VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH TỪ QUAN ĐIỂM NG
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH TỪ QUAN ĐIỂM NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG
HỆ THỐNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HOÀNG VĂN VÂN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu, dẫn chứng nêu trong luận án là chính xác, trung thực và hoàn toàn không trùng khớp với bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả Luận án
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn và Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới 11
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về diễn ngôn (văn bản) và nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống để phân tích ngữ pháp ở Việt Nam 12
1.1.3 Tổng quan những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.2 Cơ sở lí luận 22
1.2.1 Lí thuyết về diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, phân tích diễn ngôn và thể loại .23
1.2.2 Lí thuyết liên quan tới văn bản thuyết minh bảo tàng, phong cách và thể loại của chúng 28
1.2.3 Lí thuyết về Nghĩa liên nhân 32
1.2.4 Một số khái niệm liên quan tới siêu chức năng tư tưởng 43
1.2.5 Một số khái niệm liên quan tới siêu chức năng ngôn bản 50
1.2.6 Lí thuyết về phân tích đối chiếu 53
1.3 Tiểu kết 56
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU SỰ THỂ HIỆN CỦA NGHĨA LIÊN NHÂN TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 57
2.1 Dẫn nhập 57
2.2 Phân tích và miêu tả sự thể hiện nghĩa liên nhân trong văn bản thuyết minh bảo tàng đã chọn khảo sát tiếng Việt và tiếng Anh 57
2.2.1 Phân tích và miêu tả thức 57
2.2.2.Phân tích và miêu tả tình thái 58
2.2.3 Phân tích và miêu tả hệ thống ngôi 82
2.3 Đối chiếu sự thể hiện của nghĩa liên nhân trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 87
2.3.1 Kết quả đối chiếu hệ thống thức trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 87
Trang 42.3.2.Kết quả đối chiếu sự thể hiện của tình thái trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 87 2.3.3 Đối chiếu sự thể hiện của hệ thống ngôi trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 95 2.3.4.Thảo luận 96
2.4 Tiểu kết 99 CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU HỆ THỐNG CHUYỂN TÁC TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 102 3.1 Dẫn nhập 102 3.2 Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 102
3.2.1 Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 102 3.2.2 Phân tích và miêu tả hệ thống chuyển tác trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 107
3.3 Đối chiếu quá trình, chu cảnh, mật độ thực từ và cấu trúc chủ động/bị động trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 113 3.4 Tiểu kết 118 CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU SỰ THỂ HIỆN CỦA HỆ THỐNG QUY CHIẾU
VÀ THỂ LOẠI TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH BẢO TÀNG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 120 4.1 Dẫn nhập 120 4.2 Đối chiếu sự thể hiện của quy chiếu trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 120
4.2.1.Sự thể hiện của quy chiếu ngoại chỉ, hồi chỉ, khứ chỉ trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 120 4.2.2 Sự thể hiện của quy chiếu ngôi, chỉ định và so sánh trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 121 4.2.3 Sự khác nhau trong việc sử dụng phương tiện quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định, quy chiếu so sánh trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 123
4.3 Phân tích và miêu tả thể loại trong văn bản thuyết minh bảo tàng
Trang 5tiếng Việt và tiếng Anh 128
4.3.1 Phân tích và miêu tả thể loại trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt 128 4.3.2 Phân tích và miêu tả thể loại trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Anh 132
4.4 Đối chiếu thể loại trong văn bản thuyết minh bảo tàng tiếng Việt và tiếng Anh 137 4.5 Tiểu kết 139 KẾT LUẬN 141 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC 159
Trang 6DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT Tiếng Việt
VBTMBT Văn bản thuyết minh bảo tàng
BTLSQGVN Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam
BTPNVN Bảo tàng phụ nữ Việt Nam
BTMTVN Bảo tàng mỹ thuậtViệt Nam
VB 1 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng đá
VB 2 Văn bản thuyết minh hiện vật: Chuông đồng
VB 3 Văn bản thuyết minh hiện vật: Bình gốm
VB 4 Văn bản thuyết minh hiện vật: Cây đèn đồng
VB 5 Văn bản thuyết minh hiện vật: Lưỡi rìu đồng
VB 6 Văn bản thuyết minh hiện vật: Bức tranh “Thập điện Diêm
vương”
VB 7 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng sư tử bằng đá
VB 8 Văn bản thuyết minh hiện vật về đồ trang sức: Khuyên tai bằng
đá hai đầu thú
VB 9 Văn bản thuyết minh hiện vật: Mộ cổ Việt Khê bằng gỗ
VB 10 Văn bản thuyết minh hiện vật: Ấn “Môn Hạ Sảnh ấn” bằng đồng
VB 11 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực thời trang: Nguyễn
VB 14 Văn bản thuyết minh nhân vật: Phụ nữ trong cuộc sống gia đình
VB 15 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực kinh doanh: Kim
Chi
VB 16 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực giáo dục: Nữ tiến sĩ
đầu tiên của Việt Nam: Nguyễn Thị Duệ
VB 17 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội:
Trang 7Lê Thị Xuyến (1909 – 1996) Hội trưởng đầu tiên của Hội LHPN Việt Nam
VB 18 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội:
Nữ nghệ nhân gốm sứ mỹ nghệ thời Lê Mạc
VB 19 Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực y học:Giáo sư –
VB 22 Văn bản thuyết minh nhân vật: Tác giả Tô Ngọc Vân và tác phẩm
VB 23 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tranh sơn dầu: Phố Hàng Mắm
VB 24 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tranh lụa: Bữa cơm mùa thắng lợi
VB 25 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng gỗ
VB 26 Văn bản thuyết minh hiện vật: Bức tranh nhớ một chiều Tây Bắc
VB 27 Văn bản thuyết minh hiện vật về chạm khắc: Bức tranh phiến
đoạn chạm khắc đề tài “Mẹ gánh con”
VB 28 Văn bản thuyết minh hiện vật: Dao găm đồng
VB 29 Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng Bà Tu Mật
VB 30 Văn bản thuyết minh hiện vật: Khóa thắt lưng đồng
Trang 8Tiếng Anh
VB I Quartzite statue of Peraha (Văn bản thuyết minh hiện vật
tượng đá Quartzite của Peraha)
VB II St Cuileáin’s bell shrine (Văn bản thuyết minh hiện vật
chuông đền bằng đồng của thánh Cuileáin)
VB III Tripod-footed painted ceramic vessel (Văn bản thuyết minh
hiện vật bình gốm ba chân)
VB IV Bronze oil lamp with a leaping ibex (Văn bản thuyết minh
hiện vật cây đèn dầu bằng đồng với hình dê rừng đang nhảy)
VB V Bronze axe-head (Văn bản thuyết minh hiện vật lưỡi rìu
đồng)
VB VI
Wall- painting with the three Hebrews in the fiery furnace
and the martyrs Cosmas (Văn bản thuyết minh hiện vật tranh treo tường trong đó có ba người Hebrews trong lò lửa và các
vị tử đạo Cosma)
VB VII Red granite statue of Sobekemzaf I (Văn bản thuyết minh
hiện vật tượng đá granit về Sobekemzaf I )
VB VIII
Gold necklace with lion-headed terminals -300/-300 (Văn bản
thuyết minh hiện vật: Đồ trang sức:Vòng cổ bằng vàng với
VB XI Diane Von Furstenberg (Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc
lĩnh vực thời trang - Diane Von Furstenberg)
VB XII Mercy Otis Warren (Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc
lĩnh vực văn học: Mercy Otis Warren)
VB XIII Madeleine Korbel Albright (Văn bản thuyết minh nhân vật
thuộc lĩnh vực ngoại giao: Madeleine Korbel Albright)
VB XIV The women of Jamestown Settlement Native Inhabitants
Trang 9(Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực phụ nữ trong cuộc sống gia đình: Phụ nữ của khu dân cư Jamestown)
VB XV Her Story (Văn bản thuyết minh nhân vật thuộc lĩnh vực kinh
doanh: Câu chuyện của cô ta)
VB XVI
Tribute to Margaret Floy Washburn (Văn bản thuyết minh
nhân vật thuộc lĩnh vực giáo dục: Nữ Tiến sĩ đầu tiên có tên
là Margaret Floy Washburn)
VB XVII
Sophonisba Breckinridge (1866-1948) (Văn bản thuyết minh
nhân vật thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội: Sophonisba Breckinridge
VB XVIII Maria Tallchief (1925-2013) (Văn bản thuyết minh nhân vật
thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội: Maria Tallchief)
VB XIX Lucy Hobbs Taylor (1833-1910) (Văn bản thuyết minh nhân
vật thuộc lĩnh vực y học: Lucy Hobbs Taylor)
VB XX Harriet Beecher Stowe (1811- 1896) (Văn bản thuyết minh
nhân vật thuộc lĩnh vực lịch sử Harriet Beecher Stowe)
VB XXI
Erastus Salisbury Field: Margaret Gilmore (Văn bản thuyết
minh nhân vật tác giả Erastus và tác phẩm Margaret Gilmore)
VB XXII
Susan Catherine Moore Waters: The Lincoln Children (Văn
bản thuyết minh nhân vật tác giả Susan và tác phẩm The Lincoln Children)
VB XXIII The Copley Family (Văn bản thuyết minh hiện vật tranh sơn
dầu về gia đình Copley)
VB XXIV Silk picture: Happiness (Văn bản thuyết minh hiện vật tranh
Trang 10VB XXVIII
Bowl of a Royal Pipe (Văn bản thuyết minh hiện vật bằng
đồng: Tẩu hút thuốc lá hình loa đầu voi được sử dụng trong Hoàng gia)
VB XXIX Aphrodite (Văn bản thuyết minh hiện vật: Tượng Aphrodite)
VB XXX Scraper (strigil) (Văn bản thuyết minh hiện vật bằng đồng:
Vật dụng để nạo hoặc cạo)
Quy ước chung cho cả tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Ngữ vực được ngôn cảnh hóa bởi thể loại 26
Sơ đồ 1.1 Hệ thống thức 33
Bảng 1.1 Chức năng lời nói và hàng hóa được trao đổi 35
Bảng 1.2 Ba giá trị của tình thái 37
Bảng 1.3 Tác tử tình thái 38
Bảng 1.4 Các kiểu chu cảnh 47
Bảng 2.1 Các loại thức trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 58
Bảng 2.2.Phụ ngữ tình thái hóa trong VBTMBT tiếng Việt 59
Bảng 2.3 Các loại phụ ngữ tình thái trong VBTMBT tiếng Anh 68
Bảng 2.4 Tác tác tình thái trong VBTMBT tiếng Anh 78
Bảng 2.5 Tần số xuất hiện ngôi thứ ba trong VBTMBT tiếng Việt 82
Bảng 2.6 Tần số xuất hiện của hệ thống ngôi trong VBTMBT tiếng Anh 84
Bảng 2.7 Kết quả đối chiếu sự thể hiện của tình thái trong VBTMBT tiếng ViệtVà tiếng Anh 87
Bảng 2.8 Phụ ngữ tình thái trong VBTMBT tiếng Việt và Anh 88
Bảng 2.9 Các giá trị của tác tử tình thái trong VBTMBT tiếng Việt và tiếngAnh 90
Bảng 2.10 Sự thể hiện và mức độ cam kết của phụ ngữ tình thái trong VBTMBT tiếng Việt và Anh 91
Bảng 2.11 Mức độ cam kết của phụ ngữ tình thái trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 94
Bảng 2.12 Vị từ tình thái nhận thức trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 94
Bảng 2.13 Đạo nghĩa hóa trong VBTMBT Tiếng Việt và tiếng Anh 95
Bảng 2.14 Tần số xuất hiện của hệ thống ngôi trong VBTMBT Tiếng Việt và tiếng Anh 95 Bảng 3.1 Tần số xuất hiện của các kiểu quá trình trong VBTMBT tiếng Việt 102
Bảng 3.2 Tần số xuất hiện của các loại chu cảnh trong VBTMBT tiếng Việt 104
Bảng 3.3 Tần số xuất hiện của các loại quá trình trong VBTMBT tiếng Anh 108
Bảng 3.4 Tần số xuất hiện của các loại chu cảnh trong VBTMBT tiếng Anh 110
Bảng 3.5 Tần số xuất hiện của các kiểu quá trình trong VBTMB tiếng Việt và Anh 114
Bảng 3.6 Tần số xuất hiện của các loại chu cảnh trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 116
Bảng 3.7 Mật độ thực từ trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 118
Bảng 4.1 Tần số xuất hiện của quy chiếu ngoại chỉ, hồi chỉ, khứ chỉ trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 120
Bảng 4.2 Tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định và quy chiếu so sánh trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 123
Bảng 4.3 Sự khác nhau trong việc sử dụng phương tiện quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định, quy chiếu so sánh trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh 123
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tàng là nơi “cất giữ những tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử.” (Hoàng Phê, 2010, tr 64) Để khách tham quan Bảo tàng hiểu được ngọn ngành những tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử được sưu tầm, cất giữ, trưng bày nơi đây, rất cần
có những văn bản thuyết minh Nếu văn bản thuyết minh được viết bằng tiếng mẹ
đẻ của khách tham quan/độc giả thì việc tiếp thu thông tin về hiện vật được trưng bày hay nhân vật được tôn vinhtrong bảo tàng hầu như không có gì khó khăn, cản trở Song nếu khách tham quan/độc giả là người nước ngoài, chẳng hạn trong trường hợp luận án của chúng tôi quan tâm nghiên cứu là những cộng đồng người nói tiếng Anh, thì việc lĩnh hội thông tin về hiện vật được trưng bày hay nhân vật
được tôn vinh chắc chắn phụ thuộc vào chất lượng của bản dịch văn bản thuyết minh bảo tàng (VBTMBT) Trong trường hợp này rất dễ có thể xảy ra sự xung
đột về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai cộng đồng dân tộc khác nhau: giữa người Việt – đại diện là những cán bộ làm công tác bảo tàng và người bản ngữ nói tiếng Anh- khách tham quan bảo tàng/độc giả Bởi vì như chúng ta biết, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ và một nền văn hóa riêng mang đặc trưng dân tộc Trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ, đã có không hiếm trường hợp xảy ra hiện tượng được các chuyên gia gọi là “sốc văn hóa” do những người tham gia giao tiếp đã không hiểu, thậm chí hiểu lầm lẫn nhau do có sự bất đồng về văn hóa Chính những người viết VBTMBT có thể được coi là những sứ giả có nhiệm vụ quan trọng giúp cho du khách/độc giả nước ngoài hiểu biết sâu sắc những thông tin có ý nghĩa về văn hóa - lịch sử của đất nước và con người Việt Nam qua các tài liệu thuyết giải về hiện vật/nhân vật Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay của đất nước - Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia và các dân tộc trên thế giới Để làm tốt công tác chuyển dịch VBTMBT từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác nói chung, từ tiếng Việt sang tiếng Anh nói riêng, dịch giả phải nắm chắc và am hiểu sâu sắc cả hai thứ tiếng và hai nền văn hóa- cả ngôn ngữ và văn hóa nguồn lẫn ngôn ngữ và văn hóa đích
Thực tế hiện nay cho thấy, trình độ tiếng Anh của cán bộ làm công tác bảo tàng ở Việt Nam chưa cao nên khi chuyển dịch VBTMBT từ tiếng Việt sang tiếng Anh (hay ngược lại) để phục vụ khách tham quan/độc giả người nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn Thậm chí một số bảo tàng đã đầu tư mời chuyên gia nước ngoài chuyển dịch VBTMBT sang tiếng Anh nhưng không phải “bài toán đã được giải quyết”, vì dù sao đây cũng mới chỉ là giải quyết được một vế của vấn đề là đảm bảo được tính đúng văn phạm tiếng Anh của bản dịch VBTMBT, một nửa công
Trang 13việc quan trọng còn lại quyết định nửa công việc đã được giải quyết vẫn còn đó - dịch giả là người Anh có hiểu sâu ngôn ngữ và văn hóa Việt hay không Trong thực
tế cũng đã có những trường hợp chính chuyên gia nước ngoài do không hiểu hết được ngôn ngữ và văn hóa của người Việt nên vẫn không thể chuyển dịch đầy đủ ý nghĩa và giá trị của hiện vật/nhân vật được tôn vinh trong bảo tàng Do đó, trường hợp lí tưởng vẫn là chính những người làm công tác bảo tàng Việt Nam phải nâng cao trình độ ngôn ngữ và văn hóa Anh để tự đảm nhận trọng trách chuyển dịch những VBTMBT này
Hiện nay, lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống, trong đó có Ngữ pháp chức năng hệ thống, đã được các nhà ngôn ngữ học hết sức quan tâm, vận dụng vào các công trình nghiên cứu của mình Chính sự vận dụng lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để phân tích VBTMBT sẽ giúp làm sáng rõ được những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa dân tộc được thể hiện trong diễn ngôn bảo tàng viết bằng tiếng Việt so với diễn ngôn bảo tàng thuộc những nền văn hóa nói tiếng Anh để chuyển dịch chúng từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại một cách hiệu quả Bên cạnh đó, việc vận dụng Ngôn ngữ học chức năng hệ thống còn giúp những người kiến tạo VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh hiểu sâu sắc hơn về cách sử dụng ngôn ngữ hay nghệ thuật diễn đạt trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Như vậy, khi hiểu được “nội hàm” của VBTMBT, chúng ta sẽ phá bỏ được bức tường ngăn cách về ngôn ngữ và văn hóa giữa các dân tộc
Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào ứng dụng Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để phân tích, miêu tả và đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
Tất cả những điều đã trình bày ở trên chính là lí do chủ yếu để chúng tôi lựa
chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản thuyết minh bảo tàng trong tiếng Việt và tiếng Anh từ quan điểm Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
Trang 14(i) Văn bản thuyết minh bảo tàng có những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội nào
để khu biệt chúng với các kiểu văn bản khác?
(ii) Văn bản thuyết minh bảo tàng bằng tiếng Việt và tiếng Anh có những điểm tương đồng và khác biệt gì về sự thể hiện của thức, tình thái, hệ thống ngôi,
hệ thống chuyển tác, quy chiếu và thể loại?
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết của ngôn ngữ học chức năng hệ thống về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, nghĩa liên nhân, hệ thống chuyển tác, hệ thống quy chiếu, thể loại để làm cơ sở triển khai đề tài luận án;
- Phân tích và miêu tả các đặc điểm trong VBTMBT từ cách nhìn của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về các phương diện: thức, tình thái, hệ thống ngôi, hệ thống chuyển tác, hệ thống quy chiếu và thể loại
- Đối chiếu VBTMBT trong hai ngôn ngữ Việt và Anh theo những phương diện nêu trên;
- Trên cơ sở đó, đưa ra kết luận chung về đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp và các mục đích giao tiếp khác nhau được thể hiện trong các VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
4 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đặc điểm ngôn ngữ điển hình của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Văn bản thuyết minh bảo tàng bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã được thu thập
và nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống có bổ sung thêm nội dung
lí thuyết của một số nhà nghiên cứu khác để phân tích Đồng thời luận án cũng lấy nghiên cứu của một số tác giả khác làm khung đối chiếu Do ngữ pháp chức năng hệ thống là một mô hình lí thuyết liên quan tới nhiều nội dung và do khuôn khổ của luận
án, nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những bình diện sau: thức, tình thái, hệ thống ngôi, chuyển tác, quy chiếu và thể loại Nói cách khác, mặc dù luận án
chưa phân tích được các bình diện còn lại của nghĩa kinh nghiệm và nghĩa ngôn bản, nhưng theo chúng tôi, những bình diện đã lựa chọn ở trên cũng đủ đại diện để nhận biết được sự thể hiện của ba loại nghĩa trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 154.3.Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu của luận án là VBTMBT bằng tiếng Việt và tiếng Anh mở rộng Các tài liệu này được thu thập từ sách hướng dẫn tham quan, cuốn thuyết minh nội bộ hoặc những thuyết minh từ trên trang web của các cặp viện bảo tàng sau:
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam – Bảo tàng Quốc gia Anh
- Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam – Bảo tàng Lịch sử Phụ nữ Mỹ
- Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – Bảo tàng Mỹ thuật Boston của Mỹ
Cụ thể là, chúng tôi đã lựa chọn 30 VBTMBT tiếng Việt và 30 VBTMBT tiếng Anh (ở cả Anh và Mỹ) về các loại hình hiện vật (cùng chất liệu) hoặc nhân vật (cùng lĩnh vực) để phân tích Theo chúng tôi,số lượng 30 VBTMBT trong mỗi ngôn ngữ là ngữ liệu đủ đại diện để nghiên cứu vì đã bao gồm tất cả các vấn đề chính trong lĩnh vực bảo tàng.VBTMBT bằng tiếng Anh được lựa chọn ở cả nước Anh và nước Mỹ để bổ sung cho nhau, bởi vì khi thu thập tài liệu nghiên cứu, bảo tàng nước Anh thiếu một số VBTMBT có chủ đề tương ứng hoặc gần tương ứng với những chủ đề trong VBTMBT tiếng Việt Các VBTMBT này lại có ở các bảo tàng tại Mỹ
VBTMBT trong mỗi ngôn ngữ Anh/Việt được sử dụng để nghiên cứu phải đáp ứng một số tiêu chí sau:
(i) Là VBTMBT của cơ quan bảo tàng tiêu biểu ở cấp trung ương;
(ii) Đảm bảo tính cập nhật, thời sự;
(iii) Có độ dài và số lượng cú trong mỗi văn bản tương đương nhau;
(i) Có nội dung viết về cùng một loại chủ đề - cùng loại hình hiện vật (tức có cùng chất liệu) hoặc nhân vật thuộc cùng lĩnh vực
Sở dĩ chúng tôi chọn Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam và Bảo tàng Quốc gia Anh vì đây là nơi đại diện bộ mặt lịch sử, văn hóa của một quốc gia Bên cạnh
đó, Bảo tàng Quốc gia là kho báu vô giá, là bản sắc, là trí tuệ của một dân tộc Tiếp đến, chúng tôi chọn Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Phụ nữ Mỹ vì những lí do sau: Đây là nơi trưng bày và giới thiệu những di sản vật thể và phi vật thể
về lịch sử, văn hóa của phụ nữ Việt Nam và Mỹ Bên cạnh đó, những bảo tàng này còn nghiên cứu và thuyết giải những cống hiến và thành tựu của người phụ nữ trong đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia Cuối cùng, chúng tôi chọn Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Boston của Mỹ Có thể thấy, Bảo tàng Mỹ thuật là nơi lưu giữ các vẻ đẹp trong hội họa và tạo hình điêu khắc Vì đây là Bảo tàng Mỹ thuật nên các bài thuyết minh luôn đem đến cho mọi người cái nhìn đa chiều và phong phú về nghệ thuật Mọi người có thể hiểu một cách sâu sắc và
Trang 16rõ nét về quá trình phát triển của lịch sử Mỹ thuật thông qua các bài thuyết minh về hiện vật được trưng bày
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây:
5.1 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa liên nhân được sử dụng ra sao (cách sử dụng hệ thống thức, tình thái và hệ thống ngôi); hệ tư tưởng đã tạo ra những đặc điểm ngôn ngữ gì (VBTMBT được phân tích theo các kiểu quá trình và được đối chiếu để xem ý nghĩa nội dung được thể hiện như thế nào trong các ngôn bản này trong hai ngôn ngữ); các loại quy chiếu hồi chỉ, khứ chỉ, ngoại chỉ, quy chiếu ngôi, chỉ định và so sánh được phân tích và đối chiếu để xem những yếu tố nào ảnh hưởng tới tần số xuất hiện của từng tiểu loại trong hai loại VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; mục đích và cấu trúc của từng văn bản là gì và thiết lập mối tương đồng và dị biệt giữa các văn bản trong hai ngôn ngữ (phân tích thể loại)
Khung lí thuyết dùng để phân tích diễn ngôn chủ yếu dựa vào lí thuyết của Halliday & Hasan (1976), Halliday & Hasan (1989), Halliday (1994) và các nhà nghiên cứu khác như Martin & White (2005), Martin & Rose (2008), v.v
5.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng trong luận án vì nó “liên quan đến việc tập hợp các thủ pháp được sử dụng để định rõ, phác họa hoặc miêu tả một cách tự nhiên những hiện tượng diễn ra mà không có vận dụng thí nghiệm” (Seilger & Shohany,
1989, tr 124) Phương pháp miêu tả quan tâm đến một số đặc điểm ngôn ngữ (ví dụ: đặc điểm về thức và tình thái, hệ thống ngôi, các quá trình, chu cảnh…) trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Khung lí thuyết dùng để miêu tả chủ yếu dựa vào ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và một số nhà nghiên cứu về ngữ pháp chức năng hệ thống
5.3 Thủ pháp thống kê
Thủ pháp thống kê được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến hoặc tần số xuất hiện của từng loại đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT làm cơ sở cho việc
nhận xét, kết luận khi phân tích diễn ngôn, miêu tả và đối chiếu
5.4 Phương pháp đối chiếu
Phương pháp đối chiếu được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt
về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại VBTMBTbằng tiếng Việt và tiếng Anh trên các bình diện: thức, tình thái, hệ thống ngôi, chuyển tác, quy chiếu và thể loại Khung
lí thuyết dùng để đối chiếu dựa trên các nghiên cứu của James (1980), Lê Quang Thiêm (2008), và Richards (1992)
Trang 176 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình tiếp thu và ứng dụng mô hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại trên thế giới vào phân tích VBTMBT bằng tiếng Việt và tiếng Anh Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên
sâu về diễn ngôn bảo tàng bằng tiếng Việt và tiếng Anh
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án hi vọng sẽ có những đóng góp cho lí luận ngôn ngữ học một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh, những nét tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ giữa hai loại văn bản này Do vậy luận án
đã góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về một thể loại văn bản cụ thể trong tiếng Việt và tiếng Anh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người kiến tạo VBTMBT tiếng Việt
và tiếng Anh hiểu rõ hơn về việc sử dụng ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể để
từ đó có thể soạn thảo ra những VBTMBT có chất lượng cao và hấp dẫn Ngoài ra, việc hiểu biết được quy ước diễn ngôn, cấu trúc ngôn ngữ bề mặt và xa hơn nữa là các giá trị văn hóa được thể hiện trong VBTMBT ở hai ngôn ngữ, sẽ giúp việc chuyển dịch những văn bản này từ tiếng Việt sang tiếng Anh (hoặc ngược lại) một cách hiện quả
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận.Trong
chương 1, luận án giới thiệu tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới và ở Việt Nam, những nghiên cứu liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ trong VBTMBT trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, luận án cũng tập trung trình bày lí thuyết về diễn ngôn, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, phân tích diễn ngôn và thể loại; lí thuyết liên quan tới VBTMBT, phong cách
và thể loại của chúng; lí thuyết về các bình diện của nghĩa liên nhân là thức, tình thái và hệ thống ngôi; một số khái niệm liên quan tới ý nghĩa biểu đạt tư tưởng được thể hiện qua hệ thống chuyển tác; lí thuyết về từ vựng; một số khái niệm liên quan tới siêu chức năng ngôn bản - quy chiếu; và cuối cùng là lí thuyết về phân tích đối chiếu
Chương 2: Đối chiếu sự thể hiện của nghĩa liên nhân trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này, luận án đi sâu phân tích và miêu tả sự thể
Trang 18hiện của nghĩa liên nhân trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh đã chọn khảo sát;
đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai loại văn bản này
Chương 3: Đối chiếu hệ thống chuyển tác trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này, luận án tập trung phân tích và miêu tả hệ thống
chuyển tác trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; đối chiếu các bình diện của hệ thống chuyển tác là các quá trình, chu cảnh, mật độ từ vựng và cấu trúc/dạng chủ động và bị động
Chương 4: Đối chiếu sự thể hiện của hệ thống quy chiếu và thể loại trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này, luận án thực hiện
việc phân tích và miêu tả sự thể hiện của hệ thống quy chiếu và thể loại trong VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh; đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về hệ thống quy chiếu và thể loại giữa hai loại văn bản
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn và Ngôn ngữ học chức năng
hệ thống trên thế giới
1.1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về diễn ngôn trên thế giới
Diễn ngôn đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Châu Âu chú ý từ những năm 50 của thế kỉ XX Công trình nghiên cứu diễn ngôn đầu tiên là của Harris (1952), sau đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu diễn ngôn và phân tích diễn
ngôn như Discourse Structure and Human Knowledge (Cấu trúc diễn ngôn và tri thức loài người) của Chafe (1970), Theme in English Expository Discourse (Chủ đề trong diễn ngôn giải thích tiếng Anh) của Jones (1977), Pragmatics and the Description of Discourse (Ngữ dụng và việc miêu tả diễn ngôn) của Fillmore (1981), Language, Context, and Text (Ngôn ngữ, ngữ cảnh và văn bản) của Halliday & Hasan (1989), Discourse and the Translator (Diễn ngôn và dịch thuật) của Hatim & Mason (1990), Discourse Analysis and Second Language Acquisition (Phân tích diễn ngôn và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai) của Hatch (1992), Discourse Analysis (Phân tích diễn ngôn) của Brown and Yule (1983), Discourse Analysis (Dẫn luận phân tích diễn ngôn) của Nunan (1993), Processes of Discourse (Quá trình của diễn ngôn) của Candlin & Saedi (1993), Cultural Values in Discourse (Các giá trị văn hóa trong diễn ngôn) của Clyne (1994), The Discourse of History
(Diễn ngôn Lịch sử) của Eggins & et al., (1993) Gần đây, các nghiên cứu diễn ngôn có xu hướng kết hợp cả phần lí thuyết với phần ứng dụng hoặc theo cách tiếp
cận văn hóa với diễn ngôn Chẳng hạn, cuốn A Cultural Approach to Discourse
(Cách tiếp cận văn hóa đối với diễn ngôn) của Shi-Su (2005) đã đi sâu nghiên cứu các bình diện như diễn ngôn và sự thật, diễn ngôn và văn hóa, dân tộc học chính trị (political ethnography) và các nghiên cứu thực tiễn khác Trong đó, tác giả Shi-Su cho rằng, diễn ngôn và văn hóa giải thích cho sự thật là “các nghiên cứu về diễn ngôn tiếp tục được quan tâm chú ý với việc tự tạo ra một công việc theo nguyên tắc chéo, liên nguyên tắc, đa nguyên tắc và xuyên nguyên tắc, nhưng không liên quan tới tính đa dạng văn hóa của diễn ngôn loài người (Discourse and culture futher accounts for the fact that discourse studies continues to be preoccupied with making itself a cross-disciplinary, inter-disciplinary, multi-disciplinary, trans- disciplinary enterprise, but not concerned with the cultural diversity of human
discourses) Tiếp theo là công trình nghiên cứu working with discourse (Làm việc
với diễn ngôn) của Martin & Rose (2007) đã tập trung vào việc thuyết giải diễn
Trang 20ngôn xã hội Ngoài ra, các tác giả còn dùng khung lí thuyết chức năng hệ thống để phân tích sự khen ngợi, siêu chức năng tư tưởng, kết từ, việc nhận diện (các tham thể), và những ứng dụng khác liên quan tới việc phân tích diễn ngôn, ngữ vực và thể loại
Như vậy, những công trình nghiên cứu về diễn ngôn ở trên là nền móng vững chắc cho các nghiên cứu sau này Các nhà nghiên cứu được kế thừa và có
điều kiện phát triển lí thuyết của họ để nghiên cứu từng thể loại diễn ngôn cụ thể 1.1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới
Lí thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống được phát triển bởi nhà ngôn ngữ học Michael Halliday, dựa vào những cơ sở lí luận ban đầu của người thầy, cố Giáo sư J.R Firth và một nhóm các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha (dẫn theo Halliday, 1994) Ngữ pháp chức năng hệ thống là một phần của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống, dựa vào khung khái niệm chức năng.Theo Halliday
(1994, tr xiii – xiv), ngữ pháp chức năng có tính chức năng vì:
(i) Nó được thiết kế để giải thích cho việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào Bên cạnh đó, ngữ pháp chức năng còn được cho là ngữ pháp ‘tự nhiên’, với ý nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ đều có thể được giải thích và cuối cùng, bằng cách quy chiếu với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào;
(ii) Các thành phần cơ bản của nghĩa trong ngôn ngữ là thành phần chức
năng Ngữ pháp chức năng hệ thống gồm ba thành tố mang chức năng ngữ nghĩa: (a) Siêu chức năng tư tưởng diễn đạt ‘nội dung’: đó là trải nghiệm của người nói về thế giới thực, bao gồm cả nhận thức bên trong của người nói Chức năng tư tưởng gồm hai tiểu loại: chức năng kinh nghiệm và chức năng logic (b) Siêu chức năng liên nhân liên quan tới việc thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội: để diễn tả các vai xã hội được tạo nên bởi ngôn ngữ (c) Siêu chức năng ngôn bản liên quan tới việc cung cấp các đường dẫn tới ngôn ngữ và các đặc điểm tình huống mà ở đó nó được sử dụng;
(iii) Mỗi thành phần trong ngôn ngữ được giải thích bằng cách quy chiếu tới chức năng của nó trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ Ngữ pháp chức năng hệ thống giải thích tất cả các đơn vị của ngôn ngữ - cú, tiểu cú, v.v như là những hình thể
hữu cơ của các chức năng
Như trên đã đề cập, lí thuyết chức năng hệ thống đã được Halliday sáng lập
và được phát triển bởi nhiều nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống hàng đầu thế
giới như Eggins, Matthiessen, Bloors & Bloors, Thompson, Martin và White, …
Tác giả Matthiessen (1995) cho rằng, ngôn ngữ là một nguồn tài nguyên được tổ chức thành ba tầng bậc khác biệt theo trật tự trừu tượng, đó là: Tầng ngữ
Trang 21nghĩa học được nhận diện bởi tầng ngữ pháp từ vựng và tầng ngữ pháp từ vựng thì được nhận diện bởi tầng âm vị học Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, trừ mối quan hệ giữa tầng âm vị học với tầng ngữ pháp từ vựng, thì mối quan hệ giữa ba tầng trên của ngôn ngữ là mối quan hệ hiện thức hóa Thompson (1996) chỉ ra, trong ngữ pháp chức năng, chúng ta chủ yếu dựa vào những nhãn chức năng, nhưng những nhãn cấu trúc được sử dụng để tìm hiểu chính xác những nghĩa khác nhau được diễn đạt như thế nào Ông đã sử dụng khái niệm quy mô thứ bậc trong ngôn ngữ, gồm cú, nhóm, từ và hình vị để phân tích các ví dụ và đưa ra kết luận là nghĩa của ngôn bản được tạo nên bởi những thành phần trong quy mô thứ bậc này (tr.18- 20) Butt et al (2003, tr 3 & 42) nhận định, ngôn ngữ học chức năng hệ thống là một tập hợp các nguồn ngôn ngữ được dùng để miêu tả, thuyết giải và tạo nghĩa Tác giả cũng cho rằng, quy mô thứ bậc (các đơn vị trong cấu trúc của cú: hình vị, từ, cụm từ, cú, cú phức) cho phép chúng ta xem xét một cách toàn diện và có hệ thống những thành phần của cú được tổ chức như thế nào
Trong nghiên cứu của mình, Eggins (1994, 2004, 2005) đã nhận định, điều làm ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác biệt, đó là “nó tìm kiếm để phát triển một lí thuyết về ngôn ngữ như là một quá trình xã hội và một phương pháp phân tích cho phép miêu tả chi tiết và hệ thống các mẫu ngôn ngữ” (2005, tr 21)
Các tác giả Martin & Rose (2007) đã đề cập bốn lí thuyết về phân tích diễn ngôn như sau: (i) lí thuyết nhận diện, được cho là rơi vào siêu chức năng ngôn bản, liên quan tới “việc quan sát các tham thể - với việc giới thiệu người và vật vào trong một diễn ngôn và quan sát chúng tại đó” (tr 155) Theo các tác giả, có hai chức năng trong ngôn bản liên quan tới việc nhận diện: đưa quy chiếu vào trong ngôn bản và phỏng đoán quy chiếu từ ngôn bản nếu quy chiếu đó có thể được phục hồi; (ii) lí thuyết đánh giá, được cho là nằm trong siêu chức năng liên nhân, đề cập tới “sự đánh giá – thái độ được thương thuyết trong một ngôn bản, những cảm xúc
có liên quan và cách mà ở đó những giá trị được tôn vinh và độc giả được đặt vào
đúng vị trí” (tr.25) Lí thuyết đánh giá gồm ba hệ thống: engagement (hệ thống tham gia), attitude (hệ thống thái độ) và graduation (hệ thống đánh giá theo thang
độ); (iii) lí thuyết về chức năng tư tưởng nói về “trải nghiệm của chúng ta được giải thích như thế nào trong diễn ngôn” (tr.73) Theo các tác giả, có thể nhận biết cách
mà ở đó trải nghiệm được giải thích thông qua các quan hệ phân loại, quan hệ hạt nhân và các chuỗi hoạt động; (iv) lí thuyết kết từ (theory of conjunction) “nghiên cứu mối quan hệ liên kết giữa các quá trình – bổ sung, so sánh, làm thành chuỗi và giải thích chúng” (tr.115) Tiếp đến là nghiên cứu của Martin & White (2005), họ
đã tạo ra khung lí thuyết về ngôn ngữ đánh giá và ứng dụng vào việc phân tích
Trang 22ngôn bản Martin & Rose (2008) đã đề suất các tiểu thể loại phổ biến thường được
sử dụng trong các văn bản và chúng được tóm lược dưới đây:
(i) Thể loại trình bày thường gồm luận điểm, tiếp theo là các tranh luận và
cuối cùng là việc thiếp lập lại luận điểm
(ii) Thể loại thông báo được phân thành ba tiểu loại:
(a) Thể loại thông báo miêu tả được dùng để phân loại và miêu tả một hiện
tượng và vì vậy các giai đoạn của nó hầu hết là việc phân loại, tiếp theo là miêu tả
(b) Thể loại thông báo phân loại sẽ tiểu phân loại các thành viên của một
lớp nói chung Điển hình của thể loại này là các tiêu chí để phân loại
(c) Thể loại thông báo thành phần liên quan đến việc tổ chức – các thành
phần của tổng thể
(iii) Thể loại thuật lại được phân làm bốn loại: thuật lại cá nhân, thuật lại tự
truyện, thuật lại tiểu sử, thuật lại lịch sử
(a) Thuật lại cá nhân liên quan tới thể loại truyện Đặc điểm ngôn ngữ chủ
yếu là chuỗi thời gian, ngôi thứ nhất (và ngôi thứ ba), các tham thể cụ thể
(b) Thuật lại tự truyện liên quan đến câu chuyện về cuộc đời của tôi Đặc điểm
ngôn ngữ chủ yếu là quãng thời gian, ngôi thứ nhất (và ngôi thứ ba) được dùng
(c) Thuật lại tiểu sử là thuật lại câu chuyện về cuộc đời của ai đó Đặc điểm
ngôn ngữ là quãng thời gian: ngôi thứ ba và các tham thể cụ thể khác
(d) Thuật lại lịch sử là sự thiết lập dòng thời gian của việc tường thuật Đặc
điểm ngôn ngữ là quãng thời gian, ngôi thứ ba, các tham thể
(iv) Thể loại giải thích liên quan đến việc giải thích các quá trình diễn ra như thế nào Chúng gợi ra các chuỗi nguyên nhân và kết quả: quá trình x diễn ra, vì vậy quá trình y đưa ra kết quả Kết quả này lần lượt gây ra quá trình z và v.v Các chuỗi
của thể loại giải thích được cấu trúc điển hình bằng một chuỗi các sự kiện, mà ở đó một mối quan hệ nguyên nhân bắt buộc được đưa ra giữa một sự kiện Thể loại giải thích gồm hai phần: hiện tượng và giải thích Các mối quan hệ chuỗi và các liên từ phổ biến trong thể loại giải thích là: nguyên nhân, điều kiện và phương tiện
Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp lớn lao của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống, đặc biệt là Hallliday, trong việc hình thành và phát triển ngữ pháp chức năng hệ thống trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về diễn ngôn (văn bản) và nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống để phân tích ngữ pháp ở Việt Nam
1.1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã có nhiều nhà Việt ngữ học bắt đầu nghiên cứu về lĩnh vực diễn ngôn Một trong những
Trang 23nghiên cứu đầu tiên là của Trần Ngọc Thêm (1985) với nhan đề Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, nghiên cứu này sau đã được tái bản và bổ sung Theo tác giả, “văn bản
là một hệ thống mà những câu tạo nên nó mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu– phần
tử còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan
hệ liên kết của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung
Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên kết ấy” (2013 tr.19) Trần Ngọc Thêm đã phân loại liên kết thành liên kết hình thức và liên kết nội dung Hai mặt liên kết này luôn gắn bó mật thiết với nhau và chúng không thể thiếu trong mỗi văn bản Diệp Quang Ban (2012 tr.147) nhận định, liên kết hình thức của Trần Ngọc Thêm gần trùng khít với khái niệm liên kết của Halliday
Xét trên bình diện nghiên cứu diễn ngôn, luận án tiến sĩ lí luận ngôn ngữ
của Nguyễn Trọng Đàn (1996) có nhan đề Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại
đã xác lập được khái niệm về phân tích diễn ngôn thư tín thương mại và tìm ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt Nghiên cứu cũng khẳng định để tạo lập văn bản, kể cả thư tín thương mại, cần phải
có các phương tiện liên kết như: (i) liên kết hồi chỉ; liên kết khứ chỉ; liên kết logic; các mối quan hệ thay thế, tỉnh lược; các mối quan hệ ngữ pháp Tiếp theo, tác giả
Lê Hùng Tiến (1999) trong luận án tiến sĩ Một số đặc điểm của ngôn ngữ Luật pháp tiếng Việt - Có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Việt – Anh đã lý giải một số nét đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc đề thuyết và sự
đề hóa trong văn bản luật pháp tiếng Việt Nghiên cứu cũng nêu ra sự tương đồng
và khác biệt giữa ngôn ngữ Luật pháp tiếng Việt và tiếng Anh, giúp cho việc nâng cao kỹ năng viết các văn bản luật pháp tiếng Việt và dịch hai chiều những văn bản này một cách khoa học và hiệu quả Tác giả Nguyễn Hòa (1999) trong luận án tiến
sĩ Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại đã xác lập được khái niệm diễn ngôn có căn cứ khoa học và cấu trúc
của diễn ngôn tin chính trị-xã hội tiếng Anh và tiếng Việt Hơn nữa, tác giả cũng nhận định rằng: có sự tác động lớn lao của văn hóa tới ngôn ngữ được sử dụng trong diễn ngôn Kết quả của nghiên cứu có thể giúp cho việc giảng dạy ngôn ngữ,
viết báo và dịch thuật một cách hiệu quả Đặc biệt, cuốn Introducing Discourse Analysis (Dẫn luận phân tích diễn ngôn) của Hoàng Văn Vân (2006) kế thừa khung
phân tích diễn ngôn của Halliday, đã đi sâu nghiên cứu vai trò của phân tích ngữ cảnh, ngữ pháp, liên kết và tiếp cận ngữ dụng trong phân tích diễn ngôn Theo ông,
để hiểu được ngôn ngữ không chỉ xem xét đến bản chất của ngôn bản mà còn phải xem xét đến các quá trình, mà ở đó ngôn bản được tạo ra và diễn giải Và loại ngữ pháp phù hợp với phân tích diễn ngôn là ngữ pháp chức năng hệ thống, vì nó không chỉ
Trang 24liên kết ngữ pháp với ngữ nghĩa mà ngữ pháp và ngữ nghĩa với ngôn cảnh xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra liên kết không chỉ là đặc điểm duy nhất làm nên ngôn bản mà còn nhiều đặc điểm khác cần được nghiên cứu tìm hiểu khi phân tích diễn ngôn” Về cách tiếp cận ngữ dụng, ông đã giới thiệu hai cách tiếp cận chính để phân tích diễn ngôn là lí thuyết hành động lời nói gồm hành động tạo lời, hành động ngôn trung và hành động mượn lời
và nguyên lí cộng tác gồm về lượng, chất, quan yếu và cách thức
Như vậy, những nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam đã góp phần làm sáng
rõ lí thuyết về diễn ngôn và đặc điểm của diễn ngôn trong một số lĩnh vực cụ thể Bên cạnh đó, các công trình này còn giúp chúng ta nhận diện và phân tích diễn ngôn một cách thuận lợi hơn
1.1.2.2 Tổng quan những nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng
hệ thống để phân tích ở Việt Nam
Với chừng mực tư liệu thu được, chúng tôi sẽ tổng quan những nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống để phân tích theo từng lĩnh vực cụ thể
Trong lĩnh vực miêu tả ngữ pháp, công trình nghiên cứu có nhan đề Tiếng Việt: Sơ thảo Ngữ pháp chức năng: Câu trong tiếng Việt của Cao Xuân Hạo (1991)
và sau được tái bản năm (2004) đã giới thiệu tổng quát về ngữ pháp chức năng hệ thống Dựa và khung lí thuyết ngữ pháp chức năng của Dik (1981) và quan sát thực
tế của tiếng Việt tác giả đã nhận định, cấu trúc Đề-Thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu trong tiếng Việt Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng ranh giới để đánh dấu
Đề - Thuyết là các tiểu từ “thì, mà, là” và trong câu có thể có nhiều bậc Đề - Thuyết khác nhau Tiếp theo, có lẽ người đầu tiên ở Việt Nam đi sâu miêu tả ngữ pháp tiếng Việt dựa vào khung lí thuyết chức năng hệ thống là Hoàng Văn Vân
Trong luận án tiến sĩ (1997) có nhan đề: An Experiential Grammar of the Vietnamese Clause: A Functional Description, sau đó được dịch sang tiếng Việt có nhan đề Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Miêu tả theo quan điểm chức năng hệ thống và sau đó là chuyên khảo có nhan đề Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Miêu tả theo quan điểm chức năng hệ thống (2002/2005), và gần đây nhất được cập nhật và bổ sung thành chuyên khảo tiếng Anh với nhan đề An Experiential Grammar of the Vietnamese Clause, Hoàng Văn Vân (2005, 2012) đã công
nhận hệ thống chuyển tác trong tiếng Việt bao gồm sáu kiểu quá trình: (1) quá trình vật chất (quá trình hành động), (2) quá trình hành vi (quá trình tâm sinh lý), (3) quá trình tinh thần (quá trình cảm giác), (4) quá trình phát ngôn (quá trình nói năng), (5) quá trình quan
hệ (quá trình tồn tại, sở hữu và tồn tại ở), và (6) quá trình hiện hữu (quá trình chỉ ra rằng một cái gì đó hay một lực tự nhiên hiện hữu)
Trang 25Trong khi miêu tả các kiểu quá trình trong hệ thống chuyển tác tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (Ibid.) khảo sát và thảo luận (i) các vai diễn tham thể tham gia vào quá trình như Hành thể và các vai diễn Đích thể, Lợi thể, Khách thể (tham gia vào quá trình vật chất), Ứng thể và Hiện tượng (tham gia vào quá trình hành vi), Cảm thể và Hiện tượng (tham gia vào quá trình tinh thần, Phát ngôn thể và một số vai diễn khác như Ngôn thể, Đích ngôn thể, Tiếp ngôn thể (tham gia vào quá trình phát ngôn), Đương thể và Thuộc tính (tham gia vào quá trình quan hệ quy gán/định tính) và Bị đồng nhất thể và Đồng nhất thể (tham gia vào quá trình quan hệ đồng nhất), và Hiện hữu thể (tham gia vào quá trình Hiện hữu); và (ii) các kiểu Chu cảnh đồng hành với quá trình như Chu cảnh phạm vi, Chu cảnh định vị, Chu cảnh phong cách, Chu cảnh nguyên nhân, Chu cảnh đồng hành, Chu cảnh chỉ vấn đề, Chu cảnh chỉ vai diễn, và Chu cảnh chỉ quan điểm (chi tiết, xin xem Hoàng Văn Vân 2005,
2012) Một nghiên cứu khác của Thái Minh Đức (1998) có nhan đề A Systemic Functional Interpretation of Vietnamese Grammar (Thuyết giải ngữ pháp tiếng
Việt theo quan điểm chức năng hệ thống) đã thuyết giải hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ tiếng Việt
Học giả tiếp theo nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt dựa một phần vào khung
lí thuyết chức năng hệ thống phải kể đến là Diệp Quang Ban Trong công trình
nghiên cứu có nhan đề Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban (2005) đề cập tới
nhiều khía cạnh của ngữ pháp tiếng Việt, trong đó ông dành một phần đáng kể để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt lấy cảm hứng từ lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday; đó là, Cú pháp và nghĩa biểu hiện của câu (trang 52-191), Câu với tư cách lời trao đổi (tr 209-255), Câu với tư cách thông điệp (tr 259-276) Mặc dù về
cơ bản công trình của Diệp Quang Ban vẫn mang nặng cách tiếp cận của ngữ pháp truyền thống, nhưng phần miêu tả của ông lấy cảm hứng từ lí thuyết chức năng hệ thống là những điểm đáng lưu ý, góp phần làm sáng tỏ khả năng ứng dụng của lí thuyết chức năng hệ thống vào việc miêu tả một ngôn ngữ khác với tiếng Anh
Trong luận án tiến sĩ ngữ văn của Lê Thị Lan Anh (2006) về Sự tình quan
hệ và câu quan hệ tiếng Việt, tác giả đã tập trung nghiên cứu câu quan hệ tiếng
Việt trên ba bình diện, đó là ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, dựa vào khung lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống Kết quả nghiên cứu của luận án đã rút ra sáu kết luận sơ bộ sau: (i) Sự tình quan hệ nhất thiết phải có hai tham thể và hai tham thể này luôn nằm trong một tương quan ngữ nghĩa nhất định; (ii) Trong sự tình quan hệ, quan hệ có thể được đánh dấu nhưng có thể không được đánh dấu mà chỉ được nhận biết thông qua tương quan ngữ nghĩa giữa hai tham thể trong sự tình;
Trang 26(iii) Ngoài tiêu chí kiểu quan hệ, thì tiêu chí phương thức quan hệ trong quá trình phân loại sự tình quan hệ và câu biểu hiện sự tình quan hệ là cần thiết; (iv) Câu quan hệ là câu phản ánh sự liên quan, mối quan hệ nào đó giữa vật, việc, hiện tượng, nêu ở chủ ngữ với vật, việc, hiện tượng khác nêu ở bổ ngữ; (v) Ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng trong câu quan hệ có sự phân giới nhưng mặt khác lại có mối quan hệ qua lại với nhau; (vi) Khi nghiên cứu vấn đề câu và các vấn đề ngữ pháp nói chung cần phải nghiên cứu chúng trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Công trình tiếp theo được tổng quan ở đây là của học giả Nguyễn Văn Hiệp Khác với cách tiếp cận ngữ pháp của Diệp Quang Ban, cách tiếp cận ngữ pháp của Nguyễn Văn Hiệp mặc dù không tuyên bố đi theo khung lí thuyết chức năng hệ thống nhưng có một số điểm gần hoặc thiện cảm với ngữ pháp chức năng hệ thống Trong
công trình nghiên cứu có nhan đề Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp của Nguyễn
Văn Hiệp (2012), tác giả đã làm rõ sự phân loại các kiểu sự tình của Halliday,đó là: chúng không phải là vị từ trung tâm như một số nghiên cứu đã đưa ra mà là sự phân loại cho cả sự tình nói chung Vì “sự thay đổi ở các vai nghĩa sẽ dẫn đến sự thay đổi sự tình” (Dik, 1989 tr 90, dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr.67)
Trong lĩnh vực đối chiếu một số bình diện ngữ pháp, người đầu tiên phải kể đến có lẽ là Đỗ Tuấn Minh Trong luận án tiến sĩ viết bằng tiếng Anh có nhan đề
Thematic Structure in English and Vietnamese: A Comparison Study from the Systematic Functional Perspective (Cấu trúc Đề-Thuyết trong tiếng Anh và tiếng
Việt: Nghiên cứu đối chiếu theo mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống), Đỗ Tuấn Minh (2007) đã thực hiện đối chiếu cấu trúc đề-thuyết trong tiếng Anh và tiếng Việt từ một số góc độ khác nhau Lấy tiếng Anh là ngôn ngữ nền và tiếng Việt làm ngôn ngữ để đối chiếu, Đỗ Tuấn Minh (Ibid.) đối chiếu cấu trúc Đề ngữ
trong tiếng Anh và tiếng Việt trong cú tuyên bố (declarative clauses) bao gồm các kiểu Đề ngữ là Chủ ngữ (Theme/Subject), các kiểu Đề ngữ là Bổ ngữ (Theme/Complement) và các kiểu Đề ngữ là Phụ ngữ (Theme/Adjunct), và trong các cú không thuộc phạm trù tuyên bố, bao gồm cấu trúc Đề ngữ trong các cú nghi vấn (interrogative clauses), cấu trúc Đề ngữ trong các cú cầu khiến (imperative
Trang 27clauses), cấu trúc Đề ngữ trong các cú cảm thán (exclamative clauses) và cấu trúc
Đề ngữ trong các trường hợp đặc biệt
Tác giả thứ hai thực hiện so sánh ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt là Nguyễn Thị Minh Tâm (2013) Trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ Anh nhan đề
Logico-Semantic Relationship in English and Vietnamese Clause Complexes (Đối
chiếu mối quan hệ Logic – Ngữ nghĩa trong tổ hợp cú tiếng Anh và tiếng Việt), Nguyễn Thị Minh Tâm đã dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday (1994) để chi tiết và cụ thể hoá hai hệ thống phóng chiếu và mở rộng trong các cú phức tiếng Anh Trên cơ sở đối chiếu hai hệ thống này, tác giả đã nhận diện được các hình thức hiện thực hoá hai hệ thống phóng chiếu và mở rộng
và hoạt động của chúng trong cú phức tiếng Việt Theo đó, cú phóng chiếu có hai chức năng cơ bản: (i) chỉ ra các cú khác là lời nói hoặc ý tưởng được phóng chiếu
và (ii) bổ sung thêm thông tin ngôn cảnh vào nội dung của lời nói hoặc ý tưởng được phóng chiếu Các quá trình phóng chiếu được nhận biết thông qua động từ nói năng (sự tình), động từ tri nhận (được sử dụng trong trích dẫn và thông báo), động từ hành vi và những tính từ diễn tả cách thức của lời nói Chức năng của cú
mở rộng gồm đồng vị ngữ, những từ đi kèm theo hoặc một thuộc tính của các đặc điểm chu cảnh của cú được mở rộng Nghiên cứu cũng nêu ra sự tương đồng và khác biệt giữa việc nhận diện và hoạt động của mối quan hệ logic-ngữ nghĩa trong
cú phức tiếng Anh và tiếng Việt
Luận án tiến sĩ lí luận ngôn ngữ của Nguyễn Thị Thanh Hương (2003) nhan
đề Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt đã phân
tích đối chiếu một cách toàn diện và hệ thống các chức năng ngôn ngữ trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt từ quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống Nghiên cứu đã tìm ra sự tương đồng và khác biệt về sự thể hiện của ba siêu chức năng ngôn ngữ trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, luận án đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và dịch thuật loại ngôn bản này Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu phân tích ý nghĩa của tình thái trong từng tình huống ngôn ngữ khác nhau trong báo in tiếng Anh và tiếng Việt
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ Anh của Tôn Nữ Mỹ Nhật (2005) nhan đề A Discourse Analysis of Travel Advertisements in English and Vietnamese (Phân tích
Trang 28diễn ngôn quảng cáo du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt) đã chỉ ra được những đặc điểm ngôn bản và ngữ pháp, từ vựng nổi bật của quảng cáo du lịch tiếng Anh, tiếng Việt và quảng cáo du lịch viết bằng tiếng Anh tại các điểm du lịch ở Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra được sự tương đồng và khác biệt trong những diễn ngôn quảng cáo du lịch nói trên Luận án đã đóng góp vào lĩnh vực phân tích thể loại, phân tích diễn ngôn từ quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống, giúp cho việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành du lịch, đặc biệt dạy viết diễn ngôn quảng cáo du lịch ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Kim Phương (2012), trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ Anh nhan đề
An Investigation into the Structure and Meaning of Geological Textbooks as a Genre
in English and Vietnamese (Nghiên cứu cấu trúc và ngữ nghĩa của các giáo trình địa
chất như một thể loại trong tiếng Anh và tiếng Việt) đã nêu lên đường hướng phân tích giáo trình tiếng Anh chuyên ngành như một thể loại Nghiên cứu cũng chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại giáo trình Địa chất tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng của ngôn ngữ học chức năng hệ thống Kết quả của nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc viết giáo trình Địa chất tiếng Anh và tiếng Việt, dạy tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ hai và đặc biệt là dạy tiếng Anh chuyên ngành
Như vậy, những nghiên cứu dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống để miêu tả ngữ pháp và đối chiếu một số bình diện ngữ pháp như đã đề cập ở trên là những công trình nghiên cứu hữu ích, giúp chỉ ra những cấu trúc ngữ pháp đặc thù trong từng ngôn ngữ và những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ trong một số lĩnh vực cụ thể giữa tiếng Anh và tiếng Việt Tuy vậy, vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT tiếng Việt và tiếng Anh
1.1.3 Tổng quan những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1 Những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh bảo tàng trên thế giới
Nhà ngôn ngữ học Ravelli (2006) đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và đưa ra một bộ khung lí thuyết để tìm hiểu tính phức tạp của giao tiếp trong bảo tàng Nghiên cứu đi sâu phân tích phong cách và thể loại của VBTMBT ở Úc,
Trang 29London và nhận định rằng, những văn bản này “có khuynh hướng tiêu biểu trong một phạm vi đâu đó giữa phong cách viết trang nghiêm và ở một khía cạnh nào đó theo phong cách hội thoại nhưng rất xa với phong cách hội thoại thân mật” (tr 83)
Tác giả dẫn quan điểm của Bãnos (1995) cho rằng, những văn bản quá quen thuộc
có thể ‘gây bực mình’ và việc làm ngắn khoảng cách giữa bảo tàng và khách tham quan có thể tạo ra một sự không thoải mái.Ngoài ra, bà cũng đưa ra những đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong VBTMBT như sau: mật độ thực từ cao, sử dụng nhiều danh hóa, cụm danh từ phức, dạng ngữ pháp gồm cả dạng chủ động và bị động, tình thái và sự đánh giá cũng xuất hiện trong các văn bản này Tiếp theo,
cuốn sách Meaning and Messages (Nghĩa và Thông điệp) của Ferguson & et al
(1995) đã tập trung trình bày nghĩa và thông điệp trong VBTMBT Trong phần đầu của nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra những nhận định về các thức hay phong cách của VBTMBT, đặc trưng ngôn ngữ được tạo dựng hay các yếu tố ảnh hưởng đến VBTMBT Trong phần tổ chức viết VBTMBT, những vấn đề như chức năng của VBTMBT, Đề -Thuyết, việc sử dụng chủ động hay bị động và chức năng của quy chiếu đã được nêu lên Cuối cùng là những vấn đề liên quan đến việc lựa chọn từ ngữ, sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, danh hóa, thuật ngữ và thể loại Như vậy, mặc dù nghiên cứu của Ravelli đã cung cấp cơ sở lí thuyết và những minh họa hữu ích cho việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT, nhưng nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những nhận định và định nghĩa về những vấn đề liên quan tới việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ trong VBTMBT mà chưa đi sâu phân tích, đối chiếu với đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBT trong ngôn ngữ khác Purser (2000) đã nghiên cứu VBTMBT ở bảo tàng về các nền văn hóa bản địa tại Berlin-Dahlem (Những văn bản này đã được dịch sang tiếng Anh) Kết quả nghiên cứu chỉ ra, VBTMBT ở đây có phong cách viết mang tính hàn lâm rất cao
Cụ thể, lượng thực từ mang văn phong trang trọng và rất dày đặc, gồm rất nhiều từ nội dung trong một mệnh đề (danh từ, tính từ, động từ, trạng từ) Thêm vào đó, vì theo phong cách hàn lâm nên các cú có khuynh hướng liên kết đơn giản với nhau (việc sử dụng cú phụ thuộc và phóng chiếu là rất hiếm) Nghiên cứu này cũng thống nhất với kết quả nghiên cứu của Ravelli (2006) về mật độ thực từ cao và phong cách
viết theo văn phong trang trọng là không phù hợp Cuốn The Engaging Museum (Sự
Trang 30hấp dẫn của Bảo tàng) của tác giả Black (2005) đã đề cập tới việc sử dụng thuyết giải để phát triển bộ sưu tập bảo tàng và các dịch vụ liên quan Trong đó, tác giả đã dẫn quan điểm của Alexander (1979) về năm yếu tố cơ bản để tạo nên một thuyết giải có chất lượng tốt Chúng được tóm lược như sau:
- Thuyết giải là cố gắng truyền đạt những sự thật nhất định, giải thích ý nghĩa và đem lại sự hiểu biết Vì vậy, nó có một mục đích giáo dục nghiêm túc
- Thuyết giải được dựa vào những hiện vật gốc, cho dù những hiện vật này sống động hay không sống động; tự nhiên hay do con người tạo nên; có giá trị thẩm mĩ, lịch sử hay khoa học
- Thuyết giải phải được chứng minh bằng nghiên cứu khoa học hoặc lịch sử
có căn cứ mà đi sâu tìm hiểu hiện vật bảo tàng, xem xét các chương trình, phân tích khách tham quan/độc giả của bảo tàng và đánh giá các phương thức thuyết giải để đảm bảo việc giao tiếp được hiệu quả hơn
- Thuyết giải sẽ phải tận dụng, bất kì ở đâu có thể, sự nhận thức về các giác quan – thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và giác quan cơ động học
- Thuyết giải là sự giáo dục không phụ thuộc vào văn phong, vì vậy không
bị sa lầy vào các nguyên tắc lớp học Việc giáo dục này là tự nguyện và chỉ phụ thuộc vào sở thích của người xem
Đi sâu nghiên cứu nhãn chú thích hiện vật – một phần tài liệu trưng bày
trong bảo tàng, công trình Exhibit Labels (Nhãn chú thích hiện vật) của Serrel
(1996) đã cung cấp cơ sở lý thuyết hữu ích về nghệ thuật viết nhãn chú thích cho các đối tượng độc giả khác nhau Theo tác giả, nhãn chú thích hiện vật giao tiếp với khách tham quan theo cách lôi cuốn, không theo kiểu thuyết giáo hay mô phạm nhưng không viết đơn giản Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng việc sử dụng từ vựng cũng nên phù hợp với mọi độ tuổi Leftridge (2006) – tác giả của nhiều bài viết giới
thiệu hiện vật bảo tàng, trong cuốn sách Interpretive writing (Viết diễn giải) đã nhận
định, phong cách viết diễn giải là tổng hợp của các phong cách khác nhau như viết
theo phong cách khoa học, phong cách lịch sử, phong cách kĩ thuật, phong cách thúc
đẩy quảng cáo, phong cách báo chí, phong cách thông tin, phong cách sáng tạo dựa vào từng chủ đề Theo tác giả, cho dù những phong cách này được sử dụng đan xen như thế nào thì thông điệp cuối cùng phải hướng đến mục đích và nhận được sự
Trang 31phản hồi từ độc giả Ngoài ra, tác giả cũng nhận định những bài viết ngắn không có nghĩa là làm đơn giản hóa chúng mà phải chọn từ và cú pháp phù hợp để có được tác động tốt nhất Như vậy, các tác giả trên đều nhận định, ngôn ngữ trong VBTMBT phải có độ chính xác cao, không sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng cũng không quá hàn lâm vì khách tham quan đa dạng về độ tuổi và trình độ nhận thức Ngoài ra, mật độ thực từ cũng không nên quá dày đặc để phù hợp với mọi lứa tuổi độc giả
Cuốn Museum Languages: Objects and Texts (Ngôn ngữ bảo tàng: Hiện vật
và những bài thuyết giải hiện vật) được biên tập bởi Kavanagh (1991) là tập hợp những nghiên cứu về lĩnh vực bảo tàng Trong đó, nghiên cứu với nhan đề Making sense of exhibits (Tạo nghĩa cho bộ sưu tập) đã chỉ ra, khoảng 65% du khách đến
bảo tàng hy vọng được tiếp cận với việc giao tiếp thỏa đáng từ bộ sưu tập được trưng bày trong bảo tàng Và rằng, cần phải đặc biệt chú ý tới việc lựa chọn ngôn
từ vì chúng sẽ được sử dụng để giao tiếp trong bảo tàng khi những người thuyết
giải (thuyết minh) không có mặt ở đó Tiếp đến là nghiên cứu với nhan đề A new communication model for museum (Một mẫu giao tiếp mới đối với lĩnh vực bảo tàng) Theo đó, việc nghiên cứu nghĩa trong bối cảnh văn hóa đã được thực hiện
theo một phạm vi rộng của ngôn ngữ ‘kí hiệu học’ Kí hiệu học được định nghĩa là
“một học thuyết của lí thuyết chung về tín hiệu , liên quan tới ý nghĩa và thông
điệp dưới mọi hình thức và ngữ cảnh của chúng” Nghiên cứu tiếp theo có tên How language means: an alternative view of museums texts (Ngôn ngữ có ý nghĩa như
thế nào: một cái nhìn mới đối với văn bản thuyết minh bảo tàng) đã đi sâu tìm hiểu việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào trong nhãn chú thích hiện vật, bảng thông tin, sách hướng dẫn, bảng mục lục để chuyển tải ý nghĩa
Như vậy, những công trình nghiên cứu liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ trong VBTMBT là cơ sở lí thuyết hữu ích, góp phần làm sáng rõ khuynh hướng và phong cách giao tiếp trong VBTMBT Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu có thể dựa vào những nghiên cứu trên để phân tích đặc điểm ngôn ngữ của từng loại VBTMBT và đưa ra kết luận khoa học về đặc điểm của chúng
Trang 321.1.3.2 Những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản thuyết minh bảo tàng ở Việt Nam
Mạng lưới bảo tàng ở Việt nam rất phát triển và là một trong những thành tựu văn hóa quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam Có rất nhiều hoạt động chuyên môn được tổ chức trong bảo tàng và hàng trăm cuốn sách, ấn phẩm đã được viết để giới thiệu, quảng bá về bảo tàng và các tài liệu thuyết giải về hiện vật/nhân vật trong bảo tàng dưới góc độ văn hóa Tuy nhiên, những nghiên cứu về khoa học ngôn ngữ của VBTMBT vẫn còn bỏ ngỏ Theo Hội nghị thường niên của ICOFOM tại Thụy Sĩ năm 1991, ngôn ngữ trưng bày là “phương pháp và con đường
để tiến hành giao lưu giữa cán bộ bảo tàng và công chúng của bảo tàng” và “ngôn ngữ trưng bày là phương tiện vô cùng đặc sắc để bảo tàng truyền đạt thông tin” (Vương Hoàng Quân, 2001, tr 341) Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ của các VBTMBT
Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ Anh nhan đề A Study on the Vietnamese-English Translation of Exhibit Labels in the Vietnam Museum of Ethinographic (Nghiên
cứu cách dịch Việt-Anh các phụ đề hiện vật tại bảo tàng Dân tộc học) của Nguyễn Thị Nhàn (2005) mới chỉ tập trung nghiên cứu một số chiến lược dịch thuật phổ biến được sử dụng trong các phụ đề hiện vật ở bảo tàng Dân tộc học, đó là: dịch thuật sử dụng những từ vay mượn, dịch thuật sử dụng những từ khái quát hay còn gọi là thiếu thượng danh (translation by a more general word), dịch thuật bằng cách tìm thuật ngữ thay thế tương ứng trong nền văn hóa đích (translation by cutural substitution), dịch thuật bằng cách tóm tắt và sử dụng những từ liên quan, dịch lược bỏ (translation by omission) Ngoài ra, tác giả còn nêu các bước được sử dụng trong việc dịch thuật các phụ đề trong bảo tàng Dân tộc học như: dịch vay mượn, dịch sát nghĩa, dịch chuyển đổi vị trí, dịch điều chỉnh (modulation), dịch phóng tác (adaptation), dịch miêu tả tương đương Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng, những người chuyển dịch trong bảo tàng Dân tộc học gặp một số vấn đề như sự không tương đương trong dịch thuật, kiến thức về văn hóa tộc người
Bên cạnh đó, còn có một số ít những bài nghiên cứu khoa học đề cập tới phong cách viết VBTMBT như của Dương Thị Hằng (2012) Đó là: “phần nội dung phải được viết cô đọng, mang tính thông tin; mang tính định lượng; càng cụ
Trang 33thể càng tốt (…) Thông tin trong bài viết phải được chọn lọc và được viết dưới dạng tổng hợp” Về văn phong, “phải được viết đơn giản bằng ngôn ngữ thông dụng, ngôn ngữ của cuộc sống đương đại, tránh dùng lời bình, (…)
Như vậy, những kết quả của các công trình nghiên cứu trên có thể được xem
là một trong những nguồn cung cấp cơ sở lí thuyết trong việc triển khai nghiên cứu những đề tài liên quan đến đặc điểm diễn ngôn trong VBTMBT
1.2 Cơ sở lí luận
Ngôn ngữ học chức năng hệ thống là một khuynh hướng mới, đang được lan tỏa rộng rãi trong giới ngôn ngữ học thế giới (Robins, 2012) và cả ở Việt Nam Không giống như ngữ pháp truyền thống, Ngữ pháp chức năng hệ thống cho phép phân tích ngôn ngữ với quy mô rộng và sâu hơn Cụ thể, ngôn ngữ được nghiên cứu dưới dạng ngữ cảnh (ngữ cảnh hóa và ngữ cảnh tình huống), ngữ nghĩa, từ vựng, ngữ pháp và âm vị học Theo Halliday (1994), để trả lời cho các câu hỏi (i)
‘Tại sao ngôn bản lại có nghĩa như vậy?’ (đối với tôi hoặc đối với một người nào khác) (ii) ‘Ngôn ngữ được sử dụng cho mục đích gì?’ (iii) ‘Các chức năng của ngôn ngữ là gì?’, chúng ta cần có một khung lí thuyết không chỉ miêu tả hình thức
mà còn về chức năng - chức năng của đơn vị cú pháp: tham thể, quá trình, chu cảnh; chức năng của hành động lời nói; chức năng của ngôn bản (thể loại): thông báo, diễn giải, chỉ dẫn, thủ tục, trình bày,v.v
Như vậy, với những đặc điểm đã nêu trên, có thể nói Ngữ pháp chức năng
hệ thống là khung lí thuyết phù hợp nhất được luận án sử dụng để phân tích những đặc điểm ngôn ngữ của VBTMBTtrong tiếng Việt và tiếng Anh Theo đó, luận án chỉ tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa, từ vựng, ngữ pháp trong VBTMBT trong tiếng Việt và tiếng Anh Bình diện âm vị học thường liên quan tới ngôn ngữ nói nên sẽ được thực hiện trong nghiên cứu khác
Luận án nghiên cứu Đặc điểm ngôn ngữ của các VBTMBT trong tiếng Việt
và tiếng Anh từ quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống, nên chúng tôi sẽ dựa
trên cơ sở lí thuyết của các công trình nghiên cứu đi trước liên quan tới phân tích diễn ngôn và Ngữ pháp chức năng hệ thống Những công trình nghiên cứu này gồm các ấn phẩm đã được xuất bản, các chuyên khảo và bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành trên thế giới và ở Việt Nam của các học giả như: Halliday (1985, 1994,
Trang 341998, 1996, 1989, 2012), Halliday & Hasan (1976, 1989), Halliday & Martin (1993), Eggins (2004), Martin & Rose (2008) và nhiều học giả khác nghiên cứu diễn ngôn theo
lí thuyết chức năng hệ thống Ngoài những cơ sở lí thuyết cơ bản của các nhà khoa học khác, luận án sử dụng Ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday làm khung lí thuyết chính để phân tích đặc điểm ngôn ngữ của các VBTMBT trong tiếng Việt và tiếng Anh
1.2.1 Lí thuyết về diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết, phân tích diễn ngôn và thể loại
1.2.1.1 Diễn ngôn (văn bản)
Có hai quan điểm được đưa ra xung quanh các thuật ngữ “diễn ngôn” và
“văn bản” Một số nhà ngôn ngữ học cho rằng có sự đối lập giữa “diễn ngôn” và
“văn bản” Điển hình trong số đó là Cook (dẫn theo Nunan, 1993), tác giả cho rằng
diễn ngôn là các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích Trái lại, văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình
thức, nằm ngoài ngữ cảnh Crystal (1992) có cùng quan điểm trên và cho rằng, văn bản nên được sử dụng cho ngôn ngữ viết và diễn ngôn thì sử dụng cho ngôn ngữ nói Khái niệm về văn bản đã được Brown & Yule (1983) cho rằng, văn bản là sự thể hiện ngôn ngữ từ một hành động giao tiếp, và có chỗ các tác giả này lại nhận định văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn Trong khi đó, Halliday và Hasan (1976,
tr 1-2) đã thống hợp hai thuật ngữ này và cho rằng, “Văn bản có thể là bất kì đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh”
Và “văn bản là một đơn vị ngữ nghĩa: một đơn vị không phải về hình thức mà về ngữ nghĩa” Ở Việt Nam, Nguyễn Hòa (1999) và đặc biệt là Hoàng Văn Vân (2006) đi theo quan điểm trên của Halliday và Hasan Hoàng Văn Vân (Ibid.) nhận định, “… ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng; điều này có nghĩa là không một ngôn bản nào diễn ra (nghĩa là, được nói ra hay viết ra) mà không có ngữ cảnh” Như vậy, rất khó để phân biệt ranh giới giữa văn bản và diễn ngôn bởi trong diễn ngôn có văn bản và trong văn bản có diễn ngôn Do vậy, trong luận án, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” thay thế cho nhau
1.2.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Như đã biết, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, là hai phong cách của một ngôn ngữ, đóng một vai trò quan trọng trong việc giao tiếp của con người Chúng
Trang 35góp phần làm đa dạng phong cách và thể loại giao tiếp Theo Kramsch (1998, tr 39), “ngôn ngữ nói có cấu trúc ngữ pháp lỏng lẻo và mật độ từ vựng mỏng Nó được đặc trưng hóa bởi những bắt đầu chưa hoàn chỉnh, chỗ ngắt nghỉ được lấp đầy hoặc không được lấp đầy, sự lưỡng lự, những nhận xét mở ngoặc đơn, những câu chưa hoàn chỉnh Trong khi đó, ngôn ngữ viết có lượng ngữ pháp và từ vựng dày đặc hơn Hơn nữa, người viết ngôn ngữ viết có thời gian để gói nhiều thông tin trong một mệnh đề và sử dụng tất cả các nguồn cú pháp phức tạp” Ravelli (2006) cho rằng, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết được xem là hai phương thức (Mode) khác nhau Các phương thức khác nhau này được phân biệt theo hai chiều kích của ngữ cảnh tình huống mà ở đó ngôn ngữ được tạo ra Theo Martin (2000; dẫn theo Ravelli, 2006, tr 50-51), chiều kích thứ nhất là tần số giao thiệp và thông tin phản hồi xuất hiện giữa người tạo ra và người nhận văn bản Chiều kích thứ hai của ngôn cảnh tình huống để phân biệt những văn bản cùng với một chuỗi liên tục của cách thức đó là vai trò của ngôn ngữ trong ngôn cảnh tình huống Đó là mục đích hoặc chức năng của ngôn ngữ cùng với các quá trình xã hội
Liên quan tới tính phức tạp giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, Ravelli (2006) cho rằng, ngôn ngữ nói gắn với tình huống, một mẫu hành động, với cơ hội thông tin phản hồi và tương tác cao.Trong khi đó, một trong những chức năng chính của ngôn ngữ viết là giao tiếp vượt không gian và thời gian và vì vậy độc lập với ngôn cảnh tình huống Ngôn ngữ viết về bản chất là tĩnh, đóng và được tổ chức một cách tường minh
Tóm lại, mỗi phương thức ngôn ngữ đều có vai trò và chức năng nhất định với những đặc điểm riêng biệt của nó Tuy nhiên, trong bối cảnh bảo tàng, muốn hiểu được ý nghĩa và giá trị lịch sử của hiện vật một cách đầy đủ, “dài hạn”, khách tham/độc giả quan cần có tư liệu chi tiết để hiểu tường minh các đặc điểm của hiện vật/nhân vật Do vậy, việc lựa chọn VBTMBT dưới dạng viết để phân tích sẽ là rõ nét và thỏa đáng hơn cả
1.2.1.3 Phân tích diễn ngôn
Yule (1996) chỉ ra, người sử dụng ngôn ngữ mà có thể giải thuyết được những điều họ đọc, hiểu được những điều người nói hàm ý và tham gia thành công vào hoạt động phức tạp thì được gọi là hội thoại Và như vậy, chúng ta đang thực
Trang 36hiện cái được biết đến là phân tích diễn ngôn Theo McCathay (1991, tr 5), phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh mà ở đó ngôn ngữ được sử dụng Trong khi đó, Brown và Yule (1983, tr 26) cho rằng, phân tích diễn ngôn là phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa và dụng học
“Người thực hiện phân tích diễn ngôn sẽ xử lí dữ liệu như là thông tin được ghi lại của một quá trình năng động mà ở đó ngôn ngữ được sử dụng như là một công cụ giao tiếp trong ngữ cảnh bởi người nói/viết để thể hiện nghĩa và đạt được những dự định” (tr xxii) Halliday (1994) đưa ra nhận định bao quát hơn, phân tích diễn ngôn phải được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ Đồng thời, lí do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng rõ diễn ngôn – điều người ta nói và viết, nghe và đọc
Diễn ngôn được coi là đối tượng của phân tích diễn ngôn nên việc nghiên cứu diễn ngôn cũng rất quan trọng và có ý nghĩa vì một diễn ngôn bảo tàng có chất lượng sẽ xây dựng được hình ảnh tốt đẹp với bạn bè thế giới Clyne (1994, tr 214) viết: “Nhiệm
vụ xác định đặc điểm diễn ngôn thông qua các ngôn ngữ và nền văn hóa là một công việc rất thú vị nhưng cực kì khó khăn Nếu được thực hiện với một tinh thần thích hợp, thì có thể mang lại chìa khóa cho sự hiểu biết quốc tế và giữa các nền văn hóa”
Như vậy, việc phân tích diễn ngôn giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ có cái nhìn thấu đáo hơn đối với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào trong từng tình huống ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ còn nhận biết được các mẫu cấu trúc được sử dụng trong từng cú trong các diễn ngôn ở những nền văn hóa khác nhau
1.2.1.4 Thể loại
Theo Thompson (1996, tr 36), thể loại có thể hiểu đơn giản như là ngữ vực nhưng có thêm mục đích (Genre, in very simple terms, can be seen register plus purpose) Thể loại gồm các ý tưởng bao quát hơn về việc những người tham gia tương tác đang làm gì thông qua ngôn ngữ Và họ tổ chức sự kiện ngôn ngữ như thế nào để đạt được mục đích đó Biber & Conrad (2009, tr 2) cũng có chung quan điểm trên, nhưng hai tác giả này đã bổ sung thêm một khía cạnh về phân tích ngôn ngữ của thể loại Đó là “tập trung vào những cấu trúc dựa trên tập tục được sử dụng để tạo dựng một ngôn bản hoàn chỉnh với sự đa dạng ” Thực tế, có nhiều
Trang 37trường phái và quan điểm khác nhau về thể loại Tuy nhiên, chỉ có hai trường phái phổ biến, đó là: trường phái Ngôn ngữ học chức năng hệ thống và trường phái Tiếng Anh cho mục đích chuyên ngành Mỗi trường phái đều có những góc nhìn riêng về thể loại
Trường phái Ngôn ngữ học chức năng hệ thống được biết đến trong những
năm 1980 ở Sydney Đại diện của trường phái này là Jim Martin, ông cho rằng,
“thể loại là một quy trình xã hội có mục đích và được phân đoạn” (Martin 1997b, 2000s, 2001c) (dẫn theo Martin & White, 2005, tr 32) Sau này, Martin & White
(2005, tr 32) đã giải thích rõ hơn về bản chất của thể loại Theo họ, xã hội là vì chúng ta tham gia vào thể loại với những người khác; mục đích là vì chúng ta sử
dụng thể loại để thực hiện những điều chúng ta muốn và cảm thấy không vui khi
không thực hiện được ; theo từng phân đoạn vì nó thường xuyên đòi hỏi chúng ta
phải trải qua các giai đoạn để đạt được mục đích của chúng ta Hình cầu dưới đây
được ngữ cảnh hóa bởi thể loại:
Genre: Thể loại; Field: Trường; Mode: Phương thức; Tenor: Không khí; Ideational: (Nghĩa) tư tưởng; Interpersonal: (Nghĩa) liên nhân; Textual: (Nghĩa) ngôn bản
Hình 1.1 Ngữ vực được ngữ cảnh hóa bởi thể loại
(Nguồn Martin & White, 2005, tr 32)
Trường phái Tiếng Anh cho mục đích chuyên ngành: những người được biết
đến ở trường phái này là John Swales và Vijay Bhatia Swales (1990b, tr 58) nhận định, “thể loại bao gồm một lớp các sự kiện giao tiếp, mà các thành viên trong những sự kiện này cùng chia sẻ các mục đích giao tiếp” Bhatia (1993, tr 13) đã thừa kế công trình của Swales (1990b) và định nghĩa thể loại như sau:
Thể loại là một sự kiện giao tiếp được đặc trưng hóa bởi những mục đích giao tiếp khác nhau và được nhận diện, hiểu được bởi những thành viên của cộng đồng chuyên môn hoặc hàn lâm mà ở đó nó thường xuyên diễn ra Thường thì thể loại được cấu trúc và quy ước hóa trong phạm vi giá trị mục đích sử dụng,
vị trí, mẫu và chức năng Những giá trị này, tuy nhiên, lại thường được khai
Trang 38thác bởi những chuyên gia trong cộng đồng diễn ngôn để đạt được những mục đích riêng trong khung mục đích đã được xã hội thừa nhận
(Bhatia, 1993, tr 13)
Như vậy, mỗi trường phái trên ít nhiều cũng đưa ra được những đặc tính riêng của thể loại Tuy nhiên, trường phái Ngôn ngữ học chức năng hệ thống và trường phái Tiếng Anh cho mục đích chuyên ngành đều coi mục đích giao tiếp là yếu tố trung tâm cốt lõi Từ mục đích giao tiếp ta có thể nhận ra một thể loại cụ thể với những bước thoại khác nhau và đặc điểm ngôn ngữ riêng biệt
Tóm lại, trong những nền văn hóa khác nhau, cấu trúc thể loại của các văn bản là khác nhau, và tùy vào mục đích giao tiếp của từng loại văn bản mà các tiểu thể loại sẽ được sử dụng
1.2.1.5 Ngữ cảnh
Theo Hoàng Văn Vân (2006), ngữ cảnh là một khía cạnh quan trọng trong phân tích diễn ngôn Giữa diễn ngôn và ngữ cảnh có một mối quan hệ biện chứng với nhau: ngữ cảnh tạo ra diễn ngôn và ngược lại Sự liên kết giữa ngữ cảnh và ngôn bản được thể hiện như sau: nghĩa thì tồn tại trong ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống
(i) Ngữ cảnh văn hóa
Ngữ cảnh văn hóa, một thuật ngữ trước đây đã được Malinowski tạo ra để miêu tả kiến thức nền thuộc về thể chế và tư tưởng được chia sẻ bởi các tham thể trong các sự kiện lời nói Fowler (1986, tr 19) nhận định rằng, ngữ cảnh văn hóa là
“kho lưu trữ kiến thức đã được thiết lập của cộng đồng” Nó bao gồm “những cấu trúc về sự mong đợi phía trước” mà cho phép chúng ta hiểu được thế giới xung quanh chúng ta (dẫn theo Kramch, 1993, trang 42) Theo Halliday (1994), ngữ cảnh văn hóa xác định điều chúng ta muốn nói: ví dụ: ‘chúng ta là ai’, ‘chúng ta làm gì’, ‘chúng ta nói gì’ Chính ngữ cảnh văn hóa làm cho các ngôn bản trở nên khác biệt về mục đích của nó Để đạt được mục đích, các ngôn bản được cấu trúc thành nhiều cách khác nhau và chúng được xem như là cấu trúc biểu đồ Thể loại của văn bản một phần được xác định bởi văn hóa mà ở đó ngôn bản được sử dụng
(ii) Ngữ cảnh tình huống
Theo Morley (2000, tr 8), ngữ cảnh tình huống bao quanh những hành động
về hành vi lời nói được nghiên cứu thông qua các tham số là trường, không khí và phương thức của ngữ vực Bình diện ngữ vực kết hợp phân tích những đặc điểm
ngôn ngữ phổ biến trong sự đa dạng của ngôn bản với việc phân tích tình huống sử dụng của sự đa dạng đó Những đặc điểm ngôn ngữ nòng cốt như những đại từ và
Trang 39động từ là chức năng và những đặc điểm ngôn ngữ này được sử dụng phổ biến cùng với những mục đích giao tiếp và ngữ cảnh tình huống của ngôn bản (Biber & Conrad, 2009, tr 2) Halliday & Hasan, 1985, tr 41) đã đưa một định nghĩa cô đọng về ngữ vực là “sự đa dạng theo cách sử dụng” Sau này, Halliday và Hasan (1989, tr 12) đã chi tiết hóa cấu trúc lí thuyết về ngữ cảnh tình huống như sau:
- Trường của diễn ngôn chỉ ra những gì diễn ra, bản chất của hành động xã
hội đang diễn ra: những gì các tham thể tham gia vào, trong đó ngôn ngữ xuất hiện như là một thành phần cơ bản nào đó?
- Không khí của diễn ngôn liên quan tới việc ai tham gia, bản chất của tham
thể, vị thế và vai trò của họ; nó cũng liên quan tới những mối quan hệ vai có được của những tham thể, gồm cả các loại vai lời nói mà họ tham gia vào hội thoại và toàn bộ các mối quan hệ có nghĩa về mặt xã hội mà nó tham gia vào?
- Phương thức của diễn ngôn chỉ ra vai trò mà ngôn ngữ đang có, điều mà
những tham thể mong đợi ngôn ngữ sẽ thực hiện cho họ trong tình huống đó: tổ chức mang tính tượng trưng của ngôn bản, vị thế mà nó có và chức năng của nó trong ngữ cảnh, kể cả kênh giao tiếp (nó là khẩu ngữ hay bút ngữ hay là sự kết hợp của cả hai?) và cả phương thức tu từ, ngôn bản đạt được điều gì tính theo các phạm trù như thuyết phục, miêu tả, giáo dục và các phạm trù khác tương tự (1989, tr 12)
Như vậy, một ngôn ngữ nhất định tồn tại luôn có mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh văn hóa – xã hội Nếu người tham gia giao tiếp không chú ý tới yếu tố văn hóa-
xã hội trong ngôn ngữ, thì khó có thể tạo nghĩa thành công trong ngôn ngữ đó Chính
vì lí do này, bên cạnh khả năng ngôn ngữ, người tham gia giao tiếp phải hiểu ngôn ngữ đó được sử dụng thế nào trong các bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể
1.2.2 Lí thuyết liên quan tới văn bản thuyết minh bảo tàng, phong cách và thể loại của chúng
1.2.2.1 Định nghĩa về thuyết minh (thuyết giải)
Theo Kreps (2000), thuật ngữ “thuyết giải” (interpretation) trong bảo tàng học là giải thích về một điều gì đó hoặc trình bày về hiện vật và kiến thức dưới dạng “một ngôn ngữ” mà người xem có thể hiểu được Từ “thuyết giải” có gốc
Latin là intepres, có nghĩa là “người thương lượng hay trung gian giữa hai bên”
Tương tự, mục đích của bảo tàng là đóng vai trò trung gian giữa bộ sưu tập và công
chúng Theo Museum Practice (1997, tr 36, dẫn theo Black, 2005, tr 184), thuyết
giải là quá trình sử dụng hiện vật trưng bày và thông tin liên quan để chuyển tải những thông điệp về hiện vật và ý nghĩa của chúng; và là quá trình lựa chọn phương tiện truyền thông và các kỹ thuật phù hợp để giao tiếp một cách hiệu quả
Trang 40với độc giả đích Định nghĩa này được cho là chỉ tập trung vào quá trình giao tiếp một chiều từ bảo tàng chứ không có sự tham gia bình đẳng giữa bảo tàng và độc giả Vì thế vào năm 1998, Hiệp hội các bảo tàng của Mỹ (AAM) đã đưa một định nghĩa thiết thực hơn về thuyết giải: (i) Thuyết giải là một quá trình giao tiếp năng động giữa bảo tàng và khách tham quan; (ii) Thuyết giải là phương tiện mà ở đó bảo tàng cung cấp nội dung liên quan tới hiện vật trong bảo tàng; (iii) Các phương tiện/hoạt động thuyết giải gồm nhưng không chỉ giới hạn bởi những điều sau: hiện vật trưng bày (exhibits), tour du lịch, trang web, các lớp học trong bảo tàng, chương trình của trường học với bảo tàng, ấn phẩm, các dịch vụ quảng bá bên
ngoài bảo tàng (AAM 1999, tr 81)
Theo Hiệp hội Quốc gia Mỹ, thuyết giải là một quá trình giao tiếp để tạo dựng mối quan hệ tri thức và cảm xúc giữa sự hứng thú của khách tham quan và ý nghĩa hiện hữu của hiện vật (dẫn theo Black, 2005, tr 182) Serrell (1996, tr.10) cho rằng,
“thuyết giải” không chỉ đưa ra thông tin và khuyến khích sự tham gia Nó còn là sự giao tiếp giữa kiến thức của người hướng dẫn và người nghe, nơi kiến thức và việc tạo nghĩa của người nghe cũng quan trọng như kiến thức và việc tạo nghĩa của người hướng dẫn
Như vậy, thuyết giải (thuyết minh) những hiện vật mang dấu ấn về giá trị lịch sử, văn hóa của một dân tộc là rất cần thiết Nó giúp công chúng nhận diện, khám phá và nâng cao hiểu biết về ý nghĩa của hiện vật được trưng bày hay nhân vật được tôn vinh trong bảo tàng Việc thuyết giải cũng cần có sự tương tác và phản hồi nhất định từ độc giả để phần thuyết giải được hiệu quả hơn
1.2.2.2 Văn bản thuyết minh bảo tàng
Văn bản thuyết minh bảo tàng được xây dựng rất đa dạng với các tên gọi và
độ dài ngắn khác nhau Theo Lord & Lord (2009, tr 133), tài liệu thuyết minh bao gồm nhãn chú thích hiện vật (labels), chú giải dán tường (wall texts), chú giải viết trên giấy khổ rộng (broad sheets), hướng dẫn trong phòng trưng bày (gallery guides) và các thuyết minh bằng âm thanh Ravelli (2006) cho rằng có ít nhất hai cách hiểu về VBTMBT (museum texts): (i) đó là các văn bản trong bảo tàng mà cả khách du lịch và các chuyên gia trong bảo tàng đều quen thuộc Chúng có thể được gọi là nhãn chú thích hiện vật, văn bản mở rộng (extended texts), chú giải dán trên tường, bảng mục lục, sách nhỏ hướng dẫn miêu tả hiện vật Những văn bản này là một phần nội tại trong công cụ giao tiếp của bảo tàng (…) (Ekarv, 1999, dẫn theo Ravelli, 2006); (ii) Văn bản thuyết minh bảo tàng còn có nghĩa là “bảo tàng như là các văn bản thuyết minh” (museums as texts) – cách mà toàn bộ bảo tàng, hoặc phần trưng bày bao gồm trong đó, tạo ra nghĩa để giao tiếp với công chúng Trong