1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên

135 299 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng

Trang 1

ĐẶNG VĂN TÂN KHANH

QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP

GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH HỌC SINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 140 101

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Hùng

Hà Nội, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Ban Giám đốc, các giảng viên của Học viện Quản lý Giáo dục đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy, cô người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình lập đề cương, nghiên cứu viết

và hoàn chỉnh luận văn

Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng GD&ĐT huyện Yên Mỹ, các bạn đồng nghiệp; Ban giám hiệu, giáo viên và các lực lượng giáo dục huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như cung cấp tài liệu, đóng góp các ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, động viên trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn chỉnh luận văn, nhưng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện và hữu ích hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Đặng Văn Tân Khanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn của tác giả nào khác

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Đặng Văn Tân Khanh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Những nghiên cứu về phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 8

1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 10

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 13

1.2.3 Gia đình 15

1.2.4 Phối hợp 16

1.2.5 Phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh 16

1.2.6 Quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh 17

1.3 Một số vấn đề cơ bản về phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh để giáo dục học sinh 18

1.3.1 Vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh 19

1.3.2 Yêu cầu thực hiện phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cấp THCS trong bối cảnh hiện nay 23

1.3.3 Mục tiêu, nội dung, phương thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 26

1.4 Quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở trường trung học cơ sở 28

1.4.1 Xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình phối hợp giữa nhà trường với gia đình 28

1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh 29

1.4.3 Chỉ đạo, điều hành các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình 31

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá và tư vấn thúc đẩy việc thực hiện phối hợp giữa nhà trường với gia đình 32

Trang 5

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà

trường với gia đình học sinh ở các trường THCS 33

1.5.1 Năng lực quản lý của Hiệu trưởng 33

1.5.2 Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên 34

1.5.3 Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THCS 35

1.5.4 Nhận thức và hành động của các thành viên trong gia đình học sinh 36

1.5.5 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương 39

Kết luận chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN 42

2.1 Giới thiệu khái quát về Giáo dục và Đào tạo huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 42

2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương 42

2.1.2 Khái quát về các trường THCS huyện Yên Mỹ 42

2.2 Tổ chức hoạt động khảo sát 53

2.2.1 Mục đích khảo sát 53

2.2.2 Nội dung khảo sát 53

2.2.3 Đối tượng khảo sát 54

2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát 54

2.2.5 Xử lý kết quả 55

2.3 Thực trạng phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 56

2.3.1 Thực trạng nhận thức vai trò của việc phối hợp và quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh và xã hội 56

2.3.2 Thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường với với gia đình học sinh để giáo dục học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 60

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 69

2.4.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên về vai trò của quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh 69

2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh 70

2.4.3 Thực trạng tổ chức, thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh 71

2.4.4 Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh theo kế hoạch 74

2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở trường trung học cơ sở 75

Trang 6

2.5 Đánh giá chung về thực trạng việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà

trường với gia đình học sinh ở các trường THCS huyện Yên Mỹ 79

2.5.1 Ưu điểm 79

2.5.2 Hạn chế 79

2.5.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 80

Kết luận chương 2 83

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN 84

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 84

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục 84

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 84

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 85

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 85

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện 86

3.2 Một số biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục đạo đức học sinh của Hiệu trưởng trường THCS 86

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, gia đình học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng và lợi ích của công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình để giáo dục học sinh 86

3.2.2 Xây dựng kế hoạch đổi mới công tác phối hợp và cam kết thực hiện các văn bản phối hợp giữa nhà trường với gia đình để giáo dục học sinh 88

3.2.3 Tăng cường ứng dụng CNTT và phát triển hệ thống thông tin nhà trường phối hợp với gia đình học sinh 91

3.2.4 Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh 93

3.2.5 Tăng cường, bồi dưỡng năng lực công tác chủ nhiệm cho cán bộ, giáo viên để làm tốt công tác phối hợp với gia đình học sinh 95

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp 97

3.3.1 Quy trình khảo nghiệm qua lấy ý kiến chuyên gia 97

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm sự cần thiết và mức độ khả thi các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Mỹ 98

Kết luận chương 3 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

1 Kết luận 105

2 Khuyến nghị 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Cụm từ viết tắt

1 BĐD CMHS Ban đại diện cha mẹ học sinh

9 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thống kê đội ngũ cấp học giáo dục THCS 44

Bảng 2.2 Thống kê đội ngũ giáo viên theo môn dạy ở các trường THCS 45

Bảng 2.3 Thống kê trình độ và độ tuổi của đội ngũ giáo viên 46

Bảng 2.4 Thống kê cơ sở vật chất các trường THCS 48

Bảng 2.5 Số liệu quy mô trường lớp cấp học THCS 49

Bảng 2.6 Thống kê chất lượng hai mặt giáo dục trong toàn huyện Yên Mỹ 50

Bảng 2.7 Thống kê kết quả học sinh tốt nghiệp THCS 51

Bảng 2.8 Thống kê kết quả học sinh giỏi đạt giải các cấp 51

Bảng 2.9 Số liệu học sinh bỏ học các trường THCS 52

Bảng 2.10 Đối tượng khảo sát thực trạng 54

Bảng 2.11 Nhận thức của đối tượng khảo sát về tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội 57

Bảng 2.12 Nhận thức của đối tượng khảo sát về trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục cho học sinh 58

Bảng 2.13 Nhận thức về mục đích của phối hợp và quản lý công tác phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh 58

Bảng 2.14 Mức độ thực hiện phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình 60

Bảng 2.15 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp giữa nhà trường với gia đình theo ý kiến đánh giá của cán bộ và giáo viên 61

Bảng 2.16 Mức độ thực hiện nội dung phối hợp giáo dục giữa gia đình với nhà trường theo ý kiến đánh giá của PHHS 63

Bảng 2.17 Đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả của các biện pháp phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 65

Bảng 2.18 Nhận thức của cán bộ, giáo viên về vai trò của quản lý hoạt động phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội 69

Trang 9

Bảng 2.19 Đánh giá việc xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp giữa

nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh ở các trường

THCS 70

Bảng 2.20 Tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh ở các trường THCS 71

Bảng 2.21 Chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 74

Bảng 2.22 Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh 76

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp 99

Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp 100

Biểu đồ 3.1 Sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 102

Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 102

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện, giáo dục và đào tạo

một lần nữa được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định một trong

những nhiệm vụ và giải pháp là: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân; Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi

và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp

của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp

Để thực hiện chỉ đạo đó, bên cạnh đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, việc thực hiện tốt nguyên lý giáo dục là rất cần thiết Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu, tính chất, nguyên lý, phương pháp và nội dung giáo dục Trong đó, nguyên lý giáo dục là học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Cả về lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò của nguyên lý giáo dục trong quá trình giáo dục là hết sức quan trọng Có thể thấy rằng: giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường và gia đình là hai cơ sở trực tiếp giáo dục các em Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và

Trang 11

xã hội là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta Điều đó đã được

Bác Hồ chỉ ra từ lâu: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có

sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [22, tr168-172]

Thực tế cho thấy, trong môi trường xã hội mà học sinh sống, học tập và phát triển; bên cạnh các mặt tác động, các ảnh hưởng tích cực luôn hàm chứa các yếu tố ngẫu nhiên và với trình độ thiếu từng trải, ít vốn sống lại hiếu động, các em trẻ dễ bắt chước theo, vi phạm các chuẩn mực, tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách Nhất là khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục, thậm chí có sự đối nghịch giữa nhà trường và

xã hội hoặc gia đình thì hậu quả xấu trong giáo dục sẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục sẽ rất tai hại

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt Trong việc tổ chức kết hợp các lực lượng giáo dục thì gia đình có vai trò và tác động vô cùng quan trọng, là trọng tâm của các hoạt động kết hợp Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình Việc ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với mỗi học sinh là sớm nhất Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là việc riêng của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ công dân của những thành viên trong gia đình Nó được xác định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay như trong Hiến pháp (2013), Luật Hôn nhân và gia đình (2014), Luật chăm sóc và bảo

vệ trẻ em (2004) và Luật trẻ em (2016)… Gắn với quan hệ máu mủ ruột thịt

và tình yêu sâu sắc của gia đình với con cái nên giáo dục gia đình mang tính

Trang 12

xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa rất lớn Tùy vào điều kiện kinh tế, đời sống của mỗi gia đình mà việc tiến hành giáo dục trong các giai đoạn phát triển của trẻ có các nội dung, hình thức, nhiệm vụ khác nhau Khi các em học đến Trung học cơ sở, nhiệm vụ học tập càng nặng nề, thời gian đầu tư cho việc học tăng thêm, đồng thời quan hệ bè bạn, quan hệ xã hội phức tạp hơn Ngoài việc quan tâm đến kết quả học tập của trẻ, gia đình nên dành thời gian chú ý đến các mối quan hệ của con cái với bạn bè, kịp thời phát hiện những lệch lạc do bạn xấu rủ rê, chú ý đến sự phát triển năng khiếu, định hướng việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực của con mình

Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường

phổ thông có nhiều cấp học cũng qui định rõ: “Nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục Việc kết hợp giáo dục trong nhà trường với giáo dục của gia đình và giáo dục ngoài xã hội sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp để tác động đến học sinh sẽ mang lại hiệu quả cao hơn”

Với sự chỉ đạo của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Hưng Yên và Sở GD&ĐT Hưng Yên, phòng GD&ĐT huyện Yên Mỹ đã chỉ đạo ngành giáo dục huyện nhà tích cực đẩy mạnh công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong việc giáo dục học sinh Đặc biệt là ở các trường THCS trong huyện Toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục THCS huyện Yên Mỹ nói riêng, không ngừng sáng tạo, chuyển thể bằng những việc làm thiết thực và đã mang lại kết quả đáng mừng Từ đó tạo được tiền đề để thực hiện tốt việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện, tại các trường THCS vẫn còn những hạn chế nhất định, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường

Trang 13

với gia đình học sinh Nhiều nhà trường, chỉ có giáo viên chủ nhiệm mới thường xuyên liên hệ với gia đình học sinh, còn giáo viên khác thì không Và ngược lại, nhận thức về giáo dục của một số bộ phận nhân dân chưa cao, cộng thêm điều kiện kinh tế còn khó khăn cho nên việc đầu tư và quan tâm đến việc học tập của con em đối với nhiều bậc phụ huynh còn hạn chế Trách nhiệm giáo dục con em ở nhiều gia đình chưa được coi trọng, một số gia đình

bố mẹ làm ăn xa còn thả lỏng con cái cho ông, bà quản lý Hơn thế có những gia đình còn khoán trắng cho nhà trường, cho thầy, cô giáo không hề biết thầy, cô dạy dỗ con mình ra sao, học tập thế nào Chỉ khi con học yếu hay bị

kỷ luật thì trách móc nhà trường, thầy cô Bên cạnh đó việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở một số trường THCS trong huyện hiệu quả còn thấp

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý

công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên” để làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đức học sinh, theo đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các trường THCS trên địa bàn

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh trong giáo dục học sinh các trường Trung học cơ sở

Trang 14

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

4 Giả thuyết khoa học

Công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường THCS của huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên mặc dù đã được quan tâm, nhưng chưa đạt được những kết quả mong muốn Công tác quản lý ở các trường còn thiếu cơ chế rõ ràng, cách làm chưa hiệu quả Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh một cách thích hợp, sẽ tạo lập được sự phối hợp tốt, có sự thống nhất về mục tiêu, nội dung, cách thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh thì sẽ khắc phục được những hạn chế, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường học cấp Trung học cơ sở

- Đánh giá thực trạng việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng các trường THCS huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đối với công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh

Phạm vi khảo sát tại 8 trường THCS thuộc 4 cụm: Cụm I (THCS Trung Hòa, THCS Tân Lập); Cụm II (THCS Đoàn Thị Điểm, THCS Yên Mỹ); Cụm

Trang 15

III (THCS Việt Cường, THCS Yên Phú); Cụm IV (THCS Nguyễn Văn Linh, THCS Liêu Xá)

Việc khảo sát thông qua điều tra bằng phiếu, nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phỏng vấn 17 CBQL, 180 GV và 199 PHHS Các số liệu khảo sát thực trạng công tác này được lấy trong giai đoạn 2014-2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu khoa học

về vấn đề phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình học sinh và quản

lý công tác này ở trường học để xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu

Lập phiếu hỏi cán bộ, giáo viên, PHHS và các lực lượng xã hội nhằm đánh giá thực trạng nhận thức và các hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình cũng như đánh giá thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục học sinh ở các trường THCS thuộc phạm

vi nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi với Ban giám hiệu, giáo viên, gia đình học sinh và học sinh để khẳng định kết quả điều tra bằng phiếu và làm rõ thêm các vấn đề có liên quan

7.2.3 Phương pháp chuyên gia

Hỏi ý kiến một số cán bộ quản lý giáo dục ở trường THCS, phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT về các biện pháp đề xuất để xem xét tính phù hợp và khả thi của chúng

Trang 16

7.3 Phương pháp bổ trợ

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu, tính điểm trung bình

và độ lệch chuẩn về mức độ thực hiện một số công việc phối hợp giữa các giáo viên chủ nhiệm và gia đình học sinh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở Trường trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

Chương 3 Biện quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP

GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh

Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức phối hợp với gia đình

để giáo dục học sinh là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng, không chỉ đối với các quốc gia cổ đại phương Đông, phương Tây

mà cả các nền giáo dục trên thế giới cũng vậy

Trong nền giáo dục cận đại, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường đối với kết quả giáo dục trẻ Ông khẳng định lòng ham học của trẻ không thể thiếu vắng sự kích thích từ phía

gia đình và thầy cô:“Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn

mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa V.A.Xukhomlinxki

(1918-1970) đã khẳng định:“Nếu gia đình và nhà trường không có sự hợp tác

để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo”.”

Vào đầu thế kỷ 21, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của gia đình trong việc kết hợp với nhà trường để giáo dục trẻ Ông Alan

Trang 18

Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, trong bài phát biểu gần đây đã kêu gọi gia đình, bậc làm cha, làm mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường Ngược lại, ông khẳng định vai trò của các bậc

phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một “sự khác biệt lớn” so với

những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học (theo báo Tuổi Trẻ ngày 13/11/2006)

Trong lịch sử giáo dục của nước ta, giữa nhà trường và gia đình đã có

sự hợp tác chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ từ lâu, câu nói “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về

mối quan hệ này Chủ tịch Hồ Chí Minh - một nhà giáo dục lớn của nước ta, Người đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng về trách nhiệm của nhà trường phải

tổ chức phối hợp với gia đình :“ Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [22, tr591].

Thực tế, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình, sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như: “Giáo dục gia đình” [14]; “ Xã hội hoá công tác giáo dục”[15]; “Giáo dục học - Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” [15]…

Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Các tác giả đã dùng các khái niệm khác nhau: “thống nhất”; “hợp tác”; “kết hợp”; “phối hợp”; “liên kết” Các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh

Trang 19

Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và của xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh, cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh

Cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội, khoa học quản lý giáo dục của nước ta dần trưởng thành, hoàn thiện và tiếp cận thế giới Trong quá trình đó, nhiều nhà sư phạm của Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục như Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quang Phúc…

Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Quản lý giáo dục như: “Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” [9]; “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” [19];

“Quản lý giáo dục” [16]; “Lý luận quản lý giáo dục đại cương” [13]…

Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã giải quyết nhiều vấn đề

lý luận, bản chất, quy trình, phương pháp, nghệ thuật…về quản lý và quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh là đề tài còn ít được quan tâm và nghiên cứu Gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục đạo đức học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, như:

“Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh các trường THPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” [34];

“Quản lý công tác giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường THCS tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” [30]; “ Biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường tiểu học huyện Sơn Dương tỉnh

Trang 20

Tuyên Quang” [21]; “Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường-gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An” [31]…

Các công trình nghiên cứu này đã khẳng định gia đình có tính quyết định trong việc giáo dục thế hệ trẻ và sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường

và giáo dục gia đình là không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ Bởi lẽ gia đình có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Giáo dục gia đình có tính xúc cảm hơn so với bất cứ môi trường giáo dục nào khác, vì nó dựa trên tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái và tình cảm quyến luyến tin cậy của con cái đối với cha mẹ, do đó giáo dục gia đình có khả năng lớn trong xây dựng tình cảm, niềm tin, tính cách con người Giáo dục gia đình còn mang tính truyền thống gia đình: ổn định và lâu bền Những phẩm chất về nhân cách của cha mẹ và các thành viên trong gia đình tác động trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả đến trẻ Sự gắn

bó của các quan hệ gia đình tạo nên không khí, tâm lý gia đình, thường có ảnh hưởng quyết định đối với những phản ứng của trẻ Do đó, những ảnh hưởng của gia đình thời thơ ấu, thường để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của trẻ và những đặc điểm của gia đình, có ảnh hưởng nhiều nhất và mạnh nhất đến các hoạt động của các em

Bên cạnh những công trình nêu trên, công tác quản lý trong nhà trường phổ thông còn là vấn đề cần được nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu Đặc biệt, trong những năm gần đây với tác động của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của khoa học, công nghệ, sự bùng nổ của thông tin truyền thông… vấn đề phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh càng trở lên cấp thiết

Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường THCS huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên là bước tiếp

Trang 21

tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời đề ra được một

số biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng đổi mới giáo dục huyện nhà; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo bước chuyển biến mới cho sự phát triển

chung của đất nước trong thời kỳ hội nhập Đề tài: “Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở các trường THCS huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên” vẫn còn là một vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu để thấm nhuần

hơn, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân, cho đồng nghiệp và có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, phù hợp

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của

nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [10, tr38]

Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, quản lý là một hiện tượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý đã nêu lên các khía cạnh khác nhau của khái niệm “Quản lý”

Trang 22

- Taylor PH.W (1856-1915) đã định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẽ nhất” [25] Đó cũng là tư

tưởng của ông về quản lý

- Theo Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Kì: “Quản lý là chức năng của những

hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [32, tr19]

- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [19, tr32]

Như vậy, có thể thấy Quản lý (QL) là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều

lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau Tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận, nhưng đều thống

nhất ở những điểm chung và có thể khái quát: “Quản lý là quá trình tác động có

tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã định theo ý chí của nhà quản lý”

1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

Cũng như khái niệm QL nói chung, khái niệm Quản lý giáo dục (QLGD)

cho đến nay được nhiều tác giả ở trong, ngoài nước nêu ra và bàn luận

- Một số nước phát triển vận dụng lý luận quản lý giáo dục bắt nguồn từ

lý luận quản lý xã hội

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, M.I.Kôndakov

viết:“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể

Trang 23

quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để bảo đảm sự vận hành tối

ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [20, tr94]

- Ở Việt Nam: tác giả Trần Kiểm quan niệm:“Giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục”

Ở khái niệm về quản lý giáo dục ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm quản lý giáo dục tương ứng: một cho quản lý một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản

lý vĩ mô và một cho quản lý một nhà trường là quản lý vi mô [19]

Đối với cấp vĩ mô ông cho rằng: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các hệ thống giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [19]

Đối với cấp vi mô ông cho rằng: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [19]

Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: “Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt những mục tiêu giáo dục đề ra”

Quản lý nhà trường, có một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm:

Trang 24

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [15, tr30] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.” [26, tr10]

Như vậy, có thể hiểu: “Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”

1.2.3 Gia đình

Khái niệm gia đình là khái niệm không có định nghĩa phổ biến, do gia đình rất đa dạng theo thời gian và không gian

Theo xã hội học, cách hiểu chung nhất thì gia đình là một nhóm người

có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thoả mãn nhu cầu cơ bản trong cuộc sổng của họ về sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm…Dạng phổ

Trang 25

biến nhất cho tới hiện nay của gia đình gồm thành viên hai giới, có con đẻ hoặc con nuôi

Điều 3, Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định

Gia đình là tế bào xã hội, là nơi con người sinh sống, lớn lên và hình thành nhân cách của mình, gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống và là cơ sở của việc giáo dục thế hệ trẻ Không có gia đình thi xã hội không thể tồn tại

và phát triển

1.2.4 Phối hợp

Theo “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” của Nxb Giáo Dục năm 2002:

"Phối hợp là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau"

Cũng có thể nói: Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung

1.2.5 Phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh

Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh được hiểu là các thầy

cô trong trường và cha mẹ học sinh hay người đỡ đầu có sự hợp tác, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh xét trong đề tài này được giới hạn là các hoạt động phối hợp, trong đó:

Chủ thể phối hợp là Hiệu trưởng (phạm vi toàn trường), giáo viên chủ nhiệm (từng lớp) và cha mẹ học sinh (kể cả tổ chức hội cha mẹ học sinh)

Công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh là kế hoạch được cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm thống nhất giữa nhà trường với cha mẹ học sinh về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục

Trang 26

Nhằm tạo ra môi trường giáo dục thống nhất ở nhà trường và ở gia đình để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình học sinh để cùng nhau thực hiện tốt

nhiệm vụ đề ra

1.2.6 Quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh

Trong nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội dung, trong đó quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục cho học sinh là một trong những nội dung quan trọng

Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh về bản chất, là quá trình tổ chức quản lý việc phối hợp giáo dục của nhiều thành viên cùng tham gia tạo ra sự thống nhất chung của các thành viên Nhằm huy động hợp lý nhất khả năng của các thành viên phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường

Mục tiêu của quản lý phối hợp giáo dục là làm cho quá trình giáo dục vận hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh trong nhà trường, gia đình và ở khắp mọi nơi ngoài xã hội

Quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình là sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện chứng giữa hai lực lượng giáo dục nhà trường và gia đình Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh; Mặt khác nhà trường cần giúp đỡ hỗ trợ cụ thể cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái Với tư cách là chủ thể giáo dục, gia đình có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục con em mình

Bên cạnh sự quản lý phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình thì không thể không nói tới vai trò giáo dục của xã hội ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Giáo dục xã hội bao

Trang 27

gồm hoạt động giáo dục do các đoàn thể nhân dân tham gia như đoàn thanh niên, cộng đồng dân cư, Hội phụ nữ, Công an

Tóm lại, quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình chính là việc quản lý sự tác động của Hiệu trưởng tới mọi hoạt động phối hợp, tới từng lực lượng cụ thể Để đi đến thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình

thức tổ chức quản lý và giáo dục toàn diện học sinh

1.3 Một số vấn đề cơ bản về phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh để giáo dục học sinh

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm chỉ đạo về sự phối hợp của nhà trường và gia đình trong giáo dục rất cụ thể:

Ngày 14/6/2005 Quốc hội đã ban hành Luật giáo dục số 38/2005/QH11 Quan điểm chi đạo phát triền chiến lược giáo dục giai đoạn

2001- 2010, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: "Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đào tạo nhũng người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vuơn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc"

Điều 93, Luật Giáo dục 2005, cũng khẳng định: "Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị sổ BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên

Trang 28

71/2008/CT-1.3.1 Vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

(i) Vai trò, trách nhiệm của nhà trường

Nhà trường là cơ sơ thực tế diễn ra hoạt động giáo dục giữa giáo viên

và hoạt động học tập của học sinh dưới sự quản lý của Hiệu trưởng cùng với

sự cộng tác của gia đình và xã hội

Đặc trưng của giáo dục nhà trường bao gồm:

Nhà trường là một thiết chế xã hội, có kỷ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn, là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một cách toàn diện theo các nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất thẩm mỹ và giáo dục lao động hướng nghiệp

Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có nghiệp

vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức các hoạt động giáo dục; là nơi tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục học sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được nhà nước qui định

Nhà trường phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”

Nhà trường là nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội

để cùng giáo dục học sinh Môi trường giáo dục của nhà trường trong giới hạn nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển

Trách nhiệm của nhà trường, các tổ chức đoàn thể và cá nhân trong nhà trường Nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục

Trang 29

(ii) Vai trò, trách nhiệm của gia đình

Gia đình là cơ sở đầu tiên và cơ bản của giáo dục Giáo dục gia đình mang tính thường xuyên, lâu dài Đặt nền tảng trên tình thương yêu nên gia đình có tác động giáo dục rất lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Tình cảm và tác động tốt của gia đình giúp mỗi con người có thêm nghị lực, sức mạnh vượt qua những khó khăn, cám dỗ để vươn lên tự hoàn thiện nhân cách Ảnh hưởng của gia đình có sức mạnh vô hình vì đó là sức mạnh của truyền thống, của tâm lý được cá nhân hoá và biến thành tự ý thức Giáo dục gia đình có nhiều ưu thế mà giáo dục nhà trường cần phải phối hợp

để phát huy hiệu quả giáo dục học sinh, như cha mẹ có được sự hiểu biết sâu sắc, cụ thể về các mặt trí tuệ, sức khỏe, cá tính, điều kiện sống… của con cái,

do đó cha mẹ có thể áp dụng những biện pháp giáo dục riêng, đặc thù, phù hợp với từng đứa con

Giáo dục trẻ vừa là trách nhiệm, vừa là điều tự nhiên vừa là lợi ích của gia đình Nuôi dưỡng và giáo dục con cái là trách nhiệm của cha mẹ, cha mẹ nào cũng thương con, nhưng tình thương phải gắn liền với trách nhiệm

Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm

2014 quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác, vi phạm quyền trẻ em”…

Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức… Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các

tổ chức xã hội trong việc giáo dục con”… Như vậy, giáo dục con cái không

phải chỉ là công việc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo lý và

Trang 30

nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ, hơn nữa trẻ em còn được Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt

Nam năm 1991 đã nêu: “Cha mẹ học sinh là “thầy giáo” đầu tiên của con cái

họ, phải hết sức đề cao vai trò và trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục con cái, chăm sóc và bồi dưỡng thế hệ trẻ” Để thực hiện tốt vai trò và trách

nhiệm của mình, chỉ có hợp tác với nhà trường các bậc cha mẹ mới có thể giáo dục con cái đạt được kết quả như mong muốn, vì nhà trường là nơi giáo dục học sinh một cách khoa học và toàn diện nhất với đầy đủ các nội dung đức, trí, thể, mỹ và lao động hướng nghiệp

Điều 8 Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh (Thông tư 55/BGDĐT ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Bộ GD&ĐT) trách nhiệm của gia đình (CMHS) được quy định:

- Phối hợp với nhà trường trong việc quản lý, giáo dục học sinh và thực hiện những nhiệm vụ do Ban đại diện cha mẹ học sinh đề ra

- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn của lớp để chăm sóc, quản lý, động viên học sinh tích cực, tự giác học tập, rèn luyện đạo đức, tuân thủ quy định của Điều lệ và nội quy nhà trường

- Chịu trách nhiệm đối với sai phạm, khuyết điểm của con em mình theo quy định của pháp luật và thực hiện các khuyến nghị của Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp trong việc phối hợp với nhà trường để chăm sóc, quản lý, giáo dục học sinh

Tóm lại, vai trò, trách nhiệm của gia đình rất quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Kết quả giáo dục không phụ thuộc vào việc cha mẹ có nhiều hay ít thì giờ để quản lý con cái, không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế gia đình giàu hay nghèo Chủ yếu là phụ thuộc vào việc cha mẹ có quan tâm đến giáo dục con mình hay không, thể hiện tình thương và trách nhiệm đối với con em như thế nào, có phương pháp giáo dục con phù hợp hay chưa

Trang 31

(iii) Vai trò phối hợp của nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh:

Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người sẽ kế tục sự nghiệp của tổ tiên, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vì vậy, nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội khác phải hợp sức chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em trở thành người công dân tốt

Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội để giáo

dục học sinh là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (điều 3, Luật Giáo dục 2005)

Trách nhiệm của nhà trường là phải chủ động thực hiện phối hợp với gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh, điều 93 Luật Giáo dục 2005

đã quy định: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và

xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”

Nhà trường, gia đình và xã hội đều là chủ thể giáo dục của khách thể học sinh Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội là một chỉnh thể trong hệ thống môi trường giáo dục Các yếu tố trong hệ thống có tác động phối hợp nhau để tạo ra chất lượng tổng hợp nhằm giáo dục học sinh

có hiệu quả Nhà trường không thể tách rời sự phối hợp với gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh vì cuộc sống của học sinh được giáo dục trong cả

3 môi trường:

- Thứ nhất là sống trong môi trường nhà trường: Học sinh dễ thực hiện cuộc sống có khuôn khổ và hình mẫu của mình vì có giáo viên hướng dẫn, làm mẫu

Trang 32

- Thứ hai là sống trong môi trường gia đình: Những nội dung giáo dục học sinh ở nhà trường phải được đưa vào thực hiện trong cuộc sống ở gia đình Vì vậy, nhà trường phải tổ chức phối hợp chặt chẽ với gia đình Hay nói cách khác, học phải đi đôi với hành

- Thứ ba là sống trong xã hội: Các em phải được trải nghiệm để có khả năng ứng dụng kiến thức tiếp thu ở nhà trường, có thái độ ứng xử hợp lý, đúng đắn khi tham gia sinh hoạt cộng đồng Hay nói cách khác đây chính là

kỹ năng sống

Như vậy, sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội không phải một chiều mà là sự tác động qua lại theo nguyên tắc về lợi ích: mỗi hoạt động hợp tác đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của cả hai phía Nhà trường cần phải làm để việc giảng dạy là có chất lượng Giáo dục thế hệ trẻ thành người tốt cho xã hội thì gia đình và xã hội sẽ cộng tác tích cực với nhà trường Hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh sẽ đảm bảo cho nội dung, phương pháp giáo dục học sinh của nhà trường không bị mâu thuẫn

mà còn có điều kiện nâng cao hơn hiệu quả giáo dục

1.3.2 Yêu cầu thực hiện phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cấp THCS trong bối cảnh hiện nay

Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới, mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới Nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên Công tác giáo dục

đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo, đầu tư cho giáo dục Đó là

điều kiện thuận lợi, song cũng là thách thức đối với ngành giáo dục trước những yêu cầu của xã hội hiện nay về chất lượng giáo dục nói chung và công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh nói riêng

Trang 33

Trước khi đề cập đến các yêu cầu thực hiện phối hợp giữa nhà trường

và gia đình trong giáo dục học sinh cấp THCS trong bối cảnh hiện nay, ta hãy nhìn nhận ở góc độ về một số nguyên nhân mang tính khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh Nó phát xuất từ những yếu tố cơ bản nhà trường, gia đình

và xã hội, như sau:

Về gia đình: Có gia đình do cha mẹ sống không gương mẫu, cha mẹ ly

hôn, buông lỏng giáo dục, hoàn cảnh cá biệt, hoàn cảnh éo le, thậm chí phó

mặc cho xã hội, cho nhà trường “trăm sự nhờ thầy” không tạo được cho con

em niềm tin và nghị lực sống,…

Về Nhà trường: Có lúc, có nơi uy tín người thầy bị sa sút, các giá trị

truyền thống “Tôn sư trọng đạo” bị nhìn nhận một cách méo mó, vật chất hóa,

thực dụng; có trường hợp người thầy không giữ được tư thế đáng kính trọng trong quan hệ thầy trò; tình trạng vi phạm dạy thêm, học thêm đã tác động xấu đến uy tín của người thầy trong suy nghĩ học sinh và không ít phụ huynh

Về Xã hội: Những hạn chế, tác động xấu từ môi trường của thời kỳ “mở cửa, hội nhập”, những “tư tưởng văn hoá xấu, ngoại lai”; mặt trái của cơ chế

thị trường …có cơ hội xâm nhập Đây đó, còn có những hiện tượng suy thoái

về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, thậm chí

những hành động phạm pháp của “người lớn” đã tác động xấu trực tiếp đến

học sinh Các tệ nạn xã hội có nơi, có lúc đã xâm nhập vào trong trường học;

tình trạng một số ít học sinh lún sâu vào tệ nạn xã hội thậm chí đánh thầy, gây

án, giết người, cướp của, … số này tuy không phổ biến nhưng có xu hướng

gia tăng, làm băng hoại đạo đức, tha hoá nhân cách; gây nỗi đau, đáng lo ngại cho các bậc làm cha, làm mẹ Hơn nữa nó đã tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ trực tiếp đến công tác giáo dục đạo đức học sinh, đến an ninh trật tự xã hội

Trang 34

Vì vậy, để hạn chế tối đa các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu nhà trường và gia đình cần phải tập trung vào một số nội dung sau:

Đối với nhà trường:

- Nhà trường phải tổ chức tốt công tác phổ biến, tuyên truyền cho cán

bộ, giáo viên và PHHS hiểu biết, nắm bắt về mục tiêu, nguyên lý giáo dục Theo đó các tổ chức, các nhân trong nhà trường và gia đình học sinh chủ động phối hợp để thực hiện

- Ban giám hiệu cần phối hợp với BĐD CMHS xây dựng kế hoạch, quy chế, và chương trình hành động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh theo Điều lệ trường trung học và các văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định, quy định hiện hành của các cấp có thẩm quyền

- Hội đồng trường làm tốt công tác tư vấn cho PHHS về kiến thức liên quan đến tâm sinh lý học sinh, phương pháp phối hợp giáo dục và các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường

- GVCN tích cực phối hợp với PHHS trong hoạt động hợp tác thực hiện

kế hoạch, chủ trương của lớp, của trường; đồng thời là cầu nối giữa nhà trường với gia đình học sinh Mặt khác GVCN còn là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, là tấm gương để học sinh học tập và noi theo

- Giáo viên bộ môn phải là nhân tố kết dính trong mối quan hệ nhà trường với gia đình học sinh, vừa phải tham gia thực hiện giảng dạy, vừa phải tham gia vào công tác phối hợp thực hiện chương trình, kế hoạch phối hợp của nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

- Chi bộ Đảng là tổ chức lãnh đạo toàn diện về mọi hoạt động của nhà trường Chỉ đạo BGH thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hoạt chuyên môn, đồng thời chỉ đạo nhà trường thực hiện tốt các mối quan hệ và các hoạt động phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội, cá nhân trong và ngoài nhà trường, để

Trang 35

hoàn thành mục tiêu, kế hoạch của nhà trường

- Công đoàn; Ban giám hiệu; BĐD CMHS nhà trường phải phối hợp tổ chức thực hiện tốt các Quy chế, kế hoạch Chỉ đạo và quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, đồng thời tích cực tham gia mọi hoạt động hàng năm nhằm giúp cho BGH thực hiện các chế độ, chính sách, quyền lợi hợp pháp của người lao động

- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Đội TNTP Hồ Chí Minh phải kết hợp với PHHS, các lực lượng thanh thiếu niên địa phương tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao, các hoạt động ngoại khóa, các diễn đàn để thu hút học sinh tham gia, qua đó nhằm giáo dục đạo đức trong sáng cho học sinh…

Đối với gia đình:

CMHS hoặc người đỡ đầu phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc

và phối hợp với nhà trường giáo dục học sinh Tạo điều kiện cho con em hoặc người giám hộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của

nhà trường

Hội CMHS của lớp phải có trách nhiệm trong việc phối hợp với GVCN lớp, giáo viên bộ môn, nhà trường và BĐD CMHS trong lớp tổ chức, thực hiện các kế hoạch, chương trình phối hợp của lớp, của nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh

Hội CMHS của trường phải phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường xây dựng quy chế, kế hoạch và chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các chương trình hành động và nội dung đã được thống nhất

1.3.3 Mục tiêu, nội dung, phương thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh

(i) Mục tiêu của phối hợp giữa nhà trường với gia đình

Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là nhằm tạo môi trường giáo dục thống nhất trong giáo dục học sinh, giúp học sinh hình thành phát triển nhân cách toàn diện

Trang 36

Phối hợp giữa nhà trường, gia đình ngoài việc giáo dục học sinh, còn nhằm huy động vật lực, tài lực, nhân lực tạo sức mạnh tổng hợp trong giáo dục

(ii) Nội dung phối hợp giữa nhà trường với gia đình

- Nhà trường và gia đình thông tin truyền tải hai chiều về tình hình của trường, của lớp, chương trình phối hợp hoạt động và kết quả học tập rèn luyện của học sinh

- Phối hợp trong quản lý học sinh về thời gian học tập trên lớp và thời gian học tập ngoài giờ lên lớp

- Phối hợp trong giáo dục học sinh về tất cả mọi mặt: Tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, giáo dục lao động, giáo dục thể chất, thẩm mỹ, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục quyền, bổn phận của trẻ em

- Phối hợp trong huy động tài lực, vật lực để xây dựng phát triển và nâng cao điều kiện CSVC, chất lượng giáo dục của nhà trường

(iii) Phương thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình

Phối hợp thông qua hình thức gặp trực tiếp, trao đổi thông tin hàng ngày qua địa chỉ Email; hệ thống nhắn tin; sổ liên lạc điện tử, hệ thống CNTT… nhằm chuyển tải thông tin về tình hình sinh hoạt, học tập trường, ở

nhà để cô chủ nhiệm biết và PHHS tìm cách phối hợp giáo dục học sinh

Tổ chức họp cha mẹ học sinh theo định kỳ: Một năm nhà trường và giáo viên chủ nhiệm phải tổ chức họp ít nhất là 3 lần, nhằm trao đổi bàn bạc

và thống nhất kế hoạch giáo dục học sinh

Phối hợp thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh: Có những thông tin cần thiết để giáo dục học sinh, giáo viên chủ nhiệm trao đổi qua Ban đại diện của Hội cha mẹ học sinh để họ trao đổi với cha mẹ học sinh tìm cách giáo dục

Ngoài các hình thức phối hợp nêu trên còn có một số hình thức phối hợp khác: Mời cha mẹ học sinh tham gia thảo luận các chuyên đề, tọa đàm,

Trang 37

hoặc mời cha mẹ học sinh đến trường để trao đổi trực tiếp, hoặc gián tiếp qua chính quyền địa phương, cơ quan nơi cha mẹ học sinh làm việc vv

1.4 Quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh ở trường trung học cơ sở

1.4.1 Xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình phối hợp giữa nhà trường với gia đình

Hiệu trưởng nhà trường căn cứ vào cơ sở pháp lý và tình hình thực tế của nhà trường xây kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh

- Kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh học đảm bảo các yêu cầu sau:

Phải đảm bảo mục đích của công tác phối hợp để giáo dục học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Nội dung phối hợp phải mang tính toàn diện không những đảm bảo việc dạy kiến thức mà còn phải giáo dục đạo đức, nhân cách, lý tưởng và nghị lực sống cho học sinh

Hình thức phối hợp đa dạng, phong phú và phương tiện phù hợp để luôn kết nối mang tính hai chiều giữa nhà trường và gia đình, như: Trao đổi trực tiếp hàng tháng, hoặc hàng tuần giữa GVCN và PHHS, thông tin bằng điện thoại, thông tin qua sổ liên lạc, qua cổng thông tin điện tử của nhà trường,…để giáo dục học sinh

Cần cụ thể hóa nội dung công việc, thời gian tiến hành và phương pháp

tổ chức thực hiện từng tháng, từng tuần Có điều chỉnh, bổ sung, phân công người phụ trách, như: Xây dựng chủ đề hoạt động theo tháng, phân công bố trí lịch trực tiếp PHHS, tiếp dân Có kế hoạch phối hợp với BĐD CMHS, hội đồng tư vấn nhà trường tư vấn kiến thức giáo dục giới tính, về tâm, sinh lý học sinh cho PHHS…

Trang 38

- Phối hợp với BĐD CMHS thực hiện công tác phối hợp, công tác XHHGD nhằm thu hút và huy động nguồn lực phối hợp hiệu quả giáo dục học sinh và CSVC phục vụ cho hoạt động giáo dục

Nhà trường phải chủ động phối hợp tổ chức các cuộc họp PHHS định

kỳ, bầu Ban đại diện cha mẹ học sinh ở các lớp và toàn trường; cơ cấu Ban đại diện vào một số tổ chức của nhà trường như Hội đồng giáo dục trường, Hội đồng kỷ luật học sinh, Ban giáo dục đạo đức và hoạt động ngoài giờ

Tạo điều kiện cho Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động, cả về thời gian và không gian với cán bộ, giáo viên và các tổ chức nhà trường Vận động cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường, giúp nhà trường tổ chức tốt các hoạt động ngoại khoá như giáo dục truyền thống, hướng nghiệp, hội thao, văn nghệ, cắm trại, dã ngoại…

Huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh cho một số hoạt động của trường như hỗ trợ khen thưởng học sinh, vận động trợ giúp học sinh nghèo, tu sửa và trang bị cơ sở vật chất

- Tổ chức hội nghị, hội thảo tuyên truyền nâng cao nhận thức cho PHHS về vai trò, trách nhiệm của nhà trường, vai trò trách nhiệm của cha mẹ học sinh trong giáo dục học sinh

- Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp; giáo viên Tổng phụ trách xây dựng kế hoạch hoạt động của Đoàn- Đội, đồng thời phê duyệt kế hoạch chương trình hoạt động phối hợp giữa lớp - gia đình, giữa Đoàn - Đội với GVCN - gia đình và các lực lượng xã hội khác theo chỉ đạo điều hành quản lý, giám sát và kiểm tra đánh giá của Hiệu trưởng

1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh

Hiệu trưởng phải thành lập Ban chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Trong đó thành lập và kiện toàn Ban đại diện cha

Trang 39

mẹ học sinh của trường; Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp theo qui định Phân công thành viên của BGH, và đại diện các tổ chức đoàn thể của nhà trường tham gia Ban chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Thống nhất quy chế phối hợp giữa Ban giám hiệu với Ban đại diện cha

mẹ học sinh trường Quy định việc phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn với Ban đại diện cha mẹ học sinh các lớp

Cụ thể hóa nội dung chương trình hành động của Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường và chương trình hành động của Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp

Thành lập tổ chủ nhiệm, Tổ trưởng là Hiệu trưởng, tổ phó thường trực

là giáo viên Tổng phụ trách, thành viên là các giáo viên chủ nhiệm Tổ chủ nhiệm là cầu nối triển khai các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình Phân công các thành viên thực hiện sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh như:

- Hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường gia đình: Tổ chức Hội nghị PHHS qua đó nhằm tuyên truyền, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, văn bản hướng dẫn của các cấp, các ngành liên quan và chủ trương của nhà trường

- Kiện toàn đội ngũ GVCN hàng năm Lựa chọn và phân công giáo viên chủ nhiệm lớp là người có năng lực, có uy tín và tâm huyết tham gia vào ban

tư vấn nhà trường và các hoạt động trực tiếp phối hợp với gia đình học sinh

- Xây dựng, thống nhất nội qui về nề nếp, kỷ luật, giao tiếp ứng xử đối với HS, GV, NV, PHHS và quán triệt để thực hiện

- Giao cho giáo viên Tổng phụ trách kết hợp với Ban tư vấn nhà trường, Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động chuyên đề thảo luận trao đổi kinh nghiệm nâng cao nhận thức, kiến thức về tâm lý lứa tuổi học trò Đặc biệt là thực hiện ký cam kết trách nhiệm của PHHS đối với việc thực hiện nội quy,

Trang 40

quy định của lớp, của trường đối với học sinh trong công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình

1.4.3 Chỉ đạo, điều hành các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình

Từ kế hoạch phối hợp đã được đề ra, Hiệu trưởng phải tập trung và chỉ đạo, điều hành các khâu quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đảm bảo đúng kế hoạch đã được thống nhất và xây dựng đảm bảo tính thường xuyên, liên tục, với một số nội dung cơ bản sau:

- Chủ động nắm bắt đầy đủ các thông tin và tình hình ở các bộ phận của nhà trường trong quá trình tổ chức các hoạt động phối hợp với gia đình học sinh

- Thu nhận thông tin đảm bảo độ tin cậy và chính xác mang tính thông suốt hai chiều, khách quan không phiến diện Đặc biệt cần chuẩn bị tốt về đội ngũ, cơ sở vật chất Từ đó giúp Hiệu trưởng điều hành, tổ thực hiện và kiểm tra đánh giá một các chính xác, thuyết phục trong công tác chỉ đạo của mình

- Chỉ đạo Tổ chủ nhiệm phối hợp với Ban đại diện CMHS của trường kết hợp với người đứng đầu thôn/bản/xóm/tổ dân phố/cụm dân cư để thống nhất và thực hiện có hiệu quả các hoạt động phối hợp, như: Tiếng kẻng học bài; mỗi gia đình có một góc học tập cho con em của mình; thành lập các tổ nhóm đi đến các chòm xóm, gia đình học sinh để kiểm tra, giám sát nề nếp học tập tại nhà của các em Chỉ đạo Đoàn - Đội cùng GVCN kết hợp với PHHS tổ chức các câu lạc bộ em yêu khoa học; các hoạt động ngoại khóa, hoạt động dã ngoại thực tế để các em học sinh được tìm tòi, học hỏi và trải nghiệm kỹ năng sống,

- Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện phải phối hợp với cha mẹ học sinh ở từng lớp tổ chức các cuộc họp PHHS định kỳ, tổ chức hội với giáo viên chủ nhiệm và PHHS thường kỳ để nắm bắt tình hình và chỉ đạo

Ngày đăng: 26/04/2018, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w