Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên về kết quả thực hiện hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bì
Trang 1HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC _
NGUYỄN VĂN HƯNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TẠI TỔ CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC LẬP CHIỆNG VÙNG KHÓ KHĂN
HUYỆN KIM BÔI TỈNH HOÀ BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thế Truyền
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu và tư liệu được sử dụng từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tiến hành khảo sát thực tế của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng cảm ơn Học Viện Quản Lý giáo dục, cảm ơn các thầy cô đã hết lòng giảng dạy, tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Hà Thế Truyền, người hướng dẫn khoa học đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tác giả nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình, các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kim Bôi, Ban Giám hiệu và giáo viên của trường Tiểu học Lập Chiệng huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Cuối cùng tác giả xin dành lời cảm ơn chân thành tới người thân, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành đề tài của mình Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định.Tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến, chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất
cả những ai quan tâm tới luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hưng
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU VÀ CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 BHMH Bài học minh họa
11 KTĐG Kiểm tra đánh giá
12 NCBH Nghiên cứu bài học
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TẠI TỔ CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG KHÓ KHĂN 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Quản lý nhà trường 10
1.2.2 Quản lý nhà trường tiểu học 11
1.2.3 Vùng khó khăn 12
1.3 Đặc điểm của trường tiểu học ở vùng khó khăn 12
1.4 Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học 12
1.4.1 Cơ sở khoa học của hoạt động nghiên cứu bài học 13
1.4.2 Chức năng của tổ chuyên môn 16
1.4.3 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học 17
1.4.4 Nội dung hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học 22
1.5 Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn 22
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn 22
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn 25
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn 30
Trang 61.6.1 Nhóm yếu tố thuộc về chủ thể quản lý 30
1.6.2 Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng quản lý 30
1.6.3 Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TẠI TỔ CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC LẬP CHIỆNG VÙNG KHÓ KHĂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HOÀ BÌNH 33
2.1 Một vài đặc điểm khái quát về trường Tiểu học Lập Chiệng 33
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 33
2.2.1 Mục đích khảo sát 33
2.2.2 Đối tượng khảo sát 34
2.2.3 Nội dung khảo sát 34
2.2.4 Phương pháp khảo sát 34
2.2.5 Địa điểm khảo sát 34
2.3 Thực trạng hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn trường Tiểu học Lập Chiệng 35
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động nghiên cứu bài học đối với việc phát triển nghề nghiệp của giáo viên 35
2.3.2 Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên về kết quả thực hiện hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 36
2.3.3 Thực trạng xây dựng kế hoạch nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 37
2.3.4 Thực trạng các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công tại tổ chuyên môn ở trường THLC vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 38
2.3.5 Thực trạng việc thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 40
2.3.6 Thực trạng cá nhân tự soạn bài - sáng tạo cá nhân 41
2.3.7 Thực trạng việc thực hiện giờ dạy minh họa trên lớp của giáo viên ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 42
Trang 72.3.8 Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim
Bôi tỉnh Hòa Bình 44
2.3.9 Thực trạng việc áp dụng bài học cho thực tế dạy học hàng ngày của giáo viên ở trường Tiểu học Lập Chiệng 46
2.3.10 Đánh giá hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn trường Tiểu học Lập Chiệng 47
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 50
2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên 50
2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng 51
2.4.3 Thực trạng bồi dưỡng năng lực nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn cho giáo viên ở trường Tiểu học Lập Chiệng 53
2.4.4 Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng 54
2.4.5 Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng 56
2.4.6 Thực trạng xây dựng chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh ở trường Tiểu học Lập Chiệng 57
2.5 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 59
2.5.1 Đánh giá thực trạng 59
2.5.2 Những thành công 59
2.5.3 Những hạn chế 60
2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TẠI TỔ CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC LẬP CHIỆNG VÙNG KHÓ KHĂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HOÀ BÌNH 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn 67
Trang 83.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu và pháp lý 67
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 68
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 69
3.2.1 Quản lý công tác nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi trong phát triển nghề nghiệp khi tham gia hoạt động NCBH 69
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, quy chế sinh hoạt chuyên môn trong hoạt động NCBH của nhà trường 71
3.2.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện đúng kĩ thuật sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học 76
3.2.4 Tăng cường kiểm tra tổ chuyên môn thực hiện hoạt động nghiên cứu bài học 86
3.2.5 Thành lập nhóm chuyên gia tư vấn về hoạt động nghiên cứu bài học cho tổ chuyên môn 88
3.2.6 Xây dựng môi trường thuận lợi, tạo động lực thúc đẩy đội ngũ tổ trưởng chuyên môn và giáo viên tích cực thực hiện hoạt động nghiên cứu bài học 90
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 93
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 93
3.4.2 Các bước tiến hành khảo nghiệm 93
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng so sánh sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống
và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học 18 Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động
NCBH đối với việc phát triển nghề nghiệp của giáo viên 35 Bảng 2.2: Thực trạng đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện hoạt
động NCBH tại tổ chuyên môn ở trường THLC vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 36 Bảng 2.3: Thực trạng xây dựng kế hoạch nghiên cứu bài học tại tổ chuyên
môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 38 Bảng 2.4: Thực trạng các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm
vụ phân công tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 39 Bảng 2.5: Thực trạng việc thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy tại tổ
chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình 40 Bảng 2.6: Thực trạng việc cá nhân giáo viên thực hiện soạn bài ở trường
THLC vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 41 Bảng 2.7: Thực trạng việc thực hiện giờ dạy minh họa trên lớp của giáo viên
ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 42 Bảng 2.8: Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu tại tổ
chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 45 Bảng 2.9: Thực trạng việc áp dụng bài học cho thực tế dạy học hàng ngày của
giáo viên ở trường Tiểu học Lập Chiệng 46
Trang 10Bảng 2.10: Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai hoạt
động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THLC 49 Bảng 2.11: Thực trạng nhận thức của CBQL,GV về tầm quan trọng của quản
lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên 50 Bảng 2.12: Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH tại tổ chuyên môn ở trường
THLC 52 Bảng 2.13: Thực trạng bồi dưỡng năng lực NCBH tại tổ chuyên môn cho giáo
viên ở trường THLC 54 Bảng 2.14: Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH tại
tổ chuyên môn ở trường THLC 55 Bảng 2.15: Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH tại tổ
chuyên môn ở trường THLC 56 Bảng 2.16: Thực trạng xây dựng chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ tổ
trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh ở trường THLC 58 Bảng 2.17: Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động nghiên cứu bài
học tại tổ chuyên môn ở trường THLC 61 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp đề xuất 94 Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp đề xuất 96 Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý được đề xuất 98
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: So sánh tần suất thực hiện hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ
chuyên môn trường Tiểu học Lập Chiệng 47 Biểu đồ 2.2: So sánh mức độ nhận thức và mức độ thực hiện hoạt động NCBH
tại tổ chuyên môn trường THLC huyện Kim Bôi 48
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động NCBH tại tổ
chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 92
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn thế hệ trẻ “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” Lời dạy của Người chứa đựng toàn bộ giá trị chân lý của thời đại mang tên Người Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính yếu của Nhà nước, được ưu tiên trước nhất, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển
Hiện nay, trong xu thế của toàn cầu hoá Nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục so với các nước trong khu vực và trên thế giới Bước sang thế kỉ thứ XXI, sự bùng nổ của tri thức, công nghệ sản xuất mới và công nghệ thông tin truyền thông làm thay đổi nội dung giáo dục, yêu cầu người học phải thay đổi cách học và người dạy phải thay đổi cách dạy Khái niệm giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia Người học có thể học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và với bất cứ tài liệu nào; đồng thời được tạo điều kiện tốt nhất trong việc học, học theo khả năng, theo nhịp độ và cách học phù hợp; có quyền chọn chương trình và các loại nguồn học liệu đa dạng Một thế giới phẳng và các kênh thông tin đa chiều đã đặt ra yêu cầu mới về việc học: vấn đề không phải là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công nghệ gì vào việc học, không chỉ học được kiến thức mà còn khả năng tạo
ra giá trị gia tăng từ kiến thức
Trong trường tiểu học, mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động dạy học là một nhiệm vụ trọng tâm, có tính cấp bách của nhà trường trong bối cảnh hiện nay Mà một trong những nhân lực chủ chốt, quyết định chất lượng hoạt động dạy học là người giáo viên, yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục chính
là hoạt động của giáo viên Sinh hoạt tổ chuyên môn là hoạt động nền tảng, cơ bản
và quan trọng nhất phát huy năng lực nghề nghiệp của giáo viên trong quá trình dạy học Chính vì vậy, vấn đề tạo điều kiện cho giáo viên tự học thông qua hoạt động
Trang 13của tổ chuyên môn là một hướng giải quyết khả thi và hiệu quả Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung phương pháp của đổi mới giáo dục tiểu học, với nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ cho giáo viên sẽ có một môi trường chuyên môn để hình thành năng lực nghề
nghiệp Việc triển khai nghiên cứu bài học (Lesson Study) tại tổ chuyên môn góp
phần đắc lực hình thành năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng của học sinh Vì vậy, quản lý có hiệu quả hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn là một trong những công tác trọng tâm và thường xuyên của hiệu trưởng để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trường, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục
Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009, kết luận của Bộ chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 (Khóa VIII), phương hướng phát triển
Giáo dục và Đào tạo đến năm 2020 đã nêu: ‘Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên, gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống.”[1]
Trong công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Tiểu học năm học 2015- 2016, số 4323/BGDĐT- GDTH ngày 25 tháng 8 năm 2015, đã xác định rõ
các trường tiểu học phải “Tiếp tục tổ chức hiệu quả sinh hoạt chuyên môn (SHCM) tại các tổ, khối chuyên môn trong trường và giữa các trường tiểu học; chú trọng đổi mới nội dung và hình thức SHCM thông qua hoạt động dự giờ, nghiên cứu bài học”[7] Như vậy, quản lý hoạt động giảng dạy nói chung và quản lý hoạt động
nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn nói riêng là nhiệm vụ cơ bản của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường
Song trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, công tác quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay còn bộc lộ những hạn chế bất cập, việc soạn bài của giáo viên dường như khoán trắng cho các tổ chuyên môn, trong khi đó hoạt động của các tổ chuyên môn có lúc, có nơi còn nặng nề về quản lý hành chính hơn là sinh hoạt chuyên môn và nhiều
Trang 14khi mang tính hình thức, đối phó mà chưa đi vào thực chất Sinh hoạt chuyên môn của
tổ chuyên môn chưa được thường xuyên, thường chỉ mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các đợt thi giáo viên giỏi Đó là nguyên nhân khiến cho các giáo viên trong cùng tổ chuyên môn chưa thực sự gắn kết được với nhau một cách chặt chẽ
để tạo ra sự thống nhất trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời qua
đó nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Thực tế trên đòi hỏi phải tăng cường các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn Vấn đề này tuy đã được triển khai ở Hòa Bình nhưng việc nghiên cứu công tác quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường tiểu học vùng khó khăn còn chưa được đề cập đến
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Quản lý hoạt động nghiên cứu bài
học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình” cần được đặt ra và nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý hoạt
động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Việc triển khai hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, do một số nguyên nhân như còn nặng nề về quản lý hành chính hơn là quản lý chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn
Trang 15nhiều khi mang tính hình thức, đối phó mà chưa đi vào thực chất, chưa thực hiện thường xuyên, thường chỉ mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các các đợt thi giáo viên giỏi…Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn và thực hiện chúng một cách đồng bộ thì chất lượng dạy học ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình sẽ được nâng cao, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục và đào tạo của huyện Kim Bôi và của tỉnh Hoà Bình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường tiểu học
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình và nguyên nhân của thực trạng
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng
6.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Sử dụng số liệu từ năm 2013 (từ khi bắt đầu triển khai hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn đến năm 2016) 6.3 Giới hạn về khách thể điều tra
- 22 CBQL chuyên viên của Sở GD&ĐT tỉnh Hoà Bình, Phòng GD&ĐT huyện Kim Bôi
- 11 CBQL các trường Tiểu học vùng khó khăn trên địa bàn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình
- 44 CBQL và giáo viên trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn trên địa bàn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 16Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các lý thuyết, văn bản có liên quan đến đề tài như:
- Các tài liệu khoa học về quản lý hoạt động NCBH, QL, QLGD và quản lý trường tiểu học, quản lý tổ chuyên môn
- Các văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GD&ĐT, các văn bản của ngành GD&ĐT liên quan đến hoạt động quản lý hoạt động NCNH
- Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học có liên quan đến đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra viết
Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với CBQL, GV thu thập số liệu, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch, hồ sơ chuyên môn của nhà trường, của tổ chuyên môn để nhận định đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn và quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn Phân tích được nguyên nhân thực trạng để đề ra biện pháp phù hợp
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn mà các biện pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng nhà trường
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7 3 Phương pháp toán học thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê trong toán đế xử lý các số liệu điều tra
Trang 178 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần nâng cao biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại
tổ chuyên môn ở trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình nói riêng và các trường tiểu học trong huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình nói chung
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ
chuyên môn của hiệu trưởng trường tiểu học vùng khó khăn
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên
môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên
môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình
Trang 18
thông Điều này đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu tài liệu, kiểm tra chất lượng học sinh
của giáo viên hàng ngày để đổi mới phương pháp phù hợp với đối tượng người học
Để phát triển những hệ thống như thế, sẽ càng quan trọng hơn cho những người giảng dạy trong việc cùng nhau quan sát và phản ánh những bài dạy từ lớp học
Nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao từ thế kỉ XIX Theo truyền thống, có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến ở những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kĩ năng sư phạm bởi xem xét lại cách dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên
Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút các học viên và những nhà ngiên cứu ở Nhật Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành Nhiều vấn nạn sảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm
Trang 19trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập
Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và
họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh
Xem xét những điểm số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kì Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi chú ý trong cách học của đứa trẻ
Nghiên cứu bài học được miêu tả như quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) xem xét lại kế hoạch đề ra (không bắt buộc); (4) giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập [21]
Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kì; Vương quốc Anh và Úc NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỉ XIX Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc
tế là một quá trình gồm những bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện một bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn) và (6) Chia
sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học [22]
Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng
nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hóa trường học NCBH đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mô hình này được đưa vào vận dụng thí điểm đầu tiên ở một số trường tiểu học tỉnh Bắc Giang từ năm học 2006- 2007 qua dự án “Nâng cao năng
Trang 20lực bồi dưỡng giáo viên theo cụm và quản lý nhà trường” của tổ chức JICA- Nhật Bản Năm 2009, mô hình được giới thiệu đến các trường đại học, cao đẳng sư phạm thông qua Hội thảo quốc tế về NCBH tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (do viện nghiên cứu sư phạm tổ chức) Năm 2010, tổ chức Plan và Tổ chức cứu trợ trẻ em (SC) giới thiệu và xây dựng mô hình NCBH ở các trường tiểu học trong một số tỉnh (Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị, Lào Cai ) Năm 2013, mô hình NCBH được triển khai giới thiệu thí điểm ở một số tỉnh thông qua chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục (SEQAP) trong đó có tỉnh Hòa Bình
Chính vì những hiệu quả của hoạt động NCBH mang lại mà mô hình này cũng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như: Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân,
2010, “Nghiên cứu bài học”- một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của giáo viên [18] Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP ĐH Thái Nguyên, 2012, “Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, SV sư phạm thông qua mô hình NCBH”[12]
Hoạt động NCBH là một hoạt động then chốt, chủ đạo trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở các tổ chuyên môn, là công việc thường ngày của đội ngũ cán
bộ, giáo viên ở tất cả các cấp học Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho tất
cả các em học sinh Qua hoạt động chuyên môn theo nghiên cứu bài học nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững, chính vì vậy công tác quản lý hoạt động NCBH của hiệu trưởng trường tiểu học đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, nhà
sư phạm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Như vậy, theo chúng tôi đến thời điểm này mới có các tổng kết về triển khai NCBH ở cả ba bậc học nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về “Quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn”, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đang triển khai đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông
Vì vậy đề tài này cần được triển khai góp phần đóng góp cho phần lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục nhà trường tiểu học, đáp ứng mong muốn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường
Trang 211.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý nhà trường
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [14,256] Việc quản lý nhà
trường phổ thông (có thể mở rộng ra là sự quản lý nói chung) là việc quản lý dạy- học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu giáo dục [14,71]
Theo tác giả Hà Thế Truyền và Hoàng Minh Thao thì quản lý nhà trường bao
gồm hai loại tác động: “Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường và tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường” [23,11]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn
dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [17,42]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [16,10].
Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội Quản lý nhà trường là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt đến mục tiêu giáo dục [8] QL nhà trường
về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo ra cho các chủ thể (người dạy và
Trang 22người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội- nhà trường
mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân GV và HS
Theo Trần Kiểm: Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan
hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi của nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội [15]
Theo chúng tôi, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh) Do đó, có thể hiểu, quản lý trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn nhân lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn Xét về bản chất, quản lý con người trong nhà trường và tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người
1.2.2 Quản lý nhà trường tiểu học
Trường tiểu học thuộc cấp học đầu tiên trong bậc học phổ thông Nó là đơn
vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong cộng đồng vì thế ta mới nói trường tiểu học là một tổ chức sư phạm- xã hội
Theo tác giả Trần Kiểm, tính đặc thù quản lý trường tiểu học phụ thuộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao
- Đối tượng chủ yếu của lao động sư phạm là học sinh, phần lớn từ 6-10 tuổi
- Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần- là nhân cách người thầy
- Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn toàn tách bạch
- Mặt kinh tế là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực hiện mục tiêu đào tạo
Chính vì lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao cho nên quản lý chuyên môn trong trường tiểu học phải tổ chức theo các tổ chuyên môn, quản lý tổ chuyên môn là hoạt động quản lý đặc thù trong trường tiểu học
Trang 23Như vậy, theo chúng tôi quản lý trường học nói chung và quản lý trường tiểu học nói riêng là tổ chức chỉ đạo, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất
và công việc phục vụ cho dạy học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo Xét
về bản chất, quản lý nhà trường là các cấp quản lý cần tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng yêu cầu của việc giáo dục, đào tạo con người
1.2.3 Vùng khó khăn
Vùng khó khăn là vùng có đa số là dân cư dân tộc thiểu số, vùng biên giới, vùng an toàn khu, các khu vực khó khăn thuộc vùng ven biển và hải đảo có nhiều khó khăn nhất so với xung quanh nó ở miền núi và đồng bằng Trình độ phát triển kinh tế- xã hội vào loại thấp, đời sống nhân nhân còn nhiều khó khăn (thu nhập bình quân đầu người thấp) Được phê duyệt vào diện đầu tư của chương trình 135 của chính phủ
Theo quy định cụ thể về tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển ban hành theo quyết định số 30/2012/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc
và miền núi ngày 18 tháng 7 năm 2012 Đã đưa ra các tiêu chí cụ thể sau:
* Thôn đặc biệt khó khăn là thôn có các tiêu chí (3 tiêu chí) như: Tỷ lệ hộ
nghèo và hộ cận nghèo cao, Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề lớn, giao thông đi
lại khó khăn, Chưa đủ phòng học cho các lớp mẫu giáo theo quy định…
* Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực: Xã khu
vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã khu vực I là các xã còn lại (Xin xem phụ lục 1)
1.3 Đặc điểm của trường tiểu học ở vùng khó khăn
Vùng khó khăn là các vùng lạc hậu, chậm tiến về kinh tế- xã hội Do vậy, những trường tiểu học đóng trên vùng khó khăn thường có điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn, chưa đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của hoạt động dạy học trong nhà trường Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn chưa đồng đều Giáo viên có những người là người dân tộc thiểu số địa
Trang 24phương như: Mường, Tày, Thái Sự khó khăn về điều kiện kinh tế, sinh hoạt đi lại cộng với sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa là những trở ngại chính khiến các giáo viên nơi khác không thể cống hiến hết tâm huyết và làm việc lâu dài ở những trường tiểu học trong vùng khó khăn
Hoạt động chuyên môn là hoạt động quan trọng nhất trong các nhà trường, hoạt động này có vai trò quyết định đến chất lượng của nhà trường Hoạt động của
tổ chuyên môn hằng năm phải bám sát nội dung, chương trình dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và nhà trường Sinh hoạt tổ chuyên môn là một hoạt động chuyên môn không thể thiếu trong hoạt động của nhà trường; là dịp để trao đổi chuyên môn góp phần nâng cao chất lượng dạy học Thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn sẽ xuất hiện nhiều ý tưởng Do vậy, hiệu trưởng cần tạo điều kiện để giáo viên nói lên ý tưởng, kinh nghiệm của mình Nội dung sinh hoạt TCM cần đa dạng, phong phú, có sự thay đổi và cần chuẩn bị trước
về nội dung và cách thức tổ chức thực hiện Việc sinh hoạt TCM thực hiện theo định kì quy định trong điều lệ trường tiểu học (2 tuần/lần Thời gian do hiệu trưởng quy định và tùy theo yêu cầu về tính chất, nội dung công việc) Tuy nhiên, do điều kiện đặc thù của vùng khó khăn nên hoạt động của tổ chuyên môn trong trường học vùng khó khăn việc tổ chức các cuộc họp chuyên môn chưa diễn ra thường xuyên,
có thể nhiều tháng họp một lần, hay kết hợp các cuộc họp chuyên môn với các cuộc họp khác (Do điều kiện thực tế của nhà trường như nhà trường có nhiều điểm trường lẻ cách xa nhau nên điều kiện để tổ chức các cuộc họp khó khăn hơn)
Như vậy, hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường vùng khó khăn có vai trò quyết định đến sự phát triển của nhà trường nói riêng và sự phát triển giáo dục nói chung Hoạt động của tổ chuyên môn là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy học trong các nhà trường hiện nay
1.4 Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học
1.4.1 Cơ sở khoa học của hoạt động nghiên cứu bài học
Hoạt động “Nghiên cứu bài học” (tiếng Anh là Leson study hoặc Lesson Research) theo tiếng Nhật (jugyo kenkyu) có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến bài học
cho đến khi nó hoàn hảo [32] Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong
Trang 25lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868-1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH được dựa trên lý thuyết vùng “phát triển gần” của nhà tâm lý học Nga V.X.Vygotsky, lý thuyết “vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin, tháp học tập của các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ
14.1.1 Nghiên cứu bài học dựa trên lý thuyết vùng phát triển gần
Việc học tập của học sinh và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên trong NCBH dựa trên cơ sở lý thuyết vùng phát triển của nhà tâm lý học người Nga Vygotsky Theo lý thuyết này nội dung dạy học chỉ có ý nghĩa khi nằm trong vùng phát triển của người học Do đó, nhiệm vụ của NCBH là xác định rõ vùng phát triển gần để lựa chọn mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học phù hợp
Mỗi lớp học thường có 3 nhóm học sinh, nhóm A là nhóm học sinh khá, giỏi, nhóm B là nhóm trung bình, còn nhóm C là nhóm yếu kém Để dạy học hiệu quả, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá phải có tác động tích cực đến cả ba nhóm đối tượng Chẳng hạn như cùng một nội dung dạy học, nhưng nhiệm vụ giao cho nhóm học sinh yếu kém ở mức độ biết, nhóm trung bình ở mức độ hiểu còn nhóm khá, giỏi ở mức độ vận dụng Hay nói cách khác, nội dung
và phương pháp dạy học phải phù hợp với đối tượng Sự phân hóa dạy học ở đây bao gồm phân hóa theo mức độ nhận thức, phân hóa theo nội dung nhiệm vụ học tập, phân hóa theo phong cách học tập, phân hóa theo sản phẩm
Theo thuyết Vygotsky, kết quả dạy học sẽ tốt hơn nếu nội dung dạy học không quá khó, cũng không quá dễ Nội dung dạy học cần thiết thực, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống, làm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn người học
Trang 261.4.1.2 Nghiên cứu bài học dựa trên lý thuyết “Vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin
Con người học qua tương tác giữa các vòng tròn đối ngoại Theo lý thuyết của Mikhail Bakhtin, việc học đòi hỏi con người mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Người ta sống, giao tiếp và học hỏi thông qua hệ thống tương tác đan xen, tương hỗ Theo ý nghĩa đó, quá trình dạy học nói chung và việc học nói riêng không chỉ là sự tương tác theo chiều dọc giữa giáo viên với học sinh mà còn có sự tương tác theo chiều ngang giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với tài liệu
Sự tương tác qua các vòng trong đối thoại không những là công cụ vật chất
mà còn là những công cụ tâm lý mạnh mẽ thúc đẩy, tạo động lực cho việc học Dạy học có sự tham gia của người học như dạy học hợp tác theo nhóm, dạy học với các học liệu trực quan, dạy học thực hành làm tăng hiệu quả cũng như tính bền vững của việc học của học sinh
1.4.1.3 Tháp học tập
Các nhà nghiên cứu giáo dục của Mỹ đã đưa ra số liệu nghiên cứu như sơ đồ sau về hiệu quả của việc học Theo đó, nếu chỉ dạy theo kiểu thuyết giảng, chỉ có
Trang 27trung bình 5% những điều đã thuyết giảng được ghi nhớ Hiệu quả tối đa của cách dạy học thụ động là 30% Nhưng nếu dạy học có sự tham gia tích cực của người học, như thảo luận nhóm hiệu quả đến 50% Dạy học có thực hành hiệu quả đạt đến 75% Nếu học sinh dạy cho bạn khác học, chẳng hạn như các kĩ thuật chia sẻ, kỹ thuật mảnh ghép hiệu quả đối với dạy học lên đến 90%
1.4.2 Chức năng của tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là đầu mối để hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường
Tổ chuyên môn có chức năng:
Giúp hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến dạy và học
Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định
Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý
Trang 28Do đó tổ trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín với đồng nghiệp, học sinh Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp, ứng xử
1.4.3 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
1.4.3.1 Một số khái niệm liên quan đến sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định
kì nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học Công tác sinh hoạt chuyên môn (SHCM) được tổ chức thực hiện và duy trì ở các trường tiểu học không chỉ giúp cho mỗi giáo viên (GV) nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn gắn kết tình đồng nghiệp, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác, hình thành môi trường sư phạm tốt đẹp, cũng như truyền thống, bản sắc văn hóa riêng của mỗi trường SHCM hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức: Tổ chức theo các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học Ở hình thức thứ nhất, SHCM bao gồm việc triển khai học tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên, tập huấn phương pháp dạy học và thường do Ban giám hiệu (BGH) triển khai SHCM còn trao đổi, thảo luận, học tập các nhiệm vụ cụ thể gắn với năm học và đặc điểm tình hình cũng như điều kiện thực tế của mỗi nhà trường như: nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, kinh nghiệm dạy học một dạng bài, kiểu bài nào đó, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh (HS) giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém Những nội dung này thường được giao cho các giáo viên nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt xây dựng thành các báo cáo chuyên đề hay sáng kiến kinh nghiệm Hình thức thứ hai của SHCM là dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học, được các nhà trường tổ chức thường xuyên hơn Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm về bài học, được các nhà trường tổ chức thường xuyên hơn Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm và đánh giá xếp loại tay nghề giáo viên dạy
Trang 29Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung dạy học và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không? Kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào?
Như vậy, theo chúng tôi, sinh hoạt chuyên môn theo NCBH không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viên tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh học chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập; giúp giáo viên có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình, trường mình
1.4.3.2 Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Bảng 1.1: Bảng so sánh sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống
và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Mục đích
- Đánh giá, xếp loại giờ dạy
- Tập trung vào hoạt động dạy
của giáo viên
- Thực hiện đúng nội dung, quy
trình, các bước thiết kế theo
Người dạy minh họa:
- Dạy theo nội dung kiến thức
có trong sách giáo khoa
Người dạy minh họa:
- Điều chỉnh các nội dung dạy học phù hợp
Trang 30SHCM truyền thống SHCM theo NCBH
Dạy minh
họa- Dự
giờ
- Thực hiện theo đúng nội
dung, quy trình, các bước thiết
kế theo quy định
Người dự:
- Ngồi cuối lớp học, ghi chép,
quan sát cử chỉ, việc làm của
giáo viên dạy
- Tập trung xem xét giáo viên
dạy có đúng quy định không
- Đối chiếu với các tiêu chí
đánh giá xếp loại giờ học
- Thực hiện tiến trình giờ học linh hoạt, sáng tạo dựa trên khả năng của học sinh
Người dự:
- Đứng hai bên, phía trước lớp học quan sát, vẽ sơ đồ chỗ ngồi của học sinh
- Tập trung quan sát học sinh thế nào?
- Suy nghĩ, phát hiện khó khăn trong học tập của học sinh và đưa ra các biện pháp khắc phục
Thảo
luận về
giờ dạy
- Dựa trên tiêu chí có sẵn, đánh
giá xếp loại giờ dạy
- Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân và giải pháp Mỗi giáo viên tự rút ra bài học
1.4.3.3 Nguyên tắc sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Các nguyên tắc áp dụng kết quả sinh hoạt chuyên môn theo NCBH:
Nguyên tắc 1: Từ bỏ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt kiểu thuyết trình truyền thống
Trong những giờ học như vậy, GV thiên về giải thích các kiến thức còn HS học một cách thụ động Cách dạy như vậy trước mắt có thể không ảnh hưởng đến kết quả thi cử, tuy nhiên về lâu dài tạo nên nhiều thói quen có hại cho cuộc sống của học sinh như không có tư duy độc lập mà theo tâm lý đám đông Mặt khác, cách dạy này triệt tiêu sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng, không khuyến khích
sự hợp tác trong học tập giữa học sinh với học sinh Cách dạy học như vậy theo một
Trang 31nghiên cứu của Mỹ, sau sáu tháng người học chỉ lưu giữ được 5% những gì đã được nghe giảng Để giải quyết tình trạng này, giáo viên cần biết chấp nhận học sinh, không được rời bỏ các em học yếu, kém Chuyển đổi phương pháp truyền thụ một chiều thành phương pháp dạy học có sự tham gia tích cực của người học Những yếu tố sau cần được đưa vào bài học hàng ngày:
- Các hoạt động tìm tòi, khám phá dựa trên các đồ dùng dạy học trực quan
- Các hoạt động của nhóm nhỏ chỉ gồm 3 đến 4 học sinh
- Đối thoại chia sẻ ý kiến giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh
Bằng việc học qua giao tiếp, học sinh không những chiếm lĩnh được kiến thức khoa học mà còn xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác và phát triển kỹ năng sống
Nguyên tắc 2: Sử dụng thiết bị dạy học thực tế bài học là của học sinh, bài học cần được gắn liền với thực tiễn cuộc sống của các em Chống lại các giờ học lý thuyết suông, thiếu thực tiễn, thực hành
Nguyên tắc 3: Hoạt động nhóm nhỏ hiệu quả, chống lại các hiện tượng ỷ lại, hiện tượng tách nhóm (bị bỏ rơi từ nhóm trung bình xuống nhóm yếu, kém)
Trong thực tiễn dạy học hiện nay có những trường hợp tổ chức nhóm thảo luận không hiệu quả Giáo viên chỉ đối thoại với nhóm trưởng và thư ký, các thành viên khác của nhóm bị bỏ rơi, lâu dần sẽ bị rỗng kiến thức và lọt xuống nhóm học sinh yếu, kém Do đó cần sử dụng các kỹ thuật dạy học nhóm tích cực như khăn phủ bàn, các mảnh ghép, công não …
Nguyên tắc 4: Giao nhiệm vụ học tập vừa sức, không quá dễ, nhưng không quá khó
Giao nhiệm vụ đơn giản, dễ dàng cho HS dẫn đến các em ở nhóm khá, giỏi không phát triển được năng lực ở mức cao hơn Do vậy trong thực tiễn dạy học cần giao nhiệm vụ cao hơn, có tính thách thức hơn cho các học sinh nhóm khá, giỏi Mặt khác, cũng có những nhiệm vụ riêng có tính phân hóa đối với các HS ở nhóm yếu, kém Những nhiệm vụ học tập này không quá khó, nằm trong khả năng vươn tới của HS yếu, kém Những HS ở mức trung bình cũng cần những nhiệm vụ học
Trang 32tập riêng, đòi hỏi phải nỗ lực để chiếm lĩnh Nếu không thực hiện đầy đủ nguyên tắc này thì dẫn đến hiệu quả bài học không cao
Nguyên tắc 5: Chia sẻ ý kiến, ý tưởng để xây dựng mối quan hệ GV-HS, HS- HS
1.4.3.4 Các quan niệm sai lầm về nghiên cứu bài học
- Nghiên cứu bài học là lập kế hoạch cho một bài học
Bài học chỉ là một phần nhỏ trong nghiên cứu bài học Nghiên cứu bài học là một quá trình liên quan đến việc xây dựng mục tiêu dài hạn cho học tập của học sinh Giáo viên nghiên cứu các phản ứng của học sinh để có những thiết kế bài học cho phù hợp, đồng thời xây dựng các câu hỏi và các hoạt động cho học sinh nâng cao hiểu biết hiện tại của mình
- Nghiên cứu bài học là một kịch bản cứng nhắc
Kế hoạch nghiên cứu bài học không phải là một kịch bản cứng nhắc vì : tất
cả các vấn đề hoặc các câu hỏi đều được lựa chọn rất cẩn thận để thúc đẩy học sinh
tư duy Mỗi hoạt động đó phải linh hoạt và có sự thay đổi khi cần thiết Ngay cả với giáo viên khác nhau cùng dạy một bài học, hay cùng một giáo viên ở các lớp khác nhau, ở những trường khác nhau thì cũng phải có sự thay đổi, chỉnh sửa cho phù hợp Do đó không có giáo án chung cho các lớp học khác nhau
- Nghiên cứu bài học là để đưa ra những giáo án tốt
Không có giáo án gọi là mẫu, là chuẩn trong nghiên cứu bài học Các giáo viên cùng thảo luận để tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao khả năng tư duy cho học sinh, mỗi giáo viên lại có những thay đổi linh hoạt trong quá trình dạy học tùy thuộc vào khả năng của mình Giáo án mẫu đưa ra là để tất cả các thành viên cùng nhau trao đổi và có thể dùng cho các giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm dạy học
- NCBH được thực hiện riêng lẻ, đơn độc từng giáo viên
Quá trình nghiên cứu bài học là một quá trình làm việc nhóm, các giáo viên cùng nhau hợp tác để phát triển bài học, sau đó một hoặc hai giáo viên sẽ tiến hành dạy học ở một lớp và các giáo viên khác cùng tham gia quan sát, nhận xét, góp ý, bổ sung… nghiên cứu bài học không phải là việc chỉ thực hiện xong một bài học mà là cải tiến và phát triển bài học liên tục, thông qua đó phát triển năng lực nghề nghiệp
Trang 33của giáo viên, cải thiện chất lượng học của học sinh Như vậy về bản chất, nghiên cứu bài học tạo ra một cộng đồng bao gồm không chỉ học sinh mà còn của các giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và cha mẹ học sinh
1.4.4 Nội dung hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học
Hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn được tổ chức, tiến hành theo các nội dung sau:
Nội dung 1: Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH
Nội dung 2: Các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công
Nội dung 3: Tổ chuyên môn thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy
Nội dung 4: Cá nhân tự soạn- Sáng tạo cá nhân
Nội dung 5: Tổ chuyên môn dự giờ tiết dạy minh họa
Nội dung 6: Tổ chuyên môn thảo luận về giờ dạy minh họa
Nội dung 7: Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày
1.5 Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn
1.5.1.1 Chức năng quản lý của hiệu trưởng trường Tiểu học
Có nhiều cách phân loại chức năng quản lý của hiệu trưởng trường tiểu học, tuy nhiên hầu hết thường tập trung vào 4 chức năng quản lý chính sau:
Chức năng kế hoạch hóa
Đây là chức năng quan trọng, là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của nhà trường Kế hoạch hóa được hiểu là một bản ghi nhận những mục tiêu
cơ bản, một chương trình hành động cụ thể được hoạch định trước với nội dung công việc, thời gian, cách thức, tiến hành…Công tác lập kế hoạch bao gồm:
+ Thu thập thông tin đầy đủ, cập nhật chính xác để làm căn cứ hoạch định
kế hoạch
+ Xác định mục tiêu, tính toán nguồn lực, dự báo kế hoạch
Trang 34+ Xây dựng kế hoạch với các bước, các phương án hành động cụ thể
Chức năng tổ chức
Bao gồm năm bước sau:
+ Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu + Phân chia toàn bộ công việc thành các nhóm nhiệm vụ để các thành viên hay bộ phận thực hiện Gọi là bước phân công lao động
+ Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả
+ Thiết lập một cơ chế phối hợp, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt mục tiêu một cách dễ dàng
+ Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần
Chức năng chỉ đạo (điều khiển)
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người hiệu trưởng Sau khi hoạch định và sắp xếp tổ chức, người hiệu trưởng phải chỉ đạo cho quá trình hoạt động nhằm đạt mục tiêu đề ra Chức năng chỉ đạo là phương thức tác động của người hiệu trưởng đến cán bộ giáo viên, học sinh trong trường nhằm đưa nhà trường vận hành theo kế hoạch Hiệu trưởng phải là người có kỹ năng đưa ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định Trong quá trình chỉ đạo phải linh hoạt, sáng tạo, không quá rập khuôn, cứng nhắc theo kế hoạch, có thể thay đổi kế hoạch kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tiễn (điều chỉnh) Điều này đòi hỏi người hiệu trưởng phải có tính chủ động, sáng tạo hay tóm lại phải có năng lực quản lý tốt
Chức năng kiểm tra
Đây là một chức năng quan trọng, xuyên suốt quá trình quản lý Kiểm tra nhằm đánh giá trạng thái của hệ thống, đối chiếu với mục tiêu dự kiến, kiểm tra nhằm phát hiện kịp thời các sai sót trong quá trình vận hành để có biện pháp điều chỉnh kịp thời Kiểm tra giữ vai trò là kênh thông tin ngược về hiệu quả các quyết định quản lý
Các chức năng trên có quan hệ mật thiết, lập thành chu trình quản lý Trong quá trình vận hành, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin là căn cứ để hoạch định kế hoạch, thông tin là chất liệu tạo mối quan hệ giữa các
Trang 35bộ phận trong nhà trường, thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi)
và phản hồi (thông tin ngược) diễn biến hoạt động của nhà trường; thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp hiệu trưởng xem xét mức độ đạt mục tiêu của nhà trường
1.5.1.2 Mối quan hệ giữa hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn trong quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn
Để thực hiện thành công mục tiêu đổi mới nội dung SHCM theo NCBH, hiệu trưởng trường tiểu học cần tập trung xây dựng văn hóa nhà trường thân thiện thông qua việc xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa các chủ thể, cũng là các thành viên trong nhà trường Mối quan hệ giữa CBQL và GV là mối quan hệ hai chiều, trong
đó CBQL trong nhà trường luộn lắng nghe thấu hiểu và hỗ trợ kịp thời khi giáo viên gặp khó khăn Đối với hoạt động NCBH thì mối quan hệ này được hình thành trong SHCM, nơi CBQL và GV làm việc cùng nhau, có điều kiện hiểu biết sâu sắc về đồng nghiệp, thông cảm, chấp nhận và hỗ trợ giúp nhau trong công việc
Mối quan hệ giữa GV với GV là sự tôn trọng, tin tưởng, lắng nghe, sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp và luôn sẵn sàng học hỏi lẫn nhau Đây là một việc làm không
dễ vì trong mỗi tập thể cán bộ, GV thường có những người bảo thủ không dễ chấp nhận ý kiến người khác và như vậy họ sẽ không học được điều gì từ mọi người Những biểu hiện này sẽ được bộc lộ trong SHCM và hiệu trưởng cần phải có một chiến lược hợp lí để dần dần tạo được bầu không khí tôn trọng, tin tưởng, mở rộng tấm lòng học hỏi đồng nghiệp trong cộng đồng giáo viên của nhà trường
Mối quan hệ giữa GV với học sinh là sự tôn trọng nhân cách người học, có
sự hiểu biết sâu sắc về học sinh khi các em gặp khó khăn Khi dự giờ đồng nghiệp trong SHCM, GV có thể nhận ra mối quan hệ này như thế nào qua những hành vi ứng xử của GV với HS Nếu có những hành vi ứng xử không hợp lý khi chia sẻ; GV cần phân tích những tình huống cụ thể để nhận thấy điều này, từ đó GV sẽ thay đổi hành vi ứng xử cho phù hợp Hiệu trưởng cần có biện pháp thuyết phục để GV hiểu tất cả học sinh đều được quý trọng, HS có quyền được mắc lỗi và các em cần được quan tâm hỗ trợ giúp đỡ khi gặp khó khăn trong học tập Ngoài việc giúp đỡ GV
Trang 36thay đổi những thói quen ứng xử chưa phù hợp trong SHCM, hiệu trưởng còn giúp
GV học tập được những cử chỉ đẹp của GV dạy minh họa đối với HS trong giờ học
Từ cơ sở lý luận trên, theo tôi, quản lý hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng là quá trình tác động của hiệu trưởng đến tổ chuyên môn và GV, giúp GV hợp tác với nhau nhằm tìm ra các giải pháp cải tiến quá trình dạy học để tạo điều kiện tốt nhất phát triển năng lực học tập của học sinh
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học vùng khó khăn
Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học bao gồm:
1.5.2.1 Quản lý công tác nâng cao nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động NCBH tại TCM đối với phát triển nghề nghiệp của GV
Tổ chức cho giáo viên học tập chính trị, học tập về nhiệm vụ năm học, họp tổ chuyên môn xác định khâu cơ bản trong quá trình NCBH Nhắc lại nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và đặc điểm người học để thống nhất trong nhận thức của giáo viên
Quán triệt rõ nhiệm vụ cho từng giáo viên, đồng thời có những yêu cầu về giảng dạy cũng như kiểm tra, đánh giá học sinh cho phù hợp với đặc điểm của môn học, người học
Nhân các ngày lễ lớn trong năm, phát động các phong trào thi đua mà trọng tâm là thi đua dạy tốt học tốt Qua đó tuyên truyền, giáo dục truyền thống tốt đẹp của nhà giáo Việt Nam, truyền thống của nhà trường, về đạo đức, lối sống, tinh thần, thái độ làm việc và hiệu quả đào tạo Từ đó giúp giáo viên có thêm tinh thần trách nhiệm, gắn bó với yêu nghề, yêu nhà trường
Phối hợp tốt với Công đoàn tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động của ngành “Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm”; “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”…
1.5.2.2 Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động nghiên cứu bài học của nhà trường
Xây dựng kế hoạch là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình quản lý hoạt động NCBH Hoạt động này nhằm xác định hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để đạt được trạng mong muốn của hoạt động NCBH khi kết
Trang 37thúc một giai đoạn phát triển Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn lộ trình của hoạt động NCBH của nhà trường và các tổ chuyên môn, từng GV phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của hoạt động NCBH
Quy trình xây dựng kế hoạch gồm:
(1) Phân tích thực trạng hoạt động NCBH và quản lý hoạt động NCBH (2) Xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt của hoạt động NCBH và đánh giá tính khả thi của chỉ tiêu, mục tiêu đó
(3) Xác định các hoạt động NCBH của nhà trường tương ứng với các mục tiêu
(4) Xác định các nguồn lực thực hiện hoạt động NCBH của nhà trường (5) Xác định các biện pháp chỉ số theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động NCBH của nhà trường
(6) Trình bày kế hoạch NCBH của nhà trường trước Hội đồng sư phạm
1.5.2.3 Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn cho giáo viên
Tổ chuyên môn phải được duy trì họp ít nhất 2 lần/tháng theo quy định của Điều lệ trường tiểu học Ngoài việc triển khai các công văn, chỉ thị của cấp trên, phục vụ dạy học, quản lý học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nói chung, phần lớn thời gian còn lại là hoạt động SHCM dựa trên NCBH Cụ thể như sau:
(1) Thay đổi nhận thức của GV về SHCM
SHCM theo NCBH là một quá trình các GV tham gia vào các khâu từ chuẩn
bị, thiết kế bài học sáng tạo, dạy thử nghiệm, dự giờ, suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến sâu sắc về những gì đã diễn ra trong việc học của HS Đây là hoạt động học tập lẫn nhau, học tập trong thực tế, là nơi trải nghiệm những cái mới, là nơi kết nối lý thuyết với thực hành, giữa ý định và thực tế
Để đảm bảo SHCM hiệu quả, trước hết hiệu trưởng trường tiểu học cần coi SHCM là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất để đổi mới nhà trường, nâng cao chất lượng việc học của học sinh Từ đó giúp GV hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của SHCM và cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện SHCM mới
(2) Mời chuyên gia bồi dưỡng kiến thức phát triển kỹ năng NCBH cho GV
Trang 38(3)Tổ chức làm mẫu (một tổ CM và một GV cốt cán của tổ) của một bài học
cụ thể
Qua dự giờ, mỗi GV có cái nhìn và cách nhìn khác nhau, có suy nghĩ cảm nhận khác nhau về HS và bài học của các em Khi các ý kiến khác nhau đó được chia sẻ cho mọi người cùng thấy sẽ làm cho việc phân tích bài học trở nên phong phú, sâu sắc, đa chiều, đa dạng Từ đó, GV có cái nhìn toàn cảnh, phong phú và rõ nét hơn về tất cả các vấn đề liên quan đến việc dạy và việc học và các cách giải quyết chúng Đặc biệt, khi NCBH sẽ từ bỏ thói quen quan sát việc dạy của GV Người dự và người dạy sẽ thấy tất cả cùng nhau hướng về một điểm chung là việc học của HS Họ không còn để ý đến những khoảng cách về năng lực giữa các GV, thoải mái hơn khi trao đổi và chia sẻ ý kiến Từ đó họ dễ dàng chấp nhận lẫn nhau
và họ sẽ chỉ quan tâm đến những khó khăn của người GV trước sự thay đổi phức tạp trong học tập của HS
Tóm lại, giáo viên dự giờ chỉ quan sát, suy ngẫm về việc học và các vấn đề liên quan đến việc học của học sinh, người dự giờ phải quan sát tỉ mỉ, tinh tế, nhạy cảm việc học của từng HS để suy ngẫm và chuẩn bị chia sẻ ý kiến phong phú, sâu sắc Những dấu hiệu từ HS thể hiện rõ ở khuôn mặt, lời nói, điệu bộ, sản phẩm học tập…Không nên chỉ quan sát việc dạy của GV, cần chú ý quan sát mối quan hệ phản ứng của HS trước nội dung bài học và hành động của GV Không coi trọng việc ghi chép tiến trình bài dạy GV dự giờ thoải mái ghi chép trong sổ dự giờ Khi kiểm tra, nhà trường nên đánh giá sổ dự giờ của GV theo hướng này
1.5.2.4 Chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động nghiên cứu bài học
Hiệu trưởng nhà trường cần xác định tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở trực tiếp
tổ chức quản lý hoạt động NCBH của giáo viên Vì vậy hoạt động NCBH của hiệu trưởng cần luôn luôn gắn chặt chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn Hiệu trưởng cần quan tâm các vấn đề sau đây khi chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn:
(1) Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH
NCBH trong trường TH là một quá trình thường xuyên, lâu dài Vì vậy hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể cho tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch mang tính ổn định Kế hoạch NCBH của tổ phải rất cụ thể, chi tiết, có ưu tiên các vấn đề
Trang 39quan trọng trong mỗi năm học; phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng cho từng giáo viên, thời gian thực hiện và dự kiến kết quả đạt được trong từng giai đoạn Hiệu trưởng cần quan tâm kiểm tra các khâu từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và tự kiểm tra đánh giá để kịp thời chỉ đạo cho tổ điều chỉnh và bổ sung những điều kiện cần thiết cho hoạt động NCBH thực hiện được thuận lợi hơn
(2) Phát huy vai trò đội ngũ giáo viên đầu đàn trong hoạt động NCBH của nhà trường và tổ chuyên môn
Đội ngũ giáo viên đầu đàn trong mỗi tổ chuyên môn có vai trò đầu tàu, dẫn dắt cả tổ chuyên môn trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn nói chung, hoạt động NCBH nói riêng
Tổ chuyên môn trên cơ sở thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu khoa học của từng giáo viên khẳng định năng lực, phẩm chất nghề nghiệp của người học, từ đó phát hiện, xem xét, đề nghị hiệu trưởng bồi dưỡng bố trí nhiệm vụ để những giáo viên nổi trội về phẩm chất, năng lực tiếp cận với công tác quản lý; Tổ chức cho tập thể giáo viên trong tổ chuyên môn đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn nói chung và hoạt động NCBH nói riêng
Cần lưu ý rằng, giáo viên đầu đàn không phải tự nhiên mà có, cũng không phải chỉ giỏi chuyên môn là đủ Đội ngũ giáo viên đầu đàn là sự phát hiện, bồi dưỡng phải được thừa nhận, tôn vinh của cả tập thể giáo viên trong tổ chuyên môn đồng thời phải có một số kiến thức, kĩ năng quản lý nhất định thì giáo viên đầu đàn mới thực sự phát huy vai trò đầu tàu của mình Việc phát hiện giáo viên đầu đàn chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH
(3 )Giám sát việc thực hiện đúng quy trình NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn
(4) Chỉ đạo tổ chuyên môn chú trọng nâng cao chất lượng các buổi thảo luận cho từng bài học được nghiên cứu
(5) Phát triển mỗi tổ chuyên môn theo tinh thần “Tổ chức biết học hỏi”
Việc xây dựng nhà trường, mỗi tổ chuyên môn theo tinh thần “Tổ chức biết học hỏi” sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích đổi mới PPDH dựa trên
Trang 40NCBH Trong việc xây dựng “Tổ chức biết học hỏi”, học hỏi có tinh thần đồng đội, cần giúp cho GV rèn kĩ năng hướng dẫn đồng nhiệp, mỗi giáo viên phải làm việc một cách tập thể để đạt được tầm nhìn chung, mục tiêu chung chứ không chỉ theo đuổi những mục đích cá nhân của mỗi giáo viên “Tổ chức biết học hỏi” là một tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động SHCM dựa trên NCBH
1.5.2.5 Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu bài học của các tổ chuyên môn
Kiểm tra, đánh giá là chức năng quan trọng trong quá trình quản lý và cũng
là thời điểm khởi đầu làm tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch…Đó là công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, là việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những mặt hạn chế để điều chỉnh kế hoạch, tổ chức lãnh đạo
Khi kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động NCBH trong trường tiểu học cần trả lời các câu hỏi sau:
(1) Đánh giá việc thực hiện quy trình NCBH tại tổ chuyên môn
(2) Đánh giá việc chia sẻ kiến thức chuyên môn, đổi mới PPDH của giáo viên tại tổ chuyên môn
(3) Đánh giá việc hỗ trợ và trợ giúp nhau để hoàn thiện các kĩ năng hiện có,
bổ sung những kĩ năng mới và giải quyết các vấn đề liên quan tới lớp học của giáo viên tại tổ chuyên môn
(4) Đánh giá việc đáp ứng tiêu chuẩn thực hiện NCBH của nhà trường đề ra 1.5.2.6 Tạo động lực cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh
Động lực là nhân tố thúc đẩy, phát triển hoat động của con người Vì vậy, để tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu bài học (NCBH), hiệu trưởng cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ dạy học của người thầy, động cơ học tập của học sinh
Với giáo viên, để tạo động lực cho việc NCBH, hiệu trưởng cần tác động đến nhu cầu được tôn trọng, được khẳng định mình, đồng thời sẽ có sự động viên về mặt tinh thần và bồi dưỡng vật chất thích đáng, tương xứng với khả năng và sự cống hiến của mỗi người