1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại giữa Việt nam và liên bang nga trong bối cảnh khủng hoảng nền kinh tế hiện nay: thực trạng và giải pháp

68 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, em đã chọn đề tài “ Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay: Thực trạng và giải pháp” cho khóa luận của mình... Chương 2: Thự

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Họ và tên sinh viên : Vũ Xuân Bách

Mã sinh viên : 1111110489 Lớp : Anh 19 - Khối 7 KT

Khoá : K50

Người hướng dẫn khoa học : TS Vũ Thành Toàn

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA VÀ CƠ SỞ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 4

1.1 Tổng quan về Liên Bang Nga 4

1.1.1 Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, dân cư và thể chế chính trị Liên Bang Nga 4

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.1.1.2 Khí hậu 5

1.1.1.3 Dân cư 5

1.1.1.4 Lịch sử 5

1.1.1.5 Chính trị và đối thoại 7

1.1.1.6 Văn hóa 12

1.1.2 Một vài nét đặc trưng của nền kinh tế Liên Bang Nga 13

1.1.2.1 Kinh tế 13

1.1.2.2 Thương mại 15

1.2 Sự cần thiết khách quan phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 17

1.2.1 Về phía Việt Nam 17

1.2.2 Về phía Liên Bang Nga 18

1.2.3 Các chính sách thương mại của Liên Bang Nga và Việt Nam 19

1.2.3.1 Chính sách thương mại của Liên Bang Nga 19

1.2.3.2 Chính sách thương mại của Việt Nam 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY 21

2.1 Khái quát về tiến trình quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga giai đoạn 1975 – 2008 21

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay đến nền kinh tế Việt Nam và

Liên Bang Nga 24

2.2.1 Những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt Nam…… 24

2.2.2 Những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và vấn đề Ucraine đến nền kinh tế Liên Bang Nga trong bối cảnh hiện nay 29

2.3 Thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh hiện nay 32

2.3.1 Thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 32

2.3.1.1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 32

2.3.1.2 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Liên Bang Nga 33

2.3.1.3 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Liên Bang Nga 34

2.3.2 Cơ cấu thương mại 36

2.3.2.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Liên Bang Nga 36

2.3.2.2 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Liên Bang Nga 44

2.4 Một số đánh giá chung về tình hình thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay 48

2.4.1 Thành tựu 48

2.4.2 Hạn chế 49

2.4.3 Cơ hội và thách thức đối với quan hệ thương mại hai nước trong bối cảnh hiện nay 50

2.4.3.1 Cơ hội 50

2.4.3.2 Thách thức 51

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA SAU KHỦNG HOẢNG 53

3.1 Triển vọng và định hướng hợp tác quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 53

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

3.1.2 Định hướng hợp tác quan hệ thương mại 54

3.2 Giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga… 54

3.2.1 Một số vấn đề cần lưu ý trong quan hệ thương mại 54

3.2.2 Đề xuất một số giải pháp mang tính vĩ mô 56

3.2.3 Đề xuất một số giải pháp mang tính vi mô 57

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Nga năm 2013 16

Bảng 1.2: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của Nga năm 2013 17

Bảng 2.1: Quan hệ thương mại Việt Nam – Liên Bang Nga từ năm 1994 đến năm 2014 32

Bảng 2.2: Các nước xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2013 34

Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ các châu lục năm 2013 35

Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Nga năm 2014 36

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện sang Nga giai đoạn 2011 – 2014 42

Bảng 2.6: Kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga giai đoạn 2009 – 2014 43

Bảng 2.7: Kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu từ Nga trong năm 2014 44

Bảng 2.8: Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu từ Nga giai đoạn 2007 – 2014 46

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1 : GDP của Nga giai đoạn 2004 – 2014 14

Hình 1.2: Tốc độ tăng GDP tại Nga giai đoạn 2004 – 2014 15

Hình 2.1: Tăng trưởng GDP của Việt Namgiai đoạn 2007 – 2013 28

Hình 2.2: Nhập khẩu các sản phẩm dệt may từ Việt Nam của Nga năm 2014 37

Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên Bang Nga giai đoạn 2007 – 2014 39

Hình 2.4: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản sang Nga của Việt Nam 41

Hình 2.5: Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu từ một số thị trường năm 2014 45

Hình 2.6: Kim ngạch nhập khẩu phân bón từ thị trường Nga giai đoạn 2007 – 2014 47

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển và toàn cầu hóa trở thành một xu hướng tất yếu thì việc phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia là một điều không thể tránh khỏi Nhận thức rõ được vai trò cũng như tầm quan trọng của hoạt động ngoại thương, Đảng và Nhà nước luôn đề cao và lấy đó làm chìa khóa để đưa đất nước đi lên Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện cũng như đường lối của chính phủ Đặc biệt, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu của nước ta trong bối cảnh hiện nay là giảm nhập siêu, tăng cường hoạt động xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại và cuối cùng là tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia Từ nhận thức đó, sau giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó, không thể không kể đến Liên Bang Nga Bởi lẽ, đây là nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới và là một trong những đối tác tiềm năng nhất của Việt Nam trong thời gian gần đây

Quan hệ thương mại giữa hai quốc gia mang tính bổ sung cho nhau Nếu như lợi thế của Việt Nam là nguồn nhân công và tài nguyên, thì Liên Bang Nga lại có lợi thế về khoa học kỹ thuật và công nghệ Do đó việc phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Liên Bang Nga là một phần trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa mà Đảng và Nhà nước đang chú trọng

Mối quan hệ của Việt Nam và Liên Bang Nga được xây dựng từ cách đây 65 năm, trên nền tảng quan hệ Việt Nam – Liên Bang Xô Viết Mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã đi qua một thời gian nhưng những ảnh hưởng của sự kiện này vẫn để lại dư âm đối với quan hệ thương mại song phương hai nước

Do đó, em đã chọn đề tài “ Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay: Thực trạng và giải pháp” cho khóa luận của mình

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Liên Bang Nga trong bối cảnh hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong khóa là tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu và dự báo trên cơ sở số liệu thống kê được công bố chính thức của các ban ngành liên quan

5 Kết cấu của đề tài

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Chương 1: Tổng quan về quan hệ thương mại quốc tế và cơ sở phát triển

quan hệ thương mại giưa Việt Nam và Liên Bang Nga

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên

Bang Nga trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay

Chương 3: Triển vọng phát triển và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại

giữa Việt Nam và Liên Bang Nga sau khủng hoảng kinh tế

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Tiến sĩ Vũ Thành Toàn, khoa Kinh tế

và kinh doanh quốc tế trường Đại học Ngoại thương đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ

để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Do hiểu biết và khả năng còn nhiều hạn chế, khóa luận của em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự quan tâm, nhận xét và chỉ bảo của các thầy cô để hoàn thành khóa luận tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA

VÀ CƠ SỞ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA

1.1 Tổng quan về Liên Bang Nga

1.1.1 Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, dân cư và thể chế chính trị Liên Bang

Nga

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

trên cả 2 châu lục là châu Âu và châu Á Liên bang Nga có đường biên giới dài, trải

ra trên 11 múi giờ, tiếp giáp với 14 nước Bên cạnh đó, Nga còn có đường bờ biển dài.Phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương, phía đông tiếp giáp với Thái Bình Dương, phía tây và phía nam biển Ban–tích, biển Đen, biển Ca-xpi

Địa hình Nga chia làm hai phần rõ rệt, cao ở phía đông và thấp về phía tây Trong đó

Phần phía Tây:

Phần lớn diện tích thuộc phần phía Tây là đồng bằng và vũng trũng gồm đồng bằng Đông Âu và đồng bằng tây Xi-bia Vùng đồng bằng Đông Âu tương đối cao, xen nhiều đồi thấp, đất đai màu mỡ, là nơi trồng cây lương thực thực phẩm và chăn nuôi chính của Nga Đồng bằng tây Xi-bia tập trung nhiều khoáng sản, dầu mỏ khí tự nhiên Dãy Uran là ranh giới tiếp giáp của Nga ở hai châu lục chứa nhiều khoáng sản như than, dầu, quặng sắt, kim loại màu

Phần phía Đông:

Diện tích phần phía Đông chủ yếu là núi và cao nguyên, phát triển nông

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Diện tích rừng ở Nga đứng đầu thế giới với khoảng 886 triệu ha trong đó có đến 764 triệu ha là có thể khai thác được.Nga tập trung nhiều sông hồ lớn, trong đó

hồ Bai-can là hồ nước ngọt sâu nhất thế giới

1.1.1.2 Khí hậu

Khí hậu Nga được hình thành dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố Do diện tích lớn và sự xa tách khỏi biển của nhiều vùng đất dẫn tới kiểu khí hậu lục địa ẩm và cận Bắc Cực, đây là kiểu khí hậu phổ biến ở châu Âu Các dãy núi ở phía nam chặn các khối không khí ẩm từ Ấn Độ Dương, trong khi đồng bằng phía tây và phía bắc

mở rộng khiến Nga chịu ảnh hưởng từ Bắc Cực và Đại Tây Dương

Trên hầu hết lãnh thổ của Nga có hai mùa riêng biệt là mùa đông và mùa hè; mùa xuân và mua thu chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, thường vào lúc thay đổi thời tiết Chênh lệnh nhiệt độ giữa hai mùa đông và mùa hè là rất lớn Mùa đông kéo dài

từ phía nam tới phía bắc và từ phía tây sang phía đông Mùa hè tại Nga nóng và ẩm

âu, nam Xibi và viễn Đông.Khu vực này chiếm 1/3 lãnh thổ, tập trung chủ yếu hơn 93% dân số Nga

1.1.1.4 Lịch sử

Sự hình thành của nước Nga cổ đại là quá trình hình thành lâu dài, kéo dài hàng nghìn năm lịch sử.Vào đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, người Slav sống trong các công xã thị tộc Các công việc được thực hiện bởi cả một tập thể và mỗi vùng lãnh thổ do một công xã phụ trách và chiếm hữu.Theo lịch sử, năm 862, nhân

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

dân đông Slav đứng về phía công tước Ryurik của vùng lãnh thổ Varangian và bầu ông làm lãnh đạo Liên minh các bộ tộc

Vào năm 882 diễn ra sự thống nhất quan trọng của các công quốc Đông Slav Công tước Oleg của Novgorod đã chinh phục Kiev Nước Nga Kiev ( Kievan Rus)

ra đời Thành phố Kiev sau này trở thành trung tâm của nhà nước Nga

Vào năm 988, đạo giáo Kito du nhập và được chấp nhận, công tước Kiev thời đó là Vladimir đã kỳ vọng thống nhất Đông Slav về cả mặt lãnh thỗ lẫn tôn giáo

Năm 1240, Kiev bị quân Mông cổ phá hủy Lãnh địa nước Nga lúc đó bị phân chia cho các công tước cai quản Sau thời kỳ đó, Moscow đóng vai trò trung tâm chính trị, thương mại sau cuộc chiến chống lại quân Mông Cổ

Cuối thế kỷ XV, Quận công Ivand đệ tam đuổi quân Mông Cổ ra khỏi đất nước, kết thúc thời đại của các lãnh chúa Tuy vậy, chế độ do Quận công Ivan vẫn theo mô hình thời Trung Cổ

Đến triều đại của Peter Đại đế, Nga đã cải tổ theo xu hướng phương Tây hóa Lãnh thổ nước Nga mở rộng về phía Tây sau khi đánh bại quân Thụy Điển Nước Nga dưới thời Nữ hoàng Catherine Đệ nhất tiếp tục theo chương trình phương Tây hóa, chiếm các nước Crimea, Ukraine, và một phần Ba Lan Dưới thời Alexander I, lãnh thổ nước Nga được xác lập, bao gồm thêm cả Phần Lan, Bessarabia

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bản chất tham nhũng và kém hiệu quả của chế độ Sa hoàng đã phơi bày Khởi nghĩa của giai cấp công nhân nổ ra tháng 3/1917, vua Nicolas II bị buộc thoái vị Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lenin và Leon Trotsky, chính quyền đã thuộc về tay Hội đồng Dân biểu, do Lenin đứng đầu

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, đến 30/12/1922, cùng với ba nước

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Trong Liên bang Xô Viết, Nga đóng vai trò trụ cột, làm nên sức mạnh cho vị thế siêu cường của Liên Xô

Tháng 12/1991, Liên bang Xô viết chấm dứt sự tồn tại của mình với tư cách

là một thực thể địa-chính trị thống nhất, các nước thành viên trở thành các quốc gia độc lập, có chủ quyền, được Liên Hợp Quốc và cộng đồng các nước quốc tế công nhận Nước Nga sau khi Liên Xô tan rã có tên chính thức là Liên Bang Nga thay cho Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Bang Nga

1.1.1.5 Chính trị và đối thoại

a) Thể chế chính trị

Nga là một nước cộng hòa tổng thống liên bang

Quyền hành được chia đôi giữa Tổng thống và Thủ tướng chính phủ, nhưng

có thể nói Tổng thống là nhân vật nổi bật hơn.Bên cạnh đó, cơ quan lập pháp được đại diện bởi các bang của Liên Bang Nga Nước Nga có 2 viện: Duma Quốc gia –

Hạ viện và Hội đồng Liên bang – Thượng Viện Quyền tư pháp được trao cho toàn

án và được quản lý bởi Bộ Tư pháp

Tổng thống

Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, được bầu theo đầu phiếu phổ thông, làm việc tối đa hai nhiệm kỳ liên tiếp, mỗi nhiệm kỳ kéo dài sáu năm Theo Hiến pháp quy định, nhiệm kỳ tổng thống kéo dài bốn năm, nhưng điều này đã được Quốc Hội sửa đổi thành sáu năm vào cuối năm 2008.Tổng thống sống và làm việc tại điện Kremlin Tổng thống có nhiệm vụ quyết định các chính sách cơ bản trong nước và nước ngoài, là tư lệnh trưởng của các lực lượng vũ trang, có thể phủ quyết

dự luật lập pháp, giải quyết các vấn đề về quyền công dân và các vấn đề ân xá

Chính phủ

Nhiệm vụ Chính phủ được phân chia giữa một số Bộ Dưới các bộ có Liên bang và cơ quan Liên bang phụ trách từng phần nhiệm vụ.Người đứng đầu Chính

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

phủ, Thủ tướng Chính phủ, được bổ nhiệm bởi Tổng thống dưới xác nhận của Hạ nghị Viện – Duma Quốc gia Chính phủ đảm bảo việc thực hiện các chính sách trong nước và nước ngoài, hoạt động ra ngoài ngân sách liên bang, giám sát việc thực hiện các chính sách tài chính và tiền tệ, đảm bảo các quy định của pháp luật, quyền con người và quyền tự do

Quốc hội

Quốc hội Liên bang lưỡng viện đặt ra luật liên bang, phê duyệt điều ước quốc tế, và tuyên bố chiến tranh Cả Hạ viện và Thượng viện của nó được đặt tại Moscow

Hội đồng Liên bang – Thượng viện

Hội đồng Liên bang Nga là Thượng viện của Quốc hội Nga, được hình thành bởi hiến pháp năm 1993, hành động vì lợi ích chung của các chủ thể Liên bang Hội đồng Liên bang là phi Đảng pháo, các nghị sĩ của Hội đồng Liên bang không thuộc một phe phái hay Đảng phái

Không giống như Duma Quốc gia, Hội đồng không được bầu ra một cách trực tiếp.Hội đồng bao gồm các đại diện của liên bang Mỗi liên bang đề cử 2 nghị

sĩ – một cho bên hành pháp, một cho bên lập pháp của cơ quan quyền lực của nhà nước Thời hạn của các nghị sĩ trong Hội đồng Liên bang không do quốc gia quy định mà phụ thuộc vào thời hạn do Liên bang nơi nghị sĩ được đề cử đưa ra

Hội đồng làm việc với Hạ viện để hoàn thành và bỏ phiếu về dự thảo luật Nhưng Hội đồng Liên bang cũng có quyền hạn đặc biệt của riêng mình, bao gồm tuyên bố một cuộc bầu cử tổng thống mới, buộc tội Tổng thống và các quyết định

về việc sử dụng các lực lượng vũ trang bên ngoài lãnh thổ của Nga

Duma Quốc gia - Hạ nghị Viện

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trước đó là bốn năm trong một nhiệm kỳ Bất cứ công dân Nga ở độ tuổi trên 21 đều

đủ điều kiện để tham gia ứng cử vào Duma Quốc gia Theo quy định trước đây, một nửa số ghế tại Duma Quốc gia được chỉ định thông qua đại diện và nửa còn lại do bầu cử Sau những thay đổi, chính sách bầu cử vào Duma Quốc gia đã thay đổi Các cuộc bầu cử quốc hội năm 2007 sử dụng chính sách mới, theo đó tất cả các đại biểu được bầu từ các đảng danh sách thông qua số phiếu nhận được

Thuật ngữ Duma có nguồn gốc từ "dumat", trong tiếng Nga mang ý nghĩa suy nghĩ.So với một số nền dân chủ châu Âu, Duma Quốc gia Nga hình thành sau khá lâu.Sau khi sụp đổ trong cuộc cách mạng năm 1917, Duma Quốc gia được hình thành trở lại vào năm 1993 khi Tổng thống đầu tiên của Nga, Boris Yeltsin, giới thiệu một bản Hiến pháp mới

Tất cả các dự luật, kể cả do những người được Hội đồng Liên đoàn đề nghị, trước tiên phải được xem xét bởi Duma Quốc gia Khi một dự luật được thông qua bởi Duma Quốc gia, một dự thảo luật được đưa trở lại Hội đồng Liên bang.Nếu Hội đồng bác bỏ dự thảo luật đó, Duma Quốc gia và Hội đồng Liên Bang có thể lập ra một ủy ban để thành lập thỏa hiệp mới phù hợp nhất

Tư pháp

Ba loại tòa ántạo nên tư pháp Nga là:

 Các tòa xét xử nói chung (bao gồm cả các tòa án quân sự), trực thuộc Tòa án Tối cao

 Hệ thống tòa án trọng tài dưới Tòa án Tối cao của Trọng tài

 Tòa án Hiến pháp (cũng như các tòa án hiến pháp ở một số cơ quan liên bang)

Tòa án thành phố là cơ quan xét xử thấp nhất trong hệ thống tòa án nói chung và chiếm hơn 90% trong tất cả các vụ án dân sự và hình sự Cấp độ tiếp theo của tòa án xét xử nói chung là các tòa án khu vực Tòa án tối cao ở cấp độ cao nhất

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo quy định, quyết định của tòa án xét xử cấp thấp hơn có thể bị kháng cáo trực tiếp bởi tòa án cấp trên trực tiếp

Toà án Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản và tranh chấp thương mại giữa các tác nhân kinh tế Mức cao nhất của tòa án giải quyết tranh chấp kinh tế là Tòa án Tối cao của Trọng tài

Theo quy định của Hiến pháp, tòa án Hiến pháp được trao quyền xét xửtheo luật hoặc theo nghị định của Tổng thống Nếu một đạo luật trái với hiến pháp quy định, pháp luật không thể thi hành và các cơ quan chính phủ sẽ nghiêm cấm việc thực hiện đạo luật đó Các thẩm phán của Tòa án Hiến pháp, Tòa án tối cao và Tòa

án Trọng tài cao hơn được chỉ định bởi thượng viện của Quốc hội, Hội đồng Liên bang

Các nhà lãnh đạo cấp cao đương nhiệm của chính phủ Liên bang Nga bao gồm:

Tổng thống: Vladimir Vladimirovich Putin

Thủ tướng: Dmitry Anatolyevich Medvedev

Chủ tịch Hội đồng Liên bang : Valentina Ivanovna Matviyenko

Chủ tịch Duma Quốc gia: Sergey Yevgenyevich Naryshkin

b) Chính sách đối ngoại

Hiện tại, Nga là một trong năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo

an Liên Hợp Quốc, là thành viên của nhóm G8, G20, BRICS và nhiều tổ chức quốc

tế và khu vực khác Chính sách đối ngoại của Nga được các nhà chính trị nhận định

là thực dụng, linh hoạt, đa phương hóa quan hệ trên tất cả các mặt với các nước khác nhau, tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi việc hiện đại hóa đất nước

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Khu vực SNG

Khu vực SNG, hay còn gọi là CIS (Commonwealth of Independent States )

là Cộng đồng các Quốc gia độc lập Xét trên phương diện quan hệ quốc tế, đây là tổ chức quốc tế khu vực được thiết kế để điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trước đây đứng trong thành phần Liên Xô cũ dựa trên cơ sở tự nguyện

Đây là khu vực nằm trong ưu tiên hàng đầu của Nga Nga giữ vai trò hạt nhân trong các tổ chức khu vực như SNG, Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể, Liên minh thuế quan

Quan hệ Nga – Mỹ

Quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến tích cực từ tháng 9/2009.Hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong đó hai nước nhất trí và kí kết Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược

Quan hệ Nga – EU

Do một phần lãnh thổ Nga thuộc châu Âu nên việc triển khai quan hệ với EU trở nên đặc biệt quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nga Với mục tiêu hình thành các sân chơi chung về kinh tế, an ninh, giáo dục, quốc phòng, khoa học và văn hóa, Nga đang từng bước trở thành đối tác quan trọng của một số nước như Đức, Pháp, Ý Bên cạnh đó, Nga tiếp tục xây dựng, cải thiện quan hệ với một số nước khác như Ba Lan, Anh,

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Từ năm 1994, Nga đã chuyển đổi chính sách đối ngoại từ “ Định hướng Đại Tây Dương” sang “ Định hướng Âu – Á” Mấu chốt của việc chuyển đổi này là cân bằng quan hệ với cả các nước phương Tây và phương Đông Khu vực các nước châu Á – Thái Bình Dương được chú trọng hơn.Việc mở rộng quan hệ song phương với từng nước trong khu vực ASEAN, Nga đã có những nỗ lực trong việc phát triển quan hệ đa phương với khu vực ASEAN Tháng 4/1994, Nga trở thành 1 trong 18

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nước tham gia diễn đàn an ninh khu vực ASEAN ( ARF ) Tháng 7/1996, Nga trở thành 1 trong 10 bên đối thoại đầy đủ của ASEAN

1.1.1.6 Văn hóa

Văn hóa Nga có một lịch sử văn hóa lâu dài và phong phú, phát triển về văn học, ballet, hội họa và âm nhạc cổ điển.Mặc dù một số quan điểm cho rằng Liên Bang Nga là một đất nước “buồn tẻ”, nước này có một quá khứ văn hóa rất trực quan, từ trang phục dân gian đầy màu sắc đến những biểu tượng tôn giáo lộng lẫy Thêm vào đó nền văn hóa Nga đề cao những giá trị về quê hương và gia đình Tuy nhiên trong giới hạn của khóa luận là quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga, phần văn hóa tiếp theo sẽ chỉ đề cập đến văn hóa kinh doanh và văn hóa tiêu dùng

Văn hóa kinh doanh

Doanh nghiệp Nga được tổ chức một cách chặt chẽ, có thứ tự trên dưới.Người đứng đầu là người có quyền đưa ra các quyết định đối với toàn bộ doanh nghiệp Người Nga tuy đoàn kết khi làm nhóm nhưng lại thiếu sự sáng tạo, chủ động trong công việc

Văn hóa kinh doanh của Nga là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống phương Đông và sự hiện đại của phương Tây Phương Đông trong văn hóa kinh doanh của Nga thể hiện ở hình thức tổ chức kinh doanh theo hướng tập thể, bất bình đẳng Khía cạnh phương Tây thể hiện ở tính tư chủ, chủ nghĩa cá nhân, và tinh thần kinh doanh cao.Các doanh nghiệp Nga thường giải quyết vấn đề dựa trên quan hệ cá nhân bởi những người đứng đầu thường đề cao mối các quan hệ.Doanh nghiệp Nga thường hướng đến các mục tiêu ngắn hạn nhiều hơn các mục tiêu dài hạn, đặt lợi nhuận lên hàng đầu trong các thương vụ giao dịch

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Về văn hóa tiêu dùng

Với một lượng lớn dân số, Nga trở thành thị trường tiềm năng cho việc phát triển thị trường bán lẻ.Nhu cầu tiêu dùng của người Nga cũng đa dạng, phong phú

Có từ khoảng 10% đến 25% dân cư Nga thuộc tầng lớp trung lưu trở nên, họ hướng đến các sản phẩm nhập khẩu với thương hiệu nổi tiếng, các mặt hàng xa xỉ

Theo một số khảo sát vào năm 2014, bất chấp tình hình kinh tế khó khăn, việc mua sắm tại các trung tâm thương mại vẫn là thú vui không thể thiếu của người dân trong dịp rảnh rỗi cuối tuần Sản phẩm họ hướng đến là dòng thời trang, phụ kiện giá rẻ, mỹ phẩm Bên cạnh đó, có một sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng liên quan đến quần áo và giày dép Nếu như trước kia, phụ nữ và trẻ em Nga quan tâm đến những thương hiệu thời trang có tiếng tăm và hiện đại thì những sản phẩm tiện lợi, thoải mái ngày nay lại trở thành tiêu chí hàng đầu

1.1.2 Một vài nét đặc trƣng của nền kinh tế Liên Bang Nga

1.1.2.1 Kinh tế

Nga đã trải qua những thay đổi đáng kể từ sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết,

từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường và tham gia vào toàn cầu hóa của cả thế giới.Cải cách kinh tế trong những năm 90 của thế kỷ trước có một bước tiến vượt bậc trong việc tư nhân hóa hầu hết các ngành công nghiệp, kể cả trong ngành năng lượng và quốc phòng liên quan.Việc bảo vệ quyền sở hữu vẫn còn yếu và khu vực tư nhân vẫn phải chịu sự can thiệp nhà nước nặng

Liên Bang Nga là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về dầu

mỏ và khí đốt tự nhiên và cũng là một nước xuất khẩu hàng đầu về kim loại như thép và nhôm nguyên chất.Tuy nhiên,sự phụ thuộc quá lớn của Liên Bang Nga vào xuất khẩu hàng hóa làm cho nền kinh tế quốc gia dễ bị ảnh hưởng bởi các biến độnghoặc bất ổn của giá cả toàn cầu Nền kinh tế Nga, có tăng trưởng trung bình 7% trong giai đoạn 1998-2008 khi giá dầu tăng nhanh, nhưng lại là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nhất bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2008-2009 khi giá dầu giảm mạnh và các khoản tín dụng nước ngoài mà các ngân hàng và các công ty của Nga phụ thuộc vào đã không còn Việc giá dầu giảm trong vài năm qua đã khiến cho Liên Bang Nga gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài, từ đó làm suy giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng GDP của nước này

Hình 1.1 : GDP của Nga giai đoạn 2004 – 2014

Nguồn: statista.com

Từ năm 2004 đến năm 2008, nền kinh tế Nga có mức tăng trưởng vượt bậc, với GDP từ 591.18 tỷ USD tăng lên đến 1660.85 tỷ USD Ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tác động lên toàn bộ nền kinh tế thế giới, Nga cũng không phải ngoại lệ.GDP năm 2009 của Nga đã giảm hơn 400 tỷ USD.Tuy vậy, Liên Bang Nga đã phục hồi nhanh chóng sau đó nhờ vào các chính sách tác động tích cực và kịp thời của chính phủ cùng với những nỗ lực của các doanh nghiệp trong nước.Thành quả là GDP của Nga đã tăng lên 2057.3 tỷ USD vào năm 2014

591.18

763.7 989.93 1299.7 1660.85

1222.65 1524.92

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hình 1.2: Tốc độ tăng GDP tại Nga giai đoạn 2004 – 2014

Nguồn: statista.com

Tốc độ tăng trưởng GDP của Nga trong những năm 2004 đến năm 2007 khá cao, luôn đạt tầm 8%.Năm 2009, sau ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP của Nga đã ở mức âm, -7.8% Các năm sau đó, với những chính sách đúng đắn của chính phủ, Nga đã lấy lại vị thế và tăng trưởng kinh tế theo cấp số nhân

Liên Bang Nga đã đạt đến trình độ công nghiệp hóa cao với ngành dịch vụ đóng góp đến 58% GDP của cả nước, công nghiệp chiếm 40% GDP và nông nghiệp chỉ có 2% GDP

1.1.2.2 Thương mại

Về xuất khẩu

Trong năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga đạt 526.5 tỷ đô la, tăng 74.4% so với năm 2009 Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong tổng sản lượng kinh tế, chiếm khoảng 20.6%

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Xuất khẩu của Liên Bang Nga phát triển nhờ việc tập trung khai thác và sản xuất từ nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng trên lãnh thổ Trong đó, khí đốt và dầu mỏ đóng một vai trò quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga Năm

2013, khí đốt và dầu mỏ đạt 304.6 tỷ đô la, chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Nga năm 2013

Trong các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Nga, máy móc, phương tiện, thiết bị điện là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 1.2: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của Nga năm 2013

Nguồn: Hải quan Liên Bang Nga

1.2 Sự cần thiết khách quan phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga

1.2.1 Về phía Việt Nam

Thứ nhất, phát triển quan hệ thương mại với Liên Bang Nga giúp Việt Nam

có cơ hội to lớn trong việc tiếp cận với trình độ phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới thông qua: nhập khẩu máy móc, trang thiết bị từ Nga, chuyển giao công nghệ theo các dự án FDI của Nga vào Việt Nam

Thứ hai, quan hệ thương mại phát triển giữa hai nước hỗ trợ Việt Nam nâng cao tính cạnh tranh, năng suất lao động và hiệu quả lao động của các doanh nghiệp trong nước cũng như toàn bộ nền kinh tế Với mục tiêu lâu dài chiếm lĩnh thị trường Nga, các doanh nghiệp trong nước phải nhập khẩu công nghệ, trang thiết bị mới; liên tục thay đổi mẫu mã, kiểu dáng; nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với những sản phẩm từ những nước khác

Thứ ba, việc phát triển quan hệ thương mại Việt Nam và Nga sẽ làm giảm rủi

ro của Việt Nam trong việc hội nhập kinh tế quốc tế bằng cách đa dạng hóa thị

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trường.Việc tập trung vào một thị trường hoặc một số thị trường nhất định sẽ dẫn đến tình trạng thụ động của xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế trong nước sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu nền kinh tế những nước đó trải qua khủng hoảng kinh tế Hơn nữa, Liên Bang Nga là một thị trường rộng lớn với khoảng 142 triệu dân, đồng nghĩa với nhu cầu cũng như sức mua của người dân là lớn Đây có thể xem là một thị trường có tính ổn định lâu dài Qua phát triển thương mại với Nga, Việt Nam có thể đảm bảo một nguồnthu ngoại tệ ổn định trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay

Thứ tư, mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga đã phát triển từ rất lâu, tiền thân

là quan hệ Việt Nam – Liên Xô Tháng 3/2001, Việt Nam và Nga đã ký tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước, Nga trở thành đối tác chiến lược đầu tiên của phía Việt Nam Bên cạnh đó, việc hình thành Liên minh kinh tế Á –

Âu, nhiều hiệp định được ký kết và rào cản thương mại được phá bỏ, Việt Nam có

cơ hội lớn trong việc xâm nhập thị trường rộng lớn không chỉ đối với Nga mà còn ở các nước như Belarus và Kazakhstan… với số dân lên đến 180 triệu người

1.2.2 Về phía Liên Bang Nga

Thứ nhất, trong khối ASEAN, Việt Nam là nước lớn thứ hai sau với dân số hơn 90 triệu người, lượng cầu tiêu dùng của người dân ở mức cao và tương đối ổn định Nga luôn coi Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ và các ngành công nghiệp khai khoáng

Thứ hai, với đường bờ biển kéo dài, tiếp giáp biển Đông, Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng.Theo đánh giá của các chuyên gia Mỹ, trữ lượng dầu tại biển Đông lên tới 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất trung bình là 2.5 triệu thùng mỗi ngày Bên cạnh đó, khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng Các doanh nghiệp cũng như chính phủ Nga đặc biệt quan tâm tới nguồn nhiên liệu khổng lồ này

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Thứ ba, với hệ thống chính trị ổn định của Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài được tạo tâm lý an tâm khi đầu tư vào thị trường nước ta Môi trường kinh doanh tại Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, chính phủ dành nhiều ưu đãi cho những các nhà đầu tư nước ngoài Với việc gia nhập vào WTO, Việt Nam cam kết giảm thuế suất nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và không gắn việc miễn giảm thuế với yêu cầu về xuất khẩu hay tỷ lệ tự nội địa hóa Các rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép dần dần từng bước được xóa bỏ.Vơi việc dành nhiều

ưu đãi cho các doanh nghiệp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược của Nga trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay

1.2.3 Các chính sách thương mại của Liên Bang Nga và Việt Nam

1.2.3.1 Chính sách thương mại của Liên Bang Nga

Thuế suất nhập khẩu

Hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Nga phải chịu thuế nhập khẩu theo Luật

về thuế nhập khẩu của Liên Bang Nga Theo đó, thuế được tính cho 4 nhóm hàng dựa trên cơ sở chính sách đối ngoại giữa các nước

Nhóm nước có quan hệ tối huệ quốc với Nga chịu mức thuế suất theo quy định được công bố và mức thuế này là cơ sở để áp dụng với nhóm các nước khác, hay còn gọi là thuế suất cơ sở công bố

bố ( trong đó có Việt Nam)

hàng hóa xuất khẩu vào Nga

thuế cơ sở công bố

Về các chính sách phi thuế quan, Nga đang dần giảm xóa bỏ các hạn chế về

số lượng, giấy phép cũng như hạn ngạch liên quan

Tiêu chuẩn về thông số kỹ thuật

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo luật liên bang số 184 – FZ về Quy chuẩn kỹ thuật, hàng hóa khi nhập khẩu vào thị trường Nga cần phải chứng minh sản phẩm đó là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật thông qua việc khai báo và đưa ra những chứng nhận bắt buộc về sự phù hợp đó

Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật

Những năm trở lại đây, các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật tại Liên Bang Nga đã có nhiều thay đổi Theo Cục vệ sinh an toàn thực phẩm của Liên Bang Nga, hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nước này trước hết phải xuất trình được Giấy chứng nhận kiểm dịch động thực vật tại nước xuất khẩu Tiếp theo

đó là quá trình kiểm tra giấy tờ ngay tại cửa khẩu Hàng hóa sẽ được Cục vệ sinh an toàn toàn thực phẩm Liên Bang Nga kiểm tra về mặt hóa học, lý học để xác định liệu thành phần các chất có phù hơp với tiêu chuẩn được quy định hay không Nếu

lô hàng đạt tiêu chuẩn, hàng hóa được cấp Giấy chứng nhận kiểm dịch của Liên Bang Nga và được phép lưu hành; trường hợp còn lại thì lô hàng sẽ bị tiêu hủy

1.2.3.2 Chính sách thương mại của Việt Nam

Trong vòng hơn 20 năm qua, nền kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh và ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới.Để phù hợp với bối cảnh toàn cầuđặc biệt từ sau khi là thành viên của WTO, Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi trong chính sách thương mạinhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trước hết, Việt Nam chú trọng vào vấn để xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng truyền thống và mở rộng phát triển những mặt hàng mới vào những thị trường mới

Tiếp đó, các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép dần bị loại bỏ Hơn nữa, về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), Việt Nam đang từng bước tiến hành các biện pháp để đảm bảo các quy định về kỹ thuật tuân theo tiêu chuẩn quốc tế

Các biện pháp vệ sinh (SPS) hiện hành của Việt Nam dựa trên các tiêu chuẩn

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

VÀ LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG

KINH TẾ HIỆN NAY

2.1 Khái quát về tiến trình quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên Bang Nga giai đoạn 1975 – 2008

Kể từ giữa những năm 1970.khi Việt Nam bắt đầu quá trình tái thiết đất nước sau chiến tranh, quan hệ song phương là yếu tố được chính phủ chú trọng nhất Bên cạnh việc hoạt động tích cực trên trường quốc tế nói chung, quan hệ giữa nước ta và Nga nói riêng cũng được đẩy mạnh Hai nước có sự hợp tác chính trị thân cận với khối lượng tăng lên không ngừng hàng năm của viện trợ kinh tế từ Liên Xô.Liên Xô

và các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế CMEA tại thời điểm đó cũng là gần như các nhà tài trợ duy nhất của Việt Nam Hàng hóa từ Liên Xô nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu là những mặt hàng thiết yếu, bao gồm thực phẩm, thuốc men, máy móc thiết bị, sản phẩm dầu mỏ và nguyên liệu

Sự hỗ trợ của phía Liên Xô tại nước ta đã đặt nền móng cho nền kinh tế Việt Nam trong hầu hết tất cả các ngành công nghiệp lớn và các lĩnh vực khác.Hỗ trợ kinh tế từ Liên Xô là một trong những yếu tố quyết định đến sự ổn định trong hoạt động kinh tế của Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và chủ quyền.Sự thành công của nền kinh tế Việt Nam trong năm 1990 sau này và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng được chi phối một phần bởi một tiềm năng kinh tế đáng kể được tạo ra trong sự hợp tác và hỗ trợ thời Liên Xô -Việt Nam Cộng Hòa

Trong thời gian hợp tác song phương, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đã đạt được như xây dựng và phục hồi hơn 300 doanh nghiệp (trong đó có khoảng 100 doanh nghiệp lớn) trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế trong nước (khai thác mỏ, máy móc, hóa chất, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

xây dựng), thực hiện việc tái thiết các cảng biển lớn,đường sắt và các phương tiện vận tải khác Với sự hỗ trợ kỹ thuật, Liên Xô đã giúp Việt Nam xây dựng một số nhà máy thủy điện và nhiệt điện với tổng công suất khoảng 4.000 MW, trong đó lớn nhất trong nhà máy thủy điện Đông Nam Á Hòa Bình (1920 MW), nhà máy thủy điện chiếm khoảng một nửa các cơ sở hiện có ở Việt Nam, được xây dựng với khoảng 6.000 km đường dây truyền tải Ngoài ra, như một phần của chương trình dài hạn, các công ty sản xuất các loại rau quả và trái cây mở rộng và phát triển các đồn điền cà phê, chè, cây cao su, cây dừa (diện tích khoảng 120 nghìn hecta).Một loạt các công trình thủy lợi, cung cấp thủy lợi và bảo vệ lên đến 400.000 hecta ruộng Tại các công ty liên doanh, lớn nhất và thành công nhất phải kể đến là

"Vietsopetro" sản xuất hàng năm hơn 13 triệu USD tấn dầu, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng quốc gia

Đến năm 1991,kim ngạch xuất nhập khẩu của Liên Xô chiếm khoảng 70% tổng giá trị thương mại nước ngoài của Việt Nam Bên cạnh đó, 70% lượng dầu mỏ, 100% cotton, 75% kim loại đen, 70% lượng phân bón cùng một lượng lớn máy móc, trang thiết bị được nhập khẩu trực tiếp từ Liên Xô Đồng thời hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Liên Xô chiếm một vị trí quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam như đay (20%), cao su tự nhiên (16%), cà phê (12%), sợi bông (15%), trái cây và rau quả ( 9%)

60-Một thành tựu quan trọng mà hợp tác kinh tế và kỹ thuật giữa hai nước đã đạt được là sự hình thành và phát triển của đội ngũ nhân viên có trình độ cao tại Việt Nam Kể từ năm 1951, Liên Xô bắt đầu chương trình đào tạo tri thức cho Việt Nam, tạo ra khoảng 200.000 kỹ sư có trình độ, công nhân kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác than, năng lượng, xây dựng, xây dựng cầu, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam, cũng như các nhà khoa học, bác sĩ và giáo viên

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

bối cảnh mới Liên Xô tan vỡ, hệ thống chính trị tại Nga thay đổi Chính sách đối ngoại của Nga thời điểm này là “Định hướng Đại Tây Dương”, với ưu tiên hàng đầu

là quan hệ với các nước tư bản Về phía Việt Nam, việc cải thiện quan hệ với các nước láng giếng cũng được xem trọng hơn.Sự thay đổi đó đã tác động mạnh mẽ lên thương mại song phương của hai nước Do đó quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga giảm mạnh, các quan hệ truyền thống dựa trên các Hiệp định đương thời

bị phá vỡ

Nhằm khắc phục tình trạng suy giảm nghiêm trọng của quan hệ kinh tế nói trên, tháng 7/1992, Việt Nam và Nga đã ký kết những biên bản kinh tế thương mại Nhờ đó, ngoại thương giữa Việt Nam và Nga năm 1992 đạt 191 triệu đô la, trong

đó xuất khẩu chiếm 749 triệu đô, nhập khẩu chiếm 112 triệu

Trong giai đoạn 1994 – 1998, quan hệ thương mại giữa hai nước đã có những khởi sắc rõ rệt Tuyên bố chung Việt Nam – Liên Bang Nga được ký kết, bên cạnh đó là Hiệp định tương trợ tư pháp, Hiệp định về hợp tác xây dựng và vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất ở Việt Nam, Hiệp định về thanh toán giữa hai ngân hàng và thỏa thuận giữa hai Bộ tư pháp Thủ tướng Nga lúc đó là V Chec-nô-mư-đin tuyên bố chính phủ Nga mong muốn Việt Nam trở thành đối tác chiến lược và quan hệ Nga- Việt Nam là một những ưu tiên chính trong chính sách đối ngoại của Nga Quan hệ thương mại giữa hai nước tuy đã có những khởi sắc rõ rệt nhưng ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á, sau đó lan rộng ra nhiều nước đã tác động mạnh đến Liên Bang Nga, đồng thời cơ chế chung về thanh toán giữa hai nước vẫn còn nhiều tranh cãi nên buôn bán giữa hai nước vẫn còn nhiều hạn chế

Thương mại song phương hai chiều giữa Việt Nam và Liên Bang Nga tiếp tục được duy trì và có sự tăng trưởng liên tục trong thời gian này Tuyên bố chung

về đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên Bang Nga được ký kết ngày 1/3/2001, qua đó thúc đẩy và phát triển lâu dài các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực chính trị,

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật, quân sự, văn hóa và giáo dục trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi

2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay đến nền kinh tế Việt Nam và Liên Bang Nga

2.2.1 Những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt

Nam

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2007 tại Hoa Kỳ, nền kinh tế

số một trên thế giới Vào tháng 8/2007, nạn nhân đầu tiên là Country Financial, một tập đoàn tài chính chuyên về cho vay và thế chấp đĩa ốc tại Hoa Kỳ do các khoản nợ khó đòi Nạn nhân thứ hai là ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, Nothern Rock, đã phải cầu cứu Ngân hàng Trung ương Anh sau khi không thể giải quyết tính thanh khoản

do các hoạt động cho vay thế chấp bất động sản bị lỗ nghiêm trọng Một làn sóng các nhà đầu tư đã kéo đến rút tiền ra khỏi tài khoản, Chính phủ buộc phải tiếp quản Việc hai ông lớn trong ngành tài chính lâm vào khủng hoảng là dấu hiệu cho cơn bão khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử

Đỉnh điểm của cơn khủng hoảng tài chính là hai hãng khổng lồ là Freddie Mac và Fannie Mae, chuyên về cho vay cầm cố khổng lồ yêu cầu viện trợ từ chính phủ để tránh tình trạng phá sản Như một hiệu ứng domino xảy ra giai đoạn 2008, hàng loạt các ngân hàng lớn nhất nước Mỹ tuyên bố phá sản.Lehman Brothers, ngân hàng tồn tại 158 và lớn thứ tư tại Mỹ tuyên bố phá sản vào 15/9/2008 Chỉ 10 ngày sau, một vụ phá sản trấn động do Washinton Mutual tạo ra với thiệt hại lên đến hơn

300 tỷ USD

Để tránh một hiệu ứng quá mạnh ảnh hưởng đến nền kinh tế đầu tàu thế giới, chính phủ Mỹ lúc đó đã bơm đến 85 tỷ USD vào tập đoàn bảo hiểm lớn nhất AIG Tuy nhiên những nỗ lực trong ngắn hạn không thể cứu vớt được thị trường tài chính vốn đã lún sâu vào khủng hoảng

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Phố Wall không nằm ngoài ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng.Điển hình là việc Điển hình là việc chỉ số Dow Jones giảm tới 25% giá trị

Nhằm giải quyết bài toán thanh khoản, mấu chốt khiến các ngân hàng lâm vào tình trạng khủng hoảng, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cũng như ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đã nới lỏng các chính sách, lãi suất được giảm Nhưng các biện pháp ngắn hạn không thể cứu vãn được tình hình đã quá nghiêm trọng, nền kinh tế vẫn tiếp tục lún sâu vào khủng hoảng

Mong muốn tìm kiếm một biện pháp mang tính lâu dài, các gói cứu trợ được các chính phủ đưa ra.Mục tiêu của các gói cứu trợ là việc mua lại các tài sản xấu, tăng tính thanh khoản của các ngân hàng Chính phủ Mỹ đã tung ra đến các gói cứu trợ với tổng số tiền khoảng gần 3000 tỷ USD cùng với những thay đổi thích hợp của chính sách tiền tệ để cứu giúp doanh nghiệp, tạo động lực để phục hồi kinh tế

Khủng hoảng tại nền kinh tế đầu tàu Hoa kỳ đã lan rộng và ảnh hưởng đến toàn thế giới Khủng hoảng tín dụng đã bước lên một nấc thang mới, trở thành khủng hoảng kinh tế toàn cầu GDP của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, các nước thuộc Liên minh châu Âu, châu Á đã giảm mạnh trong quý IV năm 2008 Hàn Quốc rơi vào tình trạng báo động khi đồng won giảm giá tới hơn 40% giá trị Kinh tế Nhật lần đầu tiên sụt giảm liên tiếp trong hai quý, nền kinh tế Mỹ giảm hơn 6% vào quý IV.Giá các nguyên liệu chiến lược như dầu thô, sắt thép hay than đá đều đồng loạt giảm giá

Hơn 30000 doanh nghiệp phá sản đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ gia tăng Tính tới đầu tháng 12/2008, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã lên đến con số 6,7%, mức kỷ lục trong vòng 15 năm

Nền kinh tế thế giới tiếp tục rung chuyển khi vụ lừa đảo lớn nhất thị trường phố Wall do Benard Madoff bị phanh phui Số tiền lừa đảo lên đến hơn 50 tỷ USD càng làm cho khủng hoảng kinh tế tiếp diễn một cách xấu đi

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Một số nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính thế giới được giới chuyên gia nhận định là:

Bong bóng nhà đất tại Hoa Kỳ từ năm 2005

Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ việc giá nhà đất tại thị trường Mỹ được đẩy lên cao nhiều lần so với giá trị thực của nó Cơn sốt “dot.com” đã làm nhiều người trở nên giàu có một cách nhanh chóng Giá nhà đất tại thung lũng Silicon được đẩy lên cao; một làn sóng tăng giá nhà đất đã lan rộng ra khắp nơi Khi bong bóng “dot.com” nổ, để tránh một nền kinh tế đi vào suy thoái, Cục dữ trữ Liên bang

Mỹ (FED) đã hạ trần lãi suất Vào giữa năm 2000, lãi suất cơ bản của FED là 6%, nhưng đến năm 2003, con số chỉ còn 1% Mọi người đổ vào thị trường địa ốc Giá đồng loạt tăng cao Đi theo đó là việc cho vay một cách dễ dàng, không cần các thủ tục chứng minh tài chính dẫn đến nợ xấu đã tăng một cách nhanh chóng

Hệ thống tài chính xuống cấp và hệ quả của sự thâu tóm tài chính

Một trong những nguyên nhân chính được các nhà kinh tế học tìm ra là do hệ thống quản lý tài chính của Hoa Kỳ đã không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế Việc các công cụ tài chính là chứng khoán phái sinh và chứng khoán hóa được phát triển để tăng nguồn vốn cũng như giảm rủi ro nhưng lại dẫn đến một hệ quả: giá trị của tài sản đảm bảo không cân bằng với giá trị của cổ phiếu cũng như trái phiếu

Thêm nữa, việc nới lỏng các đạo luật đã khuyến khích các hoạt động đầu cơ, tạo tiền đề cho việc thổi bùng bong bóng bất động sản

Một nguyên nhân cho việc khủng hoảng kinh tế xảy ra là việc các tập đoàn tài chính đầu sỏ đã thâu tóm hệ thống tài chính, làm lũng đoạn các chính sách phát triển kinh tế.Hệ lụy là những tập đoàn tài chính đó lại mất đi khả năng kiểm soát rủi

ro từ việc khuếch đại kinh tế ảo

Dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam chịu nhiều ảnh

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Đầu tiên, khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Do tác động của khủng hoảng nên thu nhập của người dân giảm, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng ngoại địa sẽ giảm Điều đó dẫn đến lượng cầu về hàng hóa sẽ giảm theo Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm dần dẫn đến giảm sút lượng ngoại tệ thu về

Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng chịu tác động nặng nề Khủng hoảng kinh tế làm giảm số lượng các đơn hàng cũng như giá trị của mỗi đơn hàng do nhu cầu của thị trường nước ngoài giảm Một yếu tố tác động đến xuất khẩu là giá cả các mặt hàng tryền thống và chủ lực của Việt Nam như cà phê, lúa gạo hay các mặt hàng thủy hải sản đều đồng loạt giảm giá Một nguyên nhân sâu xa nữa là việc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các doanh nghiệp vốn FDI đều thu hẹp quy mô sản xuất do sự thiếu hụt về vốn để xoay vòng Dưới tác động từ ba phía trên, xuất khẩu Việt Nam năm 2009 đã giảm khoảng 11% so với năm 2008, từ 63 tỷ USD vào năm

2008 xuống khoảng 56,73 tỷ USD vào năm 2009

Về mặt nhập khẩu, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, lượng cầu về hàng hóa giảm, nhu cầu thị trường nội địa giảm dẫn đến việc giảm bớt việc nhập siêu.Tuy nhiên, việc hàng hóa trên thế giới cũng giảm giá dưới tác động của khủng hoảng cũng như các cam kết về cắt giảm, bãi bỏ các loại thuế quan dẫn đến việc nhập khẩu tăng trở lại

Một ảnh hưởng từ khủng hoảng là tiêu dùng giảm sút Do việc thu hẹp quy

mô sản xuất nên một số người có khả năng mất việc, thu nhập bị giảm sút cộng với

sự giảm sút dòng kiều hối làm giảm tiêu dùng trong các hộ gia đình Với việc giảm sút xuất khẩu cũng như chi tiêu, đồng thời nhập khẩu có xu hướng tăng hoặc giảm

chậm, GDP giảm sút

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hình 2.1: Tăng trưởng GDP của Việt Namgiai đoạn 2007 – 2013

Nguồn:World bank

Tăng trưởng GDP vào năm 2007 của Việt Nam đạt 7,1% Hai năm sau,dưới tác động của khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng GDP liên tục giảm, xuống mức 5.7% vào năm 2008 vào 5,4% vào năm 2009

Nhận thấy ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng, chính phủ Việt Nam đã có những chính sách kịp thời để ổn định nền kinh tế Các nhóm giải pháp nhằm vào:

 Đẩy mạnh hoạt động sản xuất, xuất khẩu: Chính phủ đề ra những chính sách thuế, chính sách vay vốn ngân hàng, các chương trình hoãn nợ để hỗ trợ các doanh nghiệp cũng như người trực tiếp sản xuất

 Kích cầu đầu tư và tiêu dùng: Chính phủ tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như cơ sơ hạ tầng, giao thông vận tải

 Thực hiện các chính sách tiền tệ - tài chính một cách linh hoạt, nhằm thúc đẩy sản xuất, kích cầu tiêu dùng và đầu tư; giữ lãi suất cũng như thuế ở mức phù

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Nhờ có các chính sách thích hợp và kịp thời, nền kinh tế Việt Nam đã giảm bớt được ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính, tăng trưởng GDP năm 2010 tăng

27% so với năm 2009, lên mức 6,4%

2.2.2 Những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và vấn đề Ucraine đến nền kinh tế Liên Bang Nga trong bối cảnh hiện nay

Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế 2008, Nga còn chịu

ảnh hưởng từ lệnh trừng phạt của Mỹ và các nước châu Âu về việc sáp nhập bán đảo Crimea.Bán đảo Crimea nằm ở phía nam của Ucraina Tháng 3/2014, do không đồng tình với chính quyền được dựng lên do bạo động tại Kiev, người dân Crimea

đã quyết định sáp nhập vào Nga sau khi trưng cầu dân ý

Hoa Kỳ và các nước châu Âu đã đặt ra các lệnh trừng phạt đối với Liên Bang Nga.Ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế đi kèm với các lệnh trừng phạt đã tác động mạnh lên nền kinh tế đứng thứ 6 trên thế giới

Giá dầu

Giá dầu thô liên tục giảm trong năm 2014 Giá dầu thô giao tháng 12/2014

đã xuống mức 74,21 USD/ thùng tại thị trường New York Trong khi đó, giá dầu thô Brent đã giảm giá 3,1%, xuống mức 77,92 USD/ thùng

Nguyên nhân chính của việc giá dầu thô giảm liên tục được lý giải bởi hai yếu tố sau Thứ nhất, Hoa kỳ đã thuyết phục Arabia Saudi, nước được xem là anh cả trong Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới OPEC, đẩy giá dầu thô xuống thấp nhằm gây áp lực lên chính quyền Nga về vấn đề khủng hoảng tại Ucraine Nguyên nhân thứ hai là do Mỹ từ nước nhập khẩu dầu lớn nhất trên thế giới, đã leo lên vị trí thứ 3 trong các nước xuất khẩu mặt hàng này Sản lượng khai thác dầu thô tại Mỹ hiện nay đạt 8,7 triệu thùng một ngày, chỉ xếp sau Nga và Arabia Saudi Thêm một nguyên nhân khiến giá dầu liên tục giảm là do trong khi lượng cầu về dầu có xu hưởng giảm nhưng các nước trong khối OPEC vẫn duy trì mức hạn mức

Ngày đăng: 28/04/2018, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w