Chính vì vậy, việc vận dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống SFL để phân tích VBTMBT sẽ giúp làm sáng rõ những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa dân t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG ANH TỪ QUAN ĐIỂM NGÔN NGỮ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Văn Vân
Phản biện 1: GS.TS Đinh Văn Đức
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Quang
Phản biện 3: PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
vào hồi…giờ….phút, ngày….tháng….năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tàng là nơi “cất giữ những tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử.” (Hoàng Phê, 2010, tr 64) Để khách tham quan/độc giả của Bảo tàng hiểu được ngọn ngành những tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử được sưu tầm, cất giữ và trưng bày nơi đây, rất cần có những văn bản thuyết minh Nếu văn bản thuyết minh được viết bằng tiếng mẹ đẻ của khách tham quan/độc giả thì việc tiếp thu thông tin hầu như không có gì khó khăn, cản trở Song nếu khách tham quan/độc giả là những cộng đồng người nói tiếng Anh, thì việc lĩnh hội thông tin chắc chắn phụ thuộc vào chất lượng của bản dịch
văn bản thuyết minh bảo tàng (VBTMBT) Trong trường hợp này rất dễ
có thể xảy ra sự xung đột về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai cộng đồng dân tộc khác nhau Bởi vì mỗi dân tộc có một ngôn ngữ và nền văn hóa riêng mang đặc trưng dân tộc Chính vì vậy, việc vận dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (SFL) để phân tích VBTMBT sẽ giúp làm sáng rõ những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa dân tộc được thể hiện trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Kết quả là, việc chuyển dịch VBTMBT từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại sẽ hiệu quả hơn, và như vậy có thể tránh việc làm sai lệch ý nghĩa và giá trị lịch sử của hiện vật được trưng bày/nhân vật được tôn vinh trong bảo tàng
Tất cả những điều đã trình bày ở trên chính là lí do chủ yếu để
chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản thuyết minh bảo tàng trong tiếng Việt và tiếng Anh từ quan điểm Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
2 Mục đích nghiên cứu
(i) Phân tích để tìm ra đặc điểm ngôn ngữ điển hình được hình thành trong VBTMBT trong tiếng Việt và tiếng Anh; (ii) Đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ trong VBTMBT tiếng
Trang 4Việt và tiếng Anh trên các bình diện: Nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể loại Luận án trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau: (a)
VBTMBT có những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội nào để khu biệt chúng với những kiểu văn bản khác?; (b) VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh có những tương đồng và khác biệt gì về nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể loại?
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết
của SFL về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, hệ thống quy chiếu và thể loại để làm cơ sở triển khai đề tài
luận án; (ii) Phân tích, miêu tả và đối chiếu nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể loại trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh;
(iii) Đưa ra kết luận chung về đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp và
các mục đích giao tiếp khác nhau được thể hiện trong các VBTMBT này
4 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu: (i) Đối tượng
nghiên cứu là đặc điểm ngôn ngữ điển hình của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; (ii) Phạm vi nghiên cứu của luận án gồm những bình diện sau: nghĩa liên nhân, chuyển tác, quy chiếu và thể loại; (iii) Nguồn ngữ liệu là
những VBTMBT mở rộng được sử dụng nội bộ, thu thập từ sách hướng dẫn hiện vật hoặc từ trên trang web của ba cặp bảo tàng sau: (a) Bảo tàng Lịch
sử Quốc gia Việt Nam – Bảo tàng Quốc gia Anh; (b) Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam – Bảo tàng Lịch sử Phụ nữ Mỹ; (c) Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – Bảo tàng Mỹ thuật Boston của Mỹ Luận án lựa chọn 30 VBTMBT tiếng Việt và 30 VBTMBT tiếng Anh về các loại hình hiện vật hoặc nhân vật để
phân tích và đối chiếu
5 Phương pháp nghiên cứu: (i) Phương pháp đối chiếu: được sử
dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt về: Nghĩa liên nhân, chuyển tác,
quy chiếu và thể loại trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; (ii) Phương
pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa liên nhân
Trang 5được sử dụng ra sao; hệ tư tưởng đã tạo ra những đặc điểm ngôn ngữ nào; những yếu tố ảnh hưởng tới tần số xuất hiện của quy chiếu; mục đích và cấu
trúc của các văn bản là gì; (iii) Phương pháp miêu tả: được sử dụng để tìm
ta một số đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; Thủ pháp thống kê: được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến hoặc tần số xuất hiện của từng loại đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT
Khung lí thuyết dùng để phân tích và miêu tả diễn ngôn chủ yếu dựa vào lí thuyết của Halliday & Hasan (1976, 1994) và các nhà nghiên cứu khác như Martin & While (2005) và Martin & Rose (2008), Hoàng Văn Vân (2005, 2012), v.v
6 Đóng góp của luận án: (i) Ý nghĩa khoa học: luận án hi vọng sẽ có
những đóng góp cho lí luận ngôn ngữ học một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh, những nét tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa hai loại văn bản này Do vậy luận án đã góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về một
thể loại văn bản cụ thể trong tiếng Việt và tiếng Anh; (ii) Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người kiến tạo VBTMBT
tiếng Việt và tiếng Anh hiểu rõ hơn về việc sử dụng ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể để từ đó có thể soạn thảo ra những VBTMBT có chất lượng cao và hấp dẫn Ngoài ra, việc hiểu được quy ước diễn ngôn, cấu trúc ngôn ngữ bề mặt và xa hơn nữa là các giá trị văn hóa được thể hiện trong VBTMBT ở hai ngôn ngữ, sẽ giúp việc chuyển dịch những văn bản này từ tiếng Việt sang tiếng Anh (hoặc ngược lại) một cách hiệu quả
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận; Chương 2: Đối chiếu sự thể hiện của nghĩa liên nhân trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; Chương 3: Đối chiếu hệ thống chuyển tác; Chương 4:
Trang 6Đối chiếu sự thể hiện của hệ thống quy chiếu và thể loại trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1.Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn và SFL trên thế giới
1.1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về diễn ngôn trên thế giới: Công
trình nghiên cứu diễn ngôn đầu tiên là của Harris (1952), sau đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu diễn ngôn và phân tích diễn ngôn như
Discourse Structure and Human Knowledge (Cấu trúc diễn ngôn và tri thức loài người) của Chafe (1970), Pragmatics and the Description of Discourse (Ngữ dụng và việc miêu tả diễn ngôn) của Fillmore (1981), Language, Context, and Text (Ngôn ngữ, ngữ cảnh và văn bản) của
Halliday & Hasan (1989), v.v Như vậy, những công trình nghiên cứu về diễn ngôn ở trên là nền móng vững chắc cho các nghiên cứu sau này Các nhà nghiên cứu được kế thừa và có điều kiện phát triển lý thuyết của họ để
phân tích từng thể loại diễn ngôn cụ thể
1.1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới: Lí thuyết chức năng hệ thống được Halliday sáng lập và
được phát triển bởi nhiều nhà ngôn ngữ học hàng đầu thế giới như Halliday
& Hasan, Eggins, Bloors & Bloors, Thompson, Martin và White, v.v Đặc biệt, nghiên cứu của Halliday tập trung vào ba siêu chức năng ngôn ngữ: (i) Siêu chức năng tư tưởng diễn đạt ‘nội dung’: đó là trải nghiệm của người nói về thế giới thực, bao gồm cả nhận thức bên trong của người nói; (ii) Siêu chức năng liên nhân liên quan tới việc thiết lập và duy trì mối quan hệ
xã hội; (iii) Siêu chức năng ngôn bản liên quan tới việc cung cấp các đường
dẫn tới ngôn ngữ và các đặc điểm tình huống mà ở đó nó được sử dụng
Trang 71.1.2 Tổng quan về diễn ngôn và nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống để phân tích ngữ pháp ở Việt Nam
1.1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về diễn ngôn ở Việt Nam là của
Trần Ngọc Thêm (1985) với nhan đề Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Đến nay đã có nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu về lĩnh vực này như:
Diệp Quang Ban (1998) Văn bản và Liên kết trong tiếng Việt; cuốn Introducing Discourse Analysis (Dẫn luận phân tích diễn ngôn) của Hoàng
Văn Vân (2006) Như vậy, những nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam đã góp phần làm sáng rõ lí thuyết về diễn ngôn và đặc điểm của diễn ngôn trong một số lĩnh vực cụ thể
1.1.2.2 Tổng quan những nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng
hệ thống để phân tích ở Việt Nam
Trong lĩnh vực miêu tả ngữ pháp, Cao Xuân Hạo (1991) đã nghiên cứu Tiếng Việt: Sơ thảo Ngữ pháp chức năng: Câu trong tiếng Việt; Hoàng Văn Vân (1997, 2005, 2012) đã đi sâu nghiên cứu Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt – miêu tả theo quan điểm chức năng hệ thống; Nghiên cứu của Thái Minh Đức (1998) có nhan đề A Systemic Functional Interpretation of Vietnamese Grammar đã thuyết giải hệ thống ngữ pháp
của ngôn ngữ tiếng Việt; Diệp Quang Ban (2005) đã tập trung nghiên cứu
Ngữ pháp tiếng Việt; Công trình Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp của
Nguyễn Văn Hiệp (2012) đã làm rõ sự phân loại các kiểu sự tình của Halliday
Trong lĩnh vực đối chiếu một số bình diện ngữ pháp, Đỗ Tuấn Minh (2007) đã nghiên cứu Cấu trúc Đề-Thuyết trong tiếng Anh và tiếng Việt; Nguyễn Thị Minh Tâm (2013) về Đối chiếu mối quan hệ Logic – Ngữ nghĩa trong tổ hợp cú tiếng Anh và tiếng Việt; nghiên cứu của Tôn Nữ Mỹ
Trang 8Nhật (2005) về Phân tích diễn ngôn quảng cáo du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt,v.v
1.1.3 Tổng quan những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1 Những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng trên thế giới
Ravelli (2006), Purser (2000) và Serrel (1996) đều nhận định, ngôn ngữ trong VBTMBT phải có độ chính xác cao, không sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng cũng không quá hàn lâm vì khách tham quan đa dạng
về độ tuổi và trình độ nhận thức Ravelli (2006) cho rằng, thể loại của VBTMBT rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc vào mục đích giao tiếp của
từng loại văn bản Cuốn Museum Languages: Objects and texts được biên
tập bởi Kavanagh (1991) đã chỉ ra, cần phải đặc biệt chú ý tới việc lựa chọn ngôn từ trong VBTMBT vì chúng sẽ được sử dụng để giao tiếp trong bảo tàng
1.1.3.2 Những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng ở Việt Nam
Ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT Như vậy, luận án này là công trình nghiên cứu đầu tiên tập trung phân tích, miêu tả và đối chiếu một cách toàn diện và chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh dưới ánh sáng của SFL
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn và thể loại
1.2.1.1 Diễn ngôn (văn bản): Theo Cook (dẫn theo Nunan, 1993), diễn ngôn là các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất
và có mục đích Trái lại, văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở
mặt hình thức, nằm ngoài ngữ cảnh Halliday & Hasan (1976, tr 1-2) đã
Trang 9thống hợp hai thuật ngữ này và cho rằng, “Văn bản có thể là bất kì đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh” Hoàng Văn Vân (2006) đi theo quan điểm trên với Halliday & Hasan và cho rằng , “… ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng; điều này có nghĩa là không một ngôn bản nào diễn ra mà không có ngôn cảnh” Như vậy, rất khó để phân biệt ranh giới giữa văn bản và diễn ngôn bởi trong diễn ngôn có văn bản và trong văn bản có diễn ngôn Do vậy, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” thay thế cho nhau trong luận án
1.2.1.2 Phân tích diễn ngôn: Brown & Yule (1983) cho rằng, phân
tích diễn ngôn là phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa và dụng học Halliday (1994) đưa ra nhận định bao quát hơn, phân tích diễn ngôn phải được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ Đồng thời, lí do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng rõ diễn ngôn – điều người ta nói và viết, nghe và đọc Như vậy, việc phân tích diễn ngôn giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ có cái nhìn thấu đáo hơn đối với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào trong từng tình huống ngôn ngữ và văn hóa khác nhau
1.2.1.3 Thể loại: Theo Bhatia (1993), thể loại là một sự kiện giao tiếp
được đặc trưng hóa bởi những mục đích giao tiếp khác nhau và được nhận diện, hiểu được bởi những thành viên của cộng đồng chuyên môn hoặc hàn lâm mà ở đó nó thường xuyên diễn ra Martin (1997b, 2000s) cho rằng,
“thể loại là một quy trình xã hội có mục đích và được phân đoạn” Tóm lại, trong những nền văn hóa khác nhau, thì cấu trúc thể loại của các văn bản cũng khác nhau, và tùy vào mục đích giao tiếp của từng loại văn bản mà các tiểu thể loại sẽ được sử dụng
1.2.2 Lí thuyết liên quan tới văn bản thuyết minh bảo tàng, phong cách và thể loại của chúng
Trang 101.2.2.1 Định nghĩa về thuyết minh (thuyết giải): Theo Kreps (2000),
thuật ngữ “thuyết giải” là giải thích về một điều gì đó hoặc trình bày hiện vật và kiến thức dưới dạng “một ngôn ngữ” mà người xem có thể hiểu được Serrell (1996) cho rằng, “thuyết giải” không chỉ đưa ra thông tin và khuyến khích sự tham gia Nó còn là sự giao tiếp giữa kiến thức của người hướng dẫn và người nghe Như vậy, việc thuyết giải cũng cần có sự tương
tác và phản hồi nhất định từ độc giả để phần thuyết giải được hiệu quả hơn 1.2.2.2 Văn bản thuyết minh bảo tàng: Theo Lord & Lord (2009), tài
liệu thuyết minh bao gồm nhãn chú thích hiện vật, chú giải dán tường, chú giải viết trên giấy khổ rộng, hướng dẫn trong phần trưng bày và các thuyết minh bằng âm thanh Như vậy, VBTMBT được thiết kế với nhiều định dạng khác nhau cùng với sự đa dạng về tên gọi nhưng chúng có chung một
mục đích là giao tiếp với công chúng
1.2.2.3 Phong cách và thể loại của văn bản thuyết minh bảo tàng: Theo
Ferguson & et al (1995), phong cách của VBTMBT không nên quá hàn lâm Và rằng những văn bản quá hàn lâm sẽ rất dày đặc và trừu tượng trong bối cảnh bảo tàng Về thể loại, Ravelli (2006) cho rằng, những thể loại phổ
biến được sử dụng trong các VBTMBT là: thông báo, giải thích, trình bày, chỉ dẫn, thảo luận và miêu tả
1.2.3 Nghĩa liên nhân
1.2.3.1 Hệ thống thức:(a) Hệ thống thức tiếng Anh: Theo Derewianka
& Jones (2012), hệ thống thức là cách mà ở đó chúng ta sử dụng ngôn ngữ
để trao đổi thông tin và hàng hóa hoặc dịch vụ Halliday (1994) nhận định, thành phần thức có chức năng ngữ nghĩa được xác định rõ ràng và nó mang gánh nặng của cú như là một sự tương tác Tác giả đã chỉ ra năm loại thức
trong tiếng Anh, đó là: Thức tuyên bố (trình bày), thức chỉ định, thức cầu khiến và thức nghi vấn; (b) Hệ thống thức tiếng Việt: Theo Diệp Quang
Ban (2013, tr 29 & 31), thức của câu là giá trị tình thái (TT) trong sử dụng
Trang 11và nó là cơ sở để xác lập các kiểu câu Thức của câu có mặt trong tiếng
Việt là: Thức trình bày, thức nghi vấn, thức cầu khiến và thức cảm thán 1.2.3.2 Tình thái:(a) Tình thái trong tiếng Anh: Theo Halliday (1994,
tr.75), tình thái “là sự đánh giá của người nói về khả năng hoặc sự bắt buộc liên quan tới điều được nói” Tình thái được chia thành TT hóa và đạo nghĩa hóa Tình thái hoá liên quan tới nghĩa phán đoán và có thể được nhận diện thông qua các tác tử TT hữu định hoặc thông qua phụ ngữ TT khả năng và thường xuyên và các tiểu loại khác Đạo nghĩa hóa phản ánh nghĩa
kiến nghị, gồm hai tiểu loại: (i) bổn phận - và (ii) thiên hướng; (b) Tình thái trong tiếng Việt: Nguyễn Văn Hiệp (2012) đã phân loại TT thành tình thái
nhận thức và tình thái đạo nghĩa Tình thái nhận thức thể hiện vị thế hiểu biết của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói tới trong câu dựa trên bằng chứng hoặc cơ sở suy luận Trái lại, TT đạo nghĩa liên quan tới sự bắt buộc (hay cấm đoán) và sự cho phép (hay miễn trừ) Luận án dựa chủ yếu vào khung lí thuyết của Halliday để phân tích TT
và việc nhận diện của chúng trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Tuy nhiên, khi phân tích TT trong VBTMBT tiếng Việt, chúng tôi cũng tham khảo một số công trình nghiên cứu TT của các nhà Việt ngữ học như Nguyễn Văn Hiệp (2009), Diệp Quang Ban (2013)
1.2.3.3 Hệ thống ngôi: (a) Hệ thống ngôi tiếng Anh: Halliday (1994)
nhận định, hệ thống ngôi vừa đóng vai trò như là một đại từ và vừa được xem như là một đại từ sở hữu Ngoài ra, Stephan & Patzold (1992) cho rằng, việc lựa chọn đại từ chỉ ngôi có thể ảnh hưởng đến khoảng cách hoặc
sự gần gũi giữa những người tham gia giao tiếp; (b) Hệ thống ngôi tiếng Việt: Theo Hữu Đạt (2009, tr 37), “hệ thống các từ xưng gọi trong tiếng
Việt không phải là một hệ thống khép kín mà là một hệ thống luôn luôn mở” Như vậy, tùy vào đối tượng giao tiếp, địa vị xã hội, tuổi tác của người
Trang 12tham gia giao tiếp hay cảm xúc lúc giao tiếp mà đại từ chỉ ngôi được sử dụng
1.2.4 Một số khái niệm liên quan tới siêu chức năng tư tưởng
1.2.4.1 Lí thuyết về chuyển tác: Theo Halliday (1994), hệ thống chuyển
tác là hệ thống lựa chọn về ngữ pháp để diễn giải những điều ‘đang diễn ra’ –
sự kiện, hành động, cảm giác, ý nghĩa, tồn tại và sự trở thành Hoàng Văn Vân (2012) nhận định, sáu kiểu quá trình và chín loại chu cảnh được
Halliday đề xuất cũng tồn tại trong tiếng Việt
1.2.4.2 Lí thuyết về thực từ: (a) Lí thuyết về thực từ trong tiếng Anh:
Theo Halliday (1985), mật độ thực từ được xác định bằng cách đếm số
lượng từ thuộc “các lớp từ mở” như danh từ, động từ, tính từ; (b) Lí thuyết
về thực từ trong tiếng Việt: Nguyễn Thiện Giáp (2010) cho rằng, thực từ là
những từ có nghĩa từ vựng độc lập, có khả năng hoạt động với tư cách là các thành phần của câu Theo tác giả, trong tiếng Việt, người ta thường xếp danh từ, vị từ, tính từ, số từ, đại từ vào thực từ Luận án theo quan điểm nhận diện thực từ của Halliday nhưng khi nhận diện thực từ trong tiếng Việt, chúng chỉ gồm danh từ, động từ và tính từ, không có trạng từ
1.2.5 Một số khái niệm liên quan tới siêu chức năng ngôn bản
1.2.5.1 Quy chiếu trong tiếng Anh: Theo Halliday và Hasan (1976, tr
31), “Thay vì được diễn giải chính xác về mặt ngữ nghĩa, chúng quy chiếu sang những yếu tố khác để diễn giải ý nghĩa của chúng” Quy chiếu được phân thành quy chiếu tình huống ngoại chỉ và quy chiếu ngôn bản (hồi chỉ
và khứ chỉ) Bên cạnh đó, còn có ba tiểu loại quy chiếu: quy chiếu ngôi, chỉ
định và so sánh
1.2.5.2 Quy chiếu trong tiếng Việt:
Theo Nguyễn văn Hiệp (2009), đại từ hồi chỉ, khứ chỉ (gồm những đại
từ như: ông, bà , nó, đó, thế, này ) tham gia thể hiện nghĩa miêu tả của
câu, đồng thời thực hiện chức năng liên kết Tác giả cũng nhận định, những
Trang 13kiểu liên kết này được quy vào phương thức liên kết quy chiếu trong hệ thống liên kết của Halliday (1985)
Luận án dựa chủ yếu vào khung lí thuyết của Halliday (1985 & 1994
để phân tích quy chiếu trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Đồng thời tham khảo lí thuyết của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Hiệp (2009) về quy chiếu để tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng quy chiếu giữa VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
1.2.6 Lí thuyết về phân tích đối chiếu
Theo Richards (1992, tr.83), phân tích đối chiếu là sự đối chiếu về
hệ thống ngôn ngữ của hai ngôn ngữ như là hệ thống âm thanh hoặc hệ thống ngữ pháp Lê Quang Thiêm (2008) cho rằng, việc nghiên cứu đối chiếu câu, ngoài những lợi ích lí luận và thực tiễn chung, còn trực tiếp giúp cho việc học nói, học cách diễn đạt, giúp nâng cao hiệu quả của việc giao tiếp, dịch thuật Việt – Anh, Anh – Việt Như vậy, phân tích đối chiếu giúp chúng ta hiểu rõ hơn những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Từ
đó, chúng ta có thể thích nghi với những khác biệt đó
1.3 Tiểu kết
Chương này đã trình bày tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn, Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới và ở Việt Nam Đặc biệt, ba siêu chức năng ngôn ngữ trong công trình nghiên cứu của Halliday (1994) đã
được trình bày cụ thể và chi tiết hơn: Siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng ngôn bản Chương này cũng tổng quan
những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT trên thế giới và ở Việt Nam Trong đó, chúng tôi đã đi sâu trình bày về phong cách viết, thể loại và mật độ thực từ trong VBTMBT ở Úc và London được Ravelli (2006) chọn khảo sát Hơn thế, lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, phong cách và thể loại cùng với lí thuyết liên quan tới VBTMBT cũng được trình bày theo trật tự logic Bên cạnh đó, lí thuyết về nghĩa liên nhân