1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 6 tuổi tại các trường mầm non huyện thanh trì, thành phố hà nội

136 332 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành Luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” tác giả đã nhận được rất nhiều s

Trang 1

_



NGUYỄN THỊ THU GIANG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH TÙNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

5 - 6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” tác giả

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cơ quan, trường học, bạn bè và người thân

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Nguyễn Thanh Tùng người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Học viên Quản lý Giáo dục, phòng Đào tạo Sau Đại học đã trang bị vốn kiến thức lý luận về khoa học quản lý, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ đã dành thời gian đọc và góp ý cho luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh học sinh tại các trường mầm non, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và khảo nghiệm để thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi có được luận văn này

Mặc dù trong quá trình thực hiện tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến của các bạn quan tâm

Tôi xin chân thành cảm ơn !

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thu Giang

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên Thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Quản lý giáo dục 13

1.2.3 Quản lý giáo dục mầm non 14

1.2.4 Kỹ năng 14

1.2.5 Kỹ năng sống 15

1.2.6 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non 16

1.3 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 16

1.3.1 Vị trí của trường mầm non 16

1.3.2 Mục tiêu chương trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi 16

1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý trẻ lứa tuổi 5 - 6 tuổi [18] 18

1.3.4 Đặc điểm phát triển kỹ năng sống của trẻ 5 - 6 tuổi 20

Trang 4

1.4 Yêu cầu đổi mới hoạt động GD cho trẻ tuổi ở trường mầm non trong đó

có hoạt động GD KNS cho trẻ 21

1.5 Hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 22

1.5.1 Mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 22

1.5.2 Nội dung hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 23

1.5.3 Phương pháp tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 27

1.5.4 Hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 28

1.6 Quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 29

1.6.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 29

1.6.2 Quản lý việc xây dựng nội dung chương trình hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 31

1.6.3 Quản lý việc thực hiện phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 32

1.6.4 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 32

1.6.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 33

1.7 Yếu tố tác động đến chất lượng quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 33

1.7.1 Nhận thức và năng lực của đội ngũ giáo viên 33

1.7.2 Mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục mầm non 34

1.7.3 Môi trường giáo dục 34

1.7.4 Tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống 35

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN THANH TRÌ, TP HÀ NỘI 38

2.1 Thực trạng phát triển giáo dục mầm non Huyện Thanh Trì 38

2.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế- xã hội, giáo dục ở huyện Thanh Trì 38

2.1.2 Khái quát giáo dục mầm non Huyện Thanh Trì 40

Trang 5

2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các

trường mầm non công lập huyện Thanh Trì 49

2.2.1 Nhận thức của CBQL, GV, phụ huynh học sinh về việc GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 50

2.2.2 Việc xác định và thực hiện mục tiêu hoạt động GDKNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 51

2.2.3 Việc xây dựng, thực hiện nội dung GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 51

2.2.4 Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 53

2.2.5 Kết quả hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 56

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì 57

2.3.1 Quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 57

2.3.2 Quản lý xây dựng nội dung, chương trình hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 58

2.3.3 Quản lý thực hiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 59

2.3.4 Quản lý CSVC và thiết bị phục vụ hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 60

2.3.5 Quản lý lực lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non 62

2.3.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 63

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi trong các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì 64

2.5 Đánh giá chung 65

2.5.1 Ưu điểm 65

2.5.2 Hạn chế 66

2.5.3 Nguyên nhân 67

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN THANH TRÌ, TP HÀ NỘI 70

3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 70

Trang 6

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 70

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 70

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 70

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 71

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 71

3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của CBQL, GV và phụ huynh học sinh về sự cần thiết GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 71

3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non 76

3.2.3 Biện pháp 3: Phát triển nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 78

3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên trong tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 84

3.2.5 Biện pháp 5: Đầu tư và quản lý sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, xây dựng môi trường GD phục vụ hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 86

3.2.6 Biện pháp 6: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 88

3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 90

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 92

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 92

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 92

3.4.3 Quy trình khảo nghiệm 92

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 93

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập 40

Bảng 2.2: Thực trạng cơ sở vật chất giáo dục mầm non toàn huyện 41

Bảng 2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý 44

Bảng 2.4 Đội ngũ giáo viên dạy lớp 5 - 6 tuổi trường mầm non công lập 46

Bảng 2.5 Sự cần thiết giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 50

Bảng 2.6 Thực trạng xác định và thực hiện mục tiêu GD KNS ở các trường MN công lập trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội 51

Bảng 2.7 Những nội dung GDKNS đang được thực hiện tại các nhà trường 52

Bảng 2.8 Mức độ sử dụng các phương pháp GDKNS đang được thực hiện tại các nhà trường 54

Bảng 2.9 Những hình thức GDKNS đang được thực hiện tại các nhà trường 55

Bảng 2.10 Đánh giá về các kỹ năng sống đã có của trẻ 5 - 6 tuổi trong các trường công lập tại huyện Thanh Trì, Hà Nội 56

Bảng 2.11 Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì hiện nay 57

Bảng 2.12 Đánh giá về việc xây dựng mục tiêu và kế hoạch GD KNS 58

Bảng 2.13 Đánh giá thực trạng quản lý nội dung, chương trình hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 59

Bảng 2.14 Đánh giá thực trạng quản lý phương pháp, hình thức tổ chức HĐ GD KNS 60

Bảng 2.15 Quản lý cơ sở vật chất phương tiện phục vụ hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 61

Bảng 2.16 Đánh giá mức độ cần thiết của sự phối hợp các lực lượng trong hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 62

Bảng 2.17 Đánh giá việc quản lý kết quả hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường MN công lập huyện Thanh Trì 63

Bảng 2.18 Những yếu tố ảnh hưởng đến GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi 65

Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì 94

Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội 95

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp 94

Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Giáo dục và

đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [9] Nhận thức sâu sắc

tầm quan trọng của GD&ĐT đối với sự phát triển đất nước trong tình hình mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) nhấn mạnh

về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT: “Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát

triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi

có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” [10]

Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN có nhiệm vụ quan trọng đối với việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt

Nam Mục tiêu của GDMN là “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,

thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một” [17]

Vào lớp 1 là bước ngoặt quan trọng của trẻ, hoạt động chủ đạo chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập với môi trường mới, thầy cô, bạn bè mới, trẻ phải tự lập hơn khiến trẻ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ nếu không được chuẩn bị tốt

về mọi mặt đặc biệt là những KNS cần thiết Việc hình thành KNS nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách Cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết, những KNS để mỗi trẻ biết cách sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa Giúp trẻ hiểu và biến những kiến thức về KNS được cung cấp thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực

Theo CTGDMN do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo thông tư số BGD&ĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo nói chung và lứa tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi nói riêng được thực

Trang 10

17/2009/TT-hiện dựa theo các chủ đề và lĩnh vực phát triển của trẻ bao gồm 5 lĩnh vực: GD phát triển thể chất; GD phát triển nhận thức, GD phát triển thẩm mỹ, GD phát triển ngôn ngữ; GD phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội Tuy nhiên, nội dung GD lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội không được quy định thành bộ môn riêng biệt

mà được lồng ghép trong các hoạt động và bộ môn khác

Với địa bàn huyện Thanh Trì là vùng ngoại thành có mặt bằng dân cư đa dạng, trình độ dân trí không đồng đều phần lớn người dân là lao động phổ thông, một phần là công nhân viên chức với mức sống bình quân thấp, môi trường sống phức tạp dẫn đến nhiều tác động khác nhau lên trẻ lứa tuổi này Khi gặp tình huống có vấn đề mỗi trẻ có cách phản ứng, xử lý khác nhau tùy theo hoàn cảnh Tuy nhiên, nhìn chung trẻ thường nhút nhát, phản ứng chậm hơn trẻ em nội thành tuy cùng độ tuổi Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu cụ thể đặc điểm tâm sinh lý trẻ, đặc điểm địa phương và những kỹ năng cần thiết phù hợp với trẻ ở địa phương đó để đưa vào chương trình giáo dục và quản lý hoạt động GD cho trẻ em 5-6 tuổi một cách khoa học và có chiến lược tại trường mầm non giúp trẻ em chuẩn bị tâm lý vững vàng, có đầy đủ hành trang vững vàng, tự tin bước vào lớp 1

Thực tế cho thấy ở huyện Thanh Trì nội dung GD KNS đã được triển khai thực hiện trong chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại các trường mầm non Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đó là một số bộ phận GV, PHHS chưa nhận thức rõ sự cần thiết phải GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi, việc GD KNS

và quản lý GD KNS còn mờ nhạt; việc xây dựng kế hoạch GD KNS của các đồng chí CBQL cũng như GV chưa thật sát sao, chi tiết; các nội dung, sử dụng hình thức, phương pháp GD KNS chưa sáng tạo, chưa thực sự hiệu quả v.v Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có sự biến đổi thực sự về nhận thức trong đội ngũ CBQL, GV

và những người tham gia làm các hoạt động GD KNS Đồng thời hoạt động GD KNS phải thực sự được BGH mà trực tiếp là Hiệu trưởng các nhà trường tâm huyết, đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả thì chất lượng GD KNS mới đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD của ngành GD nói riêng và của xã hội ngày nay

Trang 11

Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ

năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố

Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ QLGD tại Học viện Quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và phân tích thực trạng về QL hoạt động GD KNS cho trẻ em 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non huyện Thanh Trì, đề xuất một số biện pháp QL hoạt động GD KNS cho trẻ em 5 - 6 tuổi nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi trong các nhà trường một cách hoàn

thiện, khoa học và phù hợp theo yêu cầu của xã hội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi tại các

trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở

các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Chất lượng GD nói chung và chất lượng GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội những năm gần đây

đã có những chuyển biến đáng khích lệ Tuy nhiên, so với yêu cầu và sự tiến bộ của

xã hội vẫn còn nhiều hạn chế Nếu có những nghiên cứu về KNS và QL hoạt động

GD KNS trong các trường mầm non một cách đầy đủ, khoa học và toàn diện đề tài

sẽ đề xuất các biện pháp QL hoạt động GD KNS một cách khoa học, phù hợp thực tiễn trong công tác QL hoạt động GD KNS ở các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động GD KNS và QL hoạt động GD KNS

ở trường mầm non cho trẻ 5-6 tuổi

- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi và QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Trang 12

- Đề xuất các biện pháp QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng

GD trẻ

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Thời gian nghiên cứu

Số liệu nghiên cứu được thu thập thông tin trong giai đoạn từ năm 2013 -

2016, đề xuất các biện pháp quản lý giai đoạn 2016 - 2020

6.2 Địa bàn nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi của CBQL tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

6.3 Khách thể điều tra

Tác giả tiến hành thăm dò và lấy ý kiến về tính cấn thiết và khả thi của biện pháp đề xuất đối với 190 người (40 CBQL, 100 GV và 50 PHHS) của các trường

mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân

tích, tổng hợp, khái quát hóa…các tài liệu, văn bản về khoa học quản lý, hoạt động

GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non để phân tích và tổng hợp các lý thuyết có liên quan nhằm hiểu sâu sắc hơn mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức của hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi, từ đó nghiên cứu, sắp xếp thành một

hệ thống tri thức làm cơ sở lý luận cho đề tài

Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động hàng ngày để tìm hiểu thái độ, hành vi, KNS của trẻ 5 - 6 tuổi trong các mối quan hệ ứng xử đối với mọi người

+ Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành xin

ý kiến, góp ý, hướng dẫn của các thầy giáo, cô giáo có nhiều kinh nghiệm trong công việc xây dựng đề tài, xử lý số liệu, xây dựng các biện pháp QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non

Trang 13

+ Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn trao đổi với CBQL, GV, PHHS của các trường mầm non công lập huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Để đảm bảo tính khách quan và có

cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp QL sau này, tác giả tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến cho CBQL, GV tham gia giảng dạy và PHHS có con từ 5 -6 tuổi tại các trường mầm non trong huyện Thanh Trì

Phương pháp thống kê: Phương pháp này tác giả sử dụng để xử lý các kết

quả nghiên cứu thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho

trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6

tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6

tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên Thế giới

Trên thế giới, việc nghiên cứu KNS đã được nhiều tổ chức con người quan tâm và tìm hiểu, vì đây là một trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người Trước tiên, những khái niệm về KNS đã được đề cập đến trong những nghiên cứu của UNESCO khi cho rằng: “KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày” [39] Bên cạnh

đó, UNICEF cũng đề cập đến khái niệm, đặc điểm và những con đường hình thành KNS, trong nhiều nghiên cứu khác nhau Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng nghiên cứu về KNS như là một năng lực cá nhân

Tại Mỹ, năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư ký về Rèn luyện các kỹ năng cần thiết (The secretary’s comission on achieving necessary skills - SCANS) Mục đích của ủy ban này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng, thì mới cải thiện được hiệu quả lao động Tại Úc (1990 - 2002), Hội đồng kinh doanh Úc (The business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Khoa học Úc (The department of edutralian - science and training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (The Australia nationnal training authority - ANTA) đã xuất bản quyển tài liệu “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) Quyển sách đề cập đến những kỹ năng và kiến thức mà người lao động cần phải có, trong đó liên quan đến nhiều kỹ năng sống Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có việc làm

Trang 15

mà còn để tiến bộ trong tổ chức khi phát huy tiềm năng của cá nhân và đóng góp các định hướng chiến lược của tổ chức

Sách “The Indispensable Book of Parctical Life Skills” của tác giả Nic Compton cung cấp cách để giải quyết những vấn đề làm bối rối và làm choáng ngợp trước những thách thức của cuộc sống cho mọi lứa tuổi Hướng dẫn này hỗ trợ giảng viên, các bậc phụ huynh xử lý gồm tất cả các tình huống khó xử trong cuộc sống Sách được đề cập từng bước hướng dẫn, dễ thực hiện cho mọi lứa tuổi

Sách “Teaching Your Children Life Skills” của tác giả Deborah Carroll đề cập đến 10 điều quan trọng cần lưu ý khi dạy con em; làm thế nào để công việc, các chuyến đi mua sắm, các kỳ nghỉ và các tình huống khác trở thành cơ hội học tập

những kỹ năng thực hành quan trọng; chỉ ra cách để giúp các em rèn luyện cách cư

xử tốt và các giá trị tốt đẹp mà không cần giảng dạy dai dẳng, và hướng dẫn để phát triển lòng tự trọng và KNS lâu dài thông qua công việc hằng ngày

Sách “The Practical Life Skills Workbook” của Ester A Leutenberg, John J Liptak cho rằng KNS thực sự quan trọng hơn chỉ số thông minh KNS là những kỹ năng vô giá của người sử dụng hằng ngày, cho phép họ tạo ra cuộc sống mà họ mong muốn Chỉ số thông minh của một người có KNS gồm cả thể chất, tinh thần,

sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh

Những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một số nước gần với Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á nói chung như: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan…việc nghiên cứu KNS theo hướng áp dụng thử nghiệm rất được quan tâm, và triển khai chương trình dạy KNS ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông Mục tiêu chung của GD KNS được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng

và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống” Điển hình như tại Ấn Độ, KNS được xem là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người KNS có thể hiểu bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn

đề, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, ra quyết

Trang 16

định, đàm phán, tự nhận thức, đối phó với stress và cảm xúc, từ chối, kiên định và hài hòa…

Tại Nepal, có thể thấy việc nghiên cứu về KNS trên bình diện khái niệm rất được quan tâm KNS được xem là một phương thức ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại

Ở Lào (1997 - 2002), GD KNS được thực hiện với những nội dung cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng giải quyết vấn đề…

Ở Thái Lan, việc quan tâm đến KNS khá sớm Nghiên cứu về KNS được thực hiện bởi những tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức GD của Bộ - Ban ngành trong nước Tại đây họ quan niệm KNS là những thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả những tình huống hằng ngày và đáp ứng được với hoàn cảnh tương lai để sống hạnh phúc Nói cách khác, KNS

là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hằng ngày để sống an toàn và hạnh phúc Từ quan niệm này, họ cho rằng: muốn con người trưởng thành và thích ứng cần hình thành cho con người ít nhất mười KNS

cơ bản: Kỹ năng ra quyết định, Giải quyết xung đột, Sáng tạo, Phân tích - đánh giá, Giao tiếp, Quan hệ liên nhân cách, Làm chủ cảm xúc, Làm chủ được những

cú sốc, Đồng cảm, Thực hành

Như vậy, ở các nước phương Tây và các nước thuộc khu vực Châu Á, KNS được nghiên cứu theo hướng tập trung tìm hiểu về khái niệm, phân loại cũng như hướng huấn luyện KNS cho trẻ em, sinh viên Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách

rõ ràng về khái niệm theo hướng tiếp cận tâm lý học chưa thực sự rõ ràng và sâu sắc Mặt khác, các cách phân loại cũng còn có sự trùng lặp mà chưa thể hiện sự phân loại theo các tiêu chí khoa học khi tiếp cận Đây là những vấn đề cần được quan tâm nhưng chưa có nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng KNS của một lứa tuổi nào đó mà trẻ em lứa tuổi mầm non là một điển hình Việc QL hoạt động GD KNS trong các trường mầm non cũng chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể

Trang 17

1.1.2 Ở Việt Nam

Trước những năm 1990, việc GD rèn luyện KNS cho thế hệ trẻ luôn là mục tiêu quan tâm của các nhà GD Việt Nam Mặc dù khái niệm KNS chưa được nêu ra hay những nghiên cứu về KNS chưa có Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề này được đề cập đến trong chương trình GD của nước ta, như môn học Đạo đức,

GD công dân Bên cạnh đó có nhiều tác giả, dịch giả, học giả nghiên cứu và biên soạn ra những tài liệu, sách học làm người nhằm cung cấp cho mọi giới có thể học biết về cách làm người, cách đối nhân xử thế, phương pháp học tập, tổ chức đời sống cho khoa học… Có thể nêu lên một số tác giả nổi danh: Nguyễn Hiến Lê với tác phẩm Đắc nhân tâm, Tổ chức công việc theo khoa học; Hoàng Xuân Việt với tác phẩm “Rèn nhân cách”, “Nghệ thuật giao tiếp”; “Phép lịch sự” của Phạm Công Hoàn…Những tài liệu này đã góp phần rất lớn trong việc trang bị những kỹ năng nhất định để sống, làm việc cho con người Việt Nam Điều đó cho thấy việc nghiên cứu KNS tuy chưa được gọi chính thức như nghiên cứu về KNS nhưng đã được quan tâm đề cập đến nhiều

Tuy nhiên, thuật ngữ “Kỹ năng sống” chỉ bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ 20) Khi ấy, xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp - nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam; sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người; vì lẽ đó đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi; ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, những kỹ năng khác như năng lực làm việc bắt đầu được xem xét và quan tâm Đây chính là điều kiện để GD Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ KNS trong chương trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới

Đầu những năm 1990, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản tại quyết định 1363/TTg về việc “đưa nội dung GD môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Trong văn bản này có đề cập đến việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi trường, thái độ sống như những biểu hiện ban đầu của KNS Tiếp đến chỉ thị số 10/GD&ĐT năm 1995 hay chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ Giáo dục và Đào

Trang 18

tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống ma túy tại trường học Đây cũng

là hướng đề cập đến những kỹ năng cần có của học sinh như: từ chối, bảo vệ bản thân, ứng xử với ngưới có HIV…

Sau những năm 1990, một số dự án bắt đầu được thực hiện ở các tỉnh thành

để thử nghiệm việc GD KNS cho những đối tượng thiệt thòi Trên cơ sở đó, những nghiên cứu về KNS cũng bắt đầu được phát triển từ những năm 1998 - 2000 Dưới

sự phát triển cùng những thử thách của đời sống, KNS không chỉ là vấn đề cần thiết cho trẻ em mà vị thành niên, thanh niên cũng là những đối tượng rất cần trang bị những KNS

Một số tổ chức nước ngoài cũng đã có những nghiên cứu ban đầu về KNS tại Việt Nam dưới dạng huấn luyện và đào tạo thành những dự án UNICEF là một tổ chức tiên phong với chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Giai đoạn một được thực hiện cho những đối tượng trong ngành GD cũng như Hội chữ thập

đỏ Các kỹ năng được lồng ghép như: Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng kiên định, Kỹ năng xác định giá trị…Giai đoạn kế tiếp, KNS bắt đầu được đề cập rộng và sâu hơn như hành trang quan trọng con người cần có trong cuộc sống Sau đó, khái niệm KNS được đề cập với đầy đủ nội hàm sau hội thảo: “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ năm 2003 Thuật ngữ KNS trở nên phổ biến và được quan tâm một cách rộng rãi với nhiều nhà khoa học

Có thể đề cập đến những nghiên cứu về KNS thông qua một số nghiên cứu sau đây xuất phát từ những dự án tài trợ tại Việt Nam:

Biện pháp GD KNS cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn đạo đức ở các trường tiểu học khu vực miền núi phía bắc vào năm 2001

Nghiên cứu mô hình GD KNS cho các em học sinh trường nội trú tình thương Khai Trí tỉnh An Giang vào năm 2002

GD KNS cho nữ học sinh, sinh viên thành phố Long Xuyên vào năm 2004 Tiếp đến, có thể đề cập đến quyển “Giáo trình chuyên đề GD KNS” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2008, sau khi

Trang 19

tác giả tham gia dự án đào tạo GV trung học cơ sở Giáo trình đã tập trung phân tích

về khái niệm KNS, các nguyên tắc và phương pháp GD KNS hiệu quả Tuy nhiên, nội dung cơ bản của từng kỹ năng vẫn chưa được phân tích một cách hệ thống và sâu sắc vì không phải là nội dung trọng tâm của tài liệu này [5]

Năm 2009, NXB Giáo dục lần đầu tiên cho in quyển “GD KNS cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc Mục đích của cuốn sách này tác giả muốn nhắm đến các phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi ở vùng nông thôn Trong đó tác giả phân loại thành 7 nhóm KNS; mỗi nhóm gồm nhiều kỹ KNS; mỗi KNS có hướng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ và gợi ý các hoạt động, phương tiện, hình thức GD [21]

Bộ sách “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân của trường trung học phổ thông” thử nghiệm của Bộ GD-

ĐT viết vào năm 2010 do các tác giả Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân (Ngữ Văn); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Thanh Mai (Giáo dục công dân); Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Minh Phương (Địa lý); Lưu Thu Thủy, Trần Quý Thắng (Sinh học), Nguyễn Trọng Đức nêu lên một số vấn đề chung về KNS và GD KNS cho học sinh trong trường trung học phổ thông, cụ thể là các quan niệm, phân loại, tầm quan trọng của KNS, định hướng GD KNS cho học sinh THPT và GD KNS trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, giáo dục công dân ở trường THPT Tài liệu đề cập đến khái niệm KNS, phân loại và nội dung cơ bản của KNS như quyển Nhập môn KNS của tác giả Huỳnh Văn Sơn [27]; PGS TS Nguyễn Dục Quang với quyển “Hướng dẫn thực hiện GD KNS cho học sinh phổ thông” [24]

Năm 2010, công trình nghiên cứu luận văn cao học của tác giả Nguyễn Hữu Long tập trung vào đối tượng là học sinh trung học cơ sở Tuy nhiên, việc nghiên cứu của tác giả mới giới hạn ở mức tìm hiểu thực trạng KNS và bước đầu thử nghiệm tác động tâm lý để nâng cao một số kỹ năng của học sinh: kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, kỹ năng chia sẻ và hợp tác, kỹ năng phân biệt hành vi hợp lý và hành vi chưa hợp lý

Trang 20

Năm 2012, công trình nghiên cứu luận văn cao học của tác giả Mai Hiền Lê tập trung vào đối tượng là trẻ mầm non 5-6 tuổi Tuy nhiên, việc nghiên cứu của tác giả mới giới hạn ở mức nghiên cứu thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non thực hành Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động này trong các trường mầm non [16]

Tóm lại, các công trình, bài viết nghiên cứu đã đề cập những nội dung cơ bản

về KNS, cách thức GD KNS cho học sinh, sinh viên, song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non đặc biệt là QL hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non công lập thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Quản lý

QL không những là một hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và trở thành một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại - nghề quản lý Chính vậy mà lý luận về QL ngày càng phong phú và phát triển Có

nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh khái niệm “Quản lý”:

Theo Harold Koontz (Mỹ) thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm

phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm Mục tiêu của nhà QL là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì QL là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì QL là khoa học” [34]

Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu

trong quản lý” (1987) quan niệm rằng: "QL là một quá trình có định hướng, quá

trình có mục tiêu, QL là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn" [14, tr 17]

Từ các cách tiếp cận nêu trên, ta thấy: QL là hoạt động có mục đích của con

người, QL với tư cách là một hành động thì QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu chung QL là một hoạt

Trang 21

động thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể QL đến khách thể QL để khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức làm cho tổ chức vận hành

và đạt được mục đích của tổ chức đặt ra QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định

1.2.2 Quản lý giáo dục

Khái niệm QLGD hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống GD tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất"[25]

Theo Trần Kiểm "QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và

hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của QLGD, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em"[15]

Khuddominski cho rằng: "QLGD là tác động có hệ thống có kế hoạch, có ý

thức và có mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc GD cộng sản xã hội chủ nghĩa cho đến thế hệ trẻ"[35]

Trong luận văn này, có thể hiểu: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý

thức hợp với quy luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống GD nhằm đảm bảo cho hệ thống GD vận hành liên tục, phát triển mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng Hay nói cách khác: QLGD là hệ thống những tác động có chủ đích có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL đến tập thể

GV, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD

Trang 22

1.2.3 Quản lý giáo dục mầm non

GDMN là một bộ phận của hệ thống GD quốc dân Quản lý GD tại các cấp đều nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các cơ sở GD thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ GD

Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành GD được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD, được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc học mầm non và cũng được tổ chức theo các loại hình như các bậc học khác Thực chất, quản lý GD mầm non là QL hệ thống hoạt động CSGD mầm non

Như vậy, chúng ta có thể hiểu“Quản lý GDMN là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch của các cấp QL đến các cơ sở GDMN nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục”

1.2.4 Kỹ năng

Theo Từ điển Giáo dục học, kỹ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”[12, tr.220]

Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (Chủ biên), kỹ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [7]

Trong Từ điển Tâm lý học của A M Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” [33, tr.681]

Như vậy, có thể thấy khái niệm kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Việc làm rõ những điểm chung và những điểm khác biệt trong từng khái niệm nhằm đi đến một cách hiểu nhất quán về kỹ năng được sử dụng trong đề tài này

Trang 23

Theo WHO thì KNS là năng lực tâm lý - xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái sức khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này

Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống [32, tr.1-4]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: KNS là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống Tác giả cho rằng KNS nhìn dưới góc độ năng lực tâm lý là những kỹ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý [27, tr.7-9]

Một số nhà nghiên cứu về Tâm lý học - Xã hội học cũng có cái nhìn gần với WHO thì cho rằng, KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, được thể hiện bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống

Trang 24

Theo quan niệm của tác giả, KNS là những năng lực tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân thích ứng và tồn tại trong cuộc sống Chính những kỹ năng này giúp cá nhân thể hiện năng lực của mình thích nghi với những thách thức trong cuộc sống và phát triển

1.2.6 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non

Bản chất của quá trình QL GD là sự tác động qua lại giữa chủ thể QL và đối tượng QL nhằm trao đổi thông tin, kiểm soát và điều khiển hoạt động của các cá nhân và các bộ phận, bảo đảm cho bộ máy tổ chức vận hành thông suốt, hoạt động

GD đạt tới mục đích đã đề ra Do đó, để GD KNS cho trẻ mầm non đạt kết quả, nhất thiết trường mầm non phải quan tâm quản lý hoạt động GD đó

Căn cứ vào các khái niệm đã được trình bày ở trên ta có thể suy ra rằng: QL hoạt động GD KNS cho trẻ em ở trường mầm non là những tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản đến toàn bộ hoạt động GD KNS nhằm nắm vững và điều khiển, điều chỉnh các hoạt động nâng cao hiểu biết, rèn luyện hành động đúng chuẩn mực xã hội, hình thành các KNS cơ bản, từ đó tạo nên ở trẻ em thái độ và khả năng thích ứng nhanh, xử lý đúng những vấn đề trong cuộc sống

1.3 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Vị trí của trường mầm non

Luật Giáo dục của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số

38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 tại Mục 1 Chương II đã quy định rõ

trường mầm non năm trong hệ thống GD quốc dân; GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, CS- GD trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi; Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một [17]

1.3.2 Mục tiêu chương trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi

Chương trình GDMN ban hành kèm theo thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định rõ mục tiêu GD trẻ em lứa tuổi mẫu giáo nói chung trong đó có trẻ em 5 - 6 tuổi như sau:

Trang 25

Chương trình GD mẫu giáo nhằm giúp trẻ em từ 3 đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học

* Phát triển thể chất

- Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi

- Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng,

biết định hướng trong không gian

- Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay

- Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với sức khoẻ

- Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm

bảo sự an toàn của bản thân

* Phát triển nhận thức

- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh

- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định

- Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau

- Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu

- Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh

và một số khái niệm sơ đẳng về toán

* Phát triển ngôn ngữ

- Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày

- Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)

- Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày

- Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện

Trang 26

- Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi

- Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết

* Phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội

- Có ý thức về bản thân

- Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh

- Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực

- Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ

- Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi

* Phát triên thẩm mỹ

- Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật

- Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình

- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật

1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý trẻ lứa tuổi 5 - 6 tuổi [18]

1.3.3.1 Sự phát triển thể chất

Trẻ em bắt đầu từ 5 - 6 tuổi tăng trung bình khoảng 3kg/năm thể trọng và 3-

5 cm chiều cao Bộ phận phát triển nhanh hơn cả trong giai đoạn này là cánh tay và ống chân Bàn tay và bàn chân phát triển chậm hơn

1.3.3.2 Sự phát triển khả năng tri giác

Ở trẻ 5 - 6 tuổi, khả năng tri giác của trẻ phát triển mạnh mẽ Sự phát triển tri giác của trẻ có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Tri giác phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong hoạt động nhận thức

là đặc trưng nổi bật trong sự phát triển tâm lý của trẻ 3 - 6 tuổi Các quá trình nhận thức khác của trẻ như trí nhớ, tư duy, chú ý, đều phụ thuộc rất nhiều vào tri giác

- Thứ hai: Tri giác của trẻ em thường phát triển qua ba giai đoạn (3 mức độ): giai đoạn kể ra; giai đoạn mô tả; giai đoạn giải thích

Trang 27

- Thứ ba: Tính duy kỷ của tri giác Duy kỷ là hiện tượng tâm lý trong đó trẻ

em thường hướng vào bản thân, lấy bản thân mình làm chuẩn để nhận thức, đánh giá và phản ứng với các đối tượng

- Thứ tư: Tri giác của trẻ 5 - 6 tuổi chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của ngôn ngữ và tư duy cũng như các quá trình nhận thức khác

1.3.3.3 Sự phát triển ý thức về bản thân

Trẻ 5 - 6 tuổi bắt đầu hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác Sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực

1.3.3.4 Đặc điểm phát triển trí nhớ

Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định xuất hiện và phát triển mạnh

mẽ vào lúc trẻ được 5 - 6 tuổi Trí nhớ có chủ định phát triển do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao Đó là loại trí nhớ có mục đích và dựa vào công cụ tâm lý, như ngôn ngữ, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết và mọi quy ước có thể có Tuy nhiên, loại trí nhớ có chủ định chủ yếu của trẻ ở giai đoạn này vẫn là ghi nhớ máy móc

Trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng nhớ gián tiếp, tức là biết sử dụng ký hiệu làm đối tượng trung gian để nhớ tốt hơn

1.3.3.5 Đặc điểm phát triển tư duy

Ở trẻ 5 - 6 tuổi, loại tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh Trẻ giải quyết các vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng Các kiến thức khái quát và trừu tượng chỉ được trẻ lĩnh hội khi chúng được diễn tả nhờ các mô hình trực quan

1.3.3.6 Đặc điểm phát triển tưởng tượng

Tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát cảm về sự phát triển tưởng tượng Trẻ rất hay tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, rực rỡ, giàu màu sắc xúc cảm và hay vi phạm hiện thực

Trang 28

1.3.3.7 Sự phát triển các hoạt động

Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Các đặc điểm của trò chơi (chủ yếu là trò chơi đóng vai có chủ đề) mang tính ký hiệu - tượng trưng, phải có sự tham gia bắt buộc của tưởng tượng, giàu tính cảm xúc, mang tính tự nguyện, mang tính tự lập

1.3.3.8 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao đối với hiện tượng ngôn ngữ, khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết các trẻ đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hằng ngày

1.3.3.9 Đặc điểm giao tiếp

Các đặc điểm giao tiếp với các bạn được thể hiện rõ ràng trong các chủ đề trò chuyện của trẻ Trẻ mẫu giáo bé thường nói về những gì trẻ nhìn thấy, hay là về cái

mà trẻ có Các chủ đề này được duy trì trong suốt tuổi mẫu giáo Trẻ mẫu giáo nhỡ thường cho bạn thấy là mình biết làm cái gì và làm được việc đó như thế nào Còn trẻ mẫu giáo lớn thường hay kể về bản thân, về cái gì trẻ thích và không thích

1.3.3.10 Bước ngoặt 6 tuổi và sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho trẻ vào học lớp 1

Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em Ở độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong trong suốt thời

kỳ mẫu giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh của

nó, những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh Cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm thế để trẻ có thể thích nghi bước đầu với điều kiện học tập ở lớp 1

1.3.4 Đặc điểm phát triển kỹ năng sống của trẻ 5 - 6 tuổi

Do đặc thù của trẻ em lứa tuổi mầm non là đang làm quen với xã hội và thế giới xung quanh, nên những KNS thường gần gũi với cuộc sống của trẻ và được mở rộng dần trong mối quan hệ qua lại giữa trẻ với gia đình, với trường mầm non, với

Trang 29

cộng đồng xã hội và môi trường tự nhiên Nội dung KNS của trẻ 5 - 6 tuổi phong phú và toàn diện để giúp các em thích ứng với cuộc sống Do vậy, đặc điểm KNS của trẻ 5 - 6 tuổi cũng phù hợp với yêu cầu về nội dung GDMN như sau:

Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung GD với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống

và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống

Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, CS- GD; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp KNS phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin

và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học

1.4 Yêu cầu đổi mới hoạt động GD cho trẻ tuổi ở trường mầm non trong đó có

hoạt động GD KNS cho trẻ

Chương trình giáo dục mầm non

Chương trình GDMN nhằm hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những KNS cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1 và cho sự phát triển của trẻ trong các giai đoạn sau

Nghị quyết về đổi mới giáo dục, văn bản chỉ đạo các cấp

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú

trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh

lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách” [10]

Phong trào xây dựng “trường học thân thiện - học sinh tích cực” do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT phát động trong toàn ngành, trong năm nội dung thực hiện có 3 nội dung rèn luyện KNS cho học sinh

Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL và

Trang 30

GVMN của Bộ GD&ĐT tháng 5 năm 2016 có Module số 39 là Module dành riêng cho GD KNS cho trẻ mẫu giáo

Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội đã đưa nội dung GD kỹ năng thực hành cuộc sống, KNS vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2015 - 2016 với nội dung

như sau: “Tăng cường các điều kiện để triển khai có chất lượng Chương trình

GDMN, đảm bảo nguyên tắc Trẻ là trung tâm- toàn diện- tích hợp- trải nghiệm Khuyến khích phát triển chương trình của mỗi nhà trường, đi sâu, nâng cao theo từng lĩnh vực phát triển; chú trọng GD hình thành và phát triển KNS phù hợp với từng độ tuổi, với yêu cầu của xã hội hiện đại và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của địa phương” [26]

1.5 Hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Với các tiếp cận trên, ta có thể hiểu: Hoạt động GD KNS cho trẻ em ở các

trường mầm non là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục đến đối tượng GD nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng vận dụng những kiến thức, thái độ và phương thức hành động vào những tình huống nhất định của đời sống, giúp trẻ em thích ứng nhanh, xử lý, giải quyết đúng những đòi hỏi, thách thức nảy sinh trong hoạt động và quan hệ xã hội

1.5.1 Mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Thứ nhất, xét về mặt thể chất, KNS hình thành cho trẻ những thói quen hoạt động mang lại ích lợi cho sức khoẻ, qua đó làm phát triển chiều cao, cân nặng theo đúng với độ tuổi; các vận động cơ bản của trẻ cũng được thực hiện một cách vững vàng, đúng tư thế; làm tăng khả năng phối hợp các giác quan và vận động của trẻ; trẻ có kỹ năng trong những hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

Thứ hai, xét về mặt nhận thức, KNS sẽ tạo cho trẻ niềm đam mê thích thú ham hiểu biết, khám phá, tìm tòi về các sự vật, hiện tượng xung quanh môi trường sống của trẻ

Thứ ba, xét về mặt ngôn ngữ, trong những hoạt động giao tiếp thường ngày, KNS sẽ hình thành cho trẻ khả năng biết lắng nghe, hiểu lời nói trong khi trò

Trang 31

chuyện, trao đổi với người khác; trẻ còn có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ), và có khả năng diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hằng ngày Ở đây, KNS cũng sẽ giúp cho trẻ có được một số

kỹ năng ban đầu về việc đọc và viết

Thứ tư, xét về mặt tình cảm xã hội, khả năng biết ý thức về bản thân của trẻ

sẽ được hình thành nhờ các KNS Nó cũng giúp cho trẻ có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm của mình với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh Đồng thời, KNS hình thành cho trẻ những phẩm chất cá nhân như: mạnh dạn, tự tin, tự lực; có một số kỹ năng quan trọng trong đời sống xã hội, như: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ với bạn bè và những người khác; bên cạnh đó, trẻ cũng biết và thực hiện được những quy tắc, quy định cơ bản trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, và những nơi cộng đồng

Thứ năm, xét về mặt thẩm mỹ, KNS sẽ làm phát triển ở trẻ khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật Trẻ biết thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình Qua đó, làm cho trẻ biết yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật

1.5.2 Nội dung hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

1.5.2.1 Kỹ năng hiểu biết và chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng:

Biết một số hoạt động trong sinh hoạt hằng ngày có lợi cho sức khỏe, sự lớn lên và phát triển của cơ thể; biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và ích lợi của chúng đối với sức khỏe Trẻ có thể lựa chọn được một số thực phẩm khi được gọi tên nhóm: Thực phẩm giàu chất đạm, như thịt, cá,…; Thực phẩm giàu vitamin

và muối khoáng như rau, quả… Bên cạnh đó, trẻ kể được tên một số món ăn hằng ngày và dạng chế biến đơn giản: rau có thể luộc, nấu canh; thịt có thể luộc, chiên (rán), kho; gạo nấu cơm, nấu cháo… Biết được: ăn nhiều loại thức ăn, ăn chín, uống nước nấu (đun) sôi để khỏe mạnh; uống nhiều nước ngọt, nước có gas, ăn nhiều đồ ngọt dễ béo phì không có lợi cho sức khỏe… Biết thuốc lá có hại cho sức khỏe và thể hiện thái độ không đồng tình với người hút thuốc, hoặc tránh xa nơi có khói thuốc lá

Trang 32

1.5.2.2 Kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân:

Trẻ thực hiện được một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt: Tự rửa tay bằng

xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn bị ướt và để vào nơi quy định, chọn quần áo phù hợp với thời tiết, giới tính

1.5.2.3 Kỹ năng giữ an toàn cá nhân:

Trẻ biết được một số nguy cơ không an toàn và cần phòng tránh: Biết bàn ủi, bếp điện, bếp lò đang đun, bình nước nóng là những vật dụng nguy hiểm và nói được mối nguy hiểm khi đến gần; không nghịch các vật sắc, nhọn Những nơi như:

hồ, ao, bể chứa nước, giếng, bụi rậm là nguy hiểm và nói được mối nguy hiểm khi đến gần; biết được nguy cơ không an toàn khi ăn và phòng tránh; nhận biết được một số trường hợp không an toàn và gọi người giúp đỡ

1.5.2.4 Kỹ năng nhận thức về bản thân:

Trẻ biết và nói được những thông tin cơ bản về cá nhân và gia đình: Nói được họ và tên của bản thân, tên ba, mẹ và các thành viên trong gia đình của mình; địa chỉ và số điện thoại nhà mình, hoặc số điện thoại của ba mẹ; biết mình là trai hay gái và có ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân; nói được khả năng và sở thích của bản thân; biết đề xuất những trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của bản thân

1.5.2.5 Kỹ năng tự tin và tự trọng:

Trẻ biết chấp nhận và cố gắng thực hiện công việc được giao; trẻ biết hài lòng khi hoàn thành công việc; chủ động và độc lập trong một số hoạt động đơn giản hằng ngày; mạnh dạn bày tỏ ý kiến của bản thân: phát biểu ý kiến hoặc trả lời các câu hỏi của người khác một cách tự tin, rõ ràng, tự nhiên, lưu loát, không sợ sệt,

e ngại

1.5.2.6 Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc:

Trẻ có khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ… qua tranh, qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói của người khác; biết bộc lộ cảm xúc vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ…biết an ủi hoặc chia vui với người thân và bạn bè; quan tâm, thích thú đối với các hiện tượng trong thiên

Trang 33

nhiên: Thích chăm sóc cây cối, con vật thân thuộc; thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh; cố gắng kiềm chế những cảm xúc tiêu cực

1.5.2.7 Kỹ năng hợp tác với người khác:

Trẻ biết lắng nghe ý kiến của bạn, người khác; biết trao đổi ý kiến của mình với các bạn; biết tìm cách để giải quyết mâu thuẫn; chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, thể hiện ở việc: Nhận và thực hiện vai của mình trong trò chơi của nhóm; tham gia vào việc tổ chức các sự kiện của nhóm; sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác

1.5.2.8 Kỹ năng thích ứng trong quan hệ xã hội:

Trẻ biết được hành động hoặc việc làm của mình ảnh hưởng đến người khác như thế nào; biết chào hỏi, xưng hô lễ phép với người lớn, cảm ơn, xin lỗi biết đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần thiết; biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn; biết tìm cách giải quyết mâu thuẫn: dùng lời, nhờ sự can thiệp của người khác, chấp nhận nhường nhịn…biết được một số hành

vi đúng hoặc sai của con người đối với môi trường; có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hằng ngày

1.5.2.9 Kỹ năng tôn trọng người khác:

Trẻ nói được khả năng và sở thích của bạn bè và người thân; chấp nhận sự khác biệt giữa người khác với mình; nhận ra sự không công bằng trong nhóm bạn

và biết cách tạo lại sự công bằng

1.5.2.10 Kỹ năng sử dụng lời nói:

Trẻ thể hiện khả năng sử dụng lời nói trong cuộc sống hằng ngày phát âm đúng và rõ ràng; sử dụng các từ chỉ tên gọi, hành động, tính chất và từ biểu cảm trong sinh hoạt; sử dụng các loại câu khác nhau trong giao tiếp: câu đơn, câu ghép, câu hỏi,câu khẳng định, câu phủ định, câu mệnh lệnh; nghĩ và kinh nghiệm của bản thân; biết sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động vui chơi; kể về một sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe hiểu được; kể lại được nội dung chuyện đã nghe theo đúng trình tự nhất định

1.5.2.11 Kỹ năng giao tiếp:

Trang 34

Biết khởi đầu một cuộc trò chuyện bằng các cách khác nhau; biết điều chỉnh giọng nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; chăm chú lắng nghe người khác và đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt phù hợp; biết chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện, thảo luận; không nói leo, không ngắt lời người khác khi nói chuyện; biết hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt khi không hiểu người khác nói; biết sử dụng một số từ: chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, xin phép, thưa, vâng ạ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; hông nói tục, chửi bậy

1.5.2.12 Kỹ năng nhận thức về môi trường xã hội:

Trẻ có khả năng nhận biết và thực hiện được một số quy định ở lớp, gia đình

và nơi công cộng: Sau khi chơi biết cất đồ chơi vào nơi quy định, không làm ồn nơi công cộng, muốn đi chơi phải xin phép biết được công dụng và chất liệu của các

đồ dùng thông thường trong sinh hoạt hằng ngày; kể được một số địa điểm công cộng gần gũi nơi trẻ sống; ói được những nghề nghiệp phổ biến nơi trẻ sống và nơi làm việc của bố mẹ

1.5.2.13 Kỹ năng nhận thức về môi trường tự nhiên:

Trẻ biết chia nhóm cây cối, con vật và đặt tên theo đặc điểm chung; biết thứ

tự các giai đoạn phát triển cơ bản của cây; nói được những đặc điểm nổi bật của từng mùa trong năm; phân biệt được sự khác nhau giữa ngày và đêm, mặt trời, mặt trăng; biết một số đặc điểm, tính chất của nước; ích lợi của nước đối với đời sống con người, con vật và cây; biết được không khí, các nguồn sáng và sự cần thiết của

nó với cuộc sống con người, con vật và cây; trẻ có thể dự đoán được một số hiện tượng tự nhiên đơn giản sắp xảy ra;

1.5.2.14 Kỹ năng nhận thức về nghệ thuật:

Trẻ có khả năng nghe và cảm nhận được giai điệu của bài hát/ bản nhạc; hát đúng giai điệu những bài hát đơn giản; thích tham gia vào các hoạt động biểu diễn; thể hiện cảm xúc và vận động phù hợp với nhịp điệu của bài hát, bản nhạc; thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên và sản phẩm tạo hình; biết sử dụng các phương tiện, vật liệu khác nhau để tạo hình một sản phẩm đơn giản; nói được ý tưởng thể hiện trong sản phẩm tạo hình của mình

Trang 35

1.5.2.15 Kỹ năng sáng tạo:

Biết đặt tên mới cho đồ vật, câu chuyện, đặt lời mới cho bài hát; thực hiện một số công việc theo cách riêng của mình; thể hiện ý tưởng cái mới, độc đáo của bản thân thông qua các hoạt động khác nhau: trong trò chơi hoặc trong tạo hình, âm nhạc; kể thêm hoặc thay đổi diễn biến của câu chuyện đã biết một cách hợp lý

1.5.2.16 Kỹ năng học tập:

Biết lập kế hoạch, tổ chức và tự kiểm tra, biết nghiên cứu sách, tri giác có phương hướng mục đích, ghi nhớ một cách có hiệu quả, sử dụng phương tiện học tập có hiệu quả, có ý thức trách nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ học tập khi được giao,

1.5.3.2 Phương pháp dùng lời

Nhóm phương pháp dùng lời bao gồm các phương pháp trò chuyện, giảng giải ngắn Những phương pháp này giúp trẻ huy động tối đa những kinh nghiệm đã

có, giải thích và khích lệ trẻ vui vẻ, hào hứng thực hiện KNS

1.5.3.3 Phương pháp học qua trải nghiệm

Theo chuyên các chuyên gia, KNS của trẻ cần được thực hiện bằng cách trực tiếp cho trẻ trải nghiệm

1.5.3.4 Phương pháp giáo dục bằng trò chơi

Với trẻ mầm non thì vui chơi là hoạt động chủ đạo Thông qua trò chơi trẻ có

cơ hội thể hiện thái độ, hành vi của mình Đồng thời trẻ còn được rèn luyện cách

Trang 36

ứng xử, giao tiếp, hình thành kỹ năng nhận xét đánh giá hành vi, nâng cao năng lực quan sát, tư duy Đồng thời dạy học thông qua trò chơi sẽ giúp trẻ hứng thú hơn

1.5.3.6 Phương pháp thảo luận nhóm nhỏ

Phương pháp này nhằm giúp mọi trẻ tham gia một cách chủ động Tạo cơ hội cho trẻ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề Nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ mà sự hiểu biết của trẻ trở nên sâu sắc và bền vững hơn Trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn do được giao lưu với những thành viên trong nhóm Không khí thảo luận trong nhóm khiến trẻ thoải mái, tự tin và học được cách lắng nghe hoặc trình bày ý kiến của bản thân một cách tốt hơn

1.5.3.7 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho trẻ thực hành làm thử một số cách ứng

xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giúp trẻ suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà trẻ quan sát được Đồng thời, tạo hứng thú cho trẻ và điều đặc biệt là trẻ có thể cảm nhận thấy những tác động của lời nói và việc làm của các nhân vật mà trẻ đóng vai, từ đó dẫn đến thay đổi thái độ hoặc hành vi của mình trước một tình huống bất kỳ

1.5.4 Hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

GD KNS không thể bố trí thành một hoạt động (môn học) riêng trong hệ thống các môn học của trường mầm non bởi KNS phải được GD ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp Do đó, GDKNS phải thực hiện thông qua các hoạt động trong và bên ngoài lớp học Vì vậy, cơ hội thực hiện GDKNS rất nhiều và rất

đa dạng, có thể đề cập tới một số hình thức tổ chức sau:

Trang 37

- Thông qua tổ chức các hoạt động học (Làm quen văn học, âm nhạc, tạo hình, Làm quen chữ viết, làm quen với toán, khám phá, thể dục)

- Thông qua hoạt động khác (Hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động đón - trả trẻ, ăn ngủ - vệ sinh)

- Thông qua chủ đề lựa chọn

- Thông qua hoạt động GD ngoài lớp học (hoạt động lễ hội, hoạt động ngoại khóa)

GV có thể lựa chọn một hay một số hình thức kết hợp trong việc tổ chức các hoạt động GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

1.6 Quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.6.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

QL mục tiêu GD KNS là bước đầu tiên có vai trò then chốt trong quy trình quản lý hoạt động GD KNS bởi mục tiêu GD KNS có phù hợp đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, cũng như các điều kiện của từng trường, kinh nghiệm của đội ngũ GV, phù hợp tình hình của địa phương, phù hợp với sự phát triển của xã hội thì hoạt động

GD KNS cho trẻ mới có tính khả thi, có ý nghĩa, mới thực sự cần thiết trong đời sống của đứa trẻ tại thời điểm đó và trong tương lai sau này

Cũng như tất cả các hoạt động GD khác, để thực hiện đạt hiệu quả công tác

GD KNS cho trẻ, người CBQL phải chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu của hoạt động

GD KNS trong nhà trường Từ mục tiêu, nhà trường có căn cứ xây dựng chương trình, nội dung GD KNS cho trường mình Nội dung GD KNS phải nhằm mục đích giúp trẻ đạt được mục tiêu đã đề ra Mỗi mục tiêu được đưa vào kế hoạch cụ thể, phải đảm bảo trong một năm học GV đạt được các mục tiêu đã định Người CBQL phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện theo một số nguyên tắc sau:

Các mục tiêu được chia vào kế hoạch tháng một cách tương đối về số lượng không để một tháng phải thực hiện quá nhiều mục tiêu, gây áp lực cho cả GV và trẻ Lựa chọn mục tiêu vào tháng phải phù hợp với sự phát triển của trẻ, mục tiêu dễ

Trang 38

đơn giản thực hiện trước, mục tiêu khó, phức tạp thực hiện sau và phải xác định được khoảng thời gian thực hiện mục tiêu đó

GD trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm thực tiễn sinh động: Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi MGL 5 - 6 tuổi trẻ bắt đầu có tư duy trực quan trừu tượng Dựa vào quá trình phát triển tư duy của trẻ mà GV thiết kế những hoạt động cho trẻ được trực tiếp trải nghiệm, các hoạt động phải được lặp đi lặp lại mọi lúc mọi nơi để trẻ

có thể được lặp lại các kỹ năng một cách thành thạo

GD theo nguyên tắc tập thể: thể hiện ở 3 nội dung: Hướng dẫn, dìu dắt trẻ trong hoạt động tập thể; GD các phẩm chất, các kỹ năng bằng sức mạnh tập thể; GD trẻ tinh thần vì tập thể Vì qua tập thể, các phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tinh thần hợp tác, đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn, ham học hỏi mọi người được nảy nở, khuyến khích phát triển Nó phát huy và có tác dụng điều chỉnh những động cơ kích thích bên trong góp phần rất lớn vào việc GD KNS cũng như hình thành và phát triển nhân cách trẻ

Quan tâm chỉ đạo GD KNS cho trẻ thông qua hoạt động học và hoạt động khác Bằng nhiều hình thức và các biện pháp, người CBQL cần làm cho tập thể sư phạm nhà trường nhận thức được rằng GD KNS cho trẻ là việc làm cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, trong các hoạt động đều có thể thực hiện được

Thông qua các hoạt động trong ngày của trẻ người giáo viên mang lại cho các em kiến thức, kỹ năng và thái độ đạt được hiệu quả, có tính giáo dục cao Tuy nhiên người hiệu trưởng cũng cần lưu ý GV tránh lối GD KNS một cách đơn giản,

lý thuyết, sáo rỗng, đơn điệu bởi như vậy sẽ kém hiệu quả vì bản thân các KNS là khả năng ứng xử theo cách nhất định trong một môi trường cụ thể phù hợp; GD KNS phải là hoạt động sinh động giúp trẻ được bổ sung, tăng cường thêm những năng lực cần thiết để các em có thể hoạt động độc lập, chủ động tránh và vượt qua những khó khăn thử thách trong thực tế cuộc sống

Hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động và các hoạt động xã hội

Trang 39

khác là những hoạt động có điều kiện thuận lợi để GD, rèn luyện trẻ các KNS trong thực tế và có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục nhận thức, tư tưởng, thái độ cho học sinh Thông qua những hoạt động này, những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt được rèn luyện, củng cố; khơi dậy cho trẻ lòng yêu thích cái đẹp, hứng thú, tự giác trong việc thực hiện, rèn luyện các KNS Vì vậy, người CBQL phải có kế hoạch cụ thể, quan tâm tổ chức các hoạt động này, góp phần nâng cao chất lượng GD KNS cho học sinh Ngoài ra để tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, CBQL cần lưu ý tạo những điều kiện, phương tiện cần thiết trong nhà trường để trẻ thực hiện các yêu cầu, những thao tác, các kỹ năng, những hành vi nhà trường đã đề ra

Như vậy, QL mục tiêu GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi sẽ giúp cho người CBQL đưa ra được chuẩn đầu ra với một đứa trẻ chuẩn bị bước vào lớp 1 và có cái nhìn tổng thể quá trình GD KNS cho trẻ trong một tháng, một học kỳ, một năm học Quản lý mục tiêu hoạt động GD KNS cho trẻ ở trường mầm non chính là nhằm bảo đảm cho các hoạt động GD KNS đạt chất lượng, hiệu quả để hình thành cho trẻ khả năng thích ứng nhanh, xử lý đúng những vấn đề trong cuộc sống

1.6.2 Quản lý việc xây dựng nội dung chương trình hoạt động GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Nội dung GD KNS cho trẻ mẫu giáo như đã xác định ở trên, để thực hiện tốt nội dung GD theo mục tiêu đã đề ra thì trước tiên cần xây dựng kế hoạch triển khai nội dung theo tuần, theo tháng, theo học kỳ và cả năm học; xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung GD KNS cho trẻ trong các hoạt động học và hoạt động khác, trong các hoạt động tại trường mầm non và tại gia đình, ngoài xã hội; lập kế hoạch triển khai nội dung GD KNS cho trẻ Vậy QL việc xây dựng nội dung chương trình hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non là QL các hoạt động GD chính khóa theo chương trình đã xác định, QLGD ngoài giờ lên lớp, QL sự phối kết hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong GDKNS cho trẻ 5 - 6 tuổi Đối với việc

GD KNS cho học sinh, lựa chọn chương trình và nội dung phù hợp là yếu tố rất quan trọng Việc QL chương trình, nội dung GD KNS bao gồm từ việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và đánh

Trang 40

giá kết quả đạt được Hiện nay, nội dung GD KNS cho trẻ mầm non chưa được đưa thành chương trình thống nhất mà mỗi trường tùy theo mục tiêu và điều kiện của trường mình mà phát triển nội dung, chương trình cho riêng mình

1.6.3 Quản lý việc thực hiện phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Phương pháp và hình thức tổ chức đóng vai trò quan trọng trong nhận thức của trẻ Phương pháp GD phù hợp, hình thức tổ chức phong phú sẽ thu hút trẻ, làm cho trẻ có hứng thú trong học tập thì chắc chắn hoạt động GD KNS đạt được kết quả cao Với mỗi mục tiêu GD sẽ có một hoặc nhiều nội dung GD khác nhau để đạt được mục tiêu đó và ngược lại Tuy nhiên, để trẻ lĩnh hội được nội dung GD hiệu quả thì cần có ứng dụng các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phù hợp với từng nội dung, phù hợp đặc điểm lứa tuổi của trẻ

QL phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GD KNS trong trường mầm non chính là QL việc sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GD KNS của đội ngũ GV trong các hoạt động GD trẻ

1.6.4 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ hoạt động GD KNS cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Cơ sở vật chất trường học là tất cả các phương tiện vật chất được GV và học sinh sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình GD, giảng dạy GD KNS không chỉ qua kênh nghe mà trẻ cần được khám phá qua các tình huống cụ thể, được thể hiện chính kiến của mình GD KNS có thể thông qua giờ học trên lớp, qua hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ, hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế do nhà trường tổ chức Những phương tiện để phục vụ cho GV và học sinh gồm: trường sở, sân chơi, bãi tập, phòng bộ môn Các công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục có thể kể đến như: loa đài, video, máy chiếu ; mô hình cụ thể như tài liệu, tranh ảnh, sách báo, tạp chí để GD KNS hiệu quả, người GV cần có những phương tiện hiện đại khác như đĩa CD-Rom, máy chiếu, đồ dùng đa phương tiện

và các đồ dùng biểu đạt khác như chương trình truyền hình, truyền thanh Nhà trường cần trang bị đầy đủ CSVC, QL việc sử dụng các công cụ, thiết bị GD KNS

Ngày đăng: 27/04/2018, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w