Đồng thời cũng là năm học thứ 7 trường mầm non Tân Triều chúng tôi thực hiện soạn giảng giáo án điện tử trên máy và ứng dụng CNTT trong trong công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON TÂN TRIỀU HUYỆN THANH TRÌ - HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Trình
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc và các thầy, cô giáo của Học viện Quản lý giáo dục, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy và quản lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Quang Trình đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo và các giáo viên trường mầm non Tân Triều nơi tôi đang công tác, đã tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin cho tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn
bè và những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu, giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn cũng như hoàn thành khóa học này
Do năng lực nghiên cứu còn có phần hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được trọn vẹn hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã có Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Tôi cũng xin cam đoan rằng các kết quả trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc hoặc chỉ rõ trong tài liệu tham khảo
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 16
1.2.3 Quản lý nhà trường 17
1.2.4 Trường mầm non 19
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non 21
1.3.1 Đặc điểm của giáo dục mầm non 21
1.3.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục 24
1.3.3 Tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non 25
1.3.4 Nội dung ứng dụng công nghệ thong tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non 27
1.4 Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non 33
1.4.1 Lập kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ 33
Trang 51.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động giáo dục trẻ 34
1.4.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt đông giáo dục trẻ 37
1.4.6 Quản lý và sử dụng sản phẩm ứng dụng 39
1.5 Yếu tố ảnh hưởng tới quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non 40
1.5.1 Yếu tố khách quan 40
1.5.2 Yếu tố chủ quan 41
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON TÂN TRIỀU – THANH TRÌ - HÀ NỘI 44
2.1 Khái quát về giáo dục ở Trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội 44
2.1.1 Hệ thống các nhóm lớp ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội 44
2.1.2 Quy mô trường, lớp, học sinh 44
2.1.4 Cơ sở vật chất 45
2.1.5 Thành tựu đạt được 46
2.2 Tổ chức hoạt động khảo sát 47
2.2.1 Mục đích khảo sát 47
2.2.2 Đối tượng khảo sát 47
2.2.3 Nội dung khảo sát 47
2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát 47
2.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội 48
2.3.1 Ứng dụng CNTT trong xây dựng các chủ đề giáo dục 48
2.3.3 Ứng dụng CNTT trong khai thác tài liệu của giáo viên 53
2.3.4 Ứng dụng CNTT trong tự học của trẻ dưới sự hướng dẫn của phụ huynh 55
2.3.5 Ứng dụng CNTT trong đánh giá trẻ 57
2.4 Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội 58
2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục 58
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục 61
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục 64
Trang 62.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá, quản lý và sử dụng sản phẩm ứng
dụng công nghệ thông tin trong trong hoạt động giáo dục 66
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội 70
2.5.1 Mặt mạnh 70
2.5.2 Mặt hạn chế, tồn tại 71
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 72
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON TÂN TRIỀU – THANH TRÌ -HÀ NỘI 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 74
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74
3.2 Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội 75
3.2.1 Nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ cho CBQL, GV và phụ huynh học sinh 75
3.2.3 Tăng cường hiệu quả đầu tư CNTT phục vụ hoạt động giáo dục trẻ 83
3.2.4 Đổi mới công tác chỉ đạo ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ 87
3.2.5 Đẩy mạnh kiểm tra đánh giá quá trình và hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ 90
3.2.6 Phối hợp nhà trường với phụ huynh học sinh trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục trẻ 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất 96
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 96
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 96
3.4.3 Nội dung và phương pháp khảo nghiệm 96
3.4.4 Phân tích kết quả khảo nghiệm 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 102
2.1 Đối với Phòng Giáo dục vả Đào tạo Huyện Thanh Trì 102
2.2 Đối với Ban giám hiệu 102
2.3 Đối với giáo viên 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBGVNV Cán bộ giáo viên nhân viên
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Thực trạng ứng dụng CNTT để khai thác tài liệu của GV trường
mầm non Tân Triều 54 Bảng 2.2 : Thực trạng ứng dụng CNTT trong đánh giá trẻ 57 Bảng 2.3: Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo
dục ở trường mầm non Tân Triều 59 Bảng 2.4 : Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt
động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều 62 Bảng 2.5: Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt
động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều 65 Bảng 2.6: Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá ứng dụng CNTT trong hoạt
động giáo dục ở trường mầm non Tân Triều 67 Bảng 2.7: Thực trạng quản lý và sử dụng sản phẩm ứng dụng CNTT trong
giáo dục mầm non ở trường mầm non Tân Triều 69 Bảng 3.1: Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 97 Bảng 3.2: Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 98
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các trường mầm non là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng Đất nước ta hiện nay đang bước vào
thời kỳ phát triển theo hướng: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,
thời kỳ của hội nhập quốc tế, hội nhập với những nền văn minh hiện đại, tiên
tiến Đảng và nhà nước ta đã vạch ra đường lối rất đúng đắn đó là: “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Nhu cầu này đòi hỏi ngành
giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước và thực sự ngành giáo dục đã từng bước thay đổi, thể hiện qua việc xác định mục tiêu giáo dục đào tạo là phát triển toàn diện về nhân cách con người mới XHCN Bên cạnh đó, công nghệ thông tin đã và đang được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, trong đó có lĩnh vực giáo dục
Bên cạnh đó, ban chấp hành TW Đảng khoá IX đã có định hướng cho
phát triển giáo dục "Tập trung chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo khoa học
công nghệ thực sự ngang tầm là quốc sách hàng đầu Để con người Việt Nam
nhanh chóng tiếp cận nền khoa học hiện đại tiên tiến của thế giới và để mỗi học sinh nắm bắt được kho tàng kiến thức của nhân loại thì cần phải thực hiện đổi mới giáo dục, trước tiên phải đổi mới phương pháp dạy và học Phương pháp dạy học trước đây nặng về truyền thụ kiến thức thì ngày nay phương pháp dạy học phải được thay đổi cách thức, hình thành những năng lực hoạt động, tìm tòi, khám phá cho học sinh, giúp cho trẻ phát triển năng lực tư duy,
óc sáng tạo, có ý chí tự lực trong quá trình lĩnh hội kiến thức Đặc biệt đối với trẻ mầm non, quá trình lĩnh hội kiến thức của trẻ là từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, trẻ luôn bị hấp dẫn bởi những gì mới lạ Bên cạnh đó việc
ứng dụng CNTT trong nhà trường như một công cụ lao động "Trí tuệ" giúp
Ban giám hiệu nhà trường đổi mới, nâng cao chất lượng quản lí, giúp các cô
Trang 10giáo đổi mới hình thức nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ Giúp cán bộ quản lý, nhân viên văn thư, kế toán làm việc khoa học, hiệu quả hơn Và đặc biệt có thể ứng dụng CNTT trong rất nhiều hoạt động trong ngày của trẻ Góp phần rèn luyện cho trẻ một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Năm học 2015 - 2016 là năm học Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ Đồng thời cũng là năm học thứ 7 trường mầm non Tân Triều chúng tôi thực hiện soạn giảng giáo án điện tử trên máy và ứng dụng CNTT trong trong công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, lưu trữ
hồ sơ… Trong chặng đường 7 năm vừa qua trên cương vị là hiệu trưởng nhà trường với mong muốn nâng cao chất lượng quản lý công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong nhà trường, nâng cao năng lực đội ngũ, bắt nhịp được với những xu thế của thời đại Đặc biệt là trong bối cảnh trường là một trường nông thôn ngoại thành với nhiều khó khăn tôi đã nỗ lực không ngừng, từng bước, từng bước đẩy mạnh hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường, tạo nên những bước chuyển mạnh mẽ trong việc đổi mới hình thức, phương pháp chăm sóc nuôi dạy trẻ
Trên thực tế, trong thời gian nhiều năm qua bắt đầu từ năm 2009 khi Sở GD&ĐT Hà Hội, Phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì triển khai đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, chăm sóc giáo dục trẻ Trường chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn Nhà trường thiếu thốn rất nhiều như: Về cơ sở vật chất trường chưa có máy tính phục vụ ứng dụng CNTT, kỹ năng tin học của cán bộ, giáo viên, nhân viên (CBGVNV) còn hạn chế Hầu hết CBGVNV chưa biết cách sử dụng máy tính thành thạo Việc quản lý hồ sơ, sổ sách, học sinh, giáo viên, tính khẩu phần ăn của trẻ cũng như soạn bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học của CBGVNV đều thực hiện thủ công Việc tự làm đồ dùng đồ
Trang 11chơi phục vụ các hoạt động, mất rất nhiều thời gian, công sức Việc quản lý
hồ sơ, sổ sách của nhà trường viết bằng tay đôi khi còn bị nhầm lẫn, sữa chữa tẩy xóa sổ sách
Xuất phát từ những nhận thức trên với kinh nghiệm nhiều năm làm công tác quản lý chỉ đạo trường mầm non Tôi luôn trăn trở suy nghĩ và mạnh dạn
đi sâu nghiên cứu, tìm tòi sách báo, học hỏi chị em đồng nghiệp đúc rút kinh nghiệm của mình trong nhiều năm làm công tác quản lý Tôi đã làm tốt công tác tham mưu công tác xã hội hóa giáo dục, mua sắm đầy đủ máy móc, các trang thiết bị CNTT phục vụ đầy đủ cho 100% các lớp và các phòng chức năng Tổ chức tốt các lớp bồi dưỡng tin học tại trường Sau sáu năm đầu tư cơ
sở vật chất (CSVC), mở lớp tin học bồi dưỡng cho tập thể CBGVNV, đến nay 100% CBGVNV trường chúng tôi đã biết sử dụng máy tính thành thạo, biết truy cập Internet, mạng Lan toàn trường Thực hiện quản lý theo dõi trẻ báo
ăn trên máy tính Việc ứng dụng CNTT đã đem lại hiệu rất cao, giảm được công sức của CBGVNV, giúp học sinh hứng thú tham gia hoạt động Từ những bước khởi đầu vô cùng gian nan, nhà trường thiếu thốn về cơ sở vật chất, máy móc phục vụ việc ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng tin học của giáo viên, nhân viên còn hạn chế Đến nay 100% CBGVNV đều biết sử dụng máy tính, truy cập Internet và xây dựng các bái giảng điện tử Hệ thống
hồ sơ sổ sách của nhà trường được lưu trữ trên máy rất khoa học và hiệu quả Trường hoàn toàn có thể tự hào là một trong những những trường dẫn đầu bậc học mầm non huyện Thanh Trì trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ Chính vì vậy trong năm học này với mong muốn tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường, tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ, hệ thống lại những biện pháp đã thực hiện và rút kinh nghiệm sau quá trình triển khai ứng dụng công nghệ
thông tin tại trường tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý ứng dụng công
Trang 12nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình,
với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở trường mầm non Tân Triều Thanh Trì – Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục
trẻ ở trường Mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động
giáo dục trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định, tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non
4.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội
4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 13- Phạm vi khảo sát: Khảo sát tại 18 nhóm lớp của trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Từ năm học 2013-2014 đến năm học 2015-2016
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục phù hợp với thực tiễn và áp dụng chúng một cách đồng bộ, thì
sẽ nâng cao được hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non, nhằm xây dựng khung lí luận cho đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để khảo sát
thực trạng ứng dụng CNTT của đội ngũ CBQL và GV, về các vấn đề thực tiễn liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội Đồng thời điều tra thực trạng quản
lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia
am hiểu về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non để tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng, rút ra các kết luận và đề xuất các biện pháp quản lí
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn CBQL và GV để thu
nhận các thông tin bổ sung cho hoạt động điều tra bằng phiếu hỏi, rút ra
Trang 14những nhận xét sâu hơn về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non quận Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công cụ thống kê toán học để xử lý các số liệu đã thu nhận được qua quá trình điều tra làm cơ sở để phân tích và đánh giá thực trạng
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cụ thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động
giáo dục trẻ ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục
trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục
trẻ ở trường Mầm non Tân Triều – Thanh Trì - Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ngày nay, vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm Tại hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) ) năm 1997 tại Vancouver, Canada,
đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then
chốt Ứng dụng CNTT trong quá trình DH sẽ hỗ trợ đắc lực cho người học, đặc biệt tạo cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi Từ đó chúng ta có thể tiến hành xây dựng xã hội học tập
Ở các nước phát triển họ đều đưa những nội dung kiến thức tin học cơ bản, kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức khác nhau Nhằm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ việc học tập các môn học khác Đồng thời trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về máy tính, mạng internet và cách sử dụng chúng cho hiệu quả
Để có được ứng dụng CNTT như ngày nay, các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục
Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo được thực hiện rất đồng bộ Các nước như Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình DH nhằm xây dựng trường học thông minh Đối với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia,
Trang 16Philippines, Ấn Độ chính sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia Nhưng ngay ở những nước này người ta cũng chưa nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong DH, đặc biệt là DH ở các cơ sở giáo dục mầm non
Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, Địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương
sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ thúc đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Tương ứng có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng Thống
Tại Nhật Bản đã xây dựng chương trình quốc gia có tên: Kế hoạch một
xã hội thông tin với - Mục tiêu đến năm 2000 đã được công bố từ năm 1972
Ở Singapore, Chính phủ Singapore khẳng định, muốn triển khai thành công chính phủ điện tử thì trước tiên phải xác định thật rõ mục tiêu cần phải đạt được, những việc cần làm, các nguồn lực cần huy động, kế hoạch và lộ trình thực hiện rồi đặt tất cả trong một tổng thể chung Nói cách khác, cần xây dựng tốt kế hoạch tổng thể chính phủ điện tử
Các chương trình hành động về giáo dục của Đức và Ấn Độ, chính phủ các nước này đã tin tưởng vững chắc vào việc quản lý ứng dụng CNTT trong
DH như là một phần để tạo dựng xã hội học tập
Ở các nước Tây Âu họ đều đưa những nội dung kiến thức tin học cơ bản, kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức khác nhau Nhằm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ
Trang 17việc học tập các môn học khác Đồng thời trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về máy tính, mạng internet và cách sử dụng chúng cho hiệu quả
Ở Việt Nam, nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với sự phát triển KTXH, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách hết sức quan trọng
để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tu duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học” Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII nêu trên đã được cụ thể hoá bằng Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị Nội dung Chỉ thị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội”
Gần đây các Hội nghị, Hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường giáo dục đào tạo
ở Việt Nam như:
+ Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ hai về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT (tháng 9/2004)
+ Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Trang 18+ Hội thảo quốc gia về CNTT-TT lần thứ III và Hội thảo hợp tác phát triển CNTT-TT Việt Nam lần thứ IX do Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT, Bộ Bưu chính, Viễn thông, UBND TP Hải Phòng, và Hội Tin học Việt Nam đã phối hợp tổ chức từ trong 2 ngày (9-10/9/2005)
+ Hội thảo Quốc gia về CNTT-TT lần thứ IV với chủ đề “Công nghệ thông tin và sự nghiệp giáo dục, y tế” (diễn ra trong hai ngày 21, 22/9/2006, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT phối hợp với Bộ Bưu chính, Viễn thông, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Y tế, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế và Hội Tin học Việt Nam tổ chức)
+ Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT-TT: “Các giải pháp công nghệ
và quản lý trong ứng dụng CNTT-TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường Đại học sư phạm Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức
từ 9-10/12/2006
+ Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử lần thứ 10 - 2012 được diễn
ra ngày 20/07/2012 tại Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT,
Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Tập đoàn dữ liệu Quốc tế IDG Việt Nam tổ chức khai mạc sự kiện Hội thảo Quốc gia về Chính phủ điện tử
2012 lần thứ 10 với chủ đề “Phát triển Chính phủ điện tử: Minh bạch hơn, phục vụ người dân tốt hơn”
+ Hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam 2013đã diễn ra ngày 20/09/2013, tại Trung tâm Hội nghị thuộc Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đây là hội thảo thường niên lần thứ 18 do Hội Tin học TP.HCM (HCA) chủ trì tổ chức cùng Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, được sự bảo trợ của Bộ Thông tin và truyền thông và Ủy ban nhân dân TP.HCM
Trang 19+ Ngày 22/12/2015, tại Đà Nẵng, Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD&ĐT) tổ chức Hội thảo về “Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”
Trong các Hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí, tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục Giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, do vậy là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác giáo dục
Trong những năm qua, Ngành GD&ĐT cũng đã có rất nhiều những văn bản hướng dẫn thực hiện ứng dụng CNTT:
Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012;
Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục;
+ Công văn số 4960/BGDĐT-CNTT ngày 27/07/2011 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011 – 2012
Từ việc sớm được Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT quan tâm, coi là một trong những mục tiêu lớn của ngành giáo dục và các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non là một vấn đề cấp thiết nhưng mới được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Thực tế ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động giáo dục mầm non nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết
Trang 20Vì vậy, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi trường mầm non Tân Triều – Thanh Trì – Hà Nội nhằm đề xuất được một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp giáo dục mầm non nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt nó có liên quan mật thiết đến sự hợp tác và phân công lao động C.Mác đã xem quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động xã hội Ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [14]
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý
Sự xuất hiện của hoạt động quản lý trong xã hội dẫn đến mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý và những mối quan hệ qua lại của các nhân
Trang 21tố trong hệ thống quản lý Những mối quan hệ phức tạp ấy người ta gọi là quan hệ quản lý - một kiểu của quan hệ xã hội và là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý Khoa học quản lý đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các mối quan hệ quản lý và các quy luật vận động, phát triển của chúng, trên cơ
sở đó đề xuất những con đường, phương pháp tối ưu cho sự quản lý hệ thống
xã hội nhằm tạo điều kiện cho nó vận hành thuận lợi đạt tới mục tiêu xác định
Khoa học quản lý được hình thành, phát triển trên nền tảng của những tiến bộ khoa học và công nghệ, thành tựu của những giá trị văn hoá - tinh thần, song đặc biệt nó gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp Theo F.W Taylo: Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm, sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [16] Theo H Fayol: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [16]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: "Quản lý là quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt mục tiêu nhất định" [16]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích của tổ chức" [16]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì "Quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến người bị quản lý trong một tổ chức vận hành nhằm đạt được mục đích của tổ chức" [21]
+ Nguyễn Văn Lê trong tác phẩm “Khoa học quản lý nhà trường” đã
định nghĩa: “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động
vào hệ thống đó, mà chủ yêu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”
Trang 22+ Nguyễn Đức Minh đã đưa một định nghĩa: Quản lý là quá trình tác
động có mục đích của con người vào một hệ thống nào đó làm thay đổi hiện trạng của hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó những thuộc tính mới
Những định nghĩa trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ
tiếp cận, nhưng đều thống nhất ở điểm chung: Quản lý là quá trình tác động
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã định theo ý chí của nhà quản lý
Chức năng quản lý là các hoạt động xác định, được chuyên môn hóa, nhờ
đó chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản ý Hay nói một cách khác, chức năng quản lý là một hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm đạt được một mục tiêu nhất định
Chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn,
nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý
Chức năng quản lý xác định các khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý, mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ, cụ thể
là quá trình liên tục các bước công việc tất yếu phải thực hiện Toàn bộ hoạt động quản lý đều thực hiện thông qua các chức năng quản lý, nếu không xác định được chức năng thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), tổ chức (Organizing), chỉ đạo - lãnh đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling) [21]
Trang 23Kế hoạch hoá: là một quá trình bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và
định rõ chiến lược, kế hoạch, chính sách, thủ tục để đạt mục tiêu đó, định rõ các giai đoạn phải trải qua để thực hiện các mục tiêu đã xác định của tổ chức
Kế hoạch hoá có vai trò quan trọng vì nó là chức năng khởi đầu của quá trình quản lý, tạo tiền đề cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Nó cho phép nhà quản lý hình dung rõ hơn về quá trình phát triển của tổ chức, kịp thời phát hiện, ứng phó với sự thay đổi và tính không chắc chắn của môi trường, giúp
tổ chức tập trung sự chú ý vào các mục tiêu và tạo điều kịên thuận lợi cho việc kiểm tra
Tổ chức: là quá trình xác định các công việc cần phải được thực hiện,
những người thực hiện các công việc đó, định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân cũng như mối liên kết giữa các bộ phận, giữa các cá nhân đó trong khi tiến hành thực hiện các công việc Tổ chức được coi là chức năng cốt lõi của quản lý vì khi được tiến hành khoa học và
có hiệu quả nó sẽ giúp người quản lý sử dụng triệt để nhất các nguồn lực của
tổ chức, nhất là nguồn nhân lực, giúp cho các thành viên trong tổ chức phát huy tốt nhất năng lực sở trường, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ
Chỉ đạo: là những hành động xác lập quyền chỉ huy và can thiệp của
người quản lý vào quá trình hoạt động của tổ chức, là quá trình tác động liên kết, tập hợp, động viên và huy động các thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện kế hoạch, nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương, trật tự nhằm đạt được mục đích của tổ chức
Kiểm tra: là một chức năng của quản lý, thông qua một cá nhân, một
nhóm, hay một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Kiểm tra giúp nhà quản lý xác định chính xác các nguyên nhân không đạt mục tiêu và kịp thời khắc phục, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới tổ chức Với những vai trò
Trang 24đặc biệt như vậy, chức năng kiểm tra không chỉ đơn thuần là chức năng cuối
cùng trong một quá trình quản lý mà còn là tiền đề cho một quá trình quản lý
tiếp theo
1.2.2 Quản lý giáo dục
Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của nhiều
lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v.v Khoa học quản lý giáo dục
là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung đồng thời cũng là bộ
phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ giáo dục là
một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện
một cách tự giác, cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người,
giáo dục cũng cần phải quản lý Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động
chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo
dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý
giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Định nghĩa về quản
lý giáo dục đã được đề cập và phân tích trong một số công trình khoa học Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái
niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ
của nó, đặc biệt là quản lý trường học):“Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21]
“Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được
các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ
thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể
Trang 25hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”.[21]
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra: Quản lý giáo dục là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ
bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa GV với GV, giữa GV với HS, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập
1.2.3 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường
là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước
“Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản
lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự
có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là
Trang 26quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [13]
“Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập
hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [13]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của
nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa
là chủ thể của nhận thức và hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triển lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS
- Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước, đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
- Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường Quản lý tốt các
Trang 27hoạt động chuyên môn theo trương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo
và nhà trường thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng DH
- Quản lý tốt việc học tập của học sinh Quản lý học sinh bao gồm cả quản lý thời gian học tập và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học tập, quản lý việc kiểm tra và đánh giá Song song với việc quản lý quá trình học tập của học sinh, việc dạy của thầy, các cấp quản lý nhà trường cần chú trọng đến việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên của nhà trường
- Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy, muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.4 Trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, là trường được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo Trường mầm non có chức năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1 Trường mầm non có các lớp mẫu giáo và các nhóm trẻ Trường do một ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách
Điều 1, 2 Điều lệ Trường mầm non đã qui định:
Vị trí trường mầm non: Trường mầm non là đơn vị cơ sở của ngành GD
mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam do ngành GD quản lý Trường mầm non có vị trí rất quan trọng bởi nó là cơ sở đầu tiên đặt nền
Trang 28móng hình thành, phát triển nhân cách của trẻ và chuẩn bị những tiền đề cần thiết để trẻ bước vào trường phổ thông
Mục tiêu đào tạo của trường mầm non: Hình thành cho trẻ những cơ sở
đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam: Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối; giàu lòng thương yêu, biết quan tâm, nhường nhịn những người gần gũi, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên; yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh…Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số
kĩ năng sơ đẳng
Nhiệm vụ của trường mầm non: Tiếp nhận trẻ em trong độ tuổi; Tổ chức
và nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình chính sách GD mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành; Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường; Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết
bị và tài chính theo qui định của pháp luật; Chủ động kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tính chất của trường mầm non: Chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
nhằm hình thành, phát triển nhân cách trẻ em một cách toàn diện; Chăm sóc, giáo dục trẻ em mang tính chất giáo dục gia đình, giữa cô và trẻ là quan hệ tình cảm mẹ - con, trẻ thông qua chơi mà học, học mà chơi; Tổ chức nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính chất tự nguyện: Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo
Nội dung quản lý trường mầm non: Quản lý việc thực hiện nội dung
chương trình giáo dục Quản lý việc thực hiện nề nếp nuôi dưỡng, chăm sóc Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường Quản
lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị, tài chính của nhà trường theo qui định của pháp luật Kết hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội và các cá nhân trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em Nhiệm vụ của trường
Trang 29mầm non không chỉ thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn giáo dục trẻ phát triển toàn diện [7]
1.2.5 Công nghệ thông tin đối với giáo dục mầm non
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc vận dụng công nghệ vào các lĩnh vực trong đời sống ngày càng rộng rãi và không còn xa lạ nữa, ngành giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng cũng đã từng bước tiếp cận với công nghệ hiện đại Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy là rất cần thiết và được khuyến khích rất nhiều Đặc biệt sử dụng công nghệ thông tin vào tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều mới lạ kích thích sự tò mò của trẻ Trẻ em rất thích xem phim hoạt hình với những hình ảnh ngộ nghĩnh màu sắc sặc sỡ, sự linh hoạt “động” của các nhân vật sẽ tạo cho trẻ sự thích thú, trẻ sẽ tập trung chú ý, giờ hoạt động sẽ cho kết quả tốt nhất
Việc ứng dụng phần mềm tin học vào tổ chức một số hoạt động cho trẻ mầm non nhằm tạo một môi trường lớp học thân thiện mới lạ, phong phú, bắt mắt thu hút trẻ, kích thích trẻ tích cực hoạt động ham học hỏi, tìm tòi khám phá
để trẻ phát triển toàn diện tạo cơ sở bước đầu vững chắc cho tương lai của trẻ
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non
1.3.1 Đặc điểm của giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba
tháng tuổi đến sáu tháng tuổi (Điều 21 - Luật Giáo dục, 2005)
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hính thánh những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một (Điều 22 - Luật giáo dục, 2005)
Trang 301.3.1.1 Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi nhà trẻ
a Phát triển thể chất
- Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A
- Thực hiện được các vận động cơ bản
- Thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường mầm non
- Có một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân
b Phát triển nhận thức
- Thích tìm hiểu thế giới xung quanh
- Có sự nhạy cảm của ác giác quan: vị giác, khứu giác, xúc giác, thính giác, thị giác
- Nhận biết được về bản thân, một số sự vật hiện tượng quen thuộc gần gũi
- Có khả năng quan sát, chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy trực quan – hành động và tư duy trực quan hình ảnh
c Phát triển ngôn ngữ
- Nghe, hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời nói của người khác
- Diễn đạt được các nhu cầu đơn giản bằng lời nói
- Có khả năng hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản
d Phát triển tình cảm xã hội
- Mạnh dạng giao tiếp với những người gần gũi
- Biết được một số việc được phép làm và không được phép làm
- Biết thể hiện cảm xúc trước cái đẹp Thích múa, hát, đọc thơ, nghe kể chuyện, vẽ, nặn, lắp ghép, xếp hình…
- Thích tự làm một số công việc đơn giản
1.3.1.2 Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi mẫu giáo
a Phát triển thể chất
- Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A
Trang 31- Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế
- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian
- Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo
- Có một số thói quen, kỷ năng tốt về giữ gìn sức khỏe, vệ sinh cá nhân,
vệ sinh môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn
b Phát triển nhận thức
- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi những sự vật hiện tượng xung quanh
- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý vá ghi nhớ
có chủ định Nhận ra một số mối liên hệ đơn giản của các sự vật, hiện tượng xung quanh
- Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên và xã hội
c Phát triển ngôn ngữ
- Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp
- Có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm xúc, tình cảm của mình và của người khác
- Có một số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp 1
d Phát triển tình cảm – xã hội
- Mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, lễ phép trong giao tiếp
- Nhận ra một số trạng thái cảm xúc và thể hiện tình cảm phù hợp với các đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
- Thực hiện một số quy định đơn giản trong sinh hoạt Có ý thức tự phục
vụ, kiên trì thực hiện công việc được giao
- Yêu quý gia đình, trường lớp mầm non vá nơi sinh sống
- Quan tâm, chia sẻ, hợp tác với những người gần gũi
- Quan tâm chăm sóc vật nuôi, cây trồng và bảo vệ môi trường
Trang 321.3.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong
đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh,
bổ sung
Đổi mới giáo dục mầm non và đổi mới chương trình giáo dục mầm non
là tất yếu trong xu hướng đổi mới của giáo dục và đào tạo nói chung Đây là
xu hướng tất yếu phù hợp với điều kiện của đất nước và trình độ của giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng của công tác giáo dục
Quản lí trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể cán bộ giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học Quản lí nhóm/lớp là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của giáo viên đến trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với trẻ, thực chất của công tác quản lí nhóm/lớp của giáo viên mầm non là quản lí quá trình chăm sóc- giáo dục trẻ đảm bảo cho quá trình đó đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả Mỗi nhóm, lớp trong
Trang 33trường mầm non được coi như một tế bào của cơ thể nhà trường Chất lượng giáo dục của từng nhóm lớp góp phần tạo nên chất lượng giáo dục chung cho nhà trường Giáo viên mầm non vừa là chủ thể trực tiếp của quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ vừa là chủ thể quản lí nhóm lớp/ lớp Nâng cao chất lượng hiệu quả quản lí nhóm lớp là điều kiện quan trọng để đảm bảo chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ cũng như chất lượng quản lí trường mầm non
Quản lý giáo dục mầm non còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Đầu tư cho giáo dục mầm non chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục mầm non chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu
và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2020, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục
Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh
lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách
1.3.3 Tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non
Khi CNTT ngày càng phát triển thì việc ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực là một vấn đề tất yếu Trong lĩnh vực Giáo dục Mầm non CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ Các trường Mầm non đã đưa phần mềm Nutrikids vào quản lý dinh dưỡng,
Trang 34phần mềm Kidsmart vào các hoạt động trong ngày của trẻ, cho trẻ làm quen với các bài giảng được trình chiếu trên PowerPoint
Tuy nhiên so với nhu cầu thực tế hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong Giáo dục Mầm non còn rất hạn chế Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng
ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT đem lại Chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình Hơn nữa, đối với Giáo dục Mầm non, CNTT còn
có tác dụng mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học
Với sự hỗ trợ của máy tính, mạng Internet, GV có điều kiện tiếp xúc với các chương trình giảng dạy có hỗ trợ đa phương tiện: thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh động, các VIDEO trực quan
CNTT có thể cải thiện việc đánh giá quá trình giáo dục mầm non bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ giáo viên sử dụng những phần mềm tin học dùng đánh giá trẻ em mầm non
để cải tiến chương trình giáo dục trẻ mầm non Những thông tin phản hồi tích cực được thiết kế cho các phản ứng riêng của trẻ, từ đó đưa ra các đánh giá chính xác về cách tiếp cận và vận dụng tri thức mới
Tác động của CNTT đối với quá trình giáo dục trẻ mầm non còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từng điều kiện cụ thể CNTT cũng có thể không có tác dụng gì hoặc thậm chí có những ảnh hưởng bất lợi Bởi vì CNTT không phải
là “biến trung tâm” trong quá trình cải tiến chất lượng giáo dục Hơn nữa, hiệu quả của nó đối với giáo viên và học sinh còn phụ thuộc rất quan trọng vào việc nó được ứng dụng như thế nào đối với các chương trình giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá
Trang 35Tác động lớn nhất của CNTT đối với GV được ghi nhận trong những trường hợp khi việc sử dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung giảng dạy và với việc đánh giá về kết quả dự kiến
Các giờ giảng của giáo viên được hỗ trợ bởi CNTT sẽ trở lên hấp dẫn hơn, truyền thụ kiến thức tới trẻ em hiệu quả hơn, các em có hứng thú lĩnh hội tri thức hơn Đặc biệt, khi soạn giảng có ứng dụng công nghệ thông tin thì giáo viên có thể trình bày bài giảng một cách chủ động hơn, minh hoạ được nhiều ví dụ của bài giảng gần gũi với thực tiễn mà các đồ dùng trực quan thông thường không thể làm được
Trẻ em mầm non thường hiếu động, tính tập trung vào bài giảng thường chưa cao Vì thế, khi bài giảng có sử dụng yếu tố CNTT hỗ trợ các em sẽ có hứng thú khám phá tri thức, tập trung tư duy hơn, có ý thức xây dựng bài, chủ động tìm hiểu kiến thức của GV đưa ra, hay nói cách khác là các em có thể chủ động chiếm lĩnh tri thức từ bài giảng của giáo viên
Từ yêu cầu cần phải đổi mới phương pháp giáo dục mầm non có ứng dụng CNTT đã thúc đẩy được sự quan tâm của nhà quản lý giáo dục trong việc
có kế hoạch đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu của phương pháp mới có sử dụng CNTT Giáo viên sẽ chủ động trong việc khai thác các thiết bị CNTT của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
1.3.4 Nội dung ứng dụng công nghệ thong tin trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non
* Ứng dụng CNTT trong xây dựng các chủ đề giáo dục
Trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay, thông tin trên internet đã trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối với mọi người nếu biết cách khai thác nó
Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công
cụ tìm kiếm: google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Một trong các công
Trang 36cụ được sử dụng phổ biến và hiệu quả là công cụ tìm kiếm google Đối với giáo viên, ngoài việc tìm kiếm các thông tin trên internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện bài giảng…
Chính vì vậy để ứng dụng được CNTT vào hoạt động giáo dục trẻ mầm non của giáo viên cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Giáo viên phải xây dựng được hệ thống bài giảng điện tử e-learning: + Bài giảng được giáo viên xây dựng theo bài, theo chương hoặc theo
cả chương trình môn học Nội dung bài giảng đảm bảo đúng chương trình, đầy đủ, chính xác, khoa học, đảm bảo tính hệ thống
+ Các bài giảng sẽ được xây dựng dựa trên các công cụ CNTT hỗ trợ đóng gói bài giảng theo chuẩn
+ Mỗi bài giảng điện tử cần có tư liệu (tranh, ảnh, video, âm thanh, …) đảm bảo tổ chức lưu trữ, liên kết trong bài giảng một cách khoa học, logic, toàn vẹn
- Giáo viên có thể sử dụng phần mềm soạn giảng, hỗ trợ bài giảng: Giáo viên cần sử dụng các phần mềm soạn giảng phổ biến trên thị trường, hoặc sản phẩm do giáo viên tự lập trình để xây dựng bài giảng, kế hoạch giảng và đồ dùng điện tử như: Lập trình phần mềm mô phỏng các thí nghiệm ảo, các trò chơi trí tuệ, các bài thi, kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến hoặc mạng LAN… và giải quyết các vấn đề thực tiễn giáo dục khác
- Xây dựng các kho học liệu điện tử mở:
Giáo viên cần xây dựng kho học liệu điện tử mở tập hợp theo chủ đề: Các bài giảng điện tử, các phần mềm, các công cụ hỗ trợ giảng dạy, các tư liệu, âm thanh, hình ảnh, đoạn phim,
Các kho học liệu mở có thể xây dựng bằng nhiều phương pháp nhưng mục tiêu là có thể chia sẻ nhanh chóng, dễ dàng và an toàn Các học liệu có đặc thù thường mang dung lượng bộ nhớ lớn, cần phải tối ưu để việc chia sẻ
Trang 37thông tin sẽ tốt hơn Kho học liệu này cũng cần đảm bảo để GV được tiếp cận
dễ dàng nhằm giúp GV chủ động chiếm lĩnh tri thức
* Ứng dụng CNTT trong thực hiện các chủ đề giáo dục
Công nghệ thông tin phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học Công nghệ thông tin phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hàng loạt các phần mềm giáo dục và có rất nhiều những phần mềm hữu ích cho giáo viên mầm non
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học có thể giúp giáo viên mầm non đổi mới phương pháp dạy học Giáo viên có thể sưu tầm, tạo ra các hình ảnh, trò chơi hay các hoạt hình về chủ đề dạy học để các em dễ hiểu, dễ nhớ và hứng thú học tập Ở lứa tuổi mầm non, khi khả năng thu nhận tri thức của học sinh còn rất hạn chế, khả năng tư duy trừu tượng còn thấp, cho nên việc sử dụng đa phương tiện trong dạy học sẽ giúp học sinh tiếp thu tốt hơn, thu hút sự chú ý
và kích thích hứng thú của học sinh Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
Công nghệ thông tin phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hàng loạt các phần mềm giáo dục và có rất nhiều những phần mềm hữu ích cho người giáo viên mầm non như Bộ Office, Lesson Editor/ Violet, Active Primary, Flash, Photoshop, Converter, Kispix, Kismas, Các phần mềm này rất tiện ích
và trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc thiết kế giáo án điện tử và giảng dạy trên máy tính, máy chiếu, bảng tương tác cũng như trên các thiết bị
hỗ trợ khác như Tivi, đầu Video vừa tiết kiệm được thời gian cho người giáo viên mầm non, vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường mà vẫn nâng cao
được tính sinh động, hiệu quả của giờ dạy
* Ứng dụng CNTT trong khai thác tài liệu của giáo viên
Những năm gần đây, giáo dục mầm non đang tiến hành đổi mới chương
Trang 38trình chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non để tạo cơ hội cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ một cách linh hoạt, mềm dẻo, thực hiện phương châm “học bằng chơi - chơi mà học”, đáp ứng mục tiêu phát triển trẻ một cách toàn diện về thể chất, tình cảm - xã hội, ngôn ngữ, trí tuệ, thẩm mỹ Chính vì thế mà việc đưa công nghệ thông tin vào hoạt động học tập - hoạt động vui chơi là nhằm giúp trẻ làm quen với một phương pháp học tập mới, hiện đại, nhanh chóng và đem lại hiệu quả
GV ứng dụng CNTT trong khai thác dữ liệu thông qua các công cụ tìm kiếm trên internet hoặc tìm kiếm trên các website thư viện bài giảng Mạng internet là kho thông tin khổng lồ, trên đó có rất nhiều phần mềm giảng dạy, quản lý trường mầm non được xây dựng công phu mà giáo viên, nhà trường
có thể khai thác tham khảo, sử dụng khi chưa có khả năng, điều kiện để xây dựng bài giảng cho riêng mình
GV có thể tham gia học tập các khóa học trực tuyến về tin học, về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non, tìm hiểu thêm các kiến thức về chăm sóc giáo dục trẻ trên mạng internet để nâng cao kiến thức và trình độ của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng công việc
Tham gia lập và sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo trên websile của Sở, Phòng và các trường bạn, Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc
mở liên kết với trang web của các trường
* Ứng dụng CNTT trong tự học của trẻ dưới sự hướng dẫn của phụ huynh
- Cha mẹ thường xuyên nắm bắt được tình hình học tập, rèn luyện ở trường, lớp của con; trên cơ sở đó hỗ trợ con em phát huy các điểm tốt hoặc
Trang 39kịp thời ngăn chặn, điều chỉnh, sửa chữa các điểm hạn chế trong học tập và rèn luyện
- Thầy cô giáo có thêm hiểu biết về học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, từ đó có phương pháp giáo dục phù hợp, toàn diện và có định hướng đúng để quan tâm giúp đỡ được nhiều hơn đối với từng em trong từng hoàn cảnh khác nhau
- Cộng đồng nhận thấy vai trò trách nhiệm của mình, tích cực hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho nhà trường, gia đình giúp đỡ các em học tập và rèn luyện
- Khuyến khích cung cấp tài liệu bồi dưỡng cơ bản về CNTT để phụ huynh học sinh tự nghiên cứu, bồi dưỡng kiến thức về chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non
- Kêu gọi tài trợ của các tổ chức, cá nhân, hội phụ huynh học sinh để hỗ trợ mua sắm, sửa chữa trang thiết bị tại phòng dạy Tin học của nhà trường theo phương thức xã hội hóa giáo dục
- Khuyến khích phụ huynh học sinh tự trang bị máy tính và hòa mạng phục vụ cho việc dạy học trẻ mầm non tại nhà
* Ứng dụng CNTT trong đánh giá trẻ
Ngày nay, công nghệ thông tin được ứng dụng nhiều trong công tác đánh giá nói chung và đánh giá trẻ mầm non nói riêng nhờ những lợi thế của nó về lưu trữ, thống kê, tính toán, sắp xếp, lọc dữ liệu…
Theo chương trình giáo dục mầm non (Ban hành theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) quy định: “Đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích và đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non, nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ
Trang 40và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, đảm bảo sự phát triển của trẻ phù hợp với mục tiêu giáo dục”
Đánh giá trong GDMN bao gồm việc đánh giá tổng hợp các thành tố cơ bản: sản phẩm đầu ra của GDMN- trẻ em (mức độ phù hợp với mục tiêu và đáp ứng nhu cầu), các yếu tố đầu vào (cơ sở vật chất, chương trình, năng lực của giáo viên) và quá trình giáo dục (phương pháp hoạt động, cách thức tổ chức, hình thức tương tác, cách thức quản lý…) tạo ra sản phẩm giáo dục Giáo viên, nhà trường đánh giá trẻ mầm non một cách chính xác, khách quan hơn khi đánh giá bằng máy tính Ở nhiều trường mầm non đã sử các phần mềm trắc nghiệm để đánh giá trẻ mầm non Việc sử dụng các phần mềm trong đánh giá trẻ mầm non mang lại những lợi ích cơ bản sau:
- Cho kết quả chính xác, khách quan
- Có các số liệu thống kê, tổng hợp nhanh chóng, chính xác
- Có khả năng kiểm tra lượng kiến thức, kỹ năng của toàn bộ chương trình trong một khoảng thời gian ngắn
Trang website nhà trường là phương tiện cung cấp tình hình học tập, rèn luyện, mức độ phát triển sức khỏe thể chất của từng trẻ đến gia đình Đồng thời, qua việc phản ánh, trao đổi, thảo luận trên trang thông tin của nhà trường sẽ giúp cho nhà trường, giáo viên, phụ huynh hiểu hơn về tình hình của trẻ và có những trao đổi đóng góp giúp cải thiện chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường
Thêm vào đó, qua website trường, nhà trường có thể tiến hành những nội dung khảo sát nhỏ để lấy ý kiến đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng về các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường để từ
đó cải thiện và nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo dục mầm non chất lượng cao của xã hội