1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non dạy lớp 5 tuổi tại các trường mầm non tư thục quận cầu giấy, thành phố hà nội

115 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu đề xuất và vận dụng biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên phù hợp với chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo viên mầm non.Qu

Trang 1

_ 

PHẠM THỊ THU HƯƠNG

PH¸T TRIÓN §éI NGò GI¸O VI£N MÇM NON

D¹Y LíP 5 TUæI T¹I C¸C TR¦êNG MÇM NON T¦ THôC

QUËN CÇU GIÊY, THµNH PHè Hµ NéI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÔNG GIÁP

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các đồng chí cán bộ quản lý, thầy giáo, cô giáo Học Viện Quản Lý Giáo Dục đã giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Công Giáp, người thầy tâm huyết đã tận tình giúp đỡ tôi từ những bước đi đầu tiên xây dựng ý tưởng nghiên cứu, cũng như luôn hướng dẫn, động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thiện Luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục

và Đào tạo quận Cầu Giấy và các đồng chí hiệu trưởng, giáo viên trong Quận,

đã cung cấp các số liệu quí báu, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình viết luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, tháng12 năm 2016

Học viên

Phạm Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên

Phạm Thị Thu Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2.2 Đội ngũ giáo viên mầm non 12

1.2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 14

1.3 Vai trò và quyền hạn của giáo viên mầm non 16

1.4 Vai trò của hiệu trưởng đối với sự phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 18

1.5 Nội dung cơ bản của phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 20

1.5.1 Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên 20

1.5.2 Tuyển chọn giáo viên 21

1.5.3 Sử dụng giáo viên 22

1.5.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên 23

1.5.5 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của giáo viên 24

1.5.6 Đãi ngộ giáo viên 26

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên mầm non 27

1.6.1 Yếu tố chủ quan 27

1.6.2 Yếu tố khách quan 28

Tiểu kết chương 1 29

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY

HÀ NỘI 30

2.1 Một vài nét về Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 30

2.1.1 Mạng lưới trường lớp mầm non 31

2.1.2 Về số lượng trẻ mầm non 32

2.1.3 Chất lượng chăm sóc giáo dục 34

2.2.Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non tư thục quận Cầu Giấy- Hà Nội 34

2.2.1.Về số lượng đội ngũ giáo viên mầm non nói chung và giáo viên dạy lớp 5 tuổi nói riêng 35

2.2.2 Về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non tư thục Quận Cầu Giấy 37

2.2.3 Nhận xét chung về thực trạng ĐNGV ở các trường MN Quận Cầu Giấy 38

2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tư thục Quận Cầu Giấy 40

2.3.1 Thực trạng về việc tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên 40

2.3.2 Thực trạng công tác kiểm tra về chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ của ĐNGV 43

2.3.3 Thực trạng về công tác kiếm tra đánh giá phân loại giáo viên hàng năm của hiệu trưởng 48

2.3.4 Thực trạng phối hợp giữa hiệu trưởng và tổ chuyên môn với đoàn thể trong việc quản lý đội ngũ giáo viên 51

2.3.5.Thực trạng về công tác, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên 54

2.3.6.Thực trạng về tạo môi trường thuận lợi, động lực thúc đẩy đội ngũ giáo viên phát triển 63

2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nói chung và đội ngũ giáo viên dạy lớp 5tuổi nói riêng 65

2.4.1 Những mặt mạnh trong công tác phát triển ĐNGVMN 65

2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại trong công tác phát triển ĐNGVMN 66

Tiểu kết chương 2 67

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON DẠY CÁC LỚP 5 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC QUẬN CẦU GIẤY 68

3.1 Các nguyên tắc lựa chọn biện pháp 68

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 68

Trang 6

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý và tính thực tiễn 68

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 69

3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên 69

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho giáo viên mầm non về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non và phát triển GVMN theo chuẩn nghề nghiệp 69

3.2.2 Triển khai xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nói chung và giáo viên dạy các lớp MG 5tuổi nói riêng tại các trường tư thục trong quận theo chuẩn nghề nghiệp 73

3.2.3 Cải tiến công tác tuyển dụng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên mầm non dạy lớp 5tuổi 74

3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra,đánh giá chuyên môn,nghiệp vụ của giáo viên 76

3.2.5 Đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ,đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên mầm non dạy lớp 5 tuổi trong Quận 79

3.2.6 Tạo môi trường làm việc, xây dựng chế độ đãi ngộ, chính sách khen thưởng - kỉ luật phù hợp để khích lệ, động viên đội ngũ giáo viên 86

3.3 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 89

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

5 ĐNGVMN Đội ngũ giáo viên mầm non

10 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mạng lưới trường,nhóm lớp MN trong Quận Cầu Giấy 32

Bảng 2.2: Số lượng trẻ ra lớp trong những năm gần đây 33

Bảng 2.3: Số lượng GVMN tại các trường ngoài công lập 5 năm gần đây 35

Bảng 2.4: Trình độ đào tạo của ĐNGVMN tư thục Quận Cầu Giấy hiện nay 36

Bảng 2.5.1: Ý kiến đánh giá của giáo viên về quy chế tuyển chọn giáo viên mầm non Quận Cầu Giấy 41

Bảng 2.5.2: Mức độ thực hiện công tác sử dụng đội ngũ giáo viên 42

Bảng 2.6: Thực trạng công tác chỉ đạo kiểm tra đánh giá ĐNGVMN 43

Bảng 2.7: Ý kiến về công tác quản lý việc lên lớp của GV 46

Bảng 2.8: Ý kiến đánh giá về mức độ quản lý việc sinh hoạt tổ chuyên môn của hiệu trưởng 47

Bảng 2.9: Đánh giá các biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá phân loại giáo viên hàng năm 49

Bảng 2.11: Ý kiến đánh giá về phối hợp giữa Hiệu trưởng và tổ chuyên môn, đoàn thể 53

Bảng 2.12: So sánh thâm niên nghề của đội ngũ giáo viên 55

Bảng 2.13: Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo độ tuổi 56

Bảng 2.14: Ý kiến đánh giá về việc phân công giáo viên 59

Bảng 2.15: Trình độ đào tạo của ĐNGV ở một số trường mầm non 61

Bảng 2.16 Đánh giá mức độ thực hiện công tác bồi dưỡng ĐNGVMN 62

Bảng 2.17: Ý kiến đánh giá về việc tạo môi trường thuận lợi và động lực thúc đẩy ĐNGV phát huy tiềm năng của bản thân 64

Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 89

Bảng 3.2 Mức độ về tính khả thi của biện pháp 90

Bảng 3.3 Mối tương quan mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 91

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo như Nhật Bản với quan điểm coi “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hoà giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức Phương Tây hiện đại”; hay Singapore với phương châm “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; cường quốc Mỹ cũng luôn chú trọng đến việc “Tập trung cho đầu tư giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài”

Nghị quyết TW 2, khoá VIII: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” NQTW 8, khoá XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Quan điểm coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu đã được cụ thể hoá thành các chính sách như: Chính sách đầu tư cho giáo dục Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đầu tư ngân sách cho giáo dục lớn.Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người: “ Con người sinh ra chỉ còn lại là giáo dục”(Kitebro-Pháp) Nói đến giáo dục đào tạo trước hết là nói đến người giáo viên với đạo đức và tài năng sẽ truyền đạt cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học ở mọi lĩnh vực, vừa dạy chữ, vừa dạy nghề, vừa dạy làm người Trong giáo dục đào tạo thì đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng, điều này

được khẳng định trong Luật giáo dục (2005): “Nhà giáo giữ vai trò quyết định

trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”(25,tr13)

Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người, nó được ví như “thời kỳ vàng của cuộc đời” đây

là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực,nhân cách năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai Có thể nói trường mầm non là cái nôi quan trọng để trẻ có thể phát triển toàn diện Các nhà khoa học đã đề cập đến

Trang 10

sự cần thiết và vai trò của trường mầm non trong việc phát triển cũng như chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một Để vào lớp Một,trẻ cần được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học.Bởi vậy một trong những yêu cầu quan trọng đó là phải giúp trẻ vững vàng tâm thế để bước vào chương trình tiểu học.Để đáp ứng những yêu cầu trên đòi hỏi khi chuyển tiếp giữa mầm non và tiểu học phải đảm bảo

sự kế thừa, tính khoa học Những kiến thức,kỹ năng,thái độ đã được hình thành ở lứa tuổi mầm non cần phải được củng cố và mở rộng, hoàn thiện ở mức độ cao hơn giúp trẻ không bị những thay đổi đột ngột khi chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập trong nhà trường phổ thông Chính vì thế việc chuẩn bị tốt cho trẻ về thể chất, tâm lý từ tuổi mẫu giáo là yêu cầu quan trọng giúp trẻ thích ứng tốt với việc học tập ở trường tiểu học.Để trang bị cho trẻ 5 tuổi có đầy đủ những phẩm chất, những

kỹ năng cần thiết cũng như tâm lý cho việc học lớp Một ở trường tiểu học mà lại không dạy trước chưong trình lớp Một đòi hỏi các cô giáo dạy ở những lớp này phải có một kiến thức tốt về tâm sinh lý trẻ 5 tuổi, hiểu được trẻ 5 tuổi cần những gì và đặc biệt là phải có khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5 tuổi vào lớp Một

Trên thực tế ở các trường MN tư thục trên địa bàn Quận Cầu Giấy, đội ngũ giáo viên mầm non nói chung và đội ngũ cô giáo dạy các lớp 5 tuổi đều đang có những vấn đề bất cập về nhận thức cũng như năng lực chuyên môn Các cô giáo mầm non chưa thực sự yên tâm gắn bó với nghề và chưa thực sự đạt chuẩn cả về trình độ và năng lực, các bậc phụ huynh và thậm chí cả các cấp lãnh đạo cũng chưa thấy hết sự cần thiết của việc đưa trẻ 5 tuổi ra lớp, chính sách đãi ngộ giáo viên mầm non chưa thoả đáng, cơ chế chính sách về ngành học chưa linh hoạt…Như vậy nếu không có những biện pháp kịp thời

sẽ dẫn tới tình trạng thiếu hụt, thay đổi giáo viên hàng năm và chất lượng đội ngũ giáo viên cũng sẽ không được nâng cao.Để giải quyết vấn đề trên cần có những giải pháp đồng bộ của tất cả các cấp các ngành Đặc biệt việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công

Trang 11

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “ Phát triển đội ngũ giáo viên dạy lớp 5 tuổi tại các trường MN tư thục quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên dạy lớp 5tuổi theo hướng chuẩn hoá nhằm đáp ứng yêu cầu nuôi dạy trẻ trong giai đoạn hiện nay tại các trường mầm non

tư thục ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Đội ngũ giáo viên mầm non các trường mầm non tư thục Quận Cầu Giấy, Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên dạy lớp 5tuổi các trường mầm non tư thục Quận Cầu Giấy, Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non tư thục trên địa bàn Quận Cầu Giấy- Hà Nội đã thu được những thành tựu nhất định tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại hạn chế và bất cập Nổi lên trong số những hạn chế đó là chưa đáp ứng đầy đủ chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non Nếu đề xuất và vận dụng biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên phù hợp với chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo viên mầm non.Quận Cầu Giấy là một trong những Quận nội thành Hà Nội đã chuẩn bị mọi mặt để đi đầu trong việc thực hiện theo sự chỉ đạo của Sở GD &ĐT Hà Nội.Nếu đề xuất được các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non trong quận

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Trang 12

5.2 Đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nói chung và giáo viên dạy các lớp 5 tuổi nói riêng của hiệu trưởng các trường mầm non Quận Cầu Giấy-Hà Nội

5.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường mầm non

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Do những hiểu biết của bản thân còn hạn chế và thời gian nghiên cứu

đề tài không nhiều, đề tài chỉ tập trung vào khảo sát, nghiên cứu các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng ở một số trường mầm non tư thục,dân lập điển hình trong Quận Cầu Giấy - Thành phố Hà Nội (Trường Mầm non Lý Thái Tổ 2, Mầm non Viet Kids, Mầm Non Lý Thái Tổ, Mầm non Liễu Giai, Mầm non Happy Smile Kids.)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập, phân tích, tổng hợp những văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục

và đào tạo có liên quan đến công tác bồi dưõng đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non, các văn kiện của Đảng và nhà nước liên quan đến chế độ chính sách, phân công, đề bạt và định hướng phát triển giáo dục mầm non

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Bằng việc sử dụng các phương pháp như: Phương pháp điều tra xã hội học, Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá được thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường mầm non Quận Cầu Giấy - Thành phố Hà nội

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Bằng việc sử dụng các thuật toán trong thống kê toán học để thống kê và

xử lý số liệu các mẫu phiếu điều tra và số liệu thử nghiệm tính khả thi của biện pháp quản lý được đề xuất

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều coi việc phát triển đội ngũ giáo viên là một vấn đề quan trọng trong phát triển giáo dục Việc tạo điều kiện thuận lợi để mọi người đều có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên nhằm bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động cho phù hợp với sự phát triển

KT - XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục Theo Bernd

Meier: “Người giáo viên cần phải có các năng lực nòng cốt như: năng lực

dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp ” [32]

Nhìn tổng quát có thể thấy chức năng của giáo viên ngày nay đã được

mở rộng hơn trước, cả về năng lực tổ chức dạy học, năng lực phát triển chương trình cũng như phạm vi các mối quan hệ xã hội

Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực

Ngay từ thời Khổng Tử, ông đã khuyên mọi người phải luôn học tập,

tự bồi dưỡng để trở thành người thầy, những người thầy “dạy không biết mỏi’ và để người học “ học không biết chán” Điều này thể hiện một mong muốn rằng trong xã hội luôn cần có những người thầy giỏi việc dạy chữ, sâu sắc việc dạy người

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao mặt tích cực của giáo dục và vai trò

của người thầy trong quá trình phát triển của xã hội: “ Không có giáo dục,

không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế” Và Bác đã chỉ thị “ Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các nghành, các cấp Đảng, chính quyền và địa phương phải

Trang 14

thực sự quan tâm đến vấn đề này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy

sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”[23,tr439]

Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ

XXI-Chiến lược phát triển” Tác giả Đặng Bá Lãm cũng đề cập “ Giáo viên là nhân

tố quyết định chất lượng giáo dục-đào tạo Đội ngũ giáo viên không những phải đủ về số lượng mà phải có cơ cấu loại hình thích hợp và chất lượng đáp ứng được yêu cầu đổi mới giảng dạy và giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp Đồng thời cùng với năng lực chuyên môn, người giáo viên cần

có phẩm chất đạo đức và tinh thần tận tâm với nghề nghiệp” [VI.2.1,tr 248]

Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sỹ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên như luận văn “ Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên mẫu giáo các Tỉnh Duyên Hải miền Trung” (Tác giả Nguyễn Huy Thông, 1999), “ Quản lý đội ngũ giáo viên mầm non Huyện Nhà Bè-Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 -2010” (Tác giả Nguyễn Thị Bích Nga), “ Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn Huyện Từ sơn - Tỉnh Bắc ninh” (Tác giả Vũ Đức Đạm)…

Có thể kết luận khái quát là các đề tài trên đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau trong công tác quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của thực

tế hiện nay

Việc đưa ra các giải pháp để phát triển đội ngũ giáo viên mầm non của các đề tài là hết sức cần thiết, kết quả nghiên cứu của các đề tài là những đóng góp rất lớn cho sự phát triển của bậc học mầm non Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc phát triển đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu về công tác phát triển đội ngũ giáo

Trang 15

viên dạy lớp 5tuổi ở các trường mầm non tư thục Quận Cầu Giấy - Thành phố

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh khái niệm quản lý

Theo Taylor - nhà quản lý người Mỹ: “ Quản lý là nghệ thuật biết rõ

chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [7.tr.89]

Quan niệm của K.Marx thì cho rằng: “ Quản lý là một chức năng tất

yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”

Mác nói: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

chừng nào tiến hành trên quy mô tương đối thì ít nhiều đều cần tới sự quản lý…Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”[4.tr480]

Theo Harold Koontz thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo

đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm.Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật,còn với kiến thức thì quản lý là khoa học” [7.tr 138]

Maru Parker Pollet định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công

việc được thực hiện thông qua người khác”[7.125]

Trang 16

Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế ngữ trong tác phẩm “Những vấn đề cốt

yếu trong quản lý” (1987) thì: “ Quản lý là một quá trình định hướng, quá

trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”

Theo Mạc Văn Trang: “ Quản lý là một quá trình tác động có định

hướng, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường; nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”

Tác giả Phan Văn Kha cho rằng: “ Quản lý là quá trình lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống, đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”

Từ các cách tiếp cận nêu trên, ta thấy có một điểm chung nhất khi quan niệm về quản lý là: quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức,

có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất để tạo nên sự phát triển

Từ những định nghĩa trên ta có thể hiểu quản lý luôn có hướng đích, tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

- Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hay tập thể, đề ra mục tiêu,tổ

chức, tác động có chủ đích, hướng các đối tượng quản lý đạt mục tiêu

- Đối tượng quản lý: Rất đa dạng, từ con người đến thế giới vô dinh

hay hữu sinh, trong đó cơ bản là con người nhận tác động trực tiếp của chủ thể quản lý

Trang 17

- Khách thể quản lý: Nằm ngoài hệ thống, là hệ thống khác hoặc là

các ràng buộc của môi trường Nó chịu tác động hay tác động trở lại hệ thống,

do đó chủ thể quản lý phải làm như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể là những tác động tích cực cùng nhằm thực hiện múc tiêu chung

- Mục tiêu quản lý: Là trạng thái mong đợi ở tương lai, là cái đích mà

mọi hoạt động của hệ thống hướng đến,mục tiêu quản lý hướng và chi phối sự vận động của hệ thống

- Phương pháp quản lý: Là cách thức tác động của chủ thể quản lý

đến đối tượng quản lý bằng cách sử dụng các phương tiện và biện pháp khác nhau nhằm đạt được mục đích đề ra.Có 4 nhóm phương pháp quản lý:

+ Nhóm phương pháp hành chính – tổ chức: Là những hình

thức biện pháp mà chủ thể quản lý dùng quyền lực trực tiếp đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu đẻ khách thể quản lý thực hiện Phương pháp này được biểu hiện qua văn bản, thông báo, chỉ thị…

Khi vận dụng phương pháp này nhà quản lý phải nắm vững chỉ thị, văn bản pháp quy, nhận thức được quyền hạn, trách nhiệm của mình theo luật định,Đây là phương pháp rất cần thiết trong công tác quản lý

Trang 18

bằng trong phân phối, cần quan tâm đến quan hệ nội bộ, môi trường tâm lý xã hội bên trong và bên ngoài

+ Nhóm phương pháp tâm lý – xã hội.: Là biện pháp,cách thức

tạo ra những tác động vào đối tượng quản lý bằng biện pháp tâm lý xã hội nhằm biến những yêu cầu của người lãnh đạo thành nghĩa vụ tự giác, động cơ bên trong và những nhu cầu của người thực hiện Là phương pháp chủ thể quản lý vận dụng các quy luật tâm lý để tạo nên môi trường tích cực, lành mạnh bên trong tổ chức, có tác động tốt đối với quan hệ và hành động của tổ chức Với biện pháp này sẽ nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đối tượng quản lý trong tổ chức, đồng thời bầu không khí là việc ngày càng được cải thiện, mọi thành viên đoàn kết, gắn bó tin yêu lẫn nhau, gắn bó với tập thể, yên tâm công tác

+ Nhóm phương pháp giáo dục: Chủ thể dùng các hình thức,

biện pháp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của đối tượng quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ của tổ chức giao

Đây là phương pháp ít tốn kém mà có tác động sâu sắc và bền vững nhưng cần tránh tư tưởng xem nó là vạn năng

- Công cụ quản lý: Là những phương tiện thông qua đó chủ thể quản

lý phối hợp, dẫn dắt, điều hòa hoạt động chung của hệ thống

Tóm lại, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật,giúp cho nhà quản

lý khai thác và sử dụng các nguồn lực với chi phí thấp nhất để đạt mục tiêu với hiệu quả cao nhất Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích, có điều khiển, phối hợp, kiểm tra công việc và những nỗ lực của con người thông qua các công cụ quản lý để đạt được mục tiêu mong muốn

- Chức năng quản lý: Quản lý có 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Trong 4 chức năng trên thì chức năng lập kế

Trang 19

hoạch là nền tảng của quản lý; chức năng tổ chức là công cụ; chức năng lãnh đạo là quá trình tác động điều hành để đạt được các mục tiêu của tổ chức; chức năng kiểm tra là đánh giá kết quả của vệc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo

Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý Các chức năng trên có liên quan mật thiết với nhau

+ Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và quan

trọng nhất trong chu trình quản lý, kế hoạch hóa là tổ chức công việc theo kế hoạch, đưa mọi hoạt động vào kế hoạch có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu trong khoảng thời gian nhất định

+ Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc

một cách khoa học, hợp lý cho các bộ phận, các thành viên để mọi người có thể hoạt động một cách thuận lợi, hào hứng nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đã xây dựng, duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác Trong chu trình quản lý thì tổ chức là giai đoạn đưa vào thực hiện những ý tưởng đã được kế hoạch hóa để từng bước đưa tổ chức tiến đến mục tiêu

+ Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động đến các thành viên

của tổ chức, là những hành động xác lập quyền chỉ huy, sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động, điều hành mọi lực lượng thực hiện kế hoạch trong trật tự, làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu để nhanh chóng đưa tổ chức đạt tới mục tiêu đề ra

+ Chức năng kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của

quá trình quản lý Lê nin cho rằng: “Quản lý mà không có kiểm tra thì coi như không có quản lý” Kiểm tra là một quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức Kiểm tra không

Trang 20

những giúp cho việc đánh giá thực chất đạt được của tổ chức mà còn có tác dụng điều chỉnh kịp thời mục tiêu, kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế.Quá trình kiểm tra có trình tự như sau:

- Xây dựng các chỉ tiêu, chuẩn mực hoạt động

- So sánh đối chiếu, đo lường việc thực hiện nhiệm vụ so với chỉ tiêu, chuẩn mực

- Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu so với kế hoạch, nếu sai lệch sẽ điều chỉnh hoạt động, thậm chí điều chỉnh chuẩn mực hoặc mục tiêu

1.2.1.1 Khái niệm “Giáo viên”

Theo từ điển Giáo dục học thì “Giáo viên” được định nghĩa là “Chức

danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo” [24.169]

Luật giáo dục (2005) quy định tại điều 70: “Nhà giáo là người làm nhiệm

vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, trong các cơ sở giáo dục khác”

Có thể nói những nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về giáo viên

được định nghĩa khác nhau song đều có sự thống nhất cơ bản: Giáo viên là

người làm nhiệm vụ giảng dạy trong nhà trường phổ thông, trường mầm non nhằm thực hiện mục tiêu GD là xây dựng nhân cách người học đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

1.2.2 Đội ngũ giáo viên mầm non

1.2.2.1 Khái niệm “Đội ngũ”

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ gồm một số đông người cùng chức

năng hoặc cùng nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng” [25.33]

Như vậy, khái niệm đội ngũ được hiểu: Đó là một nhóm người, một tổ

chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục đích chung Do đó,

người quản lý phải xây dựng, gắn kết các thành viên để tạo ra đội ngũ, trong

Trang 21

đó mỗi người có thể có phong cách riêng, song khi gắn kết thành một khối thì mỗi cá nhân phải có sự thống nhất cao về mục tiêu cần đạt tới

Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi: Đội ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giáo viên

Tuy nhiên, ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số

đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất

và tinh thần cụ thể

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết

với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc”

Như vậy, khái niệm về đội ngũ có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau,

nhưng đều thống nhất: “Đội ngũ là một nhóm người, tập hợp thành một lực

lượng để thực hiện một mục đích chung”

1.2.2.2 Khái niệm “Đội ngũ giáo viên”

Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “Đội ngũ giáo viên là tập hợp những

người đảm nhận công tác dạy học, giáo dục có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên

môn và nghiệp vụ quy định” [24.123]

Đội ngũ giáo viên được hiểu là bộ máy nhân sự gồm những nhà giáo làm

nhiệm vụ giảng dạy tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân

Đội ngũ giáo viên là nguồn lực chính của ngành giáo dục, là nguồn lực quý báu

và có vai trò quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường Họ được đào tạo, được quy định rõ tiêu chuẩn ở Điều 70 của Luật giáo dục năm 2005

Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong tập thể

sư phạm nhà trường làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường Vì vậy cần bồi dưỡng

Trang 22

để phát triển đội ngũ giáo viên

Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên ở trong tập thể sư phạm Tập thể

sư phạm trong trường học là tổ chức của tập thể lao động sư phạm, đứng đầu

là hiệu trưởng Tập thể sư phạm liên kết các giáo viên, cán bộ, nhân viên thành một cộng đồng giáo dục có tổ chức, có mục đích thống nhất, có phương thức hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường

1.2.2.3 Khái niệm đội ngũ giáo viên mầm non

Giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập (Điều 34 - Điều

lệ trường mầm non - 2008)

Trong cuốn “Tài liệu sổ tay bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu

kỳ 2004 - 2007” (Do Vụ Giáo dục mầm non phát hành 2005), đã viết: “Là

giáo viên mầm non, bạn cần nhận thức rõ về tầm quan trọng của GDMN - khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người, là giai đoạn đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Những kết quả đạt được ở độ tuổi này có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển toàn diện trong suốt cuộc đời của đứa trẻ Điều này phụ thuộc nhiều ở bạn - cô giáo, người mẹ hiền thứ hai của trẻ” [4]

Có thể rút ra định nghĩa như sau: “Đội ngũ giáo viên mầm non là tập hợp những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non”

1.2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

1.2.3.1 Phát triển

Theo từ điển Tiếng Việt Ngôn ngữ học, Phát triển có nghĩa là: “Biến

đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn

giản đến phức tạp” [25.19]

Trang 23

Khái niệm “Phát triển” được triết học định nghĩa: “Phát triển là một

quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời Đối với sự phát triển, nét đặc trưng là hình thức xoáy trôn ốc, mọi quá trình riêng lẻ đều có sự khởi đầu và kết thúc Trong khuynh hướng, ngay từ đầu đã chứa đựng sự kết thúc của phát triển, còn việc hoàn thành một chu kỳ phát triển lại đặt cơ sở cho một chu kỳ mới, trong đó không tránh khỏi sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ đầu tiên Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới sự tiềm tàng những khuynh hướng dần đến cái cao là cái thấp đã phát triển Đồng thời, chỉ ở mức độ phát triển khá cao thì những mầm mống của cái cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra và lần đầu tiên mới trở lên dễ hiểu” [10 56]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Phát triển là tăng cả về chất lượng và

số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến, được hoàn thiện”

Phát triển khác với vận động, phát triển là sự vận động có định hướng, còn vận động là sự biến đổi nói chung

Phát triển là một quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội Phát triển

có thể là một quá trình hiện thực nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật, hiện tượng Như vậy phát triển là sự biến đổi của sự vật hiện tượng theo chiều hướng tích cực

1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Phát triển đội ngũ giáo viên là tạo ra sự phát triển bền vững về hiệu năng của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức Nội dung của phát triển nhân lực xét trên bình diện xã hội là một phạm trù rộng lớn, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba mặt chủ yếu là giáo dục - đào tạo, sử dụng - bồi dưỡng và đầu tư - việc làm

Trang 24

Vậy “Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là thực hiện các nội

dung phát triển đội ngũ nhằm làm cho đội ngũ GVMN đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng”

Chúng ta đều biết rằng: Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng giáo dục, chất lượng giáo viên có tốt thì chất lượng giáo dục mới tốt Trường nhiều giáo viên giỏi thì mới có nhiều lớp đạt chất lượng cao Đội ngũ giáo viên trong trường là nhân tố quyết định hiệu quả giáo dục của các khối lớp Muốn có phong trào toàn diện mạnh thì phải có đội ngũ giáo viên cốt cán giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, công tác quản lý lớp, tích cực than gia các hoạt động trong trường Có đội ngũ cốt cán giỏi, giáo viên tâm huyết với nghề nhưng điều hành như thế nào để họ tận tâm với nghề, tinh thần trách nhiệm cao với tập thể, phối hợp nhịp nhàng, đồng thuận vì mục tiêu chung của trường, trách nhiệm này lại là của các nhà quản lý

Như vậy: Vai trò của công tác phát triển đội ngũ giáo viên là cực kỳ quan trọng Muốn chỉ đạo và điều hành đội ngũ để họ tận tâm với nghề, tinh thần trách nhiệm cao, phối hợp tốt trong công việc và đồng thuận vì mục tiêu lớn của trường đòi hỏi người quản lý phải có những giải pháp hợp lý nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục

1.3 Vai trò và quyền hạn của giáo viên mầm non

Giáo viên chính là người giữ vai trò quyết định cho sự phát triển sự nghiệp GD-ĐT Vai trò của người giáo viên nói chung và GVMN nói riêng đã được xã hội tôn vinh và đánh giá cao Đồng chí Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã từng nhận định: “ Đội ngũ giáo viên là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu GD thành hiện thực Đây là nói vai trò của người thầy, vị trí người thầy trong sự nghiệp “ trồng người”, cả xã hội cùng chăm lo sự nghiệp “trồng người” mà “trồng người” thì thầy giáo giữ vai trò quyết định”

Trang 25

Trong trường mầm non, người GV giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc và GD trẻ, GVMN là người trực tiếp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ, trực tiếp tổ chức các hoạt động GD, vui chơi, giao tiếp gần gũi trẻ hàng ngày Trong quá trình chăm sóc và giaó dục trẻ, GVMN phát hiện năng khiếu ban đầu, định hướng cho sự phát triển nhân cách của trẻ, uốn nắn, vun đắp tâm hồn trẻ phát triển lành mạnh Do vậy, mối quan hệ giữa GVMN với trẻ thật gắn bó mật thiết như tình cảm thầy-trò,mẹ -con,-bạn bè cùng học cùng chơi Trong mối quan hệ ấy tâm lý-nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển Chính vì vậy, GVMN phải vừa là người có tri thức khoa học, có phong cách sư phạm với tính nghệ thuật sáng tạo mà còn phải mang phẩm chất của một người mẹ hiền thứ hai của trẻ, phải rất yêu thương trẻ,hiểu trẻ, tôn trọng trẻ.Có như vậy GVMN mới đảm đương hết nhiệm vụ được quy định tại điều 29,30,31, Điều lệ trường Mầm non của Bộ trưởng Bộ

GD & ĐT

“GV là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc,GD trẻ em trong trường”

GV nhóm lớp có những nhiệm vụ sau đây:

- Thực hiện theo chương trình và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ em theo lứa tuổi;

- Thực hiện đúng quy chế chuyên môn và chấp hành nội quy của nhà trường - Bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng cho trẻ em

- Chủ động phối hợp với gia đình trẻ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc,

GD và tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ theo khoa học cho các bậc cha mẹ

- Rèn luyện đạo đức; học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ

- Thực hiện các quyết định của hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và của các cấp quản lý GD; Thực hiện các quy định khác của pháp luật”

Trang 26

Giáo viên có những quyền sau đây: “ Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ; Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất,tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe theo chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo; Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình để tham gia quản lý nhà trường; Được cử đi học để nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ; Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật” [6,tr-11,12]

Theo quyết định 55 của Bộ GD & ĐT thì nhiệm vụ của GVMN thể hiện:

- Thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của nhà trẻ, trường mẫu giáo, thực hiện đầy đủ các chương trình, kế hoạch giáo dục (hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, cả năm) phù hợp với điều kiện của từng nhà trẻ, trường mẫu giáo

- Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ để thống nhất việc CSGD trẻ và tuyên truyền những kiến thức nuôi dạy trẻ giữa nhà trường và gia đình

- Làm đồ dùng đồ chơi, bảo quản và sử dụng trang thiết bị, tài sản của nhóm lớp phụ trách

- Đoàn kết nhất trí phấn đấu xây dựng nhóm lớp, trường tiên tiến

- Phấn đấu tự rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt theo tiêu chuẩn quy định

- Để hoàn thành được những nhiệm vụ trên đây, người GVMN phải xây dựng được cho mình kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ của nhóm lớp mình phụ trách Chủ động sáng tạo trong việc thực hiện chương trình CSGD trẻ

Ngoài ra người GVMN cần rèn luyện tu dưỡng phấn đấu để ngày càng hoàn thiện mình theo các tiêu chí cần đạt của chuẩn giáo viên mầm non do Bộ

GD & ĐT quy định

1.4 Vai trò của hiệu trưởng đối với sự phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

Hiệu trưởng là chủ thể quản lý, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trường Trong công tác điều hành, hiệu

Trang 27

trưởng là người chịu trách nhiệm chỉ đạo tập trung và thống nhất mọi công việc trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm học, cũng như

kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn mà tập thể đó vạch ra

Điều 18, chương trình 2 (Điều lệ trường mầm non) quy định rõ: “ Hiệu

trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của trường,do Chủ

ủy ban nhân dân cấp quận -huyện bổ nhiệm đối với trường công lập, bán công hoặc công nhận đối với trường dân lập, tư thục theo đề nghị của Trưởng phòng GD & ĐT”

Trong quản lý trường MN: Chủ thể quản lý là hiệu trưởng, là người định hướng trí tuệ vào tất cả các vấn đề của nhà trường, xác định được những công việc quan trọng và xung yếu theo từng thời điểm, qua bảng kế hoạch năm học với những mục tiêu nhiệm vụ cụ thể, vừa hợp lý, vừa khoa học đồng thời có những bước tổ chức triển khai thực hiện kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm để từng bước nâng dần chất lượng GD

Hiệu trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn đã được quy định trong Quyết định 55 của Bộ trưởng ký ngày 3/2/1990:

- Nhiệm vụ trọng tâm: Tổ chức và chỉ đạo chăm sóc giáo dục trẻ em nhằm xây dựng nhân cách con người theo mục tiêu giáo dục mà Bộ GD & ĐT

- Nhiệm vụ thứ tư: Chỉ đạo việc xây dựng, bảo quản và sử dụng cso hiệu quả cơ sở vất chất, trang thiết bị chăm sóc và giáo dục trẻ em.Đây là nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi phải có kế hoạch lâu dài, từng bước hoàn thiện cơ

sở vật chất trang thiết bị nhà trường

Trang 28

- Nhiệm vụ thứ năm: Tham mưu cho Đảng bộ và chính quyền địa phương về công tác giáo dục mầm non, kết hợp chặt chẽ với các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học

Ngoài ra Hiệu trưởng cần thực hiện xã hội hoá GD, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng (Mục 4, Điều 16- Điều lệ trường MN - 2008)

1.5 Nội dung cơ bản của phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

1.5.1 Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên

- Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non cho từng giai đoạn là một công việc cần thiết trong công tác quản lý Quá trình lập kế hoạch đội ngũ giáo viên mầm non cần lưu ý: Một mặt phải đáp ứng yêu cầu trước mắt, mặt khác phải chuẩn bị tốt một đội ngũ giáo viên mầm non kế cận để có một đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ và hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

Ngoài việc lập kế hoạch đội ngũ, công tác phát triển đội ngũ giáo viên mầm non cần phải có kế hoạch sử dụng hợp lý đội ngũ hiện có Bởi vì, sử dụng không hợp lý sẽ làm cho việc phát huy khả năng của đội ngũ trở nên kém hiệu quả, không phát huy được sức mạnh vốn có, những khả năng tiểm

ẩn của từng giáo viên

Trong nội dung của việc lập quy hoạch có phân tích đánh giá hiện trạng,

dự báo, dự đoán được nguồn bổ sung, hướng phát triển để có kế hoạch bố trí, sắp xếp hợp lý Dự báo là một khâu rất quan trọng nối liền giữa lý luận với thực tiễn, dự báo gắn liền với một khái niệm rộng hơn đó là sự tiên đoán, dự báo được hiểu là những thông tin được kiến giải có căn cứ khoa học về trạng thái khả dĩ của đối tượng dự báo trong tương lai ở các thời điểm khác nhaucuar đối tượng Dự báo dựa trên cơ sở nhận thức những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy Về mặt bản chất, dự báo là sự phản ánh trước hiện thực

Trang 29

Khi xem xét quá trình phát triển cũng như dự báo quá trình phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trong tương lai, bao giờ cũng thấy rõ vết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai Quá khứ, hiện tại và tương lai của quá trình phát triển đội ngũ giáo viên mầm non phải là

sự kế tục trực tiếp của nhau Nếu nghiên cứu phân tích tình hình đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay mà bỏ qua quá trình phát triển của các trường mầm non trước đây cũng như xu hướng phát triển theo thời gian của các trường mầm non mới thì không thể dự báo đúng tương lai Xét về mặt tính chất thì dự báo chính

là khả năng nhìn trước, ước tính được những diễn biến khách quan để xây dựng, quy hoạch, kế hoạch, và giải pháp thực hiện đúng mục đích Với những quan điểm trên, dự báo quá trình phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là một tài liệu tiền kế hoạch, nó là nội dung quan trọng nhất của công tác quản lý Tuy nhiên kết quả của dự báo không mang tính pháp lệnh mà chỉ mang tính chất khuyến cáo

Như vậy, dự báo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất chiến lược, quy hoạch tổng thể của quá trình phát triển Đối với việc xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non thì việc này giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý biết trước được xu thế, có kế hoạch, phương pháp tác động để đạt kết quả mong muốn trong việc phát triển đội ngũ giáo viên theo yêu cầu thực tiễn đòi hỏi

1.5.2 Tuyển chọn giáo viên

Tuyển chọn là quá trình sử dụng các biện pháp nhằm thu hút những người đủ tiêu chuẩn, có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau, trên cơ sở đó chọn lựa, ra quyết định tuyển dụng người vào làm việc trong nhà trường.Trong tuyển chọn cần phải công tâm, khách quan, cần sử dụng nhiều hình thức phỏng vấn nhằm đánh giá về kiến thức giao tiếp, hiểu biết xã hội, nguyện vọng, hướng phấn đấu của người dự tuyển Yêu cầu trong tuyển chọn, người dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu của vị trí việc làm

Trang 30

-Và quyết định tuyển dụng là một trong những quyết định quan trọng nhất của người quản lý

- Cần hiểu rõ chất lượng đội ngũ,sàng lọc thông tin, đánh giá chính xác,thận trọng Phân công đúng người đúng việc sẽ phát huy tốt vai trò cá nhân trong tập thể, tạo điều kiện để mỗi giáo viên tự khẳng định

- Lắng nghe tâm tư nguyện vọng của giáo viên để chọn lựa, cân nhắc

kỹ lưỡng trước khi quyết định sao quyết định đó đem lại hiệu quả cao nhất Tránh sự suy xét cảm tính, cá nhân, dễ đưa đến những vấn đề phức tạp, không thuận lwoij cho chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường

- Để thực hiện tốt cho việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ GVMN cần tạo môi trường sư phạm,có sự phân công trách nhiệm rõ ràng cụ thể cho từng bộ phận, từng thành viên trong nhà trường Tạo lập cơ chế, các định mức, tiêu chí thi đua để thực hiện hóa kế hoạch thu hút nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại để tăng tiến cả về số lượng lẫn chất lượng đội ngũ giáo viên

- Xây dựng đội ngũ giáo viên đầu đàn và lực lượng kế cận:Trong việc xây dựng ĐNGV đầu đàn người hiệu trưởng cũng cần chú ý đến việc xây dựng, bồi dưỡng lực lượng kế cận, đủ mạnh để có thể gánh vác công việc lúc cần thiết Người giáo viên được chọn đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn vượt trội, có nghiệp vụ sư phạm, có phẩm chất đạo đức cũng như khả năng tập hợp tập thể giáo viên và đặc biệt có những tố chất cần thiết của người lãnh đạo Sau đó có thể cử đi học các lớp về quản lý giáo dục, khoa học quản lý, phân công phó hiệu trưởng trực tiếp bồi dưỡng kèm cặp, giao nhiệm vụ để có thời gian thử thách

Thực hiện tốt việc tuyển dụng và giữ chân những giáo viên tài năng sẽ giúp bạn luôn có đủ nguồn lực cần thiết để triển khai và thực hiện những chiến lược, mục tiêu đề ra của tổ chức cũng như của nhà trường

1.5.3 Sử dụng giáo viên

Việc sử dụng đội ngũ sao cho có hiệu quả cao nhất luôn là câu hỏi lớn của các nhà quản lý Một đội ngũ với rất nhiều độ tuổi, nhiều tính cách, năng

Trang 31

lực, sở trường, hứng thú khác nhau thì công tác quản lý sẽ rất phức tạp Điều đó đòi hỏi công tác quản lý phải làm tốt một số công việc sau: Nắm bắt đặc điểm riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhóm cá nhân, tìm ra ưu thế của họ; Đề

ra được quy chế làm việc, phân công rõ ràng, công bằng; Gắn chặt các nghĩa

vụ với quyền lợi của người lao động, đảm bảo sự công bằng trong đãi ngộ

Đặc thù của giáo viên mầm non là phải dạy tất cả các môn học, trong khi năng lực của mọi giáo viên không phải là toàn tài, nên khi phân công lao động cho giáo viên nếu phát huy được sở trường của họ thì sẽ phát huy tốt nhất năng lực vốn có của họ, hiệu quả công tác của giáo viên sẽ rất cao

1.5.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên

Đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên là việc làm cần thiết đòi hỏi các cấp quản lý đặc biệt quan tâm Đối với đội ngũ giáo viên thì việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng này càng cần thiết hơn bao hết bởi; các kiến thức, phương pháp dạy học luôn biến động đòi hỏi người giáo viên phải thường xuyên cập nhật nếu không muốn bị lạc hậu

Việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên có thể tiến hành với nhiều mục đích khác nhau: Bồi dưỡng để đạt chuẩn theo quy định của ngành học; bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nâng chuẩn lên trên chuẩn Việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên cũng có thể tiến hành với nhiều hình thức đa dạng, phong phú để tạo điều kiện tốt nhất cho người học; bồi dưỡng theo chuyên đề ngắn hạn, tại chức, chuyên tu, từ xa Việc bồi dưỡng cho giáo viên phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và có hiệu quả để sau mỗi khóa học, đợt học, giáo viên thấy được sự trưởng thành của mình, thấy được lợi ích thiết thực của việc bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo mục tiêu: cập nhật kiến thức, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao; Góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non có phẩm chất chính trị, đạo đức

Trang 32

nghề nghiệp, có đủ trình độ và năng lực chuyên môn đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo nguyên tắc: Về vị trí công việc, về tiêu chuẩn nghề nghiệp của giáo viên và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của các trường mầm non; Đảm bảo tính tự chủ của các đơn vị trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; Khuyến khích giáo viên học tập, nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; Bảo đảm tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng

Việc thực hiện tốt chế độ chính sách đối với giáo viên là điều kiện cần thiết nhất để động viên, khuyến khích giáo viên cống hiến tốt hơn nũa cho công tác giảng dạy Một chế độ chính sách tốt sẽ là sự động viên kịp thời giáo viên, giúp họ tái tạo sức lao động tốt hơn và ngược lại

1.5.5 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của giáo viên

- Kiểm tra, đánh giá là nhiệm vụ thường xuyên và không thể thiếu trong quản lý nói chung và quản lý ĐNGV nói riêng Thực hiện kiểm tra thường xuyên để thấy được những ưu điểm, hạn chế trong công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng ĐNGV và môi trường sư phạm của nhà trường để từ đó đánh giá rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời

- Thực hiện kiểm tra thường xuyên, công khai, khéo léo và tế nhị, góp ý

và đánh giá mang tính xây dựng chân tình Thông qua kiểm tra để kết thúc một chu kỳ quản lý, đồng thời kiểm tra cũng giúp cho chu kỳ quản lý tiếp theo tốt hơn Việc kiểm tra cũng giúp người hiệu trưởng thu nhận thông tin phản hồi về tình hình thực hiện quyết định, kế hoạch trong thực tế ra sao, có đúng theo quyết định ban đầu không, để có biện pháp điều chỉnh thích hợp tránh xảy ra những phản đối xung đột

- Nhờ kiểm tra chủ thể quản lý biết các quyết định quản lý của mình đúng hay sai, có sát thực tế hay không, có những khó khăn thuận lợi gì, trên

cơ sở động viên thúc đẩy và đôn đốc việc thực hiện có hiệu quả, từ đó rút kinh

Trang 33

nghiệm trong ý thức rèn luyện năng lực quản lý của mình.Nhờ kiểm tra, việc thực hiện kế hoạch của ĐNGV mới được tiến hành một cách nghiêm túc, đi vào nề nếp quy mô, nâng cao chất lượng nhà trường, tạo sự biến đổi về

“chất”qua từng năm, từ đó tích lũy những nhân tố tốt cho nhà trường và cho ngành trong việc bồi dưỡng lực lượng kế cận lâu dài

Nhận định vai trò quản lý Lênin đã khẳng định: “ Nếu quản lý mà ít

kiểm tra sẽ ít hiệu quả Nếu không kiểm tra thì sẽ không có quản lý” Chính vì

vậy không có kiểm tra thì:

- Dẫn đến sự lơ là trong quản lý, bằng lòng với thực tại, không tạo sự chuyển biến tích cực của đội ngũ, lề mề, ỷ lại, không có nề nếp dẫn đến hiệu quả thấp làm giảm uy tín của hiệu trưởng

- Hiệu trưởng sẽ không có cơ sở chính xác để đánh giá, phân loại một cách khách quan, công bằng và trung thực, điều đó sẽ dẫn đến sự thiên vị cảm tính, dĩ hòa vi quý trong thi đua, chỉ chạy theo thành tích mà kém hiệu quả chất lượng

* Phối hợp giữa hiệu trưởng và tổ chuyên môn và các đoàn thể của trường trong việc quản lý đội ngũ

Mục tiêu đào tạo trong trường mầm non và cơ chế tổ chức trong nhà trường đòi hỏi người hiệu trưởng phải tạo ra một sức mạnh tổng hợp để thực hiện được mục tiêu một cách tốt nhất, phù hợp với cơ chế quản lý hiện hành nhất

- Phối hợp giữa hiệu trưởng với tổ chuyên môn: Tổ chuyên môn là cơ

sở nòng cốt giúp giáo viên nâng cao hoạt động giáo dục trẻ Vì vậy Hiệu trưởng cần:

- Phân công người có năng lực để lãnh đạo nhóm làm việc, có kế hoạch bồi dưỡng cho các tổ trưởng về chuyên môn, tinh thần cũng như vật chất

Trang 34

- Chỉ đạo lập kế hoạch sinh hoạt tổ, nghiên cứu lý thuyết các chuyên

đề, trao đổi tư liệu rút kinh nghiệm thông qua dự giờ các hoạt động sư phạm, giải quyết những vướng mắc về chuyên môn, triển khai kế hoạch giáo dục, làm đồ dùng dạy học, đúc rút kinh nghiệm…

- Thu thập thông tin đầy đủ, cập nhật, chính xác là căn cứ để hoạch định kế hoạch giúp hiệu trưởng xem xét mức độ đạt mục tiêu của việc chỉ đạo

để kịp thời điều chỉnh và bổ sung kế hoạch

Tổ chuyên môn hoạt động có định hướng, có mục tiêu sẽ nâng cao chất lượng nuôi và dạy trong nhà trường, là sự tác động đồng bộ của tập thể sư phạm trong việc nâng cao chất lượng CS-GD trẻ của nhà trường, điều đó còn giúp hiệu trưởng trong việc phát hiện những sai lệch của đối tượng quản lý để kịp thời giúp đỡ,uốn nắn và đồng thời phát hiện những nhân tố tích cực để nhân rộng điển hình

* Phối hợp giữa hiệu trưởng và đoàn thể: Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như Công đoàn, Chi đoàn thanh niên là những yếu tố quan trọng trong việc phối hợp cùng hiệu trưởng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục Do vậy hiệu trưởng có trách nhiệm tổ chức để xác lập mối quan hệ công tác đúng đắn, mật thiết nhằm góp phần thực hiện tốt việc quản lý ĐNGV thực hiện tốt mục tiêu GD của nhà trường

1.5.6 Đãi ngộ giáo viên

Việc thực hiện tốt chế độ chính sách đối với giáo viên là điều kiện cần thiết nhất để động viên, khuyến khích giáo viên cống hiến tốt hơn nữa cho công tác giảng dạy Một chế độ chính sách tốt sẽ là sự động viên kịp thời giáo viên, giúp họ tái tạo sức lao động và ngược lại

Xây dựng môi trường sư phạm phù hợp, thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của GVMN là tạo được một môi trường trong đó gồm: những giáo viên có phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có

Trang 35

tâm huyết với nghề dạy học, đoàn kết, hợp tác cộng đồng trách nhiệm trong quá trình chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng trẻ; có bầu không khí dân chủ; có đầy đủ trang thiết bị phương tiện phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động CSGD trẻ và đặc biệt có một cơ chế quản lý khoa học hiệu quả

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên mầm non

1.6.1 Yếu tố chủ quan

* Yêu cầu về chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Phẩm chất, năng lực chuyên

môn, năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên mầm non

Các yêu cầu về đội ngũ giáo viên mầm non ngày càng cao trong khi khởi điểm,các cô giáo vào làm việc trong các trường mầm non có thể chỉ là mới tốt nghiệp sơ cấp, trung cấp, thậm chí có thể chỉ là giáo viên 10+2, 10+3…đội ngũ giáo viên đó cần phải được đào tạo lại, điều đó thực sự gây áp lực cho những hiệu trưởng các trường mầm non khi sắp xếp, đào tạo bồi dưỡng để cho đội ngũ của mình đạt chuẩn

* Sự tác động của công nghệ thông tin

Sự phát triển của công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngũ giáo viên mầm non cũng cần phải tiếp cận để ứng dụng một cách hợp lý trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý trường mẫu giáo.mầm non cần có kế hoạch cùng với sự điều tiết kinh phí, sắp xếp thời gian cho các

cô giáo của mình được học, được làm quen và thiết thực ứng dụng CNTT Ngược lại, CNTT cũng tạo động lực thúc đẩy sự quản lý năng động, hiểu quả hơn cho tất cả những nhà quản lý ở các cơ sở giáo dục mầm non

* Phẩm chất, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực quản

lý của Hiệu trưởng

* Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường mầm non

Trang 36

1.6.2 Yếu tố khách quan

* Nhận thức của các cấp lãnh đạo và xã hội về vai trò của đội ngũ giáo

viên mầm non Sự chỉ đạo của Phòng giáo dục & Đào tạo, những chủ chương chính sách về giáo dục mầm non của lãnh đạo ngành

Bậc học mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nhưng thực tế không phải bất cứ ai, bất cứ ở đâu cũng đều công nhận và coi trọng GDMN và các cô giáo mầm non Thậm chí điều đó còn có ở trong nhận thức của một số lãnh đạo các cấp

* Những điều kiện, kinh tế, xã hội của địa phương

Kinh tế -xã hội phát triển đưa đến cho những nhà quản lý các cơ sở giáo dục mầm non những cơ hội và cả những thách thức Ngày càng xuất hiện nhiều những trường mầm non tư thục, dân lập và cả những trường mầm non quốc tế với những ưu thế về chính sách đãi ngộ giáo viên, điều đó tạo áp lực cho những nhà quản lý trong việc giữ chân những giáo viên giỏi, có năng lực cho cơ sở của mình vì giáo viên giỏi sẽ tìm đến những môi trường có chính sách đãi ngộ cao hơn

* Phụ huynh có nhận thức đúng đắn về giáo dục mầm non và phối hợp cùng nhà trường chăm sóc giáo dục trẻ

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Từ những vấn đề lý luận về giáo viên,đội ngũ giáo viên, phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non và các vấn đề cơ bản đặc trưng, vai trò nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên mầm non,những chức năng nhiệm vụ của người hiệu trưởng… có thể thấy rằng công tác phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng là vấn đề không bao giờ cũ và luôn được đặt ra ngày càng cao

để đáp ứng với các yêu cầu của xã hội

Kết quả công tác phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng sẽ là sự tăng trưởng cả về số lượng,chất lượng của đội ngũ giáo viên với sự phát triển

về trình độ, năng lực, phẩm chất nhân cách và khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh, mọi nhiệm vụ Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là phát triển toàn bộ các hoạt động của đội ngũ, làm cho đội ngũ ngày càng trưởng thành

về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY HÀ NỘI

2.1 Một vài nét về Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Quận Cầu Giấy là một quận thuộc thành phố Hà Nội Khi thành lập, quận Cầu Giấy hợp bởi 4 thị trấn: Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy

và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm Vì trùng tên với quận nên thị trấn Cầu Giấy phải đổi tên thành phường Quan Hoa Thời trước Cầu Giấy là một phần của huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây

Từ năm 1831 thời nhà Nguyễn thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Sau khi giải phóng Thủ đô năm 1954 thuộc quận VI Đến năm 1961, Hà Nội mở rộng địa giới, xóa bỏ các quận, lập ra 4 khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành, từ

đó huyện Từ Liêm được lập lại, gồm đất hai quận V và VI, dân cư sống tập trung tại các vùng như: Vùng Kẻ Bưởi (Nghĩa Đô, Nghĩa Tân); Vùng Kẻ Vòng (Dịch Vọng, Mai Dịch); Vùng Kẻ Cót-Giấy (Quan Hoa, Yên Hòa); Vùng Đàn Kính Chủ (Trung Hòa).Ngày 22 tháng 11 năm 1996, Chính phủ Việt Nam ra Nghị định 74-CP thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 thị trấn: Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm Trong đó, thị trấn Cầu Giấy được đổi tên thành phường Quan Hoa.[3] Khi mới thành lập, quận có 7 phường: Dịch Vọng, Mai Dịch, Nghĩa

Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa

Ngày 5 tháng 1 năm 2005, thành lập phường Dịch Vọng Hậu trên cơ sở điều chỉnh 52,88 ha diện tích tự nhiên và 8.684 nhân khẩu của phường Quan Hoa, điều chỉnh 94,84 ha diện tích tự nhiên và 11.281 nhân khẩu của phường Dịch Vọng.[4] Như vậy, quận Cầu Giấy có 8 phường: Dịch Vọng,

Trang 39

Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Trung Hòa, Yên Hòa

Quận có diện tích 12,04 km², bao gồm gồm 8 phường.Dân số là 236.981 người (thời điểm 2010).Trụ sở UBND quận đặt tại số 36 phố Cầu Giấy

Trong các quận nội thành của Hà Nội, Cầu Giấy là một trong những quận có tốc độ “bùng phát” dân số cơ học nhanh nhất

Khái quát tình hình giáo dục mầm non Quận Cầu Giấy

Bên cạnh các thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của Quận Cầu Giấy,thì ngành Giaó dục & Đào tạo Quận nói chung cũng đã đạt được rất nhiều những thành tựu đáng kể 9 năm liền được UBND thành phố Hà Nội tặng cờ thi đua xuất sắc, 6 năm liên tiếp dẫn đầu thành phố về kết quả thi vào lớp 10, giáo dục quận Cầu Giấy thực sự trở thành “điểm sáng” về chất lượng dạy và học, trở thành địa chỉ tin cậy với phụ huynh học sinh trên địa bàn

nhiều năm nay

Và giaó dục mầm non nói riêng đã phấn đấu liên tục không ngừng và đạt được những thành tích đáng kể Hệ thống trường lớp đã được mở rộng, nhiều phòng học kiên cố đã được xây dựng và đã có nhiều trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia; chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ngày càng được nâng cao, đội ngũ CBQL giáo dục và giáo viên mầm non phát triển không ngừng cả

về số lượng và chất lượng

2.1.1 Mạng lưới trường lớp mầm non

Tại Q.Cầu Giấy, ông Phạm Ngọc Anh - Trưởng phòng GD-ĐT quận - cho biết: Dân số Q.Cầu Giấy mỗi năm tăng khoảng 10% và tăng đều tại 8 phường trên địa bàn Mỗi năm, số học sinh của quận tăng vài trăm em Do đặc thù dân số trẻ nên số trẻ mầm non trên địa bàn quận rất lớn Hiện nay toàn quận có tới hơn 50 trường mầm non, trong đó 2/3 là trường ngoài công lập

Trang 40

So với yêu cầu phát triển giaó dục toàn thành phố, giáo dục mầm non Quận Cầu Giấy còn bộc lộ những hạn chế 1/2 số trường còn chật hẹp,, một số trường không có sân chơi cho trẻ được hoạt động vui chơi ngoài trời Số diện tích /trẻ còn thấp so với chuẩn Quốc gia quy định (Mầm non: 2,5m2/trẻ); số trẻ trên một lớp còn qúa cao, rất khó đáp ứng yêu cầu phát triển trẻ toàn diện theo tinh thần của chương trình GDMN mới

Hiện nay trên địa bàn Quận Cầu Giấy có tất cả 51 trường MG, MN Trong

đó có 16 trường MN công lập, 35 trường ngoài công lập và 671 nhóm lớp

Bảng 2.1: Mạng lưới trường,nhóm lớp MN trong Quận Cầu Giấy

Ngày đăng: 26/04/2018, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w