Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang hơn 162 quốc gia trên thế giới, trong đó Liên Bang Nga là một thị trường nhập khẩu thủy sản lớn của Việt Nam.. Lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm của Liên Bang
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Linh
Mã sinh viên : 1113120126 Lớp : Anh 24 - Khối 8 KT Khóa : K50
Người hướng dẫn : TS.Vũ Thành Toàn
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Qua khóa luận này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Vũ Thành Toàn - người tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong từng bước hoàn thành khóa luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Ngoại Thương, những người đã cung cấp cho em những kiến thức nền tảng quý báu trong bốn năm học qua Đồng thời em cũng xin gửi làm cảm ơn tới cán bộ Thư viện Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu cho khóa luận
Do khuôn khổ thời gian nghiên cứu và trình độ người viết còn hạn chế, khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được thầy cô
và các bạn thông cảm cũng như đóng góp ý kiến để bài luận văn được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Người thực hiện
Nguyễn Thị Linh
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỦY SẢN, NGÀNH THỦY SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA 4
1.1 Giới thiệu chung về thủy sản và ngành thủy sản 4
1.1.1 Khái niệm thủy sản và ngành thủy sản 4
1.1.2 Tầm quan trọng của thủy sản và ngành thủy sản 4
1.1.3 Đặc điểm của thủy sản và ngành thủy sản 5
1.1.4 Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu 6
1.2 Tổng quan về thị trường Liên Bang Nga 7
1.2.1 Đặc điểm thị trường Liên Bang Nga 7
1.2.2 Cung cầu các mặt hàng thủy sản trên thị trường Liên Bang Nga 9
1.2.3 Tình hình khai thác, nuôi trồng, chế biến mặt hàng thủy sản trên thị trường Liên Bang Nga 10
1.2.4 Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Liên Bang Nga 16
1.2.5 Quy định về hải quan của Liên Bang Nga 19
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 22
2.1 Tổng quan về sản xuất và chế biến mặt hàng thủy sản của Việt Nam 22
2.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản Việt Nam 22
2.1.2 Tình hình chung về kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam 24
2.1.3 Tình hình khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản Việt Nam 27
2.1.4 Cơ cấu các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu 33
2.1.5 Chất lượng và giá cả các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu 38
2.1.6 Các đối tác xuất khẩu chính của Việt Nam 41
2.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Liên Bang Nga 49
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Liên Bang Nga 50
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2.3 Khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường Liên
Bang Nga 52
2.2.4 Phương thức xuất khẩu thủy sảnViệt Nam sang thị trường Liên Bang Nga ……… 54
2.3 Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga 54
2.3.1 Những thành tựu đạt được 54
2.3.2 Những vẫn đề còn hạn chế 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA 59
3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 59
3.1.1 Quan điểm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 59
3.1.2 Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 60
3.1.3 Mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 61
3.2 Phương hướng đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga 62
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga 65
3.3.1 Giải pháp đối với cơ quan nhà nước Việt Nam 65
3.3.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam 70
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
APEC Asia-Pacific Economic Coop oeration Diễn đàn hợp tác kinh tế châu
Á-Thái Bình Dương ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BIDV
Joint Stock Commercial Bank for
Investment and Development of
EMS Early Mortality Syndrome Hội chứng tôm chết sớm
FAO Food and Agriculture Organization of
the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
FOB Free on board Miễn trách nhiệm trên Boong tàu
nơi đi còn gọi là "Giao lên tàu" FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
G-20 Group of twenty Nhóm các nền kinh tế lớn
ING International Nederlanden Groep Ngân hàng Hà Lan
ISO International Standards Organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
LOD Limits of detection Giới hạn phát hiện
VASEP Vietnam association of seafood
exporters and producers
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
VAT Value Added Tax Thuế giá trị gia tăng
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
VCUFTA Vietnam Custom Union free trade
agreement Việt Nam và Liên minh Hải quan
Nga, Belarus và Kazakhstan
VGNKI
Russian State Center for Quality and
Standardization of Veterinary Drugs
and Feed
Trung tâm kiểm nghiệm quốc gia toàn Nga về chất lượng và tiêu chuẩn thuốc thú y, thức ăn
VPSS Veterinary and Phytosanitary
Surveillance Service
Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 1.1: Tiêu thụ thủy sản theo loại hình tại Nga năm 2012 10
Biểu đồ 1.2: Sản lượng đánh bắt thủy sản (theo loại) của Nga năm 2010 11
Biểu đồ 1.3: Sản lượng đánh bắt thủy sản (theo loại) của Nga năm 2011 12
Biểu đồ 1.4: Sản lượng đánh bắt tự nhiên thủy sản theo từng loại giai đoạn
2012-2013 13 Biểu đồ 1.5:Sản lượng khai thác thủy sản theo khu vực tại Nga năm 2012 14
Biểu đồ 1.6: Tỷ lệ % về sản lượng đánh bắt thủy sản tại Nga theo khu vực năm
2013 15
Biểu đồ 2.1:Tỷ trọng giá trị xuất khẩu thủy sản theo nhóm mặt hàng 2014 37
Biểu đồ 2.2: Thị phần các thị trường chính xuất khẩu thủy sản năm 2014 45
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Mã HS các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu 6
Bảng 2.1: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2011-2012 28
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2013-2014 31
Bảng 2.3:Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào các thị trường lớn năm
2013 43
Bảng 2.4: Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các thị trường lớn năm
2013-2014 44
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có nguồn lợi thủy sản giàu có, phong phú trong khu vực
và trên thế giới Thủy sản được coi là một trong những ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây Năm 2014, thủy sản Việt Nam xuất khẩu đạt 7,92 tỷ USD
Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang hơn 162 quốc gia trên thế giới, trong đó Liên Bang Nga là một thị trường nhập khẩu thủy sản lớn của Việt Nam Dân số nước Nga khoảng 200 triệu người, GDP khoảng 1.500 tỷ và trên 143 triệu người tiêu dùng thì nhu cầu về mặt hàng thủy sản hiện rất lớn Năm 2014, Nga là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ tám của Việt Nam, sau Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Hồng Kông,… nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhanh nhất của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nga tăng bình quân hơn 62% trong 3 năm qua
Lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm của Liên Bang Nga từ Mỹ và các quốc gia châu Âu, Na Uy, Canada và Úc trong vòng 1 năm kể từ ngày 7/8/2014 vì lý do chính trị tại Ukraine đã làm một số mặt hàng thực phẩm, thủy sản trên thị trường Nga thiếu hụt nghiêm trọng và giá cả đã tăng đột biến Mặc dù Nga là nước có nguồn lợi thủy sản nuôi trồng và đánh bắt phong phú, tuy nhiên nước này hạn chế
về cơ sở chế biến thủy sản nên phải lệ thuộc vào nhập khẩu từ các nước Eu, Mỹ và các nước châu Á Để giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn cung về thực phẩm và thủy sản hiện nay, Nga đã chuyển sang tìm kiếm các nhà cung cấp và các đối tác xuất khẩu từ Châu Á nhằm đáp ứng đủ một lượng rất lớn về mặt hàng thực phẩm và thủy sản thiếu hụt hiện nay Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam xuất khẩu thủy sản vào thị trường này
Với việc mặt hàng thủy sản của Việt Nam được tiếp tục xuất khẩu vào Nga cộng với bối cảnh Nga đang cấm nhập khẩu thủy sản từ EU, Mỹ, Na Uy và Australia thì cơ hội để thủy sản Việt Nam vào thị trường này đã rộng mở.Tuy nhiên, thị trường Nga là một thị trường lớn, đa dạng, tính cạnh tranh cao, luật lệ về ngoại thương phức tạp, có những đặc thù riêng và các quy trìnhhàng rào kỹ thuật với yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng hàng thủy sản nhập khẩu vào Nga Hơn nữa,
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cạnh tranh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nga nói riêng ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt Mặt hàng thủy sản mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu sang thị trường Nga cũng là mặt hàng mà nhiều nước trên thế giới có lợi thế xuất khẩu sang thị trường này Từ đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện, chi tiết, có hệ thống về thị trường Liên Bang Nga để tìm ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nga trong những năm tới
Nhận thức được điều đó, trên cơ sở kiến thức được học và qua quá trình nghiên cứu thực tế, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Liên Bang Nga”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu của thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên Bang Nga
- Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga từ thời gian 2009 đến nay
- Đề xuất các giải pháp ở tầm vi mô và vĩ mô để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Liên Bang Nga trong giai đoạn tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung phân tích các đặc điểm thị trường thủy sản Liên Bang Nga (bao gồm các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế, nhu cầu, thi hiếu,…); thực trạng xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam nói chung và xuất khẩu mặt hàng thủy sản Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sự dụng phương pháp phân tích thống kê, đánh giá tổng hợp, so sánh, phương pháp tham khảo tài liệu,… để phân tích, khái quát theo mục đích của
đề tài
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và kết luận, nội dung chính của khóa luận chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về mặt hàng thủy sản và thị trường Liên Bang Nga Chương 2: Phân tích thực trạng xuất nhập khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga trong thời gian gần đây
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam vào thị trường Liên Bang Nga
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỦY SẢN, NGÀNH THỦY SẢN VÀ THỊ
TRƯỜNG LIÊN BANG NGA 1.1 Giới thiệu chung về thủy sản và ngành thủy sản
1.1.1 Khái niệm thủy sản và ngành thủy sản
“Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.”
Ngành thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ,
cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp
Có nhiều loại thủy sản như: là cá trích, cá tuyết, cá cơm, cá ngừ, cá bơn, cá đối, tôm, cá hồi, hàu, sò điệp,…Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá Một số loài là cá trích, cá tuyết, cá cơm, cá ngừ, cá bơn, cá đối, tôm, cá hồi, hàu và sò điệp có năng suất khai thác cao Trong đó, ngành thủy sản có liên quan đến việc đánh bắt cá tự nhiên hoặc
cá nuôi thông qua việc nuôi cá
1.1.2 Tầm quan trọng của thủy sản và ngành thủy sản
Thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm con người, góp phần cải thiện tình trạng suy sinh dưỡng do thiếu đạm, đóng góp cho sự an toàn thực phẩm Không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng ven biển, góp phần cải thiện thu nhập cho người dân Ngành thủy sản góp phần tiết kiệm ngoại tệ cho sự đầu tư phát triển công nghiệp, gia tăng tích lũy ngoại tệ từ xuất khẩu sản phẩm thủy sản cho sự đầu tư phát triển công nghiệp
Cùng với việc gia tăng sản xuất, thương mại thuỷ sản toàn cầu cũng phát triển một cách nhanh chóng đặc biệt là các hàng hoá thuỷ sản sống và tươi đang tăng
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nhanh Sự bùng nổ dân số thế giới cộng với hậu quả của quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá ngày càng làm thu hẹp đất canh tác trong nông nghiệp cộng thêm sự diễn biến bất lợi của thiên nhiên …sẽ làm cho lương thực thực phẩm là mặt hàng chiến lược trên thị trường thế giới Trong điều kiện đó sản phẩm thuỷ sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng vì vậy phát triển sản xuất thuỷ sản ở những nơi có điều kiện không còn đơn thuần là sự đòi hỏi cấp bách và lâu dài cho việc giải quyết thực phẩm tại chỗ, giải quyết công ăn việc làm mà ngành sản xuất này đang và đầy hứa hẹn có thể trở thành ngành kinh doanh có lãi suất cao với xu hướng ổn định lâu dài trên thị trường quốc tế Đó là tiền đề quan trọng bậc nhất của sản xuất kinh doanh thuỷ sản và tiếp tục là một trong những xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta
1.1.3 Đặc điểm của thủy sản và ngành thủy sản
Thủy sản là mặt hàng chế biến từ các loại thủy sản như tôm, cá ngừ, cá tra, cá basa,…tuân thủ chặt chẽ theo những tiêu chuẩn kỹ thuật (có thể là theo tiêu chuẩn ISO hoặc tiêu chuẩn của từng quốc gia) Nói chung đối với mặt hàng thủy sản cần tuân thủ theo các tiêu chuẩn kỹ thuật về hàm lượng các chất như axit, chất béo có trong thực phẩm,…
Ngoài ra, do thủy sản là mặt hàng tươi sống nên cần đặc biệt lưu ý về việc đóng gói, ghi nhãn, vận chuyển và bảo quản,…
Nuôi trồng thuỷ sản có quy mô rất khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước: từ quy mô nhỏ gia đình gắn liền với hệ thống canh tác tổng hợp đến những trang trại nuôi chuyên công nghiệp hoá có quy mô lớn
Ngành thủy sản có các loại hình thủy sản:
Thứ nhất, đánh bắt thủy sản hay khai thác thủy sản là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợ thủy sản tự nhiên Sản phẩm khai thác bao gồm: thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người, con giống cho nuôi trồng thủy sản và cho đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng thủy sản, thức ăn cho gia súc và nuôi trồng thủy sản
Thứ hai, nuôi trồng thủy sản là hoạt động đem con giống tự nhiên hay nhân tạo thả vào thiết bị nuôi và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi sản
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phẩm của nuôi trồng thủy sản bao gồm: sản xuất con giống nhân tạo cho nuôi trồng thủy sản và đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng; Cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người; sản xuất cá mồi cho khai thác thủy sản hay vỗ béo cá tự nhiên
Thứ ba, đánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng thủy sản là hoạt động đem con giống nhân tạo thả vào các thủy vực tự nhiên (hồ chứa, sông ngòi và biển)
để tăng sản lượng đánh bắt
1.1.4 Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu
Số lượng các mặt hàng thủy sản trong đời sống hàng ngày rất đa dạng và phong phú Danh mục các mặt hàng thủy sản theo từng quốc gia cũng khác nhau
Cơ cấu xuất khẩuhàng thủy sản của Việt Nam xuất ra thế giới chủ yếu là nhóm hàng cá đông lạnh (mã HS 03.03); phi lê cá & các loại thịt cá khác (HS 03.04); tôm
đã và chưa chế biến (HS 16.05 và HS 03.06); mực, bạch tuộc (HS 06.07); và cá ngừ đã được chế biến (HS 16.04)
Bảng 1.1: Mã HS các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu
Mặt hàng thủy sản xuất khẩu Mã HS
Phile (fillets) cá và các loại thịt cá khác 0304
Cá sấy khô, muối; cá hun khói; bột từ cá 0305
Động vật giáp xác sống, tươi, ướp lạnh 0306
Động vật thân mềm, động vật thủy sinh 0307
Nguồn: Cơ sở dữ liệu của Liên Hợp Quốc, UN Comtrade (2015), UN Commodity
trade statistics database
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2 Tổng quan về thị trường Liên Bang Nga
1.2.1 Đặc điểm thị trường Liên Bang Nga
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nước Nga có tên gọi đầy đủ là Liên Bang Nga Nước Nga nằm ở phía Bắc bán cầu, trải dài trên phần phía bắc của siêu lục địa Á - Âu Tuy rằng Nga chiếm phần lớn khu vực Bắc cực và cận Bắc cực nhưng có ít hơn về dân số, hoạt động kinh tế cũng như các sự đa dạng vật lý trên một đơn vị diện tích so với phần lớn các khu vực khác, phần lớn diện tích ở phía nam của khu vực này có phong cảnh và khí hậu đa dạng hơn Phần lớn đất đai Nga là các đồng bằng rộng lớn, ở cả châu Âu và châu Á, được biết đến như là Siberi
Liên Bang Nga có đường bờ biển dài trên 37 nghìn km dọc theo Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương, cũng như dọc theo các biển mang tính trong nội địa ít hay nhiều như biển Baltic, biển Đen vàbiển Caspi.Nga có tất cả các loại địa hình khí hậu tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông-lâm-ngư nghiệp.Đây cũng chính là điều kiện để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản cũng như công nghiệp chế biến thủy sản của Liên Bang Nga
1.2.1.2 Kinh tế
Kinh tế Nga những năm qua liên tiếp tăng trưởng, xã hội đã có những thay đổi tích cực: thu nhập của dân tăng nhanh hơn tốc độ trượt giá, từ năm 1999 đến nay, cơ bản giải quyết nợ lương, lương hưu trung bình tăng gần 90%, lương thực tế tăng gần gấp đôi, bước đầu cải thiện được đời sống nhân dân, thu nhập thực tế của dân tăng gấp 1,5 lần, thất nghiệp giảm gần 1/3, số người sống dưới mức tối thiểu giảm 1/3 Tổng GDP năm 2012 đạt gần 2,732 nghìn tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 16,137 nghìn USD
Nước Nga trở lại và đứng thứ 8 trong danh sách 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng liên tục ở mức gần 3,5% năm 2012; lạm phát giảm xuống còn 6,1% so với 12,75% của thập kỷ 2000-2010, nợ nhà nước giảm 10 lần xuống còn hơn 10% GDP, tỷ lệ thất nghiệp còn 5,4% là những thành quả không thể phủ nhận, đặc biệt trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hiện nay, kinh tế Nga đang hưởng lợi vì giá dầu lên cao do bất ổn tại Trung Đông - Bắc Phi; dự trữ ngoại tệ của Nga đứng thứ 3 thế giới, trên 500 tỷ USD Nợ quốc gia Nga duy trì ở mức tối thiểu Thu nhập thực tế của người dân khoảng 15 nghìnUSD/người.Năm 2012, Nga tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), tích cực đóng góp vào hoạt động của Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G-20) với tư cách là chủ tịch cho thấy một nước Nga đang ngày càng khẳng định được vị trí trung tâm trên trường quốc tế.Đặc biệt, Nga tận dụng lợi thế vị trí Âu-Á, diện tích lớn nhất thế giới để triển khai toàn diện chính sách “ngoại giao năng lượng” để chi phối châu Âu, cải thiện đáng kể thị phần của Nga tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Mặc dù, trong năm 2014 nền kinh tế Nga chưa thật sự phục hồi khi lần đầu tiên lạm phát đã vượt lên mức 6,6% do những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng kinh tế Nga vẫn duy trì được mức tăng trưởng dương.Kinh tế của Nga chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng hóa, với các nhóm hàng xuất khẩu chính
là dầu mỏ, khí đốt, hóa chất, kim loại, vũ khí cá nhân và vũ khí phục vụ quốc phòng Trong giai đoạn hiện nay, Nga đang tập trung ưu tiên cho phát triển ngành năng lượng do năng lượng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giúp kinh tế Nga cất cánh và nâng cao vị thế quốc tế trong những năm gần đây
1.2.1.3 Giá trị văn hóa và lối sống
Nga là một trong những nước ở phương Tây có nền văn hóa được toàn thể nhân loại ngưỡng mộ và tự hào Nước Nga có trên 16 dân tộc, mỗi dân tộc lại có những nét văn hóa khác nhau tuy vẫn mang đặc trưng chung của người Nga Văn hóa Nga chịu ảnh hưởng của nền tư tưởng tôn giáo chính thống là Slav Nước Nga
là cái nôi của hệ thống giáo dục Hàn lâm Nga là nơi đào tạo nên những người tài giỏi trên tất cả các lĩnh vực Hệ thống giáo dục của Nga không chỉ nổi tiếng từ những năm đầu của thế kỷ và đã duy trì đến nhiều năm sau này Trang phục và lối sinh hoạt hàng ngày của người dân Nga cũng thể hiện phần nào nền văn hóa Nga Nga cũng là nước có một nền văn hóa vật chất phong phú và một truyền thống mạnh mẽ trong công nghệ.Người dân Nga là những người mạnh mẽ, chịu đựng được khó khăn với tính kiên nhẫn cao.Văn hóa làm việc của người Nga giữ lại
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nhiều đặc tính thấm nhuần trong thời kỳ Xô viết Khi làm việc, người Nga thích làm việc trực tiếp
1.2.1.4 Thị hiếu người tiêu dùng
Trên thị trường Nga, người tiêu dùng quan tâm đến hương vị của sản phẩm là vai trò hàng đầu trong những yếu tố chính của việc lựa chọn thương hiệu sản phẩm.Yếu tố quan trọng thứ hai là sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt Giá cả và sự hiện diện của sản phẩm tại các địa điểm bán chiếm vị trí thứ ba trong việc lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng Nga Các yếu tố của thương hiệu và nhà sản xuất danh tiếng là yếu tố được xem là kém quan trọng nhất trong quyết định mua hàng của người tiêu dùng Nga
Người tiêu dùng Nga chọn ra các sản phẩm bằng kinh nghiệm trước đây của mình mua và tiêu thụ một hoặc một thương hiệu khác, xu hướng tin tưởng vào môi trường xã hội và danh tiếng của nhà sản xuất là không đáng kể
Các loại cá và hải sản của người dân Nga phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập của
hộ gia đình Người tiêu dùng Nga có xu hướng thích cá trích, cá minh thái, cá thu và
cá hồi Cá cao cấp và sản phẩm thủy sản chủ yếu được ưa chuộng bởi người tiêu dùng với thu nhập cao hơn, và được ăn một lần hoặc hai lần một tuần Nga có thu nhập thấp đến trung bình điều trị cá và hải sản sản phẩm làm thức ăn cho ngày lễ hay những dịp đặc biệt, việc tiêu thụ những món ăn chỉ một lần, trên trung bình, trong một ba đến bốn tháng thời gian
Sự đa dạng sản phẩm và chất lượng ngày càng quan trọng đối với người tiêu dùng Nga Các mặt hàng thủy sản được người tiêu dùng Nga ưa chuộng như: cá trích, cá thu, cá hồi, mực, tôm, trai, sò điệp sống, ốc, và hàu
1.2.2 Cung cầu các mặt hàng thủy sản trên thị trường Liên Bang Nga
Nga là một trong những thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản lớn, đầy tiềm năng của thế giới Bên cạnh hoạt động xuất khẩu,Liên Bang Nga cũng phải nhập khẩu một lượng thủy sản lớntừ các nước khác trên thế giới.Nga là một quốc gia đông dân nên nhu cầu tiêu dùng thủy sản tại thị trường này rất lớn, mặt khác thủy sản là thực phẩm phổ biến và được ưa thích tại Nga
Những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ thủy sản tại nước này đang có xu hướng tăng lên Một trong những nguyên nhân là do người tiêu dùng ngày càng chú ý hơn
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đến an toàn thực phẩm Trong khi thủy sản chính là loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe Và tình hình cung-cầu tại thị trường Nga đã phản ánh rõ điều này: Cung, cầu thủy sản của Liên bang Nga trong giai đoạn 2009-2011 đều gia tăng; Trong đó, tốc
độ gia tăng của cầu cao hơn cung Điều này đã khiến Nga phải nhập khẩu khoảng 2,5 triệu tấn thủy sản mỗi năm
Biểu đồ 1.1: Tiêu thụ thủy sản theo loại hình tại Nga năm 2012
Nguồn: Cục Thủy sản Nga, 2012
Hàng năm thị trường này tiêu thụ lượng thủy sản khoảng 4,1 - 4,3 triệu tấn/năm, trong đó cá các loại là 3,4 triệu tấn Tính theo đầu người, trong khi thế giới tiêu thụ khoảng 17kg/năm thì Nga là 20,2 - 23,7 kg Đến năm 2014, nhu cầu thủy sản bình quân của người dân Nga là 22-25 kg/người/năm.(Cục Thủy sản Liên Bang Nga, 2012)
1.2.3 Tình hình khai thác, nuôi trồng, chế biến mặt hàng thủy sản trên thị trường Liên Bang Nga
Nga là một trong số những nước có nguồn lợi hải sản giàu có và phong phú trên thế giới Ngành thủy sản của Nga chủ yếu hoạt động ở khu vực Lưu Viễn Đông Mặc dù Nga là một thị trường tiềm năng về nhập khẩu thủy sản nhưng Nga là một trong những nước không có nguồn lợi về xuất khẩu mặt hàng này do cơ sở hạ tầng kém, phân bố không đồng đều và hơn nữa Nga lại là nước nhập siêu trên 90%
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thủy sản tươi Thêm vào đ
ngành thủy sản ở các v
Từ đầu năm 2009 đến tháng 8 năm 2009
này đã khai thác được 2,
qua giai đoạn sụt giảm m
sản, tăng 4,9% so với năm 2010 S
Sản lượng đánh bắt thủy sản tự nhi
lại đây, và tính đến nửa đầu năm 2011
ươi Thêm vào đó, nhu cầu nhỏ lẻ và khả năng thị trư
ủy sản ở các vùng ven biển, nhất là ở Viễn Đông rơi vào t
ừ đầu năm 2009 đến tháng 8 năm 2009, các doanh nghiệp thủy sản của n
ợc 2,031 triệu tấn thủy sản tại các nguồn nấn) so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 51% tổng sản lNăm 2010, sản lượng đánh bắt thủy sản của Nga đạt 3,96 triệu
ợng đắt bắt cá Pollock đạt 1,6 triệu tấn, cá tuyết đạt 350 ngh
ấn, cá hồi đạt 325 nghìn tấn và các loại cá khác đạt 1,34 triệu
ên Bang Nga, 2009, 2010)
ản lượng đánh bắt thủy sản (theo loại) c
Nguồn: Cục Thủy sản Nga, 2010
n lượng đánh bắt thủy sản tại Nga tiếp tục ph
m mạnh hồi đầu thế kỷ Nga đã khai thác 4,255 tri
i năm 2010 Sản lượng khai thác cá tuyết c
n lượng cá trích tăng 4,1% lên 447,7 nghìn ttăng 24,9% lên 121,3 nghìn tấn; sản lượng cá ốt vảy lông tăng 9,6% lên 86,6 ngh
thu đao tăng 1,9 lần lên 62,1 nghìn tấn; sản lư tấn; sản lượng cua tăng 8,8% lên 42,6 ngh
ng tăng 7,9% lên 69,5 nghìn tấn; sản lượng cá hồi cũng tăng, v
ức kỷ lục năm 2009 (538 nghìn tấn)
ợng đánh bắt thủy sản tự nhiên tiếp tục tăng đều đặn trong v
ến nửa đầu năm 2011, tổng sản lượng thủy sản
1,600,000
ường thấp cũng khiến
ơi vào tình cảnh trì trệ
ệp thủy sản của nước
ản tại các nguồn nước sinh thái, tăng
ỳ năm ngoái, đạt 51% tổng sản lượng được phép
ắt thủy sản của Nga đạt 3,96 triệu tấn Trong
ết đạt 350 nghìn tấn, cá trích
ại cá khác đạt 1,34 triệu tấn
i) của Nga năm 2010
Đơn vị: tấn
c phục hồi sau khi trải
ã khai thác 4,255 triệu tấn thủy
t của Nga tăng 11,7% tấn; sản lượng cá thu lông tăng 9,6% lên 86,6 nghìn
n lượng cá cơm tăng
ng cua tăng 8,8% lên 42,6 nghìn tấn; sản lượng
ũng tăng, vượt mức 520
ục tăng đều đặn trong vài năm trở ợng thủy sản đạt 2,1 triệu tấn
Các loại cá khác 1,340,000
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quốc gia này vào vị trí th
lượng khai thác cá biể
cá tuyết, với sản lượng khai t
tuyết Atlantic cũng đóng vai tr
sản toàn cầu Cùng vớ
hồi Pacific tự nhiên hàng đ
Tổng sản lượng khai thác thủy sản của n
tăng nhẹ so với năm 2012 (4,269 triệu tấn) Khối l
vùng biển nước ngoài đ
vực hiệp ước và ngoài khơi đ
ấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2010 Nguyên nhân là do sản l
ồi tăng mạnh trong khi lượng đánh bắt cá minh thái (pollock) lạiùng kỳ năm ngoái Cá Pollock chiếm tới 40% sản l
ủy sản của Nga trong năm 2010, tiếp theo là cá tuyết, cá trích, cá hồi hồng, cá
à các loại cá khác.(Tổng cục thủy sản Liên Bang Nga, 2011) lượng đánh bắt thủy sản (theo loại) của Nga năm 2011
Nguồn: Tổng Cục Thủy sản Nga, 2011
ợng khai thác thủy sản của nước này năm 2012 đ
ệp sản xuất cá tuyết và cá hồi của Nga khá mtrí thứ 6 Theo FAO, năm 2012, Nga đứng th
ển (hơn 4 triệu tấn) Nga là điểm sáng trong l
ng khai thác 1,54 triệu tấn/năm 2013 Sản lưũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa Nga vào "sân chơi" th
ới bang Alaska (Mỹ), Nga là một trong nhnhiên hàng đầu thế giới
ợng khai thác thủy sản của nước này năm 2013 đ
ẹ so với năm 2012 (4,269 triệu tấn) Khối lượng khai thác thủy sản ở các
ài đạt 436,7 nghìn tấn trong khi sản lượng khai thác ở các khu ngoài khơi đạt 170,5 nghìn tấn Từ đầu năm 2013 đ
1.3
ợng khai thác cá hồi đặc biệt
ấn, cao hơn 24% so với ợng khai thác thủy sản đạt 2,1 triệu
ản lượng cá tuyết, cá ợng đánh bắt cá minh thái (pollock) lại thấp
ỳ năm ngoái Cá Pollock chiếm tới 40% sản lượng đánh bắt
u năm 2013 đến 3/2013 ngư
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dân đã khai thác được 717,4 nghìn
lượng đánh bát tự nhiên nhưng cá h
mang lại Các loại thủ
halibuts, cá tuyết chấm đen và cua chi
2014 đến tháng 4/2014
với cùng kỳ năm 2013
Về khu vực khai thác
Viễn Đông đạt 1,3 triệu tấn, tăng 72 ngh
khai thác tại biển Bering cũng tăng 36 ngh
ồn: Cục Thủy sản Liên bang Nga, 2012-2013
ản khai thác tự nhiên của Nga bao gồm cá pollack (35ng) Cá tuyết Đại Tây Dương và Thái Bình Dương đ
12%; tiếp theo là cá trích với 11% Mặc dù chỉnhiên nhưng cá hồi lại đống vai trò rất quan tr
ủy sản khác như cá thu, capelin, cá thu dao Thái B
m đen và cua chiếm khoảng 23% tổng sản lư
n tháng 4/2014, Nga khai thác được 1,414 triệu tấn thủ
năm 2013
ề khu vực khai thác, tính đến tháng 8 năm2009, sản lượng khai thác tại v
ệu tấn, tăng 72 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2008 Sản l
ại biển Bering cũng tăng 36 nghìn tấn lên 303 nghìn t
ản lượng khai thác đạt 118 nghìn tấn, tăng 27 ngh
ỉ chiếm 9% tổng sản
t quan trọng do giá trị mà nó
n khác như cá thu, capelin, cá thu dao Thái Bình Dương,
n lượng.Từ đầu năm
ủy sản, tăng 4,1% so
ợng khai thác tại vùng
ỳ năm 2008 Sản lượng tấn Tại vùng Bắc và
ấn, tăng 27 nghìn tấn; tại biển
ấn, đạt 69% hạn ngạch.Sản lượng khai
tấn Sản lượng khai
Các loại khác
1,398 1,252
2012 2013
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thác của các ngư trường khai thác t
biển Caspi, biển Azov, v
lượng đánh bắt thủy sản của Nga Mặc d
cuối năm 2010, nhưng theo báo cáo c
thay đổi lớn về sản lư
tăng 6%, tại lưu vực phía Bắc tăng 16%, v
lượng đánh bắt tại nước ngo
Biểu đồ 1.5:Sản lư
18%
13%
ờng khai thác thủy sản ở biển Baltic tăng 2,6 ngh
ấn, đạt 42% hạn ngạch Sản lượng khai thác cá trích cơm đ
ùng kỳ năm 2008.Tại vịnh Azov-biển Đen, s
ên 22,2 nghìn tấn, đạt 10% hạn ngạch Sản ịnh cũng tăng 800 tấn lên 5,9 nghìn tấn Sản lượng khai
ấn lên 24,2 nghìn tấn.Tại hải phận quốc tế, sản l
ìn tấn, tăng 12 nghìn tấn Trong khi đó, tại
ực chung ở biển Thái Bình Dương, sản lượng kha
òn 119 nghìn tấn
lưu vực thu hoạch thủy sản tại Nga tại khu vực Viễn Đông chiếm
ủa cả nước, tiếp theo là lưu vực phía Bắc L
ển Caspi, biển Azov, và các lưu vực biển Đen đóng góp không đáng k
ợng đánh bắt thủy sản của Nga Mặc dù sản lượng đánh bắt tổng thể có tăng kể từ
ưng theo báo cáo của Cục Thủy sản nước nượng đánh bắt tại từng lưu vực, cụ thể là
ực phía Bắc tăng 16%, vùng biển Caspi tăng 1% trong khi sản
ớc ngoài ước giảm 29%
n lượng khai thác thủy sản theo khu vực tạ
Nguồn: Cục Thủy sản Nga, 2012
66%
3%
Lưu vực Viễn Đông
Khu vực đánh bắt tại nước ngoài
Khu vực Bắc Atlantíc Các khu vực khác
ủy sản ở biển Baltic tăng 2,6 nghìn tấn lên 27 hai thác cá trích cơm đạt 14,6 nghìn tấn,
, sản lượng khai thác
ấn, đạt 10% hạn ngạch Sản lượng khai thác cá
ợng khai thác tại Biển ấn.Tại hải phận quốc tế, sản lượng khai thác
ấn Trong khi đó, tại các khu vực có quy
ợng khai thác lại giảm 49
ực Viễn Đông chiếm
ực phía Bắc Lưu vực phía Đông, Đen đóng góp không đáng kể vào sản ợng đánh bắt tổng thể có tăng kể từ
ớc này thì đã có những tại vùng Viễn Đông
ển Caspi tăng 1% trong khi sản
ại Nga năm 2012
Lưu vực Viễn Đông Khu vực đánh bắt tại nước Khu vực Bắc Atlantíc Các khu vực khác
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tính đến tháng 8/2012, Nga đ
với cùng kỳ năm 2011 Theo Cơ quan Ngh
lượng khai thác ở khu
triệu tấn Cá minh thái là loài ch
n tháng 8/2012, Nga đã khai thác 2,83 triệu tấn thủ
năm 2011 Theo Cơ quan Nghề cá Liên bang Nga, ngư dân đ
khu vực Viễn Đông mỗi năm thêm 6,3 nghìnthái là loài chủ yếu được khai thác ở khu vực này v
ấn so với cùng kỳ năm 2011 Ở vùng Biển B
ấn xuống 419 nghìn tấn Cá tuyết chiếm 237,7 ngh
ng khai thác, tăng 14,6 nghìn tấn so với cùng kỳ
ã khai thác 29,3 nghìn tấn thủy sản (tăng 3,8 nghìn tấn)
m 2,4 nghìn tấn) ở vùng Biển Đen và 16,5 nghìn
n Caspi Ở các vùng biển nước ngoài, ngư dân Nga đánh b
n, nhiều hơn 36,3 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2011
c và các vùng viễn dương, sản lượng khai thác gi
n
% về sản lượng đánh bắt thủy sản tại Nga theo khu v
2013
ồn: Tổng cục Thủy sản Liên bang Nga, 2013
n lượng khai thác ở khu vực Viễn Đông gi
n, trong đó có 393,9 nghìn tấn cá minh thái, ginăm 2012.Ở vùng Biển Bắc, sản lượng khai thác đ
ấn so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó có 67,8 ngh
68%
3% 2%
Lưu vực Viễn Đông
Lưu vực Bắc Đại Tây Dương
Các vùng đặc quyền kinh tế nước ngoài và vùng quy địn của Công ước
ng khai thác đạt 113,8 nghìn năm ngoái, trong đó có 67,8 nghìn tấn cá
Lưu vực Viễn Đông
Lưu vực Bắc Đại Tây Dương
Các vùng đặc quyền kinh tế nước ngoài và vùng quy địn của Công ước
Các lưu vực nước ngọt
Các lưu vực khác
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tuyết, tăng 6,3 nghìn tấn.Ở biển Bantich, đã khai thác được 7,3 nghìn tấn thủy sản, tăng so với 7,2 nghìn tấn của cùng kỳ năm 2012 Ở vùng Biển Đen – Azov, sản lượng khai thác đạt 9 nghìn tấn (tăng 3,8 nghìn tấn) và vùng biển Caspi đạt 500 tấn (tăng 200 tấn).Ở các vùng biển nước ngoài, ngư dân Nga đánh bắt 61,1 nghìn tấn thủy sản, tăng 11,9 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2012 Ở các khu vực hiệp ước và các vùng viễn dương, sản lượng khai thác tăng 2,6 nghìn tấn đạt 7,1 nghìn tấn Năm 2014, sản lượng đánh bắt tại vùng Viễn Đông tăng 35,8 nghìn tấn, đạt 1,3 triệu tấn Cá minh thái là loài thủy sản chính được khai thác ở vùng biển này với 842,8 nghìn tấn, tăng 7 nghìn tấn.Sản lượng tại vùng phía Bắc đạt 222,9 nghìn tấn, tăng 500 tấn so với cùng kỳ năm 2012 trong đó có 132,4 nghìn tấn cá tuyết, tăng 27 nghìn tấn trong khi cá haddock giảm 23,4 nghìn tấn, đạt 26,1 nghìn tấn; cá ốt vảy lông giảm 3,3 nghìn tấn đạt 60,4 nghìn tấn Sản lượng khai thác ở vùng biển Bantic đạt 13,2 nghìn tấn, giảm 300 tấn Vùng biển Azov- Biển Đen khai thác được 12,7 nghìn tấn, giảm 4 nghìn tấn và vùng biển Caspi đạt 5,7 nghìn tấn (tăng 4,4 nghìn tấn).Ở các vùng biển nước ngoài, ngư dân Nga đánh bắt 98,1 nghìn tấn thủy sản, tăng 3,3 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2012 Ở các khu vực hiệp ước và các vùng viễn dương, sản lượng khai thác tăng 7,5 nghìn tấn đạt 30,2 nghìn tấn.Cả năm
2014, sản lượng khai thác ở khu vực Viễn Đông đạt cao nhất với 2,77 triệu tấn trong
đó sản lượng cá minh thái đạt 1,54 triệu tấn
Bên cạnh khai thác thủy sản, về nuôi trồng thủy sản, tuy Nga có đường bờ biển lớn nhưng hoạt động nuôi trồng thủy sản của Nga còn mang tính nhỏ lẻ.Hoạt động chế biến thủy sản của Nga chưa phát triển mạnh Mặc dù sản lượng khai thác thủy sản lớn nhưng phần lớn sản lượng khai thác được vận chuyển sang Trung Quốc để chế biến
1.2.4 Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Liên Bang Nga
Từ năm 2009 đến nay, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu vào thị trường Nga
có xu hướng tăng qua các năm Các sản phẩm xuất khẩu chính của Liên Bang Nga
là xương cá đông lạnh,tiếp theo là gan và trứng cá đông lạnh, philê và cá đông lạnh, cua đông lạnh và cá hồi đông lạnh.Nga chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng cá (sống, tươi/ướp lạnh, đông lạnh, phi lê, khô/muối), tôm và nhuyễn thể Những mặt hàng thủy sản của Nga ít hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng nên sản phẩm
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thủy sản của Nga xuất khẩu sang các nước khác và nhập khẩu các sản phẩm thủy sản từ các nước
Về xuất khẩu, năm 2011, tổng xuất khẩu cá và hải sản nước Nga năm 2011
tước tính vào khoảng 2,6 Tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2010 Sản phẩm xuất khẩu chính của Liên Bang Nga là xương cá đông lạnh (1,1 tỷ USD), gan và trứng cá đông lạnh (269,3 triệu USD), philê và cá đông lạnh (254 triệu USD), cua đông lạnh (206,5 triệu USD) và cá hồi đông lạnh (193,2 triệu USD).Xuất khẩu cá và hải sản trong 5 tháng đầu năm 2012 giảm 16% xuống còn 1,05 tỷ USD
Các thị trường nhập khẩu chính sản phẩm thủy sản của Nga chủ yếu tập trung tại khu vực Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Nga sang Trung Quốc là 1,059 tỷ USD chiếm 40% tổng xuất khẩu thủy sản, Hàn Quốc là 1,016 tỷ USD chiếm 39% tổng xuất khẩu thủy sản và sang Nhật Bản là 197,4 triệu USD chiếm 7,5% tổng xuất khẩu thủy sản
Về nhập khẩu, năm 2009, cá đông lạnh là nhóm hàng thủy sản Nga nhập khẩu
nhiều nhất với kim ngạch nhập khẩu đạt 777 triệu USD, chiếm 80% tổng khối lượng thủy sản nhập khẩu Cá philê và các loại thịt cá khác xếp thứ hai trong kim ngạch nhập khẩu với 284,61 triệu USD chiếm 8% trong tổng khổi lượng thủy sản nhập khẩu của Nga Cá tươi, ướp lạnh đạt 125,92 triệu USD chiếm 6% trong tổng khổi lượng thủy sản nhập khẩu của Nga; động vật giáp xác đạt 72,58 triệu USD; động vật thân mềm, động vật thủy sinh đạt 100,6 triệu USD Trong đó, tôm chiếm 3,4%trong tổng khổi lượng thủy sản nhập khẩu của Ngavà nhuyễn thể chiếm 2% trong tổng khổi lượng thủy sản nhập khẩu của Nga Các nhóm sản phẩm còn lại (cá sống và cá khô/muối) chiếm tỷ trọng chưa đến 1%
Năm 2010, nhập khẩu cá của Nga tăng 3% so với năm 2009, đạt 2,08 triệu tấn.Cá đông lạnh là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch nhập khẩu chiếm 80% kim ngạch nhập khẩu Nga chủ yếu là nhập khẩu cá minh thái đông lạnh
- 22% kim ngạch nhập khẩu, cá trích tươi và đông lạnh chiếm 19% kim ngạch nhập khẩu Trong năm 2010, nhập khẩu tăng: cá hồi lưng gù(+186%), cá cá tuyết (+66%), cá tuyết (+61%), cá minh thái (+16%)
Năm 2011, nhập khẩu thủy sản của Nga ngày càng tăng Đây là xu hướng tất yếu do sự tác động của một số yếu tố khác như thiếu vốn đầu tư cho việc nâng cấp
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cơ sở hạ tầng, cơ sở chế biến và nhu cầu tiêu thụ trong nước tăng mạnh Do cơ sở vật chất còn yếu, nên Nga tiếp tục mất lợi thế so sánh với các nước khác đồng thời gây nhiều bất lợi cho sự phát triển của ngành vì thực tế một lượng lớn hàng thủy sản nhập khẩu từ Trung Quốc vốn được đánh bắt tại Nga nhưng sau đó phải chuyển sang Trung Quốc chế biến
Nga là nước nhập khẩu lớn thủy sản, nhập khẩu gần như 2,6 tỷ USD trong năm 2011, tăng 19,1% so với năm 2010.Cá và hải sản toàn cầu nhập khẩu chính của Nga trong năm 2011 bao gồm tươi hoặc cá hồi ướp lạnh với xương (549,9 triệu USD), tôm đông lạnh (262,5 triệu USD), cá thu (230,5 triệu USD), cá đông lạnh và philê (195,8 triệu USD), và cá đông lạnh (188,8triệu USD)
Sản lượng đánh bắt và nuôi thả thủy sản dồi dào, nhưng do mức sống và xuất khẩu, hàng năm Nga vẫn phải nhập khẩu không ít, chủ yếu là cá nguyên con, dạng phi lê, tôm, nhuyễn thể Cân đối cầu với cung trở nên bức bách khi ngày 6/8/2014, Nga “áp dụng các biện pháp đặc biệt, cấm và hạn chế nhập khẩu nông sản, trong đó
có thủy sản từ Na Uy, Hoa Kỳ, Canada là 3 trong số 10 đối tác nhập khẩu thủy sản lớn của Nga, riêng Na Uy đứng đầu chiếm tới 40% kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Điều này khiến thị trường Nga bắt đầu biến động Thị trường Nga thiếu hụt hàng trầm trọng, nhất là thủy sản, giá cả cũng nhảy vọt
Các thị trường xuất khẩu chính vào Nga là Na Uy, Trung Quốc, Iceland, Canada Thị phần hàng thủy sản xuất khẩu của Na Uy vào thị trường Nga luôn chiếm khoảng 40% kim ngạch nhập khẩu thủy sản của thị trương Nga Năm 2009,
Na Uy xuất khẩu thủy sản sang Nga với giá trị 640.93 triệu USD, chiếm 45,05% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Na
Uy vào thị trường Nga chiếm 36,3% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ hai vào thị trường Nga Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga từ Trung Quốc là 145,36 triệu USD, chiếm 10,21% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Năm 2011, Trung Quốc xuất khẩu thủy sản vào Nga chiếm 12% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Đứng sau hai nước lớn xuất khẩu lớn vào Nga là Iceland chiếm 6,3% kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga năm 2011 và Canada chiếm 4,5% kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga năm 2011
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cụ thể là, năm 2009, Na-uy là nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất vào thị trường Nga đạt 640,93 triệu USD, chiếm 45,04% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nga Đứng thứ hai là Trung Quốc với 145,36 triệu USD Đan Mạch xuất khẩu vào Nga đạt 90,27 triệu USD, Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang Nga đạt 87,88 triệu USD
Nhập khẩu thủy sản của Nga cũng tiếp tục tăng, đặc biệt kim ngạch nhập khẩu thủy sản từ thị trường Hoa Kỳ tính từ tháng 10 năm 10 đến tháng 5 năm 2011 đạt 40 triệu đô la Mỹ, tăng 122% so với cùng kỳ năm 2010.Các nhà cung cấp chính thủy sản của Liên Bang Nga là Na Uy (36,3%), Trung Quốc (12%), Iceland (6,3%), và Canada (4,5%)
Trong 10 tháng đầu năm 2013, Na-Uy là nước xuất khẩu mạnh nhất các mặt hàng thủy sản đến thị trường Liên Bang Nga, đạt 213,5 nghìn tấn (chiếm 12%) Đứng thứ hai là Ai-xơ-len với 84,8 nghìn tấn (xấp xỉ 5%) Thứ ba là Trung Quốc 59,5 nghìn tấn (chiếm 3,4%) Việt Nam đứng vị trí thứ 8 trong số 10 quốc gia có khối lượng thủy sản xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Nga với sản lượng đạt trên 21 nghìn tấn.( Tổng cục thủy sản, 2014)
1.2.5 Quy định về hải quan của Liên Bang Nga
Phù hợp với Hiến pháp của Liên Bang Nga, các quy định hải quan thuộc thẩm quyền của Liên Bang Nga trong việc thiết lập các tiêu chuẩn và các quy định thực hiện cho phép người thực hiện đầy đủ các quyền của mình để chuyển tải hàng hóa và phương tiện vận tải qua hải quan biên giới của Liên Bang Nga Các quy định hải quan được thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan của Liên Bang Nga
và các Luật liên bang có hiệu quả về Quy chế Nhà nước hoạt động ngoại thương
Hệ thống hải quan kết hợp các phương pháp và các cơ sở áp dụng để đảm bảo việc tuân thủ các quy định hải quan, thuế, cấm và hạn chế theo quy định của Luật liên bang có hiệu quả của Liên Bang Nga về Quy chế Nhà nước hoạt động ngoại thương liên quan đến vận chuyển hàng hóa, phương tiện vận chuyển qua biên giới hải quan
Theo quy định của pháp luật liên Bang Nga, Chính phủ Liên Bang Nga giám sát chung của hệ thống hải quan Cơ quan Hải quan Liên bang có trách nhiệm đảm
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
bảo thực hiện đúng nhiệm vụ của hải quan và tính thống nhất của tất cả các cơ quan hải quan của pháp luật hải quan của Liên Bang Nga trên lãnh thổ Liên Bang Nga
Liên Bang Nga tham gia hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quy định hải quan nhằm hài hòa và sửa đổi pháp luật hải quan của Liên Bang Nga phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế được thừa nhận chung
1.2.5.1 Pháp luật hải quan của Liên Bang Nga
Pháp luật hải quan của Liên Bang Nga quy định các mối quan hệ trong lĩnh vực của hệ thống hải quan bao gồm cả những quy định của việc áp dụng các thủ tục qua lại biên giới hải quan đối với hàng hóa và phương tiện vận tải, phát sinh trong quá trình đăng ký hải quan và các biện pháp kiểm soát, do khiếu nại người với các hành vi pháp lý, hành động của cơ quan hải quan và các nhân viên của họ, kết quả
từ việc giới thiệu và áp dụng các thủ tục hải quan khác nhau, cũng như các mối quan hệ liên quan đến việc thành lập, đánh thuế và thu các khoản tính thuế
Các thủ tục qua biên giới hải quan đối với hàng hóa và phương tiện vận tải chuyển tải qua biên giới hải quan, sau này trùng hợp với biên giới bang của Liên Bang Nga, sẽ được điều chỉnh bởi Luật Liên bang về biên giới của Nhà nước Liên Bang Nga.Liên quan đến các mối quan hệ xác định trên cơ sở, đánh thuế và thu các khoản tính thuế, pháp luật hải quan của Liên Bang Nga chỉ có trách nhiệm áp dụng trong những trường hợp không được điều chỉnh bởi pháp luật của Nga về thuế và các nghĩa vụ
1.2.5.2 Quy định của Liên minh Hải quan đối với thủy sản nhập khẩu (18/08/2014)
Theo VPSS, các quy định hiện hành về kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm (đã và đang áp dụng đối với thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Liên Bang Nga) được áp dụng trong kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu vào các nước thuộc Liên minh Hải quan (hiện tại bao gồm các nước Liên Bang Nga, Belarus, Kazakhstan)
Đối với việc kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm: Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga đồng ý không kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm từng lô thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh Hải quan Tuy nhiên, tần suất kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm phải đảm bảo độ tin cậy và kiểm nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu an toàn thực phẩm (được quy định bởi Hội đồng Liên
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
minh Hải quan) Cụ thể là: Khối lượng nước mạ băng của các sản phẩm từ cá không được vượt quá 5% khối lượng tịnh, từ động vật giáp xác không được vượt quá 7% khối lượng tịnh và từ động vật thân mềm không được vượt quá 8% khối lượng tịnh Về dư lượng hóa chất kháng sinh, Liên minh Hải quan quy định: Mức giới hạn mặc định để xử lý lô hàng vi phạm đối với Oxytetracyline là 10:1tỷ và mức để xử lý
lô hàng vi phạm đối với Malachite Green/Leuco Malachite Green là 1:1tỷ (theo LOD của VGNKI)
Nhìn chung, các quy định trên đều chặt hơn mức cần thiết so với quy định của CAC và EU Vì vậy, ngày 07/8/2014, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản đã gửi thông báo số 1449/QLCL-CL1 tới các doanh nghiệp Việt Nam chế biến thủy sản xuất khẩu vào Liên minh Hải quan và các tổ chức, cá nhân có liên quan biết để thực hiện
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA TRONG THỜI GIAN
GẦN ĐÂY 2.1 Tổng quan về sản xuất và chế biến mặt hàng thủy sản của Việt Nam
2.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản Việt Nam
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên để phát triển ngành thủy sản
Việt Nam là đất nước nằm trong bán đảo Trung Ấn, được thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thuỷ sản Với bờ biển dài hơn 3200
km trải dài từ Bắc và Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu, thời tiết,chế độ thuỷ học Ven bờ có nhiều đảo, vùng vịnh và hàng vạn hecta đầm phá,
ao hồ sông ngòi nội địa, thêm vào đó lại có ưu thế về vị trí nằm ở nơi giao lưu của các ngư trường chính, đây là khu vực được đánh giá là có trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại và nhiều đặc sản quý Việt Nam có thế mạnh về khai thác
và nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 vùng nước mặn, ngọt, lợ
Không chỉ có tiềm năng tự nhiên lớn nhờ bờ biển dài, Việt Nam còn sở hữu hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ trong vùng biển; có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, sông, ngòi vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi
có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi trồng thủy sản và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá Tiềm năng đó đã và đang tạo nền tảng và cơ hội cho nghề
cá phát triển ở tất cả các loại hình thủy sản trên các vùng sinh thái khác nhau Sự phát triển toàn diện, đa lĩnh vực nhưng có trọng tâm, trọng điểm đã đưa Việt Nam trở thành cường quốc về xuất khẩu thủy sản
Biển Việt Nam có trên 2 nghìn loài cá, trong đó có khoảng 130 loài cá có giá trikinh tế Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1,6 nghìn loài giáp xác, khoảng 2,5 nghìn loài động vật thân mềm Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho
sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên cũng có những khó khăn về điều kiện địa hình, hơn nữa, hàng năm có nhiều mưa bão, lũ, nhất là vào mùa khô gây hạn hán tạo nên khó khăn,thiệt hại, tổn thất to lớn cho ngành thủy sản
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội để phát triển ngành thủy sản
Ngành thuỷ sản đã có một thời khá dài chuyển sang cơ chế kinh tế mới (khoảng 20 năm) của nền kinh tế hướng theo thị trường có sự quản lý của nhà nước,
đã tạo được một nguồn nhân lực khá dồi dào trong tất cả mọi lĩnh vực từ khai thác chế biến, nuôi trồng đến thương mại Trình độ nghiên cứu và áp dụng thực tiễn cũng đã tăng đáng kể, hàng thuỷ sản liên tục giữ thế gia tăng và ổn định trên thị trường thực phẩm thế giới, nguồn lao dộng có kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng, giá nhân công thấp hơn so với khu vực và thế giới Hiện nay, Nhà nước đang coi thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn do đó có nhiều chính sách đầu tư khuyến khích
để đẩy mạnh sự phát triển của ngành
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc đặt ra cho ngành thủy sản Việt Nam như hoạt động sản xuất vẫn còn mang tính tự cấp, tự túc, công nghệ sản xuất thô sơ, lạc hâu, sản phẩm tạo ra chất lượng chưa cao; nguồn lao động tuy đông nhưng trình độ văn hóa kỹ thuật không cao, lực lượng được đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ, hầu hết chỉ dựa vào kinh nghiệm do đó khó theo kịp sự thay đổi của điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường; cuộc sống của lao động trong nghề vẫn còn nhiều vất
vả, bấp bênh do đó không tạo được sự gắn bó với nghề
Nhìn chung về cơ bản, có thể khẳng định rằng Việt Nam có tiềm năng dồi dào
để phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế quan trọng
2.1.1.3 Vị trí ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, ngành thủy sản đã phát triển thành một ngành kinh tế-kỹ thuật có đóng góp ngày càng lớn cho đất nước và đã trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đạt tốc độ tăng trưởng cao trong khối nông, lâm nghiệp và thủy sản Quy mô của ngành thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân Đến năm
2013, Thủy sản Việt Nam đã có vị trí cao trong cộng đồng nghề cá thế giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản và thứ 4 về giá trị xuất khẩu thủy sản
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngành chế biến thủy sản hiện nay phát triển thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế Với sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả, thủy sản đã đóng góp tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đóng góp hiệu quả cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho trên 4 triệu lao động, nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư khắp các vùng nông thôn, ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi…, đồng thời góp phần quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc phòng trên vùng biển đảo của Tổ quốc
2.1.2 Tình hình chung về kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Trong nhiều năm qua, hàng thủy sản luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ra thị trường thế giới Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo điều kiện cho Việt Nam có nhiều thế mạnhlớn để phát triển ngành thủy sản Sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu và có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới, được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng Ngày nay nuôi trồng thuỷ sản đã cung cấp được khoảng 27% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, nhưng chiếm tới gần 30% sản lượng dùng làm thực phẩm Kể từ thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam liên tục đạt được mức kim ngạch và tốc độ tăng khả quan
Năm 2009, xuất khẩu thủy sản việt Nam đạt 4,25 tỷ USD trong đó tôm đông lạnh đạt 1,2993 triệu USD; cá đông lạnh đạt 1,7669 triệu USD; mực đông lạnh đạt 82,7 triệu USD; các sản phẩm khác đạt 1,1124 triệu USD Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu nhóm hàng này bị suy giảm (giảm 5,7%) với mức kim ngạch là 4,25 tỷ USD Trong năm 2010 và năm 2011, xuất khẩu thủy sản khởi sắc với mức kim ngạch và tốc độ tăng lần lượt là 5,02 tỷ USD, 18%
và 6,11 tỷ USD, 21,8%
Năm 2010, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 5,0169 tỷ USD Các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã và đang được xuất khẩu đến 162 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong số đó có thể kể ra các mặt hàng chính như: tôm đạt giá trị 2,106 tỷ USD, tăng 42%; cá tra: 1,44 tỷ USD, 28,4%; nhuyễn thể: 488,8 triệu USD, 9,7%; cá ngừ: 293 triệu USD, 5,8% …
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 6,1 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2010 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản lần đầu tiên vượt qua mốc 2 tỷ USD xuất khẩu vào năm 2010, xuất khẩu tôm của Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh với giá trị năm 2011 đạt gần 2,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm sú chiếm 59,7% tổng giá trị, xuất khẩu tôm chân trắng chiếm 29,3%, còn lại là tôm các loại khác Năm 2012, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 6,13 tỷ USD, tăng 0,3% so với 2011, chiếm tỷ trọng 5,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng của cả nước So với năm 2011, hầu hết các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều có mức tăng trưởng cao Trong năm 2012, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác lớn nhất nhập khẩu và tiêu thụ hàng thủy sản xuất xứ từ Việt Nam Tính chung, tổng kim ngạch hàng thủy sản xuất sang 4 thị trường này đạt 3,89 tỷ USD, chiếm tới 64% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của cả nước.(Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2012)
Trong 4 thị trường chính nhập khẩu hàng thủy sản Việt Nam, EU là thị trường duy nhất có mức suy giảm trong năm 2012, đạt 1,13 tỷ USD, giảm mạnh tới 16,7%
so với năm 2011 Xuất khẩu thủy sản sang ba thị trường chính Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều có mức tăng trưởng dương, lần lượt là 0,6%, 6,7% và 3,9%
Từ nhiều năm qua, hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo loại hình xuất kinh doanh và xuất hàng sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu Năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản theo hai loại hình này đạt 5,77 tỷ USD, giảm nhẹ 1% so với năm trước và chiếm 95% trong tổng kim ngạch xuất khẩu ngành hàng này của cả nước.Xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam thực hiện theo 2 loại hình chính này có diễn biến trái chiều trong năm 2012 Cụ thể, xuất khẩu theo loại hình kinh doanh đạt 4,37 tỷ USD, giảm 7,4% so với năm trước; trong khi xuất khẩu theo loại hình xuất sản xuất xuất khẩu đạt 1,4 tỷ USD, tăng tới 26,1% (Tổng cục Hải quan, 2012)
Năm 2013, xuất khẩu thủy sản tăng khả quan, đạt 6,72 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất khẩu tôm chiếm tỷ trọng 46% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Trong đó, tôm chân trắng chiếm vị thế quan trọng với tổng giá trị gần 1,6 tỷ USD, tăng 113%; tôm
sú chỉ tăng 6,2% đạt trên 1,3 tỷ USD.Một số mặt hàng xuất khẩu chính như: tôm đạt
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
trên 3 tỷ USD, tăng 39%; cá tra đạt 1,76 tỷ USD, tăng 1%; cá ngừ đạt 527 triệu USD, giảm 7,2%; mực, bạch tuộc đạt 448 triệu USD, giảm 11% trong năm 2013 Năm 2014 tổng giá trị xuất khẩu thủy sản chính ngạch của cả nước ước đạt 7,92 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2013 Đây là một thành tích đáng ghi nhận của ngành trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới chưa thoát khỏi cuộc suy thoái kinh tế kéo dài
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 3/2015 giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 3 ước đạt 417 triệu USD, tính chung quý I/2015 ước 1,27 tỷ USD, giảm 20,6% so cùng kỳ năm 2014.Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 4 ước đạt 514 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 4 đạt 1,87 triệu USD, giảm 16,4% so với cùng kỳ năm 2014 Mức giảm đã được cải thiện rất nhiều so với con số giảm 20,6% trong quý I Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 19% tổng giá trị xuất khẩu Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng ở các thị trường như Trung Quốc (tăng 17%), Thái Lan (13%), và Hà Lan (gần 11%) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)
Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam còn vấp phải nhiều khó khăn, các mặt hàng đều sụt giảm trừ xuất khẩu tôm Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản phẩm vẫn là một vân đề khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu thủy sản sang thị trường các nước Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam hạn chế trong việc tiếp cận vốn, tình trạng thiếu hụt nguyên liệu thủy sản cho chế biến cùng với sự sụt giảm chất lượng nguyên liệu xuất khẩu cũng
là những thách thức đối với ngành thủy sản
Vì vậy, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Việt Nam cần đưa ra những chính sách phát triển phù hợp để đối phó với những khó khăn này, đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì mới hướng đến mục tiêu phát triển ngành thủy sản bền vững, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam
Với những kết quả trên, ngành thủy sản Việt Nam vẫn tiếp tục kỳ vọng đạt kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao trong năm 2015 Hiện nay, nhu cầu thủy sản trên thế giới vẫn tiếp tục tăng mạnh, do nguồn cung thủy sản trên thế giới hạn chế Thêm vào đó, nhiều chính sách thương mại song phương được kí kết, thị trường ngày càng
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
được mở rộng và ổn định, các doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu và đảm bảo được chất lượng sẽ tạo nên những lợi thế để Việt Nam hướng đến mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2015
2.1.3 Tình hình khai thác, nuôi trồng, chếbiến thủy sản Việt Nam
Cơ cấu ngành kinh tế thủy sản chuyển dịch theo hướng tích cực và hiệu quả, giảm dần tỷ trọng sản lượng và giá trị từ khai thác thủy sản và tăng mạnh tỷ trọng sản lượng và giá trị từ nuôi trồng thủy sản Sự chuyển đổi này chủ yếu do thị trường tác động, nguồn cung từ khai thác thủy sản không đáp ứng đủ, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng vẫn ngày một tăng lên, để bù vào sự thiếu hụt đó đã kích thích lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phát triển, nhằm chủ động sản xuất và đáp ứng thị trường trong
và ngoài nước
Về nuôi trồng, năm 2010, sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước đạt 2,74 triệu
tấn thủy sản các loại Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long đóng góp cao nhất với 70,94% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn quốc Về tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản đạt 16,2%/năm (2001 - 2010); trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long có mức tăng trưởng về sản lượng cao nhất đạt 17,8%/năm Sản lượng nuôi mặn
lợ có xu hướng tăng trong giai đoạn 2009 – 2010 Mặc dù diện tích nuôi mặn lợ đóng góp đến 63,6% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước nhưng sản lượng nuôi mặn
lợ chỉ chiếm 25,2% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước Sản lượng nuôi nước ngọt cả nước đạt 2,051 triệu tấn Diện tích nuôi nước ngọt chỉ chiếm 35,6% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước nhưng sản lượng chiếm 74,8% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước, điều này cho thấy, năng suất trung bình nuôi nước ngọt (đặc biệt là cá tra) rất cao, vì vậy đã đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng nuôi của
cả nước (Tổng cục thủy sản, 2010)
Năm 2012, sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước đạt 3,2 triệu tấn với tốc độ tăng bình quân 14,7%/năm.Năm 2012, sản lượng nuôi tôm sú đạt 310 nghìn tấn (chiếm 9,6% tổng sản lượng nuôi mặn lợ cả nước) và sản lượng nuôi tôm chân trắng đạt 190 nghìn tấn (chiếm 5,9% sản lượng nuôi mặn lợ cả nước).Sản lượng nuôi nước ngọt của cả nước năm 2012 đạt 2,187 triệu tấn, trong đó, sản lượng nuôi cá tra đạt 1,19 triệu tấn, nuôi tôm càng xanh 8,7 nghìn tấn, rô phi đạt 66,5 nghìn tấn.Năm 2012, hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt ở trên 164 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
giới, kim ngạch xuất khẩu năm đạt 6,2 tỷ USD, tăng gấp 4,2 lần so năm 2000, bình quân tăng 12,69%/năm góp phần đưa ngành thủy sản vào tốp 10 nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới
Bảng 2.1: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2011-2012
2011 2012 % tăng/giảm Tổng sản lượng thủy sản ( triệu tấn) 5,417 5,876 8,5%
0,500 1,190 1,51 triệu
0,9% 3,4% 10,6% Diện tích nuôi trồng (ha) 1,2 triệu 1,2 triệu 0% Trong đó: Tôm
Cá tra
Khác
656 nghìn 5,5 nghìn 538,5 nghìn
658 nghìn 5,6 nghìn 536,4 nghìn
0,3% 1,8% 0,4%
Nguồn: Trung tâm thông tin thủy sản, Cục Thủy sản Việt Nam, 2011-2012
Năm 2014, sản lượng nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm 2014 ước đạt 4,7 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kì năm trước Trong đó, sản lượng cá đạt 3,4 triệu tấn, tăng 3,2%; tôm đạt 0,57 triệu tấn, tăng 14,8% Giá trị sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2014 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 134 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái Giá trị xuất khẩu đạt 5,7 tỷ USD tăng 23% Thủy sản là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất trong 9 tháng đầu năm
2014 (Tổng cục Thống kê, 2014)
Do tôm chân trắng có hiệu quả kinh tế cao và ổn định hơn nhiều so với tôm
sú nên đã có sự dịch chuyển lớn về diện tích nuôi tôm chân trắng và tôm sú Tổng diện tích thả nuôi lũy kế đạt 663 nghìn ha (tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2013); trong đó diện tích tôm sú là 572 nghìn ha (giảm 1,8%), diện tích tôm chân trắng là
91 nghìn ha (tăng 91,8%) Tổng sản lượng thu hoạch lũy kế ước đạt 395 nghìn tấn (tăng 50%); trong đó sản lượng tôm sú là 180 nghìn tấn, tôm chân trắng là 215 nghìn tấn Giá tôm đã tăng nhẹ khoảng 5,4% so với tháng trước và cao hơn cùng kỳ năm 2013 từ 18,2%-20,1% Được sự chỉ đạo của Tổng cục, cùng với sự theo dõi,
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
giám sát chặt chẽ của các đơn vị quản lý tại các địa phương, người nuôi tôm luôn được hướng dẫn kịp thời, hiệu quả; chất lượng tôm giống được kiểm soát chặt chẽ nên kết quả nuôi tôm đạt khá
Những người nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn thua lỗ kéo dài, tiêu thụ giảm mạnh nên diện tích thả nuôi của các hộ ngày càng thu hẹp Tuy giá cá tra hiện nay
đã tăng nhẹ nhưng người nuôi vẫn chưa mở rộng diện tích thả nuôi Diện tích nuôi lũy kế từ đầu năm đạt 4,4 nghìn ha (giảm 8,8%); Sản lượng thu hoạch đạt 730 nghìn tấn (giảm 13,6% so với cùng kỳ) Trái lại, nghề nuôi tôm trong 9 tháng đầu năm có chiều hướng thuận lợi, giá tôm chân trắng tăng lên đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái, diện tích thả nuôi tăng mạnh
Về diện tích nuôi trồng các mặt hàng thủy sản có thế mạnh của Việt Nam như tôm sú, tôm chân trắng, cá tra như sau:
Cá Tra: Diện tích nuôi cá tra của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cả năm
2014 ước đạt hơn 5,5 nghìn ha với sản lượng 1.116 nghìn tấn Đầu năm 2014, giá cá tra bắt đầu có diễn biến khả quan, tuy nhiên dư âm từ vụ nuôi năm 2013 đã khiến nhiều hộ nuôi hoặc không đủ vốn hoặc trì hoãn quyết định thả nuôi năm 2014 để đợi những tín hiệu vững chắc hơn từ thị trường Sau một thời gian giá cá tra tăng ổn định, nhiều hộ nuôi tiếp tục thả nuôi vụ mới, diện tích nuôi tăng mạnh kể từ tháng
10 đến nay và đã dần hồi phục gần bằng cùng kỳ năm ngoái cả về diện tích và sản lượng Hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang có sản lượng cá tra lớn nhất vùng nhưng sản lượng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, Đồng Tháp (-2%), An Giang (-8%) Chỉ riêng Hậu Giang, diện tích giảm 12% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng lại tăng đáng kể, đạt 70,905 nghìn tấn, tăng 102% so với cùng kỳ nguyên nhân là do năm ngoái không được giá nên các hộ dân không thu hoạch, năm nay giá cá tra tăng nên các hộ thu hoạch nhiều
Tôm sú: Diện tích và sản lượng tôm sú vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm
2014 đều giảm so với năm trước Diện tích nuôi tôm sú năm 2014 ước đạt 537 nghìn ha, giảm 4% so với năm 2013, sản lượng ước đạt 248 ngàn tấn, giảm 3% Sóc Trăng là tỉnh 11 có diện tích và sản lượng giảm nhiều nhất, diện tích giảm 35% và sản lượng giảm 28% so với 2013, nguyên nhân là do nhiều hộ đã chuyển sang nuôi tôm chân trắng
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tôm chân trắng: Mặc dù mới được du nhập vào Việt Nam từ năm 2001, đến
nay phong trào nuôi tôm chân trắng phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, do thời gian nuôi tôm chân trắng ngắn, đạt tỷ lệ thành công cao, giá bán cao
So với tôm sú, tôm chân trắng có nhiều ưu điểm như thích nghi tốt với môi trường, khả năng chống chịu dịch bệnh và thời gian sinh trưởng ngắn hơn Do đó, nhiều hộ nuôi tôm sú đang có xu hướng chuyển sang nuôi tôm chân trắng sau một số vụ tôm
sú thua lỗ Diện tích nuôi tôm chân trắng vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm
2014 ước đạt 67 nghìn ha, tăng 68% so với năm 2013, sản lượng ước đạt 245 nghìn tấn, tăng 53%, trong đó: Sóc Trăng và Bến Tre là hai tỉnh có sản lượng lớn nhất vùng, đều tăng 31% so với năm 2013, cụ thể Sóc Trăng sản lượng đạt 66,4 nghìn tấn, Bến Tre sản lượng đạt 42,2 nghìn tấn
Về khai thác, năm 2012, sản lượng khai thác tăng mạnh 10,6% so với năm
2011, chủ yếu do sản lượng đánh bắt cá ngừ tăng mạnh ở các tỉnh miền Trung nhờ thời tiết thuận lợi và việc ngư dân sử dụng công nghệ đánh bắt cá ngừ đại dương bằng đèn cao áp, nâng công suất lên gấp đôi và giảm thời gian đi biển 15-30% Trong khi đó, sản lượng nuôi trồng năm 2012 chỉ tăng 6,8% khi hoạt động nuôi tôm gần như không tăng trưởng do hội chứng tôm chết sớm EMS hoành hành trên diện rộng Sản lượng cá tra chỉ tăng nhẹ 3,4% trong năm 2012, nhưng đã đạt mức cao kỷ lục 1,19 triệu tấn Tăng trưởng sản lượng nuôi trồng đến chủ yếu từ hoạt động nuôi trồng các loài thủy sản khác, với mức tăng khá cao 10,6% trong năm 2012 (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2012)
Khai thác thủy sản trong 9 tháng đầu năm 2014 gặp thuận lợi về thời tiết, ngư dân tập trung khai thác những sản phẩm có giá trị kinh tế cao Bên cạnh đó, được sự
hỗ trợ của Nhà nước, số tàu khai thác hải sản công suất lớn ở các địa phương đã tăng lên Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng đầu năm ước tính đạt 2,2 triệu tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển đạt 2,1 triệu tấn, tăng 5% Riêng sản lượng cá ngừ đại dương 9 tháng ước đạt 13 nghìn tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2013 Tổng sản lượng thủy sản của cả năm đạt 6,3 triệu tấn, tăng 5,1% so với năm 2013; trong đó, sản lượng cá đạt 4,5 triệu tấn, tăng 3,6%; tôm 0,85 triệu tấn, tăng 12,3%; thủy sản khác đạt 0,95 triệu tấn, tăng 6,7%.(Hiệp hội chế biến
và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2014)
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Sản lượng khai thác thủy sản cả nước 11 tháng năm 2014 đạt 2.694,8 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khai thác biển ước đạt 2.519 nghìn tấn, tăng 5,6 % so với cùng kỳ
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2013-2014
Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP),2013-2014
Năm 2014, công tác quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản được các ban ngành quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là các chính sách khuyến khích và hỗ trợ ngư dân đóng tầu công suất lớn đi khai thác vùng biển xa với nhiều nghề đánh bắt hiệu quả như lưới rê khơi, vây, pha xúc…cùng với yếu tố thời tiết thuận lợi đã mang lại những sản phẩm biển có giá trị kinh tế cao như: cá thu, cá ngừ, mực, cá cơm… Trên bờ, các hoạt động thu mua, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá ngày càng được chú trọng đầu tư góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch Ước sản lượng khai thác thủy sản cả năm 2014 đạt 2.918 nghìn tấn, tăng 4,1%
so với năm 2013, trong đó: khai thác biển ước đạt 2.712 nghìn tấn, tăng 4%.Theo báo cáo của 3 tỉnh ven biển chuyên đánh bắt cá ngừ, sản lượng khai thác cá ngừ mắt
to vây vàng cả năm 2014 tại Bình Định ước đạt 9.419 tấn, tăng 12,6% so với năm
2013, Phú Yên ước đạt cá ngừ đại dương khai thác khoảng 4.030 tấn giảm 11%, Khánh Hòa ước đạt khoảng 5.164 tấn, giảm so với cùng kỳ năm trước
Tổng sản lượngthuỷ sản tháng 1 năm 2015 ước đạt 409 nghìn tấn, tăng 2,3%
so với năm 2014, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 223 nghìn tấn, tăng 2,8%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 186 nghìn tấn, tăng 1,8% so với năm 2014.Sản lượng khai thác thuỷ sản 02 tháng đầu năm 2015 ước tính đạt 461 nghìn tấn, tăng 3,83%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác thủy sản đạt 435 nghìn tấn, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Năm 2015, toàn ngành thủy sản phấn đấu tổng sản lượng đạt 6,6 triệu tấn, tăng 5,5% so với năm 2014, trong đó khai thác đạt 2,7 triệu tấn (tăng 0,7%), nuôi trồng 3,95 triệu tấn (tăng 9,7%), xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD, tăng 10,7%.Nuôi tôm nước lợ,
cá tra tiếp tục là đối tượng nuôi chủ lực, phát triển cá rô phi đa dạng hóa nuôi cả nước ngọt và vùng nước lợ mặn Theo dõi sát và nắm chắc diễn biến, tình hình sản xuất, an ninh trên biển, thời tiết và giá dầu để kịp thời tham mưu, chỉ đạo các địa phương tổ chức sản xuất hiệu quả an toàn trên các vùng biển
Mặc dù hằng năm, ngành thủy sản Việt nam khai thác số lượng lớn thủy sản nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về nguyên liệu, khiến các doanh nghiệp vừa phải cạnh tranh nhau về xuất khẩu sản phẩm vừa phải cạnh tranh nhau tìm nguồn nguyên liệu Vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực của các doanh nghiệp ngành thủy sản, Nhà nước cũng cần có chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản ra thị trường thế giới
Về chế biến,các cơ sở chế biến tập trung chủ yếu ở những nơi có điều kiện
thuận lợi về nguồn nguyên liệu khai thác, nuôi trồng thủy sản Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản thời gian qua đã đầu tư các nhà máy chế biến với thiết
bị hiện đại, để cho ra đời những sản phẩm thủy sản với chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường quốc tế, nhất là thị trường khó tính ở các nước phát triển
Bên cạnh những thế mạnh về năng lực chế biến, ngành chế biến thủy sản đối mặt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, khi người dân và một số doanh nghiệp thủy sản lạm dụng hóa chất trong hoạt động nuôi trồng và bảo quản sản phẩm Ngoài ra, máy móc, thiết bị chế biến cũ kỹ, lạc hậu cũng là trở ngại cho việc phát triển ngành chế biến thủy sản Công tác dự báo thị trường tiêu thụ còn yếu, thiếu kiến thức thương mại, dẫn tới việc doanh nghiệp không chủ động được thị trường Nhìn chung, việc phát triển chế biến thủy sản còn khó khăn, chưa được đầu tư chiều sâu để phát triển công nghệ chế biến sản phẩm giá trị gia tăng; giá thành sản phẩm cao làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường
Ngành công nghiệp này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, trong
đó, chủ yếu do khâu chế biến còn ở trình độ thấp, giá tri gia tăng chưa cao, sản xuất còn đơn lẻ, chưa tạo thành liên kết chuỗi Các sản phẩm thủy sản chế biến chủ yếu
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
là các sản phẩm đông lạnh Hầu hết các sản phẩm chế biến ở dạng sơ chế, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp Cụ thể như cá tra xuất khẩu chủ yếu dưới dạng philê thô chứ chưa được gia tăng giá trị bằng cách chế biến, các phần khác của cá như đầu, da,
mỡ, xương,…hầu như chưa khai thác được, chỉ dừng lại ở dùng làm thức ăn gia súc
2.1.4 Cơ cấu các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu
Những năm gần đây sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã được đa dạng hóa về chủng loại và đáp ứng ngày một tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu đa dạng và yêu cầu của thị trường nước ngoài.Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn là tôm, cá tra, cá biển, nhuyễn thể, các loại thủy sản đônglạnh và các loại thủy sản khô Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của nước ta ngày càng bổ sung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một
số đặc sản khác
Có thể chia làm 3 nhóm chính: nhóm có khả năng cạnh tranh cao, nhóm có khả năng cạnh tranh và nhóm ít có khả năng cạnh tranh Nhóm có khả năng cạnh tranh cao là nhóm có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, bao gồm: tôm, cá tra, cá basa, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, cua, ghẹ, cá đáy và cá nước ngọt thịt trắng ít xương Nhóm
có khả năng cạnh tranh gồm các mặt hàng hiện Việt Nam chưa có ưu thế cạnh tranh nhưng trong tương lai có thể phát triển xuất khẩu được nếu có công nghệ khai thác
và chế biến tốt, bao gồm: các loại cá ngừ, đặc biệt là cá ngừ vảy vàng và cá ngừ mắt
to, mực, bạch tuộc Các loại cá biển nhỏ như cá thu, cá hồng, cá bạc má, cá nục,…và nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ốc, sòthuộc nhóm ít có khả năng cạnh tranh
vì kích cỡ nhỏ và dễ bị coi là cá tạp
Về nhóm mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao, xuất khẩu tôm vẫn giữ vị trí
là mặt hàng xuất khẩu số 1, chiếm vị trí lớn trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của nước ta Xuất khẩu tôm tăng trưởng nhẹ là kết quả của nhiều yếu tố như sản lượng tôm nguyên liệu trong nước không tăng, giá tôm nguyên liệu luôn giữ mức cao so với nhiều nước sản xuất tôm trong khu vực và giá thành sản xuất nói chung tăng
Xu hướng của nhiều doanh nghiệp chế biến hiện nay là tăng tỷ trọng sản phẩm tôm giá trị gia tăng, phù hợp với nhu cầu của các thị trường lớn như Nhật và Mỹ Tôm đang được phát triển nuôi rất rầm rộ trên toàn thế giới, sản lượng tôm ngày càng