho việc hình thành doanh nghiệp dự án và việc

ký kết các hợp đồng liên quan để thực hiện dự án Hợp đồng PPP là “luật riêng” của mỗi

dự án và là tập hợp các thỏa thuận cho phép nhà đầu tư quyền được thực hiện dự án với những cam kết đối với nhà nước trong việc phát triển công trình cơ sở hạ tầng

- Hợp đồng PPP được định nghĩa là một hợp đồng “nhượng quyền”, theo đó nhà nước có nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, nhưng không đủ khả năng tài chính và kinh nghiệm để thực hiện các công trình đó nên trao cho một hoặc một nhóm nhà đầu tư, thông qua quy trình chọn thầu, đặc quyền xây dựng, vận hành, quản lý và khai thác thương mại dự án đó trong một thời hạn nhất định đủ để thu hồi vốn và lợi nhuận hợp lý và sau đó chuyển giao công trình không bồi hoàn cho nhà nước

Trang 17

Như vậy, ở bình diện chung nhất, PPP được hiểu là một thỏa thuận pháp lý để thực hiện một phương thức đầu tư nhằm huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân để tài trợ và kinh doanh dự án cơ sở hạ tầng vốn thuộc về trách nhiệm của nhà nước, làm giảm gánh nặng bội chi trong ngân sách nhà nước đồng thời tạo ra một cơ chế hữu hiệu trong việc đầu tư của tư nhân phục vụ lợi ích công cộng Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý cho thấy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hợp đồng PPP tùy theo việc nhìn nhận hợp đồng dưới những khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau:

- Dưới góc độ là một quá trình, hợp đồng PPP được hiểu là hình thức pháp lý để nhà đầu

tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng và vận hành (kinh doanh) công trình đó trong một thời gian nhất định đủ để nhà đầu tư thu hồi vốn và lãi Sau thời gian đặc quyền đó, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho chính phủ Ở khía cạnh này, hợp đồng PPP luôn đi kèm với một dự án cụ thể Khi hợp đồng chấm dứt thì cũng có nghĩa dự án

đó kết thúc Chính vì yếu tố này mà người ta thường gọi hợp đồng PPP là hợp đồng dự

án Ưu điểm lớn nhất của khái niệm hợp đồng PPP là nêu bật những cam kết của nhà đầu

tư trong việc phát triển công trình cơ sở hạ tầng và việc chuyển giao công trình đó cho nhà nước sau khi hết thời hạn kinh doanh công trình

- Nhìn nhận khía cạnh chủ thể, hợp đồng PPP được coi là thỏa thuận đầu tư giữa nhà đầu

tư và chính phủ (thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền) trong việc đầu tư xây dựng công trình công cộng vốn dĩ thuộc trách nhiệm của nhà nước Như vậy, định nghĩa này nêu bật mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chính phủ, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa yếu

tố “công” và “tư” trong hợp đồng

- Dưới góc độ tài chính, hợp đồng PPP là cách thức tài trợ dự án theo đó bên cho vay đối với dự án PPP chỉ xem xét nguồn thu của dự án như là toàn bộ hoặc phần lớn việc bảo đảm cho các khoản vay mà không dựa trên tài sản của bên đi vay như các hợp đồng tín dụng truyền thống thông thường khác

Trang 18

Tính chất tài trợ dự án trong hợp đồng PPP xuất phát từ đối tượng của khái niệm PPP gắnvới xây dựng cơ sở hạ tầng Vốn đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng thường rất lớn nên ít

có nhà đầu tư có đủ tài sản bảo đảm Mặt khác, tài sản hình thành từ khoản vay là cơ sở

hạ tầng, một loại tài sản phục vụ lợi ích công cộng và sẽ được chuyển giao không bồi hoàn cho nhà nước Do vậy, việc tài trợ cho dự án PPP bởi các bên cho vay thường khôngphụ thuộc vào giá trị tài sản dùng để bảo lãnh của nhà đầu tư hoặc giá trị tài sản hữu hình của bản thân dự án Trong tài trợ dự án, việc tài trợ và cung cấp nguồn tài chính cho các khoản vay lớn thường phụ thuộc chủ yếu vào tính hiệu quả và kết quả kinh doanh của chính dự án Do vậy, các bên cho vay thường xem xét tới nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn bảo đảm khác như tài sản của dự án hay của các nhà tài trợ dự án Đây là nét đặc trưng của việc đầu tư theo phương thức hợp đồng PPP thể hiện tính phức tạp, tính xã hội và tính đặc thù của hợp đồng PPP

Ở Việt Nam định nghĩa hợp đồng PPP được quy định tại Điều 2 Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày

09 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

Theo đó, Đầu tư theo hình thức đối tác công - tư là việc nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án Hợp đồng dự án là hợp đồng được ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư, trong đó, nhà nước nhượng quyền cho Nhà đầu tư được phép đầu tư, khai thác công trình, cung cấp dịch vụ công trong một thời gian nhất định Căn cứtính chất của từng Dự án cụ thể, Hợp đồng dự án quy định cam kết về trách nhiệm, nghĩa

vụ và quyền hạn của Nhà đầu tư và Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và Nhà đầu tư

Trang 19

Với định nghĩa hợp đồng PPP nêu trên, Nhà nước Việt Nam đã nhìn nhận hợp đồng PPP

từ khía cạnh là một quá trình đầu tư của nhà đầu tư (nhấn mạnh tiến trình từ việc nhà đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng đến việc kinh doanh công trình đó và chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam) và mối quan hệ chủ thể Bên cạnh đó, các yếu tố nhượng quyền và tính tài trợ dự án là những thành tố hết sức quan trọng của hợp đồng PPP đã được thừa nhận và là những thành phần buộc phải có trong định nghĩa về hợp đồng PPP

1.2.4 Các hình thức hợp tác công tư

Hiện nay trên thế giới có năm hình thức phổ biến thực hiện mô hình PPP như sau:

Thứ nhất, mô hình nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ

tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đấu giá) cho tư nhân vận hành và khai thác

Thứ hai, mô hình thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành DBFO (Design- Build - Finance

- Operate), khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nóvẫn thuộc sở hữu nhà nước

Thứ ba, mô hình xây dựng - vận hành - chuyển giao BOT (Build - Operate - Transfer) là

hình thức do công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước

Thứ tư, mô hình BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành) là mô hình sau khi xây dựng

xong thì chuyển giao ngay cho nhà nước sỏ hữu nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình

Thứ năm, mô hình xây dựng - sở hữu - vận hành BOO (Build - Own - Operate) là hình

thức công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành công trình

1.2.5 Đặc điểm của hợp tác công tư

Trang 20

Thông thường PPP là một cam kết hợp tác lâu dài (khoảng 10-50 năm) rất phù hợp

áp dụng cho các dự án dài hạn (đa số kéo dài 20-30 năm) như lĩnh vực đầu tư xây dựng

hạ tầng giao thông

Trong đó quyền lợi và trách nhiệm của các bên được phân bổ tương ứng với phầntham gia của mỗi bên Điểm nhấn trong phương thức này là thu hút sự tham gia đầu tưcủa khu vực tư nhân trong các dự án vốn được coi là ít có khả năng sinh lời, do vậy cần

có sự tham gia, sự cam kết của nhà nước để dự án trở thành khả thi (Viability Gap)

Bên cạnh đó, cơ chế PPP tạo ra cơ chế năng động trong việc phân công hợp lýgiữa các bên trong hợp đồng dự án PPP (khu vực công và khu vực tư): bên nào có khảnăng làm tốt hơn một công việc cụ thể sẽ được phân giao thực hiện phần việc đó, đồngthời được hưởng các quyền lợi từ phần việc đó Nói cách khác, đó là sự tính toán kỹlưỡng các yếu tố tác động đến suốt vòng đời của dự án, sự phân bổ rủi ro giữa các bênmột cách tối ưu nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

PPP khác với tư nhân hóa (trừ một số trường hợp đặc biệt) Tư nhân hóa đồng nghĩa vớiviệc nhà nước thoát vốn (divesture) hay từ bỏ quyền sở hữu, quản lý và chuyển giao cácquyền này cho nhà đầu tư tư nhân, đồng thời nhà nước quản lý thông qua luật lệ, quyđịnh chuyên ngành Trong khi đó, với PPP nhà nước vẫn giữ nguyên quyền quản lý, kiểmsoát nhất định, đồng thời có thể đặt ra những chuẩn mực, yêu cầu ràng buộc về cam kếtchất lượng và dịch vụ đối với nhà cung cấp tư nhân

1.2.6 Nguyên tắc và điều kiện để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam

1.2.6.1 Nguyên tắc để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam

Ngày 09/11/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 71/2010/QĐ-TTg quyđịnh thực hiện thí điểm theo hình thức đối tác công - tư, nội dung chính của quyết định là

Trang 21

-Thu hút được nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong và ngoài nước cho phát triển

- Cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, phù hợp với pháp luật Việt Nam,theo tập quán và thông lệ quốc tế

1.2.6.2 Điều kiện để dự án được đầu tư theo hình thức PPP tại Việt Nam

Theo Nghị định Nghị định số 15/2015/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ mới ban hành thì dự án được lựa chọn thực hiện theo hình thức đối tác công tư phải đáp ứng đầy đủ năm điều kiện:

Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế

-xã hội của địa phương

- Phù hợp với lĩnh vực đầu tư theo quy định

- Có khả năng thu hút và tiếp nhận nguồn vốn thương mại, công nghệ, kinh nghiệm quản

lý của nhà đầu tư

- Có khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ liên tục, ổn định, đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng

Trang 22

- Có tổng vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên, trừ dự án đầu tư theo hợp đồng O&M và dự áncông trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

1.2.7 Mô hình hợp tác công tư được áp dụng trong thực tế Việt Nam

Các mô hình PPP phân bổ trách nhiệm và rủi ro giữa các đối tác nhà nước và tư nhân theo những cách khác nhau tùy theo tính chất của dự án, cơ cấu hợp đồng/thỏa thuận được sử dụng cho các dự án:

Build-and-Transfer (BT): là một thỏa thuận dưới dạng hợp đồng giữa cơ quan nhà nước

có thẩm quyền và nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư sẽ cam kết về mặt tài chính và tiến hành xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng Sau khi hoàn thành sẽ chuyển giao nó cho cơ quan chính phủ hoặc các đơn vị chính quyền địa phương có liên quan Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT Hình thức hợp đồng này có thể được

sử dụng trong việc xây dựng bất kỳ dự án cơ sở hạ tầng, kể cả các cơ sở hạ tầng trọng điểm và có tính chất quan trọng Vì lý do bảo mật hoặc chiến lược, hợp đồng BT phải được điều hành trực tiếp của Chính phủ

Build-Lease-and-Transfer (BLT): là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm

quyền và nhà đầu tư Theo đó nhà đầu tư chịu trách nhiệm về mặt tài chính và xây dựng

cơ sở hạ tầng Khi hoàn thành, cơ sở hạ tầng sẽ được chuyển giao qua cơ quan chính phủ hoặc các cơ quan đơn vị chính quyền địa phương liên quan dưới dạng một thỏa thuận chothuê trong khoảng thời gian cố định Sau thời gian này, quyền sở hữu của cơ sở hạ tầng tựđộng được chuyển sang cơ quan chính phủ, đơn vị chính quyền địa phương có liên quan

Trang 23

Build-Operate-and-Transfer (BOT): là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước với nhà

đầu tư Theo đó, nhà đầu cam kết xây dựng cơ sở hạ tầng, tiến hành quản lý, kinh doanh

và bảo trì cơ sở hạ tầng trong một thời hạn nhất định Trong khoảng thời gian đó thì nhà đầu tư được phép thu phí người sử dụng cơ sở hạ tầng với một mức phí phù hợp Các khoản phí không được vượt quá những đề xuất trong hồ sơ dự thầu hoặc trong hợp đồng nhằm cho phép nhà đầu tư thu hồi chi phí đầu tư, quản lý điều hành và bảo trì dự án Nhà đầu tư sẽ tiến hành chuyển giao cơ sở hạ tầng cho cơ quan Chính phủ, đơn vị chính quyềnđịa phương có liên quan vào cuối của thời hạn qui định

Build-Own-Operate-and-Transfer (BOOT): là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước

với nhà đầu tư Theo hợp đồng này, nhà đầu tư được ủy quyền tiến hành xây dựng, quản

lý hoạt động và bảo trì cơ sở hạ tầng trong một thời hạn nhất định trước khi chuyển giao Trong suốt thời gian quản lý cơ sở hạ tầng, nhà đầu tư có quyền sở hữu và có toàn quyền điều hành cơ sở hạ tầng và doanh thu tạo ra từ cơ sở hạ tầng để thu hồi các khoản chi phí tài chính và đầu tư, cùng các khoản chi phí bảo trì và vận hành cơ sở hạ tầng

Build-Own-and-Operate (BOO): là một hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước và nhà

đầu tư, theo đó nhà đầu tư chịu trách nhiệm về tài chính, xây dựng, sở hữu, điều hành và bảo trì cơ sở hạ tầng Nhà đầu tư được phép thu hồi tổng mức đầu tư, chí phí điều hành vàbảo trì cộng với một mức lợi nhuận hợp lý bằng cách thu phí, lệ phí, tiền thuê hay các chiphí từ người sử dụng cơ sở hạ tầng

Build-Operate-Share-Transfer (BOST): là một hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước và

nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư chịu trách nhiệm về tài chính, xây dựng, điều hành và bảo trì, chia sẻ một phần doanh thu và chuyển giao cơ sở hạ tầng cho cơ quan nhà nước quản

lý vào cuối một khoản thời gian nhất định được thể hiện trong hợp đồng Nhà đầu tư được phép thu hồi chi phí đầu tư, điều hành và chi phí bảo dưỡng cộng với một mức lợi nhuận hợp lý bằng cách thu lệ phí cầu đường, phí, cho thuê hoặc các khoản thu khác từ người sử dụng cơ sở hạ tầng

Trang 24

Build-Own-Operate-Share-Transfer (BOOST): là một hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà

nước và nhà đầu tư Theo hợp đồng này, nhà đầu tư chịu trách nhiệm về mặt tài chính, xây dựng, sở hữu, điều hành hoạt động, bảo trì, chia sẻ một phần doanh thu và chuyển giao cơ sở hạ tầng vào cuối của một thời hạn nhất định được thể hiện trong hợp đồng Nhà đầu tư được phép thu hồi tổng chi phí đầu tư, vận hành và chi phí bảo trì, bảo dưỡng công trình cộng với một mức lợi nhuận hợp lý bằng cách thu lệ phí cầu đường, phí, cho thuê hoặc các khoản thu khác từ người sử dụng cơ sở hạ tầng

1.3 Mối quan hệ giữa hợp tác công tư và phát triển hạ tầng giao thông

1.3.1 Tác động của hợp tác công tư đến phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam

Hợp tác công tư mang lại lợi ích cho Nhà nước, người dân và nhà đầu tư Người dân được cung cấp dịch vụ hàng hóa với chất lượng tốt hơn, Nhà nước thì tận dụng được nguồn lực tài chính, kinh nghiệm quản lý và san sẻ rủi ro với nhà đầu tư Nhà đầu tư thì chấp rủi ro nhưng thu được lợi nhuận

Khi thực hiện dự án theo phương thức PPP những bất cập phát sinh trong công tác đấu thầu, quản lý dự án ,vận hành, bảo dưỡng của dự án công được hạn chế đến mức có thể Với các điều khoản chặt chẽ của hợp đồng PPP, thì ngoài việc chịu rủi ro phát sinh, bên

tư nhân phải đảm bảo công trình thực hiện đầu tư và vận hành đúng thời hạn, đúng chất lượng theo các tiêu chí đã ký kết

Ngoài ra, khi thực hiện mô hình PPP Chính phủ (hoặc chính quyền địa phương) sẽ giảm được chi phí đầu tư và gánh nặng quản lý trong một số lĩnh vực hàng hoá dịch vụ công, tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm để góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế địa phương

Từ những đặc điểm trên, lợi ích từ việc áp dụng mô hình hợp tác công tư vào đầu tư phát triển hạ tầng giao thông là rất lớn, đem lại những công trình kết quả tốt từ sự cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp thông qua việc kết hợp hài hòa giữa công – tư

Trang 25

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, hợp tác công tư đã và đang mang lại những tác động tích cực đối với đầu tư phát triển hạ tầng giao thông Tuy nhiên, để đảm bảo PPP có thể phát huy hơn nữa hiệu quả một cách toàn diện, cần thiết phải quan tâm tới cácyếu tố ảnh hưởng đến hình thức này cũng rất quan trọng.

1.3.2.Yếu tố ảnh hưởng đến hình thức hợp tác công tư trong đầu tư phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam

Trang 26

1.3.2.1 Nhóm nhân tố khách quan

Yêu cầu phải đảm bảo cung cấp dịch vụ công của Chính phủ;

Khung pháp lí tạo sự thuận lợi cho nhà đầu tư trong đề xuất, xây dựng và triển khai dự án;

Điều kiện tự nhiên gắn với từng địa bàn cụ thể;

Điều kiện kinh tế xã hội gắn với khả năng chi trả của người sử dụng hàng hóa, dịch vụ do

dự án PPP cung cấp;

Rủi ro bao gồm cả việc phòng tránh và xử lí rủi ro khi có phát sinh trong quá trình thực hiện dự án giữa đối tác công và tư khi tham gia dự án PPP;

1.3.2.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Chính sách của Nhà nước là nền tảng cơ bản để thu hút được khối tư nhân tham gia đầu

tư xây dựng hạ tầng giao thông trong những lĩnh vực mà Nhà nước cần quan tâm;

Năng lực nhà đầu tư tư nhân là rất quan trọng để hình thành và triển khai các dự án PPP

Kế hoạch, phương án triển khai là yếu tố đảm bảo dự án có tính khả thi;

1.4 Kinh nghiệm và bài học của một số quốc gia từ về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư

1.4.1 Kinh nghiệm của một số Quốc gia về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông theo

hình thức hợp tác công tư

Trang 27

Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến thànhcông và thất bại trong quá trình triển khai dự án hạ tầng giao thông theo mô hình PPP Cụthể:

Anh: Phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên và chỉ lựa chọn những dự án PPP nếu tạo ra giá trị vượt trội

Do áp dụng mô hình PPP từ sớm, Anh đã có nhiều kinh nghiệm để thực hiện thành công các dự án theo mô hình PPP Với các dự án PPP giao thông đường bộ ở Anh, việc phân

bổ rủi ro được áp dụng cho các bên có liên quan Các rủi ro liên quan đến môi trường vĩ

mô như thay đổi chính sách, năng lực của Chính phủ, lạm phát, lãi suất, thực thi pháp luậtkém… sẽ được phân bổ cho Chính phủ Các rủi ro liên quan đến dự án như rủi ro kỹ thuật, rủi ro quản lý… sẽ được chuyển giao cho tư nhân Các rủi ro nằm trong sự kiểm soát của hai bên như rủi ro do cung - cầu… được chia sẻ giữa tư nhân và Chính phủ Việcchuyển giao rủi ro cho tư nhân có thể làm cho họ e ngại đầu tư nhưng rủi ro cần được chuyển giao một cách hợp lý ở mức tối ưu Tuy ban đầu mục đích chính của Chính phủ Anh là thu hút nguồn vốn tư nhân nhằm hỗ trợ ngân sách Chính phủ nhưng theo thời gian, mục đích thực hiện dự án PPP dần thay đổi Chính phủ Anh chỉ lựa chọn những dự

án PPP nếu tạo ra giá trị vượt trội so với hình thức đầu tư truyền thống

Hàn Quốc: Ban hành luật hợp tác công tư, đơn giản thủ tục, miễn giảm thuế để thúc đẩy

mô hình PPP

Trang 28

Được triển khai từ cách đây hơn 23 năm nhưng mô hình PPP của Hàn Quốc ban đầu đã không thành công hoàn toàn, tỷ lệ dự án triển khai thấp Các lý do cho sự không thành công của mô hình này là các thủ tục đấu thầu không rõ ràng, thiếu sự minh bạch, không nhất quán với các tiêu chuẩn của thế giới và cơ chế phân bổ rủi ro không phù hợp Để khắc phục hạn chế, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Luật Hợp tác công tư nhằm cải thiện hình thức các hợp đồng PPP, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, quy định bắt buộc nghiên cứu khả thi, lập hệ thống hỗ trợ xử lý rủi ro… Luật này đã cải thiện đáng kể, khơi thông dòng vốn và thu hút đầu tư nước ngoài cho nhiều dự án Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện đơn giản thủ tục đấu thầu, miễn giảm thuế, bảo đảm doanh thu tối thiểu 90% nên tư nhân hầu như không có rủi ro doanh thu Nhờ vậy, số lượng dự án PPP phát triển

hạ tầng tăng lên nhanh chóng

Trung Quốc: Tham nhũng là trở ngại lớn nhất cho sự thành công của PPP

Trung Quốc đã và đang quy hoạch đầu tư cho hệ thống đường bộ và nhiều dự án giao thông đường bộ đã được thực hiện theo mô hình PPP Sự thành công cho các dự án giao thông theo mô hình PPP bao gồm dự án phù hợp, kinh tế - chính trị ổn định, mức thuế phù hợp, phân bổ rủi ro hợp lý, lựa chọn các nhà thầu phụ phù hợp, kiểm soát và quản lý các dự án một cách chặt chẽ, chuyển nhượng công nghệ mới Tuy nhiên, cơ cấu tài trợ của nhiều dự án đường bộ theo hình thức PPP ở Trung Quốc là dựa trên các khoản vay vàtrái phiếu quốc tế đã tạo ra rủi ro tỷ giá cho Chính phủ Mức phí thu cao so với thu nhập bình quân đầu người Do đó, các lợi ích kinh tế và tài chính để tạo tính hấp dẫn cho đầu

tư vẫn chưa đạt được Sự can thiệp của Chính phủ và tham nhũng là trở ngại lớn nhất cho

sự thành công của mô hình PPP ở Trung Quốc mà nguyên nhân là do các quy định pháp luật chưa đầy đủ, hệ thống giám sát yếu, chưa công khai trong quá trình ra quyết định

Malaysia: Thiếu minh bạch dẫn đến thất bại

Trang 29

Năm nguyên nhân dẫn đến thất bại của việc thực hiện các dự án PPP ở Malaysia đã được John và Sussman (2006) chỉ ra trong một nghiên cứu, đó là: (1) Sự thiếu minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư; (2) mức giá thu phí thấp; (3) khả năng hỗ trợ của Chính phủ bị giới hạn; (4) các chính sách của Chính phủ chưa đồng bộ; (5) sự bất ổn về chính trị.

Các nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á cũng như một số tác giả trên thế giới đãchỉ ra ưu nhược điểm của mô hình hợp tác công tư PPP và các yếu tố tạo ra sự thành côngcủa mô hình hợp tác công tư PPP Phân tích của Ngân hàng Phát triển châu Á trong quyển Public-Private Partnership Handbook (Sổ tay hướng dẫn mô hình hợp tác công -

tư, 2008) đã chỉ ra ba động cơ để áp dụng mô hình PPP là thu hút vốn đầu tư tư nhân, gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực có sẵn, và tạo ra động cơ cũng như nâng cao trách nhiệm giải trình Dưới góc độ nhà nước, ưu điểm lớn nhất của mô hình hợp tác công tư làgiảm được gánh nặng đối với ngân sách, giúp giải quyết những vấn đề kém hiệu quả trong sử dụng vốn Sự có mặt của khu vực tư nhân giúp sự sáng tạo, trách nhiệm giải trình cũng như sự minh bạch có khả năng sẽ được cải thiện Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của mô hình PPP là chi phí lớn hơn do các nhà đầu tư tư nhân yêu cầu một suất sinh lợi cao hơn Trong nhiều trường hợp việc thiết kế cơ chế tài chính và cơ chế phân chia trách nhiệm, xác định mức thu phí hay phần trợ cấp của nhà nước là vô cùng phức tạp Hơn thế, mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân cũng là một vấn đề

1.4.2 Bài học rút ra từ các Quốc gia trên thế giới

Hầu hết các nước đều xác định ngân sách không phải là nguồn cung cấp vốn chính cho phát triển cơ sở hạ tầng, chính phủ chủ động kêu gọi sự tham gia của thành phần tư nhân

và nhà đầu tư nước ngoài Không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có chiến lược riêng tùy thuộc bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án

Trang 30

Những nước không ban hành bộ luật riêng về PPP (như Anh, Mỹ, Australia ) thường là các nước phát triển, có hành lang pháp lý vững chắc và lâu đời Phần lớn các nước đã và đang phát triển vì mong muốn phát huy hết hiệu quả của hình thức PPP nên đều ban hànhluật về PPP Đối với Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Với mục đích mong muốn thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nói chung

và giao thông đường bộ nói riêng trong bối cảnh khung thể chế còn chứa nhiều rủi ro tiềm tàng và phải cạnh tranh với các nước trong khu vực nên việc hoàn thiện hơn nữa các chính sách về PPP và tiến tới xây dựng Luật Đầu tư đối tác công - tư là hết sức cần thiết

Qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước có thể rút ra một số bài học sau:

- Các nhân tố tác động đến sự thành công của PPP không có sự khác biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển, đó là: phải có khung pháp lý đầy đủ và minh bạch; lựa chọn đối tác có năng lực; tối đa hóa lợi ích cho các đối tác, ổn định môi trường vĩ mô và phân

bổ rủi ro hiệu quả

- Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy, phát triển hình thức đối tác công

tư, thể hiện vai trò là chủ thể tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhất để giải phóng nguồn lực và thu hút sự tham gia của các thành phần, lực lượng khác trong xã hội Một dự án PPP tốt trước hết đòi hỏi phải có sự ủng hộ và điều phối hiệu quả từ chính quyền trung ương, cho dù bất kì ở thể chế chính trị nào

- Công tác đấu thầu, mua sắm nguyên vật liệu cho công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phảiđảm bảo tính minh bạch và tính cạnh tranh những yếu tố gắn chặt với một thể chế tốt

- Phải lập kế hoạch toàn diện, dự tính doanh thu và chi phí một cách chắc chắn, có hỗ trợ mạnh mẽ về thể chế và khung pháp lý vững chắc, chính phủ đề ra quy tắc rõ ràng về hỗ trợ và giám sát tài chính và hợp đồng phải được tuân thủ nghiêm túc Chỉ có đầy đủ các yếu tố này, một dự án công tư về cơ sở hạ tầng mới có thể thành công

Trang 31

- Cân bằng được giữa lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ dự án với mục đích xã hội của

hệ thống này Bài học rút ra từ các nước như Nhật Bản… là chính phủ và các bộ ngành phải công khai hóa thông tin, đảm bảo kiểm toán minh bạch, có như vậy mô hình PPP mới phát huy được hiệu quả như mong đợi

- Cần có những tiêu chí, chỉ tiêu đơn giản và minh bạch cho các dự án PPP

- Các nguyên tắc về đàm phán hợp đồng cần được thông báo càng sớm, càng rõ càng tốt Cần có quy trình quy hoạch và thực hiện dự án PPP phù hợp

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO

HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng về hệ thống giao thông và nhu cầu đầu tư phát triển CSHTGT Việt Nam

2.1.1 Thực trạng hệ thống giao thông Việt Nam hiện nay

Trang 32

Đến hết năm 2015, ngành GTVT đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo khoảng 4.400kmđường bộ và hơn 94.000m dài cầu đường bộ; đặc biệt đã hoàn thành việc nâng cấp, mởrộng và đưa vào khai thác toàn tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên sớmhơn 1,5 năm so với kế hoạch; cơ bản hoàn thành nâng cấp, mở rộng QL1 từ Thanh Hóađến Cần Thơ, sớm hơn 01 năm so với kế hoạch; đã đầu tư mới và đưa vào khai tháckhoảng 704km đường bộ cao tốc, vượt 104km so với mục tiêu đề ra.

Tuy nhiên, đánh giá về hệ thống đường bộ toàn quốc, chỉ có 32% đạt loại tốt trở lên, cònlại 68% là loại trung bình, xấu cần phải bảo dưỡng, nâng cấp ngay Nhiều tuyến chưađảm bảo tiêu chuẩn, cầu và đường chưa đồng bộ, chất lượng mặt đường xuống cấpnghiêm trọng nên thường xuyên xảy ra tai nạn và ùn tắc như: QL1, QL2, QL3, QL5,QL6 ; đặc biệt ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên các cầu, cống, tuyến đường xâydựng trước đây không phù hợp với tình hình thủy văn hiện nay nên dễ bị ngập lụt trongmùa mưa bão, gây sụt lở

2.1.2 Nhu cầu đầu tư phát triển CSHTGT Việt Nam

Theo tính toán của Bộ GTVT, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng CSHTGTĐB đến năm 2020bình quân khoảng 202.000 tỷ đồng/năm, trong đó một số dự án giao thông quan trọng,cấp bách như QL1 cần bình quân 22.000 tỷ đồng/năm, đường Hồ Chí Minh là 27.000 tỷđồng/năm và tổng nhu cầu vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông từ nay đến năm

2020 do Bộ trực tiếp quản lý ước khoảng 1.015 nghìn tỉ đồng Khả năng đáp ứng nhu cầu

từ các nguồn ngân sách và có nguồn gốc ngân sách (vốn ngân sách nhà nước, trái phiếuchính phủ, vốn ODA) theo Bộ GTVT chỉ vào khoảng 28% Phần thiếu hụt là 731 nghìn tỉđồng, trong đó các dự án có khả năng đầu tư bằng hình thức xã hội hóa có tổng mức đầu

tư khoảng 452,6 nghìn tỉ đồng, trong đó yêu cầu phần vốn góp Nhà nước là khoảng 157nghìn tỉ đồng (Bảng 2.1)

TT Lĩnh vực Tổng mức đầu tư Vốn góp nhà nước Vốn nhà đầu tư

huy động

Trang 33

Nhu cầu vốn nhà đầu tư huy động theo từng lĩnh vực trong

đầu tư cơ sở hạ tầng đến năm 2020

Đường bộ Hàng hải Đường thủy Hàng không Đường sắt

Biểu đồ 2.1 Nhu cầu nguồn vốn xã hội hóa đầu tư CSHT đến năm 2020

Qua số liệu phân tích có thể thấy, Nhà nước ta đang trông chờ vào nguồn vốn từ nhà đầu

tư để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển GTVT đến năm 2020 và trong đó đặc biệt chú ý đến đầu tư phát triển CSHTGT

2.1.3 Mục tiêu phát triển ngành GTVT ở Việt Nam đến năm 2020

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI đã đề ra mục tiêu trọng tâm về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông là bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông thông suốt, an toàn, với một số công trình hiện đại, bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững

Trang 34

Chiến lược phát triển ngành giao thông vận tải xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020Việt Nam sẽ hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa các phương thức vận tải, phát triển một cách đồng bộ, từng bước tiến tới hiện đại nhằm góp phần đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Một số mục tiêu cụ thể gồm: Đến năm 2020 có trên 2.000km đường bộ cao tốc; hoàn thành hơn 600km đường

Hồ Chí Minh; tốc độ bình quân chạy tàu tuyến Bắc – Nam là 80 – 90km/h đối với tàu khách và 50 – 60km/h đối với tàu hàng; đưa tổng năng lực các cảng hàng không đạt khoảng 100 triệu hành khách/năm; tổng công suất các cảng biển đạt khoảng 800 triệu tấn/năm vào năm 2020;…

Với sự cần thiết của việc phát triển cơ sở hạ tầng GTVT như hiện nay, từ tháng 12/2004Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 206/2004/QĐ-TTg, nội dung phê duyệt chiếnlược Phát triển GTVT Việt Nam định hướng đến năm 2020 Quyết định này đã nêu lênquan điểm và mục tiêu phát triển GTVT của Việt Nam đến năm 2020 như sau:

- GTVT là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cần ưu tiên đầu

tư phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho pháttriển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại đất nước

- GTVT phải phát triển đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng, vận tải và công nghiệp GTVT theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo thành mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, liênhoàn, liên kết được các phương thức giao thông vận tải, đảm bảo giao lưu thông suốt,nhanh chóng, an toàn và thuận lợi trên phạm vi cả nước với trình độ tương đương cácnước tiên tiến trong khi vực, phục vụ mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước côngnghiệp vào năm 2020, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực

Trang 35

2.2 Một số nghị định, luật pháp hiện hành về hợp tác công tư đối với phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam

Ở Việt Nam định nghĩa hợp đồng PPP được quy định tại Điều 2 Quy chế thí điểm đầu tưtheo hình thức đối tác công - tư ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày

09 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

2.2.1 Nghị quyết về hợp đồng PPP tại Việt Nam

Tại Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” đã khẳng định “Huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu

tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội”, và đưa

ra giải pháp “Thu hút mạnh các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài thamgia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích thoả đáng của nhà đầu tư Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Sửa đổi, bổ sung các quy định về chính sách

hỗ trợ tài chính, thuế, giá, phí, lệ phí, nhượng quyền… để tăng tính thương mại của dự án

và sự đóng góp của người sử dụng Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư theo các hình thức PPP, BT, BOT ”

Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một lần nữa khẳng định “đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản

lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án”

2.2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PPP

Hiện nay, trong khung pháp luật điều chỉnh PPP tại Việt Nam, có hai văn bản có tính pháp lý cao nhất là Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu

Ngày 11/06/2014 Quốc Hội đã ban hành Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 (có hiệu lực kể từngày 01/07/2015) với quy định cụ thể về PPP tại Điều 27 Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: "Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước

Trang 36

có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công Chính phủ quy định chi tiết lĩnh vực, điều kiện, thủ tục thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP"

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2014) với các quy định pháp luật đã được tập trung, điều chỉnh mang tính hệ thống Theo đó, đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo hình thức đối tác công -tư (PPP) nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu 2013 (quy định tại Khoản 3 Điều 1 Luật Đấu thầu 2013)

Bên cạnh đó, Luật Ngân sách nhà nước quy định tổng thể về chi phí đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách Luật Xây dựng quy định quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư

có hoạt động xây dựng, bao gồm thẩm quyền lập và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP riêng biệt và vẫn có hiệu lực thi hành tại thời điểm học viên hoàn thành luận văn này là Quyết định số 71/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công -

2.2.4 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư mới được ban hành, sẽ có hiệu lực từ ngày 10/04/2015 Ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư,

có hiệu lực kể từ ngày 10/04/2015

Nghị định số 15/2015/NĐ-CP là sự nâng tầm của Quyết định 71/2010/QĐ-TTG với một

Trang 37

Thứ nhất, mở rộng thêm 05 (năm) lĩnh vực có thể áp dụng PPP

Thứ hai, quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 15% tổng

vốn đầu tư

Thứ ba, bỏ giới hạn vốn nhà nước trong dự án PPP song lại quy định rõ về vốn đầu tư của

nhà nước tham gia thực hiện dự án

Thứ tư, bổ sung điều kiện tuyển chọn dự án PPP

Thứ năm, liên quan đến phần ưu đãi đối với nhà đầu tư

Thứ sáu, liên quan việc bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ hợp đồng PPP.

Điều 46 Quyết định 71 nêu rằng Chính phủ có thể chỉ định cơ quan bảo lãnh, nhưng bản thân Chính phủ thì không phải là người bảo lãnh

Điều 57 Nghị định 15 thay đổi người đứng ra bảo lãnh phải là Chính phủ; còn Chính phủ chỉ chỉ định cơ quan đứng ra đại diện cho Chính phủ bảo lãnh

Thứ bảy, quy định rõ phương hướng giải quyết nếu xảy ra tranh chấp: Điều 63 Nghị định

15/2015/NĐ-CP

2.3 Thực trạng hoạt động đầu tư theo hình thức hợp tác công tư trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam Mô hình PPP và thực trạng áp dụng tại Việt Nam

2.3.1 Thực trạng đầu tư xây dựng kết câu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp tác công tư ở Việt Nam

Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội là nền tảng của mỗi quốc gia, trong đó, kết cấu hạ tầnggiao thông và hạ tầng đô thị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thúc đẩy kinh tế - xã hội.Trong giai đoạn qua, Chính phủ đã tập trung nguồn vốn ngân sách, vốn ODA… cho đầu

tư phát triển hạ tầng, tạo lập nhiều cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực xã hội,qua đó đã thu hút được nguồn lực xã hội hóa vào phát triển hạ tầng giao thông, đô thị qua

Trang 38

các hình thức đầu tư BOT, BT , thúc đẩy công tác cổ phần hóa, liên doanh liên kết Hệthống hạ tầng giao thông và đô thị đã có nhiều thay đổi tích cực, chất lượng công trìnhngày càng được nâng cao, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư phát triển, hộinhập kinh tế trong khu vực và thế giới.

* Giai đoạn 1994 - 2009 Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, đãcó

32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la.Cũng giống như các nước khác, mô hình BOT và BOO chiếm tỷ phần chủ yếu Hai lĩnhvực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông Ngoài ra, có thể kể đến nhiều dự ánhợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ thập niên 1990 đến nay như: BOTcầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khácđang được thực hiện theo phương thức BOO Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự ánvới tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng

* Năm 2010, theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, tổng số dự án cấp mớiđược

đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO

có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới Nhưng số lượng dự án cấp mới chiếm55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm % cao nhấttrong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009 không có dự án mới nào đầu tư theohình thức BOT,BT,BTO đó là một sự khởi sắc tốt

Về hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án cấp mớichỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 ( tính hết ngày 21/12/2010),còn về hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới đăng ký, hình thức

cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4% và 1% trên tổng số dự áncấp mới Ta thấy rằng hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO đang phát triểntheo chiều hướng tích cực Vậy dưới sự giám sát và hỗ trợ của nhà nước, hình thức đầu tưtheo mô hình PPP đã bắt đầu có sự tiến triển so với các hình thức đầu tư khác

Trang 39

Đặc biệt là sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế Thí điểm đầu

tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/1/2011 Quyếtđịnh này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước đang dồn vào mô hìnhPPP

* Năm 2014, ngành giao thông vận tải đã huy động được gần 43.000 tỷ đồng vốn

nhân tham gia đầu tư vào các dự án giao thông Tính đến cuối năm 2014, trong 63 dự ánPPP do Bộ Giao thông vận tải quản lý, các ngân hàng thương mại đã tham gia tài trợ tới135.000 tỷ đồng (chiếm trên 89% tổng mức đầu tư)

* Năm 2015, theo thống kê sơ bộ do Bộ GTVT tổng hợp cho thấy, cả nước có 83

dự

án kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức BOT và BT với tổng vốn đầu tư 229.105 tỉđồng, trong đó chủ yếu là các dự án BOT (92,3%) Điểm đáng chú ý là 99,3% tổng mứcđầu tư thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ Trong cả giai đoạn 2011 - 2015 chỉ có vài dự

án BOT và BT thuộc các lĩnh vực khác như hàng hải, đường thủy nội địa với tổng mứcđầu tư rất khiêm tốn, dưới 1% Theo cấp quản lý thì Bộ GTVT quản lý 90% số dự ánBOT và BT với 89% tổng đầu tư và các địa phương quản lý 10% số dự án với 11% tổngđầu tư

* Giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Do Nghị định 15/2015/NĐ-CP và Nghị định 30/2015/NĐ-CP mới được triển khai, nên sốlượng các dự án PPP mới chưa thu hút được nhiều sự tham gia của NĐT, vận hành cònrất hạn chế Các dự án PPP chủ yếu vẫn trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai khung pháp

lý của Nghị định 108/2009/NĐ-CP và Nghị định 15/2015/NĐ-CP Trên thực tế, 32 dự ánđược cấp giấy chứng nhận đầu tư từ ngày Nghị định 15/2015/NĐ-CP có hiệu lực(10/4/2015) đến nay, chủ yếu là các dự án được nghiên cứu và triển khai theo quy định cũ(Nghị định 108/2009/NĐ-CP) Những dự án thực hiện theo khung pháp lý mới hầu hết

Trang 40

đang trong giai đoạn chuẩn bị dự án - lập đề xuất dự án, báo cáo nghiên cứu khả thi, lựachọn NĐT

Về phía các địa phương, có 18/63 địa phương đăng ký danh mục dự án PPP dự kiến thựchiện trong giai đoạn 2016-2020 với tổng số 598 dự án, trong đó có 321 dự án dự kiếnkhởi công mới trong giai đoạn 2016-2020, 277 dự án chuyển tiếp từ năm 2011-2015.Tổng nhu cầu vốn cho các dự án PPP là 254.054,717 tỷ đồng (vốn NSNN là 16.863,617

tỷ đồng, vốn dự kiến do NĐT huy động là 237.191,099 tỷ đồng) Các dự án được đề xuấtvẫn chủ yếu áp dụng hình thức BT (256 dự án), BOT (87 dự án), BLT (6 dự án), BOO (1

Ba La đến Xuân Mai; Đường trục trung tâm huyện Đông Anh; Cứng hóa mặt đê Tả sôngHồng kết hợp đường giao thông từ huyện Mê Linh đến quận Long Biên; Nâng cấp, mởrộng QL21 đoạn Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai; Tuyến đường liên khu vực nối từ đường23B - Vân Trì - QL3

TP.HCM Theo Danh mục dự án PPP đã được phê duyệt đề xuất dự án/dự án, cónhiều

dự án BT do nhà đầu tư đề xuất dự án có TVĐT rất lớn, như Dự án Giải quyết ngập dotriều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu (giai đoạn 1) do Công ty CPĐầu tư xây dựng Trung Nam đề xuất với TVĐT 9.850 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng

hạ tầng kỹ thuật khu dân cư phía Bắc và hoàn thiện đường trục Bắc - Nam (đoạn từ chân

Ngày đăng: 29/04/2018, 01:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS.,TS.Nguyễn Trọng Cơ (2016) “Hợp tác công tư trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ - lý luận và thực tiễn ”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác công tư trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ - lý luận và thực tiễn
1. Đoàn Duy Khương, Phó Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam vì sự phát triển bền vững (VBCSD), 12/06/2012. Hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng giao thông vận tải. Tạp chí Cộng sản Khác
3. Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 (2008) Khác
4. Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Bộ sinh thái, Năng lượng, Phát triển bền vững và Biển (MEEDDM), 11/2009. Ai trả già trong lĩnh vực giao thông đô thị - Sổ tay một số kinh nghiệm hay. Nhà xuất bản tri thức Khác
5. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), 08/2008. Mối quan hệ Đối tác Nhà nước – Tư nhân. Ấn phẩm lưu trữ số 071107 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w