Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp xây dựng được phép hành nghề trên toàn lãnh thổ, do đó cần phải phát triển các doanh nghiệp chuyên cho thuê máy xây dựng ở mọi nơi để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng được dễ dàng hoạt động, giảm bớt nhu cầu về vốn đầu tư để mua sắm máy xây dựng cho các doanh nghiệp.
Trang 1Mục lục CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG 3
1.1.Cơ sở lý luận chung về đầu tư 1
1.1.1 Khái niệm chung về đầu tư 1
1.1.2 Các hình thức đầu tư 6
1.1.3 Đối tượng tham gia dự án đầu tư 8
1.2 Đặc điểm, ý nghĩa và các giai đoạn đầu tư mua sắm MMTB trong DNXD 8
1.2.1.Đặc điểm đầu tư của DNXD 8
1.2.2 Ý nghĩa của việc đầu tư mua sắm MMTB 10
1.2.3 Các giai đoạn của quá trình đầu tư mua sắm MMTB 10
1.3 Nội dung của DAĐT 12
1.3.1 Xác định sự cần thiết phải đầu tư 12
1.3.2 So sánh lựa chọn phương án mua máy 13
1.3.3 Lựa chọn loại máy đầu tư 13
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆPXÂY DỰNG GIAO THÔNG 15
2.1 Khái quát chung về phân tích đánh giá DAĐT 15
2.1.1 Khái niệm và mục đích phân tích đánh giá DAĐT 15
2.1.2 Khái niệm và phân loại hiệu quả DAĐT 15
2.1.3 Các quy định khi tính toán đánh giá phương án đầu tư 18
2.2 Phương pháp lập DAĐT mua sắm MMTB 23
2.2.1 Lập DAĐTmua sắm MMTB khi thành lập doanh nghiệp 23
2.2.2 So sánh phương án tự mua máy và đi thuê máy 25
2.2.3 Phương pháp lập DAĐT mua máy để cho thuê 26
2.3 Phân tích DAĐTmua sắm máy móc về mặt tài chính, kinh tế-xã hội.27 2.3.1 Xác định số liệu để phân tích 27
Trang 22.3.2 Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính 28
2.3.3 Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế-xã hội 46
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH DỰ ÁN ĐẦU TƯ MUA SẮM MÁY MÓC THIẾT BỊ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 12 50
3.1 Giới thiệu chung về công ty 50
3.1.1 Một số thông tin chung 50
3.1.2 Tình hình hoạt động của công ty 51
3.1.3 Phương hướng và kế hoạch những năm tiếp theo 52
3.2 Sự cần thiết phải đầu tư 53
3.3 Phân tích tài chính của DAĐT 55
3.3.1 Tính toán chi phí đầu tư 55
3.3.2 Tính toán thu nhập đầu tư 64
3.3.3 Đánh giá dự án đầu tư 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 3.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẦU 12
QUA CÁC NĂM 52
BẢNG 3.2: DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐANG TIẾN HÀNH
CỦA CÔNG TY 52
BẢNG 3.3: DANH MỤC MỘT SỐ THIẾT BỊ CÔNG TY CẦU 12 HIỆN CÓ 53
BẢNG 3.4: DANH SÁCH THIẾT BỊ XIN ĐẦU TƯ 54
BẢNG 3.5: ĐỊNH MỨC CHO CÔNG VIỆC ĐỔ BÊ TÔNG MÓNG 56
BẢNG 3.6: BẢNG GIÁ VẬT LIỆU THÁNG 01/2013
TẠI HUYỆN CẨM XUYÊN-HÀ TĨNH 57
BẢNG 3.7: BẢNG ĐỊNH MỨC CẤP PHỐI VẬT LIỆU VỮA BÊ TÔNG 58
BẢNG 3.8: TẬP HỢP CHI PHÍ VẬT LIỆU 58
BẢNG 3.10: TẬP HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG 59
BẢNG 3.11: TẬP HỢP CHI PHÍ CHO MÁY BƠM BÊ TÔNG 61
BẢNG 3.12: TẬP HỢP CHI PHÍ CHO MÁY ĐẦM DÙI 62
BẢNG 3.13: TẬP HỢP CHI PHÍ CÁC MÁY 63
BẢNG 3.15: ĐỊNH MỨC ĐƠN GIÁ CHO CÔNG VIỆC ĐỔ BÊ TÔNG MÓNG.64 BẢNG 3.16: BẢNG TÍNH LỢI NHUẬN CỦA DỰ ÁN 67
BẢNG 3.17: KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA DỰ ÁN 69
BẢNG 3.19: BẢNG TÍNH NPW CỦA DỰ ÁN 72
BẢNG 3.21: BẢNG TÍNH NPW VỚI IRR=32% 74
BẢNG 3.22: TÍNH NPW0 76
BẢNG 3.23: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘ NHẠY CỦA DỰ ÁN 76
BẢNG 3.24: PHÂN TÍCH ĐỘ NHẠY CỦA DAĐT KHI CHI PHÍ TĂNG 5% 77
BẢNG3.25: PHÂN TÍCH ĐỘ NHẠY KHI DOANH THU GIẢM 5% 78
BẢNG 3.26: PHÂN TÍCH ĐỘ NHẠY KHI CHI PHÍ TĂNG 5%
VÀ DOANH THU GIẢM 5% 78
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU
TƯ TRONG DOANH NGHIỆPXÂY DỰNG GIAO THÔNG.
1.1.Cơ sở lý luận chung về đầu tư
1.1.1 Khái niệm chung về đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm của đầu tư
a Đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng nhất nó có thể hiểu là một quá trình bỏ vốn ( baogồm tiền, nguồn lực, công nghệ) để đạt được mục đích hay tập hợp mục đíchnhất định nào đó Mục tiêu cần đạt được của đầu tư có thể là mục tiêu chính trị,văn hóa, kinh tế, xã hội hay cũng có thể là mục tiêu nhân tạo Hiện nay có rấtnhiều khái niệm về đầu tư và mỗi quan điểm khác nhau, ở mỗi lĩnh vực khácnhau lại có cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư
Trong hoạt động kinh tế đầu tư được biểu hiện cụ thể hơn mang tính chấtkinh tế hơn Đó là quá trình bỏ vốn (tiền, nhân lực, nguyên vật liệu, công nghệ)vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.Đây được coi là bản chất cơ bản của hoạt động đầu tư Trong hoạt động kinh tếkhông có khái niệm hoạt động đầu tư không có lợi nhuận Như vậy có thể hiểuđầu tư là đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thuđược một lượng lớn sau một khoảng thời gian nhất định
Các hoạt động đầu tư có thể gọi chung là hoạt động sản xuất kinh doanh(với hoạt động đầu tư bỏ vốn để nâng cao hiệu quả năng lực sản xuất về cả sốlượng và chất lượng)
Đầu tư có thể được biểu hiện bởi các khái niệm sau:
Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là việc bỏ vốn để tạo nên các tiềm lực
và dự trữ cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Các tài sản cố định được tạo nêntrong quá trình đầu tư này tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kế tiếp nhau, cókhả năng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của một đối tượng nào đó
Trang 5 Theo quan điểm tài chính: đầu tư là một chuỗi hành động chỉ tiêu củachủ đầu tư và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi thu tiền để đảm bảohoàn vốn, đủ trang trải các chi phí và có lãi.
Theo góc độ quản lý: Đầu tư là quá trình quản lý tổng hợp kinh doanh,
cơ cấu tài sản nhằm mục đích sinh lời
Tóm lại: Đầu tư là quá trình bỏ vốn vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế,
xã hội để thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau
Hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng các tài sản cốđịnh gọi là đầu tư xây dựng cơ bản Ở đây xây dựng được coi là phương tiện đểđạt được mục đích đầu tư Quá trình đầu tư cơ bản là toàn bộ các hoạt động củachủ đầu tư từ khi bỏ vốn đến khi đưa vào hoạt động các tài sản cố đinh hay nóicách khác là hoạt động chuyển toàn bộ vố đầu tư dưới dạng tiền tệ sang tài sảnphục vụ mục đích đầu tư Mục đích của hoạt động xây dựng cơ bản là tạo rađược các tài sản có năng lực sản xuất hoặc phục vụ phù hợp với mục đích đầu tư
b Dự án đầu tư
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mởrộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về sốlượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trongmột khoảng thời gian nhất định
Dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ:
Về hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đượcnhững kết quả thực hiện nhất định trong tương lai
Trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài
Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ để thể hiện kế
hoạch chi tiết một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế
xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Dự án đầu tư là một
Trang 6hoạt động kinh tế riêng biệt, nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh
tế nói chung
Về nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với
nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo racác kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng cácnguồn lực xác định
Một dự án đầu tư thường bao gồm 4 thành phần chính:
Mục tiêu của dự án thể hiện ở hai mức: Mục tiêu phát triển là nhữnglợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là cácmục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án
Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có tính định lượng được tạo
ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiệnđược các mục tiêu của dự án
Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiệntrong dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành độngnày cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽtạo thành kế hoạch làm việc của dự án
Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiếnhành các hoạt động đầu tư của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực nàychính là vốn đầu tư cho dự án
Trong 4 thành phần trên thì các kết quả đạt được coi là cột mốc đánh dấutiến độ của dự án Vì vậy trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theodõi các đánh giá kết quả đạt được Những hoạt động nào có liên quan trực tiếpđối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệtquan tâm
1.1.1.2 Vai trò của đầu tư
Trong quá trình phát triển của xã hội đòi hỏi phải mở rộng quy mô của sảnxuất nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về vật chất và tinh thần Để
Trang 7đáp ứng được nhu cầu đó thì cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế luônluôn cần sự bù đắp và hoàn thiện thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Để hoạt động xây dựng cơ bản được diễn ra một cách thuận lợi thì đòi hỏiviệc đầu tư cho máy móc thiết bị phải phù hợp và đầy đủ
1.1.1.3 Phân loại các hoạt động đầu tư
Đầu tư có nhiều loại, để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra cácbiện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, có thể phân loại chúng theo một
số chỉ tiêu, tiêu thức sau:
Theo đối tượng đầu tư:
- Đầu tư cho các đối tượng vật chất để khai thác cho sản xuất và kinhdoanh cũng như cho các lĩnh vực hoạt động khác
- Đầu tư tài chính (mua cổ phiếu, cho vay)
Phân loại theo chủ đầu tư:
- Chủ đầu tư là Nhà nước (đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng kinh
tế và xã hội do vốn của Nhà nước)
- Chủ đầu tư là các doanh nghiệp (Các doanh nghiệp nhà nước, ngoàinhà nước, độc lập và liên danh, trong nước và ngoài nước)
- Chủ đầu tư là các cá thể riêng lẻ
Phân loại theo nguồn vốn:
- Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
- Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước
- Vốn đóng góp của nhân dân vào các công trình phúc lợi công cộng
- Vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh và của dân
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài ( FDI)
Trang 8- Các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗ hợpnhiều nguồn vốn.
Phân loại theo cơ cấu đầu tư:
- Đầu tư theo các ngành kinh tế
- Đầu tư theo các vùng lãnh thổ
- Đầu tư theo các thành phần kinh tế
Phân loại theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định:
- Đầu tư mới (xây dựng, mua sắm tài sản cố định loại mới)
- Đầu tư lại (thay thế, cải tạo tài sản cố định hiện có)
Phân loại theo trình độ kỹ thuật:
- Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
- Đầu tư theo tỷ trọng vốn đầu tư cho các thành phần mua sắm thiết bị,xây lắp và chi phí đầu tư khác
Phân loại theo thời đoạn kế hoạch:
- Đầu tư ngắn hạn
- Đầu tư trung hạn
- Đầu tư dài hạn
Phân loại theo tính chất và quy mô của dự án: Bao gồm dự án quantrọng quốc gia, các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B,C
Đầu tư ở các doanh nghiệp xây dựng được xem xét theo các khía cạnhnhư: theo đối tượng đầu tư, theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định, theo nguồnvốn đầu tư
1.1.1.4 Mục tiêu của đầu tư
Đầu tư vào các hoạt động kinh tế xã hội luôn được biểu hiện dưới các mụctiêu kinh tế xã hội cụ thể Xác định mục tiêu là nhân tố đảm bảo cho hoạt động đầu
tư có hiệu quả Tuy nhiên ở mỗi khía cạnh thì quan điểm về hiệu quả lại khônggiống nhau Đối với doanh nghiệp thì hiệu quả là tối đa hóa lợi nhuận còn đối vớinhà nước thì muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với hiệu quả xã hội Cụ thể là:
Mục tiêu của nhà nước:
Trang 9- Đảm bảo phúc lợi công cộng dài hạn.
- Đảm bảo sự phát triển về kỹ thuật, kinh tế trung và dài hạn của Nhànước
- Đảm bảo cơ cấu phát triển kinh tế qua từng thời kỳ
- Đảm bảo các yêu cầu bảo vệ môi trường, tài nguyên của đất nước
- Đảm bảo an ninh quốc phòng
- Đầu tư vào các lĩnh vực mà các doanh nghiệp riêng lẻ, tư nhân khôngthể đầu tư do nhu cầu vốn quá lớn, độ rủi ro cao, mà các lĩnh vực này rất cầnthiết với sự phát triển chung của nhà nước và hết sức cần thiết đối với cuộc sốngcon người
- Nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần và các lợi ích côngcộng như: phát triển nền giáo dục, tạo viêc làm, phân phối thu nhập
Tóm lại: Mục tiêu của nhà nước là tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốcdân, mục tiêu phát triển và cải thiện, phân phối thu nhập quốc dân (mục tiêucông bằng xã hội)
Mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp
- Cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận
- Cực đại số lượng hàng hóa bán ra trên thị trường
- Cực đại giá trị tài sản của các cổ đông tính theo giá thị trường
- Đạt mức độ nhất định về hiệu quả tài chính của dự án
- Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong cạnh tranh
- Nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường
- Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ
- Đầu tư để cải thiện điều kiện lao động của doanh nghiệp
- Đầu tư liên doanh, liên kết, hợp tác với nước ngoài nhằm tranh thủcông nghệ, mở rộng thị trường
1.1.2 Các hình thức đầu tư
1.1.2.1 Đầu tư gián tiếp
Trang 10Là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cao chobản thân người có vốn cũng như cho xã hội Nhưng người bỏ vốn không trựctiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư hay họ không biết đến mục tiêu đầu tư.
Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn không biết nguồn vốn của mình đượcsử dụng như thế nào Hoạt động đầu tư gián tiếp thường được biểu hiện ở nhiềuhình thức khác nhau như cổ phiếu (nhưng chưa đến mức được tham gia quản lý),tín phiếu, tín dụng
Đầu tư gián tiếp là một loại hình thức khá phổ biến hiện nay do chủ đầu tưkhông đủ điều kiện hoặc khả năng tham gia đầu tư trực tiếp nên họ chọn hìnhthức này Mặt khác hình thức này thường ít rủi ro hơn
1.1.2.2 Đầu tư trực tiếp
Là loại hình bỏ vốn đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào hoạtđộng và quản lý hoạt động đầu tư Họ biết được mục tiêu cũng như phương thứchoạt động kinh tế nguồn vốn họ bỏ ra Hình thức đầu tư trực tiếp thường đượcbiểu hiện dưới hình thức sau: mua cổ phần, tham gia liên doanh
Đầu tư trực tiếp có hai nhóm: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển
Đầu tư chuyển dich: có nghĩa là sự chuyển dịch vốn đầu tư từ ngườinày sang người khác theo cơ chế thị trường của tài sản được chuyển dịch Haychính là việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp, xí nghiệp hay một công ty nàođó Việc chuyển dịch này không làm ảnh hưởng đến nguồn vốn của doanhnghiệp nhưng có thể tạo ra được năng lực quản lý, sản xuất mới Việc cổ phầnhóa các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay là một hình thức đầu tư chuyển dịch
Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tư quan trọng và chủ yếu Người cóvốn (cá nhân, tập thể, nhà nước) gắn liền với hoạt động kinh tế của đầu tư Hoạtđộng đầu tư theo hình thức này nhằm nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sởsản xuất hiện có theo hướng số lượng và theo chất lượng nhằm tạo ra năng lực sảnxuất mới Đây chính là hình thức tái sản xuất mở rộng và cũng như hình thức đầu
tư quan trọng tạo ra việc làm mới, sản phẩm mới và thúc đẩy kinh tế phát triển
Trang 11Các hình thức đầu tư có mối quan hệ qua lại với nhau Đầu tư tài chính,đầu tư gián tiếp và đầu tư chuyển dịch không tự nó vận động và tồn tại nếukhông có đầu tư phát triển Còn đầu tư phát triển chỉ có thể đạt được quy mô lớnnếu có sự tham gia của các hình thức đầu tư khác.
Ngày nay chính phủ không quy định và áp đặt bất kỳ một hình thức đầu tưnào với mọi loại hình kinh tế Nhưng phải có sự tham gia của nhà nước để đảmbảo cho thị trường đầu tư phát triển phải phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế
1.1.3 Đối tượng tham gia dự án đầu tư
Đối tượng tham gia dự án đầu tư gồm:
Chủ đầu tư: là đối tượng tham gia thực hiện đầu tư, là chủ thể quantrọng nhất đóng vai trò quyết định mọi vấn đề của đầu tư Chủ đầu tư là người sởhữu vốn, có thể là một tổ chức hoặc cá nhân, có thể bỏ một phần hay toàn bộ vốn
và chịu trách nhiệm thực hiện quá trình đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.Nếu vốn đầu tư của dự án chủ yếu thuộc sở hữu Nhà nước thì chủ đầu tư làngười được cung cấp quyết định đầu tư chỉ định ngay từ khi lập dự án đầu tư vàgiao trách nhiệm trực tiếp quản lý sử dụng vốn Chủ đầu tư có thể ủy nhiệm chomột chủ nhiệm điều hành dự án thay mặt để thực hiện dự án
Nhà thầu cung cấp máy móc thiết bị
Tư vấn
Quần chúng sử dụng dự án
1.2 Đặc điểm, ý nghĩa và các giai đoạn đầu tư mua sắm MMTB trong DNXD
1.2.1.Đặc điểm đầu tư của DNXD
Kế hoạch đầu tư ở các doanh nghiệp xây dựng thể hiện bằng các dự ánđầu tư Do đặc điểm của sản xuất xây dựng nên đầu tư của các doanh nghiệp xâydựng có các đặc điểm sau:
a Các trường hợp đầu tư của doanh nghiệp xây dựng thường được gắn liềnvới các giai đoạn thời gian khác nhau như:
Trang 12 Khi doanh nghiệp chưa có đối tượng xây dựng, chưa hướng vào mộthợp đồng xây dựng cụ thể.
Khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu, đã có định hướng cụ thể vào mộtđối tượng xây dựng
Khi doanh nghiệp xây dựng đã thắng thầu, có hợp đồng xây dựng cụ thể
b Sản phẩm của dự án đầu tư sản xuất thi công xây lắp của các doanhnghiệp xây dựng (các công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng, cáckhối lượng công việc xây dựng) là do chủ đầu tư (khách hàng) định trước chotừng trường hợp cụ thể Do đó khi lập dự án đầu tư thì các sản phẩm này chỉ do
dự án chủ quan của doanh nghiệp xây dựng mà có
c Thị trường của dự án đầu tư của doanh nghiệp xây dựng là nhu cầu đầu
tư của các chủ đầu tư, các thị trường cung cấp thiết bị và vật tư xây dựng cũngnhư các dịch vụ khác cho tổ chức xây dựng
d Khi đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, cần chú ý đến tính chất di độngtừ công trường này sang công trường khác để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng.Việc tính đến các khoảng cách di chuyển của máy đến các công trường và khốilượng công tác là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của dự án đầu tư.Mặt khác việc tính toán dựa trên cơ sở dự toán hai yếu tố này làm cho dự án cótính phỏng định cao
e Việc lập dự án đầu tư để thực hiện xây dựng cho một công trình sau khithắng thầu có một vai trò quan trọng trong kinh doanh xây dựng Mà ở đây chủyếu là dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng Có thể có những trườnghợp sau:
Đầu tư mua sắm các máy móc riêng lẻ
Đầu tư mua sắm tập hợp máy xây dựng
So sánh phương án tự mua sắm máy và đi thuê máy
Đầu tư mua sắm máy xây dựng để chuyên cho thuê
Trang 131.2.2 Ý nghĩa của việc đầu tư mua sắm MMTB
Một đặc điểm của kinh tế thị trường trong xây dựng là khả năng tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp xây dựng phụ thuộc rất chặt chẽ vào khả năng thắngthầu Nếu doanh nghiệp xây dựng mua sắm quá nhiều máy móc xây dựng sẽ cóthể gặp phải nguy cơ các máy móc đứng không do không kiếm được hợp đồngxây dựng Do đó vấn đề mua sắm máy móc để trang bị cho doanh nghiệp xâydựng phải được xem xét cho hai trường hợp được thực hiện ở hai giai đoạn thờigian khác nhau:
Khi doanh nghiệp xây dựng chưa có đối tượng hợp đồng xây dựng cụthể để thực hiện
Khi doanh nghiệp xây dựng đã thắng thầu và có hợp đồng nhiệm vụxây dựng cụ thể
Việc lập phương án mua sắm và trang bị máy xây dựng ở trường hợp thứnhất chỉ có thể thực hiên bằng cách lập các dự án đầu tư mua sắm máy móc xâydựng dựa trên cơ sở dự báo nhu cầu của thị trường xây dựng với một mức độ rủi
ro nhất định
Việc lập phương án trang bị máy xây dựng cho trường hợp thứ hai phảidựa trên kết quả mua sắm máy của giai đoạn thứ nhất, nhưng phải kết hợp cácmáy lại với nhau theo từng công trường xây dựng cụ thể và cho từng năm niênlịch nhất định
Từ đó ta thấy việc lập dự án đầu tư mua sắm máy xây dựng ở giai đoạnthứ nhất tuy chưa có tính xác định cao nhưng vô cùng quan trọng, vì nó quyếtđịnh việc lập phương án trang bị máy xây dựng ở giai đoạn hai
1.2.3 Các giai đoạn của quá trình đầu tư mua sắm MMTB
1.2.3.1 Quá trình chuẩn bị
Bao gồm các công việc:
Điều tra nhu cầu của thị trường xây dựng về mọi mặt, điều tra thịtrường cung cấp máy xây dựng (bao gồm cả thị trường cho thuê máy xây dựng),
Trang 14 Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng, nhất làcác vấn đề có liên quan đến máy móc xây dựng.
Lập dự án đầu tư mua sắm máy móc xây dựng (chỉ đối với các máy mócquá phức tạp và có nhu cầu vốn đầu tư lớn phải qua bước lập dự án tiền khả thi)
1.2.3.2 Quá trình thực hiện mua sắm máy móc để thực hiện dự án đầu tư
Bao gồm các công việc:
Ký kết hợp đồng mua sắm máy xây dựng với nơi cung cấp máy xâydựng Với các máy móc xây dựng phức tạp có thể áp dụng phương thức đấu thầucung cấp máy
Tiến hành nhận máy, vận chuyển về nơi sử dụng, kể cả việc lắp đặt vàchạy thử nếu có
Xây dựng các cơ sở vật chất để cất giữ và bảo quản máy
Thiết lập tổ công nhân vận hành, bao gồm cả công việc đào tạo thợ vàchuyển giao công nghệ nếu cần
Xác định một số vốn lưu động cần thiết cho khâu vận hành máy (nhất
là dự trữ chi tiết máy và nhiên liệu)
1.2.3.3 Quá trình vận hành và sử dụng máy
Bao gồm các công việc:
Quyết định sử dụng máy cho các công việc xây dựng cụ thể ở cáccông trường máy móc một cách hợp lý
Tiến hành bảo dưỡng và lập kế hoạch sữa chữa máy một cách hợp lý
Tiến hành kiểm tra sự phù hợp giữa hiệu quả ở giai đoạn sử dụng máy
cụ thể với hiệu quả tính toán khi lập dự án đầu tư mua sắm máy ban đầu
Ở đây cần nhận xét rằng ở giai đoạn lập dự án đầu tư mua sắm máy mócban đầu có nhiều điều kiện sử dụng máy cụ thể chưa biết nhất là các điều kiện vềquy mô khối lượng công việc được giao ở từng công trường, độ xa chuyên chởmáy đến công trường lúc ban đầu, nhu cầu về công trình tạm phục vụ máy), mà
Trang 15việc có tính đến toàn trái ngược nhau Do vậy việc kiểm tra lại hiệu quả khi lập
dự án đầu tư ban đầu là rất cần thiết
1.3 Nội dung của DAĐT
1.3.1 Xác định sự cần thiết phải đầu tư
1.3.1.1 Xác định nhu cầu của thị trường có liên quan đến máy xây dựng
Nhu cầu thị trường xây dựng bao gồm:
- Khối lượng đầu tư và xây dựng trong thời gian tới của các chủ đầu tư ởmọi lĩnh vực và khu vực địa lý
- Các loại vật liệu xây dựng, kiểu nhà, công nghệ xây dựng có liên quanđến loại máy đang định mua sắm
- Trình độ tập trung hóa và chuyên môn hóa của ngành xây dựng, nhất làquy mô công trường và độ xa chuyên chở máy đến công trường
- Tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng
- Số máy xây dựng định mua sắm còn thiếu trên thị trường, nếu ký hiệuchỉ tiêu này là M t ta có:
M t = M c - (M hc + M n) + M đ
Trong đó:
M c : số máy hiện đang xét cần có trong thị trường xây dựng theo xây dựngmáy móc có cho kỳ đang xét
M hc : số máy hiện có trên thị trường xây dựng
M n : số máy do các chủ thầu xây dựng nước ngoài nhập vào Việt Namcho kỳ đang xét
M đ: số máy cũ có thể bị đào thải dự báo ở kỳ đang xét
Khả năng cung cấp máy xây dựng của thị trường máy xây dựng bao gồm:
- Các nguồn cung cấp, mẫu mã máy
- Trình độ kỹ thuật, đặc tính sử dụng và hiệu quả kinh tế, giá cả của cácloại máy đang cần mua
- Điều kiện mua bán và thanh toán
Trang 161.3.1.2 Nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh và khả năng của doanh nghiệp xây dựng
Bao gồm các vấn đề như:
- Khả năng thắng thầu và nhiệm vụ xây dựng của doanh nghiệp theo dự báo
- Chiến lược sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng, nhất làvấn đề tăng cường khả năng thắng thầu, phương hướng công nghiệp hóa và hiệnđại hóa của doanh nghiệp xây dựng
- Khả năng đáp ứng của doanh nghiệp về vốn, về trình độ công nhân vậnhành máy
1.3.1.3 Các điều kiện thuận lợi và khó khăn
Bao gồm các vấn đề như:
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ máy hoạt động (đường giao thông, điện,chất đốt, cơ sở sửa chữa, khả năng cung cấp phụ tùng thay thế,…)
- Các điều kiện tự nhiên về thời tiết và khí hậu (nhất là khí hậu nhiệtđới), về địa chất công trình, địa chất thủy văn, nhất là ở các công trường xâydựng dự kiến cho máy thực hiện
- Các điều kiện về nguyên vật liệu xây dựng có liên quan đến xây dựngphải vận chuyển và chế biến
1.3.2 So sánh lựa chọn phương án mua máy.
Lựa chọn hình thức kinh doanh như hình thức vay vốn tiến hành liêndoanh để mua máy
So sánh giữa phương án tự mua sắm và đi thuê máy
So sánh khả năng cải tạo máy hiện có (nếu có) với phương án mua sắm mới
So sánh phương án mua sắm máy để tự làm công việc xây dựng hayđem máy cho thuê, hay kết hợp cả hai khả năng
So sánh giữa phương án mua máy nội địa hay nhập khẩu máy
1.3.3 Lựa chọn loại máy đầu tư
1.3.3.1 Xác định công suất của máy
Trang 17Căn cứ để xác định công suất của máy là: khối kượng công việc hàng năm
dự định phải thực hiện, khả năng cung cấp máy móc phù hợp với công suất địnhchọn, khả năng về vốn của doanh nghiệp, tính toán hiệu quả kinh tế, trình độ tậptrung và quy mô của các công trường, độ xa chuyên chở máy đến các côngtrường lúc ban đầu (nếu độ xa chuyên chở máy lớn, quy mô công trường nhỏ vàphân tán trên lãnh thổ thì máy có công suất lớn sẽ không có lợi)
Các loại công suất phải dự kiến: công suất thiết kế, công suất tính toáncho dự án (có tính đến một độ an toàn nhất định), công suất tối thiểu đảm bảosản lượng hòa vốn và an toàn tài chính cho các năm sử dụng máy
1.3.3.2 Xác định phương án sản phẩm của máy
Lựa chọn máy đa năng (thực hiện nhiều sản phẩm) hay máy chuyên dùng(một sản phẩm)
Khả năng thực hiện các loại công việc xây dựng với một chất lượng sảnphẩm cho phép
Công dụng của máy
1.3.3.3 Xác định giải pháp kỹ thuật và công nghệ cho máy
Xác định trình độ kỹ thuật hiện đại của máy phù hợp
Lựa chọn nguyên lý tác động kỹ thuật của máy (nguyên lý tĩnh hay chấnđộng cơ cấu thủy lực hay cơ cấu cơ học bình thường, cơ cấu di chuyển bánh xíchhay bánh hơi, loại chất đốt, hoạt động liên tục hay chu kỳ)
Xác định công nghệ cho máy, bao gồm phần cứng (máy móc) và phầnmềm (con người với kỹ năng nhất định, thông tin và tổ chức thi công)
Xác định một số chỉ tiêu cơ bản như: mức độ tự động hóa, độ dài chu kỳcông nghệ, hệ số sử dụng nguyên liệu xuất phát, thế hệ kỹ thuật, độ linh hoạt,mức độ phế phẩm, an toàn và cải thiện lao động, bảo vệ môi trường, mức nhiệtđới hóa, độ bền chắc và tin cậy
Xác định nhu cầu về các máy móc và thiết bị phục vụ kèm theo khi tháolắp và chuyên chở
Trang 18CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP
XÂY DỰNG GIAO THÔNG.
2.1 Khái quát chung về phân tích đánh giá DAĐT
2.1.1 Khái niệm và mục đích phân tích đánh giá DAĐT
2.1.1.1 Khái niệm
Phân tích đánh giá dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách kháchquan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tínhkhả thi của một dự án, đề ra các quyết định đầu tư và cho phép đầu tư
2.1.1.2 Mục đích
- Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn phương án tốt nhất để đầu tư
- Giúp cho các cơ quan hữu quan của nhà nước đánh giá được tính phùhợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương và của
cả nước trên các mặt, các mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả
- Thông qua đánh giá, nhà đầu tư xác định chính xác về cho vay hoặc tàitrợ cho các dự án đầu tư
2.1.2 Khái niệm và phân loại hiệu quả DAĐT
2.1.2.1 Khái niệm
Hiệu quả dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc trưngbởi các chỉ tiêu định tính thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉtiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí bỏ ra của dự án và các kết quả đạtđược theo mục tiêu của dự án)
2.1.2.2 Phân loại hiệu quả của dự án
Trang 19a Phân loại về mặt định tính
Hiệu quả về mặt định tính chỉ rõ nó thuộc loại hiệu quả gì với những tínhchất kèm theo nhất định Theo quan điểm này hiệu quả của dự án đầu tư đượcphân loại như sau:
Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội hiệu quả có thể phân thành:
- Hiệu quả kinh tế (với cấp doanh nghiệp thường gọi là hiệu quả tàichính), ví dụ như tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng mức thu ngân sách chonhà nước, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân
- Hiệu quả kỹ thuật: ví dụ việc đầu tư xây dựng để sản xuất các thiết bịtin học sẽ góp phần đẩy mạnh tiến độ khoa học và công nghệ cho các ngành kinh
tế quốc dân khác
- Hiệu quả xã hội: ví dụ dự án đầu tư có thể góp phần nâng cao mức sốngcủa nhân dân, giải quyết nạn thất nghiệp, tăng cường giáo dục và y tế bảo vệ môitrường…
- Hiệu quả quốc phòng: ví dụ các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực quốcphòng, hoặc các dự án đầu tư vừa có thể phục vụ phát triển kinh tế trong thờibình, vừa có thể sử dụng trong thời chiến
- Riêng hiệu quả kinh tế có thể nhận trực tiếp từ dự án đem lại nhưngcũng có thể do hiệu quả xã hội đem lại (ví dụ như một dự án đầu tư để nâng caosức khỏe cho người lao động cũng có thể góp phần làm tăng năng suất lao độngcho xã hội)
Theo quan điểm lợi ích hiệu quả được phân thành;
- Hiệu quả của doanh nghiệp
- Hiệu quả đem lại cho Nhà nước và cộng đồng
Theo phạm vi tác động, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả toàn cục, thể hiện lợi ích chung của một quốc gia, cộng đồngnào đó Nếu xét theo góc độ doanh nghiệp thì đó là hiệu quả của toàn doanhnghiệp
Trang 20- Hiệu quả toàn cục và hiệu quả bộ phận có thể thống nhất với nhaunhưng cũng có thể mấu thuẫn với nhau Do vậy cần có sự quản lý của Nhà nước
để điều hòa mâu thuẫn này
Theo phạm vi thời gian hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả trước mắt và ngắn hạn, thể hiện sự đáp ứng lợi ích trước mắtcủa toàn doanh nghiệp và cộng đồng Hiệu quả này thường do các đầu tư ngắnhạn thực hiện
- Hiệu quả lâu dài thể hiện sự đáp ứng lợi ích lâu dài và cho tương lai củaquốc gia của cộng đồng và của doanh nghiệp Các dự án dài hạn thường đáp ứngcác yêu cầu này và thường là các dự án có trình độ khoa học-công nghệ cao củacác doanh nghiệp, các dự án đầu tư cho nghiên cứu khoa học-công nghệ đón đầu,các dự án về đầu tư về giáo dục và đào tạo
Theo mức độ phát sinh trực tiếp hay gián tiếp, hiệu quả có thể phânthành:
- Hiệu quả phát sinh trực tiếp từ dự án đầu tư, ví dụ các hiệu quả về tănglợi nhuận, tăng sức đóng góp cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm chongười lao động đem lại…
- Hiệu quả phát sinh gián tiếp kéo theo ở các lĩnh vực lân cận đối với dự
án đem lại Ví dụ dự án đầu tư cho thủy điện, ngoài hiệu quả kinh tế thu đượctrực tiếp từ ngành điện đem lại còn thu được nhiều hiệu quả của các ngành khácnhư công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản và cho dân chúng…
b Phân loại hiệu quả về mặt định lượng
Hiệu quả về mặt định lượng chỉ rõ độ lớn của mỗi chỉ tiêu hiệu quả địnhtính Theo quan điểm này hiệu quả được phân loại như sau:
Theo cách tính toán hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả được tính theo số tuyệt đối, ví dụ tổng hợp lợi nhuận thu đượccủa dự án, tổng mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước hàng năm của dự án
Trang 21- Hiệu quả được tính theo số tương đối, ví dụ mức doanh lợi của 1 đồngvốn đầu tư, mức đóng góp cho ngân sách nhà nước tính cho một đồng vốn đầu
tư, tỷ số giữa lợi ích và chi phí, suất thu lợi nội tại…
Theo thời gian tính toán hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả chưa đạt yêu cầu, khi trị số của hiệu quả của dự án được tính
ra nhỏ hơn một trị số hiệu quả định mức (hay còn gọi là ngưỡng hiệu quả).Trong trường hợp này người ta còn gọi là phương án không đạt hiệu quả, khôngđáng giá
- Hiệu quả đạt mức yêu cầu, khi trị số hiệu quả tính ra lớn hơn một trị sốhiệu quả định mức lớn hơn cho phép Trong trường hợp này người ta gọi làphương án đáng giá hay đạt hiệu quả
- Hiệu quả đạt trị số lớn nhất, khi trị số của nó lớn nhất trong các phương
án được so sánh Hiệu quả lớn nhất có thể đáng giá hay không đáng giá
- Hiệu quả đạt trị số nhỏ nhất (có thể đáng giá hay không đáng giá)
Theo khả năng có thể tính toán thành số lượng có thể phân ra:
- Hiệu quả có thể định lượng được như lợi nhuận, mức đóng góp chongân sách…
- Hiệu quả khó tính toán biểu hiện thành số lượng, ví dụ hiệu quả xã hội
về thẩm mỹ của các công trình xây dựng của các dự án đầu tư, một số hiệu quảđầu tư cho y tế, giáo dục
2.1.3 Các quy định khi tính toán đánh giá phương án đầu tư
2.1.3.1 Các bước tính toán so sánh phương án
Tính toán so sánh các phương án đầu tư phải được tiến hành ở bướcnghiên cứu khả thi và nghiên cứu tiền khả thi
Ở bước nghiên cứu tiền khả thi các bước tính toán thường đơn giản và cácchỉ tiêu tính toán thường tính cho một năm đại diện Ở bước nghiên cứu khả thiviệc tính toán so sánh các phương án thường theo trìnhh tự sau:
- Xác định số lượng các phương án có thể đưa vào so sánh
Trang 22- Xác định thời kỳ tính toán của phương án đầu tư.
- Tính toán các chỉ tiêu thu, chi và hiệu số thu chi của dòng tiền tệ củaphương án qua các năm
- Xác định giá trị tương đương của tiền tệ theo thời gian
- Lựa chọn loại chỉ tiêu được dùng làm chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
- Xác định hiệu quả hay tính đáng giá của các phương án được đem vào
so sánh
- So sánh các phương án theo chỉ tiêu hiệu quả đó được lựa chọn
- Phân tích độ nhạy, độ an toàn và mức tin cậy của dự án
- Lựa chọn phương án tốt nhất có tính đến độ an toàn và tin cậy của kếtquả tính toán
2.1.3.2 Phương án loại trừ nhau và phương án độc lập
a Phương án loại trừ nhau
Các phương án loại trừ nhau là các phương án, mà một khi ta đó chọntrong đó một phương án nào đó thì các phương án còn lại phải bỏ đi
Các phương án loại trừ nhau thường là các phương án có cùng một loạisản phẩm; ví dụ các phương án đầu tư đều là để sản xuất ra máy thu hình, hoặccác phương án đầu tư cho nhà máy điện
Theo nghĩa rộng một phương án đầu tư có thể chỉ bao gồm một dự ánriêng lẻ (một cơ hội đầu tư) hoặc nhiều dự án riêng lẻ (nhiều cơ hội đầu tư) Nếucó n dự án đầu tư riêng lẻ thì có thể lập thành 2n phương án đầu tư (kể cảphương án không đầu tư) Tuy nhiên không nhất thiết là tất cả 2n phương án đầu
tư đều là loại trừ nhau
Trang 23chọn một phương án nào đó có thể đưa vào so sánh không loại trừ việc lựa chọncác phương án khác vào so sánh.
Phương án độc lập thường xảy ra khi sự so sánh phương án chỉ có thể cótác dụng lựa chọn thứ tự ưu tiên thực hiện phương án trong trường hợp thiếu vốnhay so sánh hiệu quả nào đó, nhất là khi so sánh các phương án đầu tư vào sảnxuất các loại sản phẩm khác nhau, mà các sản phẩm này đều cần thiết cho thịtrường nhưng với các mức độ hiệu quả khác nhau cho nhà sản xuất Ví dụ: mộtdoanh nghiệp muốn đầu tư vào sản xuất hai loại sản phẩm khác nhau với mứcdoanh lợi khác nhau, trong đó nếu dồn vốn vào một loại sản phẩm với mứcdoanh lợi cao hơn sẽ có nguy cơ bị thừa ế do thị trường sẽ có nhiều loại sảnphẩm đó Khi đó doanh ngiệp có thể tiến hành so sánh hai phương án đầu tư vàohai loại sản phẩm khác nhau để xác định thứ tự ưu tiên về quy mô bỏ vốn và thờigian thực hiện, trong đó lựa chọn một phương án để đầu tư trước không dẫn đếnviệc loại bỏ phương án còn lại
2.1.3.3 Xác định thời kỳ tính toán để so sánh phương án đầu tư
a Khái niệm
Khái niệm tính toán (còn gọi là dòng đời, tuổi thọ, thời kỳ tồn tại) của một
dự án đầu tư riêng lẻ là khoảng thời gian bị giới hạn bằng thời điểm khởi đầu vàthời điểm kết thúc của dòng tiền của toàn bộ dự án Thời điểm khởi đầu thườngđược đặc trưng bằng một khoản chi ban đầu và thời điểm kết thúc được đặctrưng bằng một khoản thu từ giá trị thu hồi do thanh lý tài sản cố định và khoảnthu vốn lưu động đó bỏ ra ban đầu
b Các nhân tố ảnh hưởng đến thời kì tính toán
- Ý đồ chiến lược kinh doanh của chủ đầu tư xuất phát từ hiệu quả tàichính đã tính toán ra của dự án
- Thời hạn khấu hao tài sản cố định do cơ quan tài chính quy định
- Nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước (đối vớicác công trình do Nhà nước bỏ vốn)
Trang 24- Tuổi thọ của các giải pháp kỹ thuật (nhà xưởng, máy móc) của các dự
án đầu tư áp dụng và tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật
- Trữ lượng tài nguyên mà dự án định khai thác (ví dụ mỏ dầu, mỏ đá)
- Quy định pháp lý do Luật đầu tư quy định
2.1.3.4 Một số nguyên tắc chủ yếu của phương án phân tích đánh giá dự án đầu tư
a Kết hợp phân tích định tính dựa trên phân tích và sử dụng các lý luận vàkinh nghiệm đó đúc kết, chưa đi sâu vào các tính toán định lượng Phương phápnày có ưu điểm:
- Ngay từ đầu khi chưa có các tính toán tốn kém đã có thể xác định đượctính chất và định hướng của dự án
- Không phải tất cả các vấn đề kinh tế xã hội đều có thể tính toán thành
số lượng cụ thể được và các tính toán định lượng thường là rất tốn kém, cho nênphải dựa vào phân tích định tính
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào phân tích định tính thì các cơ sở khoa học củaquyết định chưa được toàn vẹn và chưa đảm bảo
- Trong nhiều trường hợp với tổng số nguồn lực như nhau, nhờ cácphương pháp tính toán phân tích định lượng sẽ giúp chúng ta tìm được phương
án có hiệu quả lớn nhất
- Các kết quả tính toán định lượng có khi làm thay đổi hẳn chủ trươngđầu tư ban đầu, ví dụ như tính toán định lượng phát hiện ra rằng với chủ trươngban đầu là quá tốn kém vượt quá thực lực của chủ đầu tư
Tuy nhiên việc tính toán định lượng đòi hỏi phải có các số liệu gốc đảmbảo chính xác để tính toán ban đầu, nếu không đảm bảo yêu cầu này thì phươngpháp tính toán dù chính xác đến mấy vẫn không có ý nghĩa thậm chí còn có thểgây nên những tác động nguy hiểm
b Kết hợp các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối với các chỉ tiêu hiệuquả tính theo số tương đối
Nguyên tắc để lựa chọn phương án cuối cùng dựa trên việc kết hợp hai chỉtiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối và tính theo số tương đối là: phải ưu tiên lựa
Trang 25chọn phương án có chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối (như chỉ tiêu tổng lợinhuận, hiện giá của hiệu số thu chi NPW) là lớn nhất, còn chỉ tiêu hiệu qua tínhtheo số tương đối (như chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận, suất thu lợi nội tại IRR) chỉ cầnngưỡng đạt hiệu quả quy định (chỉ tiêu hiệu quả tính theo số lượng tương đốicũng lớn nhất càng tốt) Không bao giờ được phép sử dụng một trong hai chỉ tiêutrên một cách riêng rẽ để lựa chọn phương án.
c Kết hợp các chỉ tiêu về lợi nhuận và các chỉ tiêu về an toàn
- Các chỉ tiêu về lợi nhuận như: tổng lợi nhuận thu được hàng năm, tỷsuất lợi nhuận hiện giá của hiệu số thu chi (NPW), suất thu lợi nội tại (IRR)
- Các chỉ tiêu về an toàn như: thời hạn thu hồi vốn đầu tư, điều hòa vốn,khả năng trả nợ
- Không được sử dụng một trong hai chỉ tiêu trên một cách riêng rẽ đểlựa chọn phương án, vì chỉ có kết hợp hai chỉ tiêu lợi nhuận và an toàn mới đảmbảo được tính phát triển bền vững của kinh doanh
d Phải tôn trọng nguyên tắc so sánh hai bước
- Ở bước thứ nhất phải xét sự đáng giá của các phương án, tức là hiệuquả của phương án phải đảm bảo một ngưỡng hiệu quả cho phép
- Ở bước thứ hai, phải chọn lấy trong số các phương án đáng giá mộtphương án có hiệu quả lớn nhất
Như vậy phương án được chọn không phải là phương án có hiệu quả lớnnhất mà còn là phương án có hiệu quả đạt mức yêu cầu
e Phải đảm bảo tính có thể so sánh được của các phương án
Các điều kiện đảm bảo tính có thể so sánh được các phương án:
- Phương pháp tính toán của các phương án phải thống nhất về mặt:hình thành số liệu gốc, phương pháp so sánh và chỉ tiêu mức hiệu quả (ngưỡnghiệu quả)
- Khi muốn so sánh một chỉ tiêu thì chỉ có chỉ tiêu đó thay đổi, còn cácchỉ tiêu khác phải giữ nguyên và giống nhau Cụ thể là:
Trang 26Khi so sánh về mặt giá trị (chi phí) thì mặt giá trị sử dụng (chất lượngsản phẩm, công suất, tuổi thọ, độ bền chắc) của các phương án phải giống nhau.Nếu ở đây các giá trị sử dụng của các phương án là khác nhau (một trường hợpxảy ra phổ biến trong thực tế) thì phải đưa ra các phương án về cùng một mặtbằng giá trị sử dụng nhờ một phương pháp nhất định (trong đó có phương phápgiá trị - giá trị sử dụng).
Khi tuổi thọ của các phương án khác nhau thì phải quy về bằng nhaubằng các cách như: lấy thời gian tính toán so sánh bằng bội chung bé nhất củatuổi thọ các phương án, hoặc lấy bằng thời kỳ kế hoạch, hoặc lấy theo luật đầu tưquy định, hoặc điều chỉnh thông qua giá trị thu hồi khi đào thải tài sản, hoặc lấybằng thời gian tồn tại của mỏ nguyên liệu, hoặc tính san đều hàng năm
Khi vốn đầu tư của các phương án khác nhau thì phải quy về điều kiệncó thể so sánh được bằng cách so sánh theo hiệu quả của gia cố đầu tư, hoặc cóphương án phụ thêm
2.2 Phương pháp lập DAĐT mua sắm MMTB
2.2.1 Lập DAĐTmua sắm MMTB khi thành lập doanh nghiệp
Về nội dung của bản dự án cũng bao gồm các mục tương tự như khi lập
dự án cho máy xây dựng, nhưng phức tạp hơn vì phải tính toán cho toàn doanhnghiệp, trong đó có mấy vấn đề như sau:
- Điều tra nhu cầu của thị trường xây dựng về mọi mặt
Trang 27- Xác định chủng loại xây dựng của doanh nghiệp phải thực hiện (xây nhàở, xây dựng công trình giao thông, xây dựng công nghiệp hay xây dựng hỗn hợpmột số chủng loại công trình).
- Xác định năng lực sản xuất và nhiệm vụ xây dựng hàng năm phải thực hiện
- Lựa chọn phương án trang bị máy xây dựng (chủng loại máy và số lượngcho mỗi chủng loại máy) để đáp ứng nhu cầu về năng lực sản xuất và nhiệm vụxây dựng hàng năm đã xác định ở trước
- Xây dựng loại hình tổ chức của doanh nghiệp và cơ cấu nhân lực củadoanh nghiệp có liên quan đến máy xây dựng
- Phân tích tài chính và kinh tế - xã hội của dự án
Về phương pháp phân tích tài chính và kinh tế - xã hội cũng tương tựnhư khi lập phương án đầu tư cho các máy xây dựng, nhưng có một số điểmkhác biệt sau:
- Thời kỳ tính toán không phải là tuổi thọ của máy mà là thời kỳ tồn tạicủa doanh nghiệp theo dự kiến (nếu có thể dự kiến được) Trong trường hợp chỉtiêu này khó xác định ta có thể lấy thời kỳ tính toán bằng bội số chung bé nhấtcủa tuổi thọ các loại máy xây dựng, hoặc chính bằng tuổi thọ của máy xây dựngcó chỉ tiêu này lớn nhất Tuy nhiên thời lỳ tính toán không nên lấy quá dài đểtránh những dự toán không chính xác so với tình hình biến động của thị trường
và của tiến bộ kỹ thuật xây dựng
- Số chủng loại máy móc và số lượng mỗi chủng loại có thể lớn, máy móccó thể bị thay thể giữa chừng do hết tuổi thọ.Hệ thống máy móc này phải được tổhợp tối ưu
- Vì các máy móc phải được thay thế khi hết tuổi thọ nên vốn đầu tư muamáy có thể phát sinh ở các thời điểm trung gian của dòng tiền tệ Do đó dòngtiền tề có thể đổi dấu nhiều lần và việc áp dụng chỉ tiêu suất thu lợi nội tại sẽ gặpkhó khăn
b Trường hợp cụ thể
Trang 28Trường hợp khi thành lập doanh nghiệp để thực hiện một hợp đồng xâydựng kéo dài nhiều năm là một trường hợp cụ thể, vì nhiệm vụ xây dựng đã đượckhẳng định cho doanh nghiệp xây dựng.
Trong trường hợp này dòng tiền tệ phải xác định trên cơ sở bản thiết kếtiến độ xây dựng công trình, trong đó chỉ rõ doanh số (giá trị dự toán xâydựng theo hợp đồng) chi phí, nhu cầu về máy xây dựng và nhân lực cho từngnăm xây dựng
Việc phân tích tài chính, kinh tế - xã hội ở đây cũng tương tự như phântích dự án đầu tư cho các máy xây dựng riêng lẻ, nhưng có điểm khác biệt sau:
-Thời gian tính toán ở đây không phải là tuổi thọ của các máy móc riênglẻ mà là thời gian xây dựng công trình
-Máy móc xây dựng có thể có nhiều chủng loại và thường phải đưa vàohay đưa ra khỏi quá trình thi công Do đó dòng tiền tệ sẽ phải đổi dấu nhiều lần;máy móc xây dựng không phải được dùng hoàn toàn hết tuổi thọ cho quá trìnhthi công xây dựng, vì vậy cách tính vốn đầu tư mua sắm máy xây dựng cho quátrình thi công khác với trường hợp lập dự án đầu tư mua sắm các loại máy mócriêng lẻ
2.2.2 So sánh phương án tự mua máy và đi thuê máy
Trong xây dựng việc kiếm được việc làm phần lớn phụ thuộc vào khảnăng thắng thầu Trong trường hợp không kiếm được việc làm và tự mua sắmmáy xây dựng quá nhiều, các doanh nghiệp sẽ gặp phải nguy cơ bị thiệt hại do ứđọng vốn Mặt khác, nếu không có một số máy móc, thiết bị tự có cần thiết cácdoanh nghiệp xây dựng sẽ gặp khó khăn trong việc xét thầu Do đó việc so sánhphương án tự mua sắm máy và đi thuê máy không những phải dựa trên chỉ tiêuhiệu quả tài chính, mà còn phải dựa trên tiêu chuẩn bảo đảm uy tín cho việc thamgia tranh thầu trên thị trường xây dựng của doanh nghiệp xây dựng, cũng nhưphải dựa trên quy chế đấu thầu và quy chế về vốn của doanh nghiệp
Khi so sánh phương án ở đây phải phân biệt các trường hợp sau:
Trang 29 Khi lập dự án đầu tư để thành lập một doanh nghiệp xây dựng, với máymóc xây dựng cần thiết cho quá trình thi công hàng năm của doanh nghiệp theo
dự báo, nếu chúng có khối lượng công việc xây dựng hàng năm quá ít do cơ cấukhối lượng công việc cần thiết để làm nên thành phần quy định, thì ta cần xétxem các máy móc xây dựng này có bảo đảm sản lượng hàng năm lớn hơn sảnlượng hòa vốn hay không Nếu điều kiện này không bảo đảm thì doanh nghiệpnên đi thuê máy
Khi lập dự án đầu tư được thực hiện một quá trình thi công xây dựngkéo dài nhiều năm, ta phải dựa trên thiết kế tiến độ thi công để xác định xem cácmáy móc nào không bảo đảm được sản lượng hòa vốn cũng như không bảo đảmđược mục tiêu lợi nhuận dự kiến khi ký hợp đồng nếu tự mua sắm Các loại máynào vi phạm các điều kiện này thì nên đi thuê
Khi so sánh phương án để thực hiện một quá trình thi công cụ thể ngắnhạn thì việc so sánh phương án ở đây chủ yếu dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận và chiphí Phương án tự mua sắm máy ở đây được quy định là máy được sử dụng đầy
đủ trong năm không những cho công việc xây dựng đang xét mà còn cho cáccông trình khác
2.2.3 Phương pháp lập DAĐT mua máy để cho thuê
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp xây dựng được phép hànhnghề trên toàn lãnh thổ, do đó cần phải phát triển các doanh nghiệp chuyên chothuê máy xây dựng ở mọi nơi để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựngđược dễ dàng hoạt động, giảm bớt nhu cầu về vốn đầu tư để mua sắm máy xâydựng cho các doanh nghiệp
Khi lập dự án đầu tư trong trường hợp này cần chú ý các điểm sau:
Về nội dung của dự án, cũng tương tự như khi lập dự án đầu tư chomua sắm máy xây dựng, trong này có các điểm quan trọng sau:
- Điều tra nhu cầu của thị trường thuê máy xây dựng
- Lựa chọn chủng loại máy, số lượng máy xây dựng để cho thuê
Trang 30- Xác định nhu cầu về cơ sở vật chất - kỹ thuật để cất giữ máy, bảodưỡng sửa chữa.
- Cơ cấu tổ chức và quản lý nhân lực
- Phân tích tài chính và kinh tế - xã hội của dự án
Về phương pháp tính toán hiệu quả, các công thức tính toán cũngtương tự như phương pháp phân tích tài chính, kinh tế - xã hội của dự án đầu tưmua sắm máy móc riêng lẻ, nhưng phức tạp hơn vì ở đây có thể có nhiều máymóc xây dựng được mua để cho thuê Thời gian tính toán ở đây có thể lấy theohai cách:
- Lấy theo thời kỳ tồn tại của toàn doanh nghiệp cho thuê máy Trongtrường hợp này máy móc có thể bị thay thế giữa chừng do hết tuổi thọ quy định.Thời gian tính toán ở đây có thể lấy bằng tuổi thọ của máy có chỉ tiêu này lớnnhất, hay lấy bằng bội số chung bé nhất của các tuổi thọ của các máy Dòng tiền
tệ của dự án ở đây là tổng hợp các dòng tiền tệ của các máy riêng lẻ
- Với mỗi máy xây dựng ta lập một dự án riêng và do đó thời kỳ tínhtoán được lấy bằng tuổi thọ của máy Trong trường hợp này các loại chi phíchung cho toàn doanh nghiệp phải được phân bổ cho tổng đầu máy phụ thuộcvào doanh số của mỗi máy hàng năm theo ước tính để lập dòng tiền tệ
Về vốn đầu tư, chỉ tiêu này có thể lớn hơn so với trường hợp mua sắmcác máy xây dựng riêng lẻ, vì bên cạnh các kho để máy ở đây còn có thể có nhucầu về vốn để xây dựng các cơ sở bảo quản và sửa chữa
2.3 Phân tích DAĐTmua sắm máy móc về mặt tài chính, kinh tế-xã hội
2.3.1 Xác định số liệu để phân tích
Trong phần này cần xác định các số liệu sau:
- Vốn đầu tư mua sắm máy xây dựng, dự kiến tuổi thọ của máy và giá trịthu hồi khi đào thải máy
- Vốn lưu động phục vụ máy khi vận hành, chủ yếu là dự trữ nhiên liệu,vật liệu xây dựng (ví dụ cho máy trộn vữa), dự trữ phụ tùng thay thế (tính theo
số ngày dự trữ theo định mức)
Trang 31- Chi phí sử dụng máy hàng năm tương ứng với khối lượng công việchàng năm của máy theo dự kiến.
- Chi phí vận hành máy hàng năm không có khấu hao
- Doanh thu hàng năm của máy theo dự kiến
- Khấu hao cơ bản hàng năm và các khoản trừ dần (nếu có)
- Tiến độ vay vốn, trả vốn đi vay và các khoản lãi
- Xác định tiền thuế và tiền thuê cơ sở hạ tầng khi sử dụng máy
- Xác định hiệu số giữa doanh thu và chi phí vận hành (còn lại chính làlợi nhuận và khấu hao cơ bản)
- Xác định suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được
- Lập dòng tiền tệ của dự án
2.3.2 Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính
Để tính toán hiệu quả tài chính của dự án đầu tư có thể dùng nhóm chỉtiêu tĩnh hoặc chỉ tiêu động, trong đó ta phải chọn một chỉ tiêu nào đó là chủ yếucó kết hợp với một vài chỉ tiêu khác để chọn phương án cuối cùng
2.3.2.1 Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh
Các chỉ tiêu tĩnh là các chỉ tiêu tính cho một năm dự án và sau đó không
kể đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian của cả đời dự án cũng nhưkhông tính đến giá trị của tiền tệ theo thời gian
Chỉ tiêu này thường được dùng để tính toán cho giai đoạn nghiên cứu tiềnkhả thi hoặc cho các dự án bé Sau đâu là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chủyếu:
a Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí.
Theo phương pháp này phương án tốt nhất là phương án có chi phí tínhcho một đơn vị sản phẩm (ký hiệu là Cđ) là bé nhất:
Trang 32V: vốn đầu tư cho phương án, nếu có kèm theo một số vốn lưu động cầnthiết thì số vốn lưu động này không phải chia đôi;
r: lãi suất đi vay vốn để đầu tư vào phương án (trường hợp đi vay vốn đểđầu tư) hay là mức thu lợi tối thiểu theo thị trường (nếu là vốn tự bỏ ra để đầu tư)
Cn: chi phí sản xuất hàng năm để sản xuất ra sản phẩm (giá thành sảnphẩm tính cho năm), bao gồm chi phí khả biến và chi phí bất biến (không kểthành phần Vr/2);
V/2: mức ứ đọng vốn trung bình phải trả lãi khi áp dụng phương phápkhấu hao cơ bản tuyến tính và giả định rằng tiền khấu hao sẽ được đem trả nợngay sau khi khấu hao hoặc được dùng để sinh lợi ngay và giá trị thu hồi khithanh lí tài sản không có ảnh hưởng
Nếu dự án sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau thì có thể tính chi phí chomôt đồng giá trị sản phẩm như sau:
Cđ = G1 .( V r
2 +C n) → minTrong đó
G: giá trị sản lượng hàng năm của dự án
Ưu điểm của phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí:
- Tính toán khá đơn giản so với các phương pháp khác
- Ít chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu của thị trường đầu ra của sảnphẩm, vì trong tính toán không phản ánh trực tiếp chỉ tiêu lợi nhuận, do đó kếtquả so sánh có thể phản ánh đúng bản chất ưu việt của phương án kỹ thuật vềmặt kinh tế hơn
- Thích hợp với so sánh các phương án nhỏ, và khi chúng chỉ khác nhau
về chi phí (còn giá cả thì khác nhau)
Nhược điểm của phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí:
- Chỉ tính toán cho một năm nên không phản ánh được tình hình biếnđộng của các chỉ tiêu theo dòng thời gian
- Không phản ánh được kết quả đầy đủ của cả đời dự án
Trang 33- Không phản ánh được hiện tượng trượt giá theo thời gian.
- Không phản ánh giá trị sản lượng của dự án và kết quả tính ra khôngđược so sánh với một ngưỡng hiệu quả tối thiểu cho phép, không phản ánh đượcchỉ tiêu lợi nhuận, một chỉ tiêu cơ bản của hiệu quả tài chính
- Chỉ tiêu chỉ cho kết quả so sánh trùng với khi dùng phương pháp sosánh theo chỉ tiêu lợi nhuận khi giá cả sản phẩm của các phương án bằng nhau
b Phương pháp so sánh hiệu quả theo chỉ tiêu lợi nhuận.
Như trên, phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí chỉ phù hợp khi giá
cả sản phẩm cả các phương án giống nhau, trong khi đó thực tế giá cả sản phẩmcủa các phương án thường khác nhau do chất lượng sản phẩm mà cung cầu khácnhau Do đó đã nảy sinh phương pháp so sánh phương pháp theo chỉ tiêu lợinhuận, theo đó phương án tốt nhất khi nó thỏa mãn điều kiện sau:
Lđ = Gđ - Cđ → max
Trong đó:
Lđ: là lợi nhuận của một sản phẩm;
Gđ: giá bán của một sản phẩm;
Cđ: giá thành của một sản phẩm
Những ưu điểm của phương pháp so sánh phương án theo chỉ tiêu lợinhuận là:
- Tính toán tương đối đơn giản so với các phương pháp khác
- Có thể tính đến nhân tố giá trị sản lượng và do đó phù hợp với mộttrường hợp so sánh thường xảy ra trong thực tế là giá cả sản phẩm của các phương
án là khác nhau do chất lượng khác nhau hay quan hệ cung cầu khác nhau
- Phản ánh được nhân tố lợi nhuận, chỉ tiêu hiệu quả thường được cácnhà kinh doanh quan tâm nhất
Những nhược điểm của phương pháp này là
- Chỉ tính toán cho một năm, do đó không phản ánh được sự biến độngcủa các chỉ tiêu theo thời gian
Trang 34- Không phản ánh được kết quả của cả đời dự án.
- Không phản ánh được tình hình trượt giá qua các năm
- Không được so sánh với một ngưỡng hiệu quả tối thiểu chấp nhận được
- Chịu sự tác động của quan hệ cung cầu, do đó hai phương án có cùngmột giải pháp kỹ thuật lại có thể có khoản thu lợi nhuận khác nhau do quan hệcung cầu tác động ở các địa phương khác nhau hay thời gian khác nhau Do bảnchất ưu việt về mặt kinh tế của phương án kỹ thuật bị bóp méo
- Phương pháp này chỉ phù hợp khi các phương án có vốn đầu tư ban đầubằng nhau hay xấp xỉ nhau, vì nó chưa xem xét vấn đề trong mối quan hệ giữalợi nhuận và vốn đầu tư ban đầu bỏ ra
c Phương pháp so sánh chỉ tiêu mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư.
Theo phương pháp này phương án đang xét được coi như có hiệu quả(đáng giá) khi điều kiện sau đây được đảm bảo:
D = L/(Vo + Vm/2) ≥ Rmin và → max
Trong đó:
D: Mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư;
L: lợi nhuận ròng hàng năm cộng với tiền trả lãi cho vốn vay để đầu tư(nếu doanh nghiệp đầu tư bằng vốn vay) Trị số lợi nhuận có thể tính cho mộtnăm đại diện hay ước lượng trung bình cho cả đời dự án nếu có thể được và đãtrừ thuế
Vo: vốn đầu tư của một dự án cho mọi tài sản không hao mòn (như nhàxưởng) và loại không hao mòn (như vốn lưu động dùng cho quá trình khai thác
dự án)
Vm: Vốn đầu tư cho loại tài sản hao mòn thường xuyên, ví dụ thiết bị máymóc Trong trường hợp khấu hao tuyến tính thì mức vốn trung bình sử dụngbằng Vm/2, vì sau khi khấu hao thì số tiền này được giải phóng dùng vào việckhác thay trả nợ
Rmin: mức doanh lợi tối thiểu chấp nhận được;
Trang 35Trị số Vo và Vm có thể bị trừ đi giá trị thu hồi khi thanh lý tài sản ở cuốiđời tài sản, nếu trị số này lớn đáng kể.
Trong trường hợp vốn đầu tư bị bỏ ra nhiều lần thì trị số V0 và Vm sẽ chỉlấy của lần đầu (nếu ở đây là một sự thay thế tài sản cố định theo một chu kì đềuđặn do hết niên hạn sử dụng), hoặc phải tính theo số bình quân gia quyền, màquyền số ở đây là thời gian của mỗi mức vốn (nếu vốn đầu tư ban đầu bị bỏ ratheo nhiều đợt)
Trong trường hợp đầu tư trực tiếp vào phương án cũ thì chỉ tiêu L, V0, Vm
ở công thức trên được tính theo dạng gia số so với phương án cũ
Trong trường hợp đầu tư cho các biện pháp hợp lí hóa, chỉ tiêu L cònđược thay bằng chỉ tiêu tiết kiệm chi phí giữa hai phương án
Những ưu điểm của phương pháp này là:
- Tính toán tương đối đơn giản
- Gắn liền với lợi nhuận với chỉ tiêu vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, hiệu quảđược thể hiện ở dạng số tương đối nên mức hiệu quả được biểu diễn chính xác hơn
- Phản ánh được chỉ tiêu hiệu quả mà các nhà kinh doanh quan tâm
- Hiệu quả tính ra có thể được so với một ngưỡng hiệu quả cho phép
Những nhược điểm của phương pháp này là:
- Chỉ tính toán cho một năm nên không thể hiện được sự biến động theochỉ tiêu theo thời gian
- Không phản ánh đầy đủ kết quả của cả đời dự án
- Không phản ánh được tình hình trượt giá theo thời gian
- Vì phải dùng chỉ tiêu lợi nhuận để tính toán nên chịu ảnh hưởng củaquy luật cung cầu
- Một phương án có chỉ tiêu mức doanh lợi của đồng vốn D lớn nhấtnhưng lại có chỉ tiêu lợi nhuận tính theo số tuyệt đối bé hơn nhưng chưa chắc đã
là phương án tốt nhất Trong trường hợp này người ta thường chọn chỉ tiêu lợi
Trang 36nhuận theo số tuyệt đối lớn nhất, còn chỉ tiêu mức doanh lợi chỉ cần lớn hơn mộtngưỡng hiệu quả cho phép.
d Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn.
(1) Nguồn tiền dùng hoàn vốn là đều đặn hàng năm:N h
Ký hiệu Th là thời hạn hoàn vốn thì ta có:
Th = N V
h minTrong đó:
V: vốn đầu tư ban đầu của phương án;
Nh: nguồn tiền dùng để hoàn vốn bao gồm: hoàn vốn nhờ lợi nhuận(L)hoặc là hoàn vốn nhờ lợi nhuận và khấu hao (L+D)
(2) Nguồn tiền dùng để hoàn vốn là không đều.
Khi đó kí hiệu nguồn tiền hoàn vốn hàng năm là N h t , và N h t không đều vớit= 1÷ n Khi đó có thể tính thời gian hoàn vốn Th ta dùng phương pháp trừ dầnsao cho:
V- ∑
t =1
T h
N h t = 0Từ đó nội suy ra Th.
Những ưu điểm của phương pháp này là:
- Tính toán tương đối đơn giản so với nhiều phương pháp khác
- Cho phép chủ đầu tư đảm bảo được tính an toàn của dự án, tránh đượccác rủi ro thường có của nền kinh tế thị trường thông qua việc thu hồi vốn
Những nhược điểm của phương pháp này:
- Trong trường hợp chỉ tiêu khấu hao cơ bản và lợi nhuận khấu hao đềuđặn đã không chú ý đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian cho cả đờicủa dự án
- Không phản ánh được tình hình trượt giá
Trang 37- Chú ý hàng đầu đến nhân tố tránh rủi ro, để tiêu chuẩndoanh lợi xuốngmức dưới của dự án.
2.3.2.2 Phương pháp dùng chỉ tiêu động
Các chỉ tiêu động là các chỉ tiêu có tính chất biến động theo thời giantrong cả đời dự án Khi áp dụng các chỉ tiêu động, một vấn đề quan trọng đềutiên là phải lập dòng tiền của phương án
Kết quả tính toán phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất của dòng tiền tệ với cácđặc trưng chủ yếu của nó:
- Độ lớn của mỗi chỉ tiêu ở mỗi thời điểm
- Sự phân bố các chỉ tiêu theo độ lớn của chúng theo dòng thời gian
- Suất thu lợi tối thiểu tính toán đã quy định
Quá trình tính toán so sánh hai phương án ở đây phải luôn luôn được tiếnhành theo hai bước:
- Xét sự đáng giá (có tính hiệu quả) của mỗi phương án được đưa vào so sánh
- Lựa chọn phương án tốt nhất trong các phương án đáng giá
(1) Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi.
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp hiệu số lợi ích - chi phíhay phương pháp giá trị thu nhập ròng và lại được phân thành các trường hợpriêng như sau:
a Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi được quy về thời điểm hiện tại.
Chỉ tiêu hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại thường được ký hiệu làNPW và NPV, và còn được gọi là hiệu số thu chi, hiện giá thu nhập ròng Chỉtiêu này là số thu nhập ròng sau khi đã trừ đi mọi chi phí và thiệt hại, kể cả chi
Trang 38phí để trả lãi vốn vay ở mức lãi suất tối thiểu (r) Ở đây mọi chỉ tiêu thu chi đềuđược quy về thời điểm hiện tại Các bước tính toán như sau:
Xác định sự đáng giá (có hiệu quả) của mỗi phương án
Theo phương pháp này một phương án được coi là đánh giá khi điều kiệnsau sau đây được thỏa mãn:
Bt: Khoản thu ở các năm t, các khoản thu ở đây có thể gồm:
- Doanh thu do bán hàng ở năm t chưa trừ thuế
- Giá trị thu hồi khi thanh lý tài sản do hết tuổi thọ quy định ở các thờiđiểm trung gian và thời điểm cuối cùng của dự án;
- Vốn lưu động bỏ ra ban đầu được thu về ở cuối đời của dự án
Ct: Khoản chi ở năm t Các khoản chi có thể gồm:
- Chi phí đầu tư để mua sắm máy móc, hay xây dựng nhà xưởng (tài sản
cố định) ở thời điểm ban đầu và các thời điểm trung gian, cũng như còn vốn lưuđộng tối thiểu bỏ ra từ đầu để khai thác dự án;
- Chi phí vận hành dự án (bằng chi phí sản xuất hay dịch vụ không cókhấu hao cơ bản và trả tiền lãi vỗn vay, nhưng có thuế)
n: Tuổi thọ của dự án đầu tư hoặc là thời kỳ tính toán;
r: suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được do chủ đầu tư định đoạt xuất pháttừ lãi suất của đồng vốn trên thị trường và ý đồ kinh doanh của mình
Các chỉ tiêu trên được quy ước là được đặt ở cuối mỗi thời đoạn (năm) trừthời điểm t=0
Lựa chọn phương án tốt nhất
Khi một phương án nào đó không đảm bảo điều kiện trên thì nó bị loại rakhỏi quá trình tính toán Trong các phương án đáng giá còn lại ta sẽ chọn lấyphương án đáng giá nhất theo điều kiện sau:
Trang 39NPW = max
Cần phải chú ý rằng trị số NPW phụ thuộc rất nhiều vào độ lớn của mỗichỉ tiêu ở mỗi thời điểm, vào sự phân bố các chỉ tiêu về độ lớn theo dòng thờigian và vào trị số của suất thu lợi tối thiểu r đã được lựa chọn để tính toán Khimọi điều kiện giữ nguyên, chỉ có trị số r thay đổi thì trị số của NPW sẽ càng lớnhơn (thậm chí trở thành số âm) khi trị số r tăng lên Do đó có thể kết luận: tùytheo độ lớn của chỉ tiêu suất thu lợi tối thiểu r được lựa chọn là một phương áncó thể là đáng giá (khi NPW dương) hay là không đáng giá (khi NPW âm) Trị
số r có mối liên hệ rất chặt chẽ với độ rủi ro dự tính của dự án đầu tư, vì vậy việclựa chọn đúng trị số r là một điều rất khó khăn và rất quan trọng
Ưu nhược điểm của phương pháp:
- Các ưu điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu NPW:
+ Có tính đến sự biến động các chỉ tiêu theo thời gian, tính toán hiệu quảbao trùm cho cả đời dự án
+Có tính đến giá trị tiền tệ theo thời gian
+Có thể tính đến trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉtiêu Bt, Ct và r
+Có thể tính đến nhân tố rủi ro tùy theo mức độ tăng giảm của chỉ tiêusuất thu lợi tối thiểu r
+ Kết hợp được hai chỉ tiêu: lợi nhuận và an toàn (vì đã phản ánh thờigian hoàn vốn nhờ khấu hao và lợi nhuận)
+ Có thể so sánh các phương án có vốn đầu tư khác nhau mà không cần cótính toán điều chỉnh
+ Tính toán tương đối đơn giản hơn so với các chỉ tiêu động khác, và là cơsở để tính toán nhiều chỉ tiêu động khác
+ Là chỉ tiêu ưu tiên khi chọn phương án tốt nhất
- Các nhược điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu NPW
Trang 40+ Nó chỉ đảm bảo kết quả chính xác trong điều kiện của thị trường vốnhoàn hảo, một điều khó đảm bảo trong thực tế.
+ Khó dự báo chính xác các chỉ tiêu cho cả đời dự án
+ Kết quả lựa chọn phương án phụ thuộc vào độ lớn của chỉ tiêu suất thulợi tối thiểu r, việc xác định chỉ tiêu này rất phức tập
+ Thường nâng đỡ các phương án có vốn đầu tư nhỏ và ngắn hạn
+ Hiệu quả tính toán ra là hiệu quả tính toán theo số tuyệt đối và khôngđược biểu diễn dưới dạng số tương đối, chỉ tiêu NPW chỉ nói rõ là phương án đãđạt mức lãi suất tối thiểu r (khi NPW ≥ 0) nhưng không nói rõ mức lãi suất đạtđược cụ thể là bao nhiêu như chỉ tiêu IRR
b Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi quy về thời điểm tương lai cuối đời dự án.
Chỉ tiêu này thường được ký hiệu là NFW hay NFV Các chỉ tiêu nàyđược quy về cuối đời dự án
Xét sự đáng giá của dự án
Theo phướng pháp này một chỉ tiêu được coi là đáng giá khi đảm bảo điềukiện sau:
Lựa chọn phương án tốt nhất
Để lựa chọn phương án tốt nhất ta tìm trong các phương án đáng giá mộtphương án sao cho trị số NFW = max
Ưu nhược điểm của phương án
Phương pháp dùng chỉ tiêu NFW cũng có các ưu nhược điểm tương tự nhưphương pháp dùng chỉ tiêu NPW, vì công thức tính toán của chúng đề gồm cácthành phần giống nhau, chỉ khác một điều là chỉ tiêu NPW thì quy các chỉ tiêu vềthời điểm ban đầu, còn chỉ tiêu NFW lại quy các chỉ tiêu về thời điểm cuối