1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng công thương hà nội trong giai đoạn hiện nay

109 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Công thương Hà Nội.. Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức t

Trang 1

_

HOÀNG ĐỖ NGA LINH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số:60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình - người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn cũng như định hướng cho em rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Học viện Quản lý Giáo dục và các thầy cô tham gia giảng dạy trực tiếp lớp Cao học Quản lý Giáo dục Khoá 12 - Học viện Quản lý Giáo dục đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ chúng em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các giảng viên, cán bộ quản lý tại trường Cao đẳng Công thương Hà Nội đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn

Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất cả nhiệt tình, trách nhiệm và năng lực của mình nhưng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên

Hoàng Đỗ Nga Linh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, các số liệu kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực theo thực tế nghiên cứu và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên

Hoàng Đỗ Nga Linh

Trang 4

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 14

1.2.3 Giáo đục đạo đức nghề nghiệp 17

1.2.4 Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp 18

1.3 Tầm quan trọng của giáo dục ĐĐNN trong nhà trường và những phẩm chất ĐĐNN cần hình thành ở sinh viên 18

1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục ĐĐNN trong nhà trường 18

1.3.2 Những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần hình thành ở sinh viên 20

1.4 Nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 24

1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 24

1.4.2 Tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 25

1.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 25

1.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 26

1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến hoạt động quản lý giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường cao đẳng trong giai đoạn hiện nay 26

1.5.1 Yếu tố khách quan 26

1.5.2.Yếu tố chủ quan 27

Trang 6

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDĐĐ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI HIỆN NAY 31

2.1 Vài nét về sự phát triển của trường cao đẳng công thương Hà Nội 31

2.1.1 Đội ngũ CBQL, GV, nhân viên 31

2.1.2 Cơ sở vật chất 33

2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 34

2.2.1 Nhận thức về các chuẩn mực ĐĐNN của sinh viên 34

2.2.2 Hành vi ĐĐNN của sinh viên 37

2.2.3 Thực hiện hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV của đội ngũ giáo viên 39

2.3 Thực trạng quản lý giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 40

2.3.1 Lập kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 40

2.3.2 Tổ chức giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 42

2.3.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 47

2.3.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 50

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 52

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Công thương Hà Nội 54

Tiểu kết chương 2 57

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI HIỆN NAY 58

3.1 Các nguyên tắc cơ bản xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 58

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 58

Trang 7

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn vẹn 58

3.1.3 Nguyên tắc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp phải dựa trên cơ sở quán triệt mục tiêu giáo dục của trường cao đẳng 59

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60

3.2 Đề xuất một số biên pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp trường cao đẳng Công thương Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 60

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của CBQL,GV và các tổ chức trong nhà trường đối với công tác GDĐĐ nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên 60

3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên 62

3.2.3 Tăng cường năng lực quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp sinh viên cho các lực lượng trong trường cao đẳng Công thương Hà Nội 65

3.2.4 Đa dạng hóa nội dung và hình thức hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 69

3.2.5 Phát huy tính tự quản, tự giáo dục của sinh viên trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 71

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 73

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội 75

3.4.1 Mục đích, nội dung, phương pháp khảo nghiệm 75

3.4.2 Tổ chức triển khai khảo sát kết quả việc áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên 76

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 76

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

Kết luận 81

2 Khuyến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Nhận thức của HSSV về tiêu chuẩn, phẩm chất đạo đức nghề

nghiệp của người lao động hiện nay 34 Bảng 2.2: Mức độ thực hiện những yêu cầu cơ bản trong rèn luyện đạo

đức nghề nghiệp của học sinh, sinh viên 37 Bảng 2.3 Đánh giá thực hiện hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV qua ý

kiến của GV 39 Bảng 2.4 Thực trạng xây dựng kế hoạch Giáo dục ĐĐNN cho HSSV 41 Bảng 2.5: Đánh giá mức độ phù hợp các nội dung giáo dục ĐĐNN cho

HSSV 43 Bảng 2.6: Đánh giá mức độ thực hiện các hình thức hoạt động giáo dục

ĐĐNN cho HSSV 45 Bảng 2.7: Đánh giá mức độ những biện pháp tổ chức giáo dục ĐĐNN

cho HSSV 46 Bảng 2.8 Đánh giá chỉ đạo hoạt động Giáo dục ĐĐNN cho HSSV của

Hiệu trưởng qua ý kiến của CBQL và GV 47 Bảng 2.9 Đánh giá chỉ đạo hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV của

CBQL qua ý kiến của Ban Giám hiệu 49 Bảng 2.10: Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục Đ ĐNN cho HSSV 51 Bảng 2.11: Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, sự

phối hợp giữa các lực lượng GD và kiểm tra đánh giá của CBQL và CBGV về công tác tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho HSSV 52 Bảng 2.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục ĐĐNN cho HSSV 55 Bảng 3.1: Khảo sát các biện pháp tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp

cho học sinh sinh viên 77

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý 13 Biểu đồ 2.1 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, sự

phối hợp giữa các lực lượng GD và kiểm tra đánh giá của CBQL và CBGV về công tác tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh sinh viên 53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người trong mọi thời đại Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người

Con người sống trên đời cần có đạo đức, mà để sống thì con người cần làm việc Và hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người Vì vậy,đạo đức nghề nghiệp chính là một phần quan trọng trong đạo đức xã hội Để sống, con người phải lao động và để lao động có kết quả tốt nhất, con người phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Trong bất cứ lĩnh vực nào, nghề nghiệp nào, con người vẫn luôn luôn cần đạo đức để làm đúng với trách nhiệm của mình

Cơ chế thị trường đã làm cho kinh tế - xã hội Việt Nam trong nhiều năm gần đây có những bước phát triển đáng kể, song đi theo những thành tựu kinh tế-xã hội lớn lao đó,chúng ta không thể không bị ảnh hưởng bởi những mặt trái của nó Xã hội phân hóa, tệ nạn xã hội gia tăng, nhiều chuẩn mực đạo đức truyền thống bị đảo lộn, thay đổi

Đạo đức nghề nghiệp là vấn đề không mới nhưng luôn mang tính thời

sự, cấp thiết, nhất là trong tình hình hiện nay bởi song song với những mặt tích cực, tiến bộ của quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, mặt trái của

Trang 11

kinh tế thị trường, của đồng tiền, danh vị và lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang tạo ra những hệ lụy, làm băng hoại và suy thoái đạo đức con người ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực

Sự phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ thời đại nào cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất và đạo đức nghề nghiệp là nhân tố thúc đẩy Tuy nhiên để tự giác tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trong học tập, lao động, sản xuất, trước hết con người phải có nền tảng về đạo đức xã hội nói chung, tích cực, chủ động vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức và việc thực thiện tuân thủ đạo đức sẽ gia tăng lợi

ích kinh tế

Tăng cường hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của các trường đã trở thành một vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược của nhiều quốc gia hiện nay Tuy nhiên, trong thực tế các trường cao đẳng của ta lại chưa có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên mang lại hiệu quả cao

Đánh giá thực trạng giáo dục - đào tạo, Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII

nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có

tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước.”

Có nhiều nguyên nhân đã dẫn sinh viên đến tình trạng yếu kém về đạo đức nghề nghiệp, trong đó phải kể đến sự không thống nhất trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp của các lực lượng giáo dục trong các nhà trường, ở gia đình và ngoài xã hội Đôi khi còn trái ngược nhau

về cách thức hoạt động

Đã có không ít các công trình nghiên cứu về đạo đức, đạo đức xã hội tuy nhiên có rất ít các công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp

Trang 12

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng Công thương Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho SV của Trường cao đẳng Công thương Hà Nội, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho

SV Trường CĐ Công thương Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý GDĐĐ nghề nghiệp

cho SV Trường CĐ Công thương Hà Nội

4 Giả thuyết khoahọc

Quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho SV trường CĐ Công thương HN trong những năm qua đã đạt được kết quả nhất định song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như một số cán bộ quản lý, cán bộ giảng viên còn né tránh vấn đề đạo đức nghề nghiệp, các hành vi vi phạm đạo đức của học sinh chưa được nhà trường

xử lý nghiêm minh, kịp thời…

Có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới quản lý giáo dục ĐĐNN cho HSSV trường CĐ Công thương Hà Nội như giảng viên chỉ chú trọng vào dạy chuyên môn; các CBQL thì lại chưa có phương pháp quản

lý GDĐĐ nghề nghiệp hiệu quả….trong đó yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều hơn

Nếu có biện pháp quản lý GDĐĐ nghề nghiệp đúng đắn, hợp lý,thực hiện một cách triệt để, đồng bộ phù hợp với thực tiễn nhà trường, đảm bảo tính

Trang 13

khách quan sẽ góp phần nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện cho SV nói riêng và cho toàn trường nói chung

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Khái quát hóa một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp (khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng…) để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên trường CĐ Công thương HN hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trên

5.3.Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp cho SV nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

6 Phạm vi và giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho SV trường CĐ Công thương Hà Nội trong thời kỳ đổi mới giáo dục 5 năm trở lại đây

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản

Phân tích, tổng hợp tài liệu về quản lý và công tác quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động quản lý và hiệu quả ban đầu của các biện pháp quản

lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên tại nhà trường

7.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Chúng tôi dùng bảng hỏi gồm những câu hỏi đóng và mở nhằm trưng cầu ý kiến cán bộ, giảng viên và sinh viên về một số vấn đề:

Trang 14

- Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của học sinh,sinh viên trường Cao đẳng Công thương Hà Nội

- Thực trang quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên trường Cao đẳng Công thương Hà Nội

- Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên trường Cao đẳng Công thương Hà Nội

7.4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nhằm khảo sát đánh giá thực trạng quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên tại trường Cao đẳng Công thương Hà Nội và góp phần đề xuất biện pháp cho vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay

7.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trao đổi trực tiếp với các đối tượng phỏng vấn để đánh giá thực trạng

về giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên tại trường Cao đẳng Công thương

Hà Nội

7.6 Phương pháp xử lý số liệu

Dùng công thức toán học để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết luận khái quát về quản lý giáo dục ĐĐNN cho học sinh,sinh viên

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ nghề nghiệp

cho sinh viên

Chương 2: Thực trạng quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên

trường CĐ Công thương HN

Chương 3: Biện pháp quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên

trường CĐ Công thương HN

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Vấn đề đạo đức và đạo đức nghề nghiệp không phải đến giờ mới được nghiên cứu mà từ thời cổ đại ở phương Tây lẫn phương Đông, các nhà tư tưởng, hiền triết, các nhà lập thuyết đều dành sự quan tâm đặc biệt nghiên cứu vấn đề đạo đức con người, đạo đức xã hội vì đó là mấu chốt, nền tảng tạo ra

sự đồng thuận xã hội

Theo quan điểm của Nho giáo, đạo đức là sự kết hợp giữa “ngũ luân” với “ngũ thường” gọi là “luân thường”, và giữa “tam cương” với “ngũ thường” gọi là “cương thường” Trên cơ sở của “tam cương” với “ngũ thường” mà đạo đức con người được giáo dục, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trực tiếp góp phần vào việc ổn định xã hội, điều chỉnh hành vi con người và hình thành nên nhân cách con người

Còn các nhà đạo đức học Tây Âu (thế kỷ XV - XVIII) như Ra-bê-lai (Rabelais), Xpi-nô-da (Spinoza), Hê-gen (Hegel), Phiu-ơ-bách (Feuerbach) cho rằng, con người không phải sinh ra đã có đạo đức mà đạo đức nảy sinh từ tác động của môi trường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật

Đến thế kỷ XVII, J.A Komenxky, nhà giáo dục học Tiệp Khắc lỗi lạc, trong tác phẩm “ Khoa sư phạm vĩ đại” của mình đã đề cập đến nhiều biện pháp GDĐĐ làm nền tảng cho việc xây dựng nền giáo dục hiện đại sau này

Trong thế kỷ XX, các nhà sư phạm nổi tiếng của Xô Viết như N K Crupxkaia, A.C Macarenko, V A Xukhomlinxky cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho thế hệ trẻ

Trang 16

Thế kỷ XXI, Tổ chức giáo dục và khoa học Liên hợp quốc (UNESCO)

đã xác định bốn trụ cột của giáo dục mà việc học là hạt nhân Đó là:

học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người Trong

đó học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba loại hình trênvà giáo dục đạo đức là nền tảng thực hiện trụ cột trên

Trên cơ sở triết học duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm các quy tắc, nguyên tắc và chuẩn mực xã hội mà nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp giữa lợi ích cá nhân và những tiến bộ xã hội trong các mối quan hệ giữa người với người

Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc

tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức

Cuốn tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm Canh tân và Công

nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bản năm

1992 Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng các nước Inđônêxia, Philippin, Malaysia và Thái Lan

Tại Viện Đại học Doulas Mauson, bang Adelaid, Nam Úc, một số tác giả cho rằng: ĐĐNN là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào Mỗi loại nghề nghiệp đòi hỏi những người trong từng nghề nghiệp cần phải hội đủ các thành tố đó là: Tri thức, thái độ, kỹ năng Mỗi một nghề nghiệp thường có một chuẩn mực đạo đức riêng biệt Các tác giả không nói trực tiếp vào ĐĐNN, nhưng đề cập sâu về thái độ nghề nghiệp, những phẩm chất cần thiết của người làm mỗi nghề

Quy định về ĐĐNN của Hiệp hội Tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (ACA Code of Ethics, 2005) nhằm phục vụ cho 5 mục đích chính về đạo đức nghề nghiệp Cụ thể là:

Trang 17

- Giúp hiệp hội (ACA) làm sáng tỏ bản chất những trách nhiệm đạo đức chung nhất phải giữ đối với những hội viên hiện tại, tương lai và cho những người thụ hưởng dịch vụ của các hội viên này

- Giúp duy trì sứ mệnh của hiệp hội

- Chính thức hóa những nguyên tắc dùng để xác định những hành vi đạo đức và việc hành nghề một cách tốt nhất của những hội viên

- Cung cấp sự hướng dẫn về đạo đức để hỗ trợ những hội viên trong việc xây dựng một tiến trình hành động chuyên nghiệp với mục đích phục vụ tốt nhất cho những người sử dụng dịch vụ tham vấn và nâng lên mức cao nhất những giá trị của nghề tham vấn tâm lý

- Làm căn bản cho việc khiếu kiện và hướng dẫn để phản đối những hội viên của hiệp hội trong những vấn đề đạo đức

Do đó, ĐĐNN cần phải được thể hiện, định hướng qua hiệu quả làm việc và những đóng góp của người làm nghề, trong đó có giáo viên

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta, vấn đề đạo đức và đạo đức nghề nghiệp cũng được Chủ tịch

Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu, nhất là vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phải làm sao cho tất cả cán bộ, công chức từ Chính phủ đến làng xã đều là công bộc của nhân dân, đều phải tận tụy phục vụ nhân dân

Người luôn nhấn mạnh và khẳng định, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của cán bộ, công chức; và đòi hỏi mỗi người, nhất là người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo

Trang 18

đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.252 – 253.)

Vì vậy, trước lúc đi xa Người vẫn không quên căn dặn: “Mỗi đảng viên

và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.( Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2002, tr.510.)

Từ những vấn đề đạo đức, chuẩn mực chung của xã hội, mỗi ngành nghề lại xây dựng cho mình những quy tắc, chuẩn mực riêng trong ứng xử, hành động, việc làm

Ở nước ta, nhiều ngành nghề đã xây dựng được những bộ quy tắc ứng

xử, tạo được hiệu ứng tốt trong dư luận như Đảng ủy Tạp chí Cộng sản xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong 11 chữ “Sáng tâm, sắc nghiệp vụ, sâu lý luận, sát thực tiễn”; Đảng ủy Bộ Kế hạch và Đầu tư xác định chuẩn mực “Trung thành - trách nhiệm - đoàn kết - chí công vô tư” với phong cách làm việc “Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi”…

Có thể nói vấn đề đạo đức nghề nghiệp nói chung và đạo đức người công chức hiện nay luôn tạo được mối quan tâm, chú ý của toàn xã hội Nếu

sử dụng công cụ tìm kiếm Google, khi gõ cụm từ “đạo đức nghề nghiệp”, chỉ trong vòng 0,12 giây, sẽ ra được kết quả 2.900.000 tài liệu (chủ yếu là các bài viết) có liên quan đến đạo đức nghề nghiệp Với từ khóa “đạo đức công chức”, công cụ tìm kiếm Google cũng cho ra kết quả là 2.200.000 tài liệu liên quan Nếu nhìn vấn đề từ góc độ lịch sử thì ngay từ năm 1950, trong những ngày kháng chiến chống Pháp gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam Sau này, trong các văn bản pháp luật, trong Hiến pháp, Luật Cán bộ công chức,… những vấn

đề về đạo đức nghề nghiệp luôn được quy định cụ thể, rõ ràng

Trang 19

Như vậy, vấn đề đạo đức nghề nghiệp đã được pháp lý hóa trong văn bản pháp luật cao nhất là Hiến pháp cho tới các luật và các văn bản quy phạm pháp luật

Thực tế vấn đề giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, theo những cách tiếp cận khác nhau như:

- Hội thảo: “Định hướng giáo dục giá trị đạo đức trong các trường Đại học”, Bộ GD - ĐT (10/1996) gồm 33 báo cáo của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ giảng dạy đã nêu lên những vấn đề lý luận và thực trạng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng trong nước

- Tác giả Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách của HS, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục

- Tác giả Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ

- Xây dựng lối sống và đạo đức cho sinh viên đại học sư phạm phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước (mã số QG/96/08, Nguyễn Quang Uẩn)

- Một số tác giả đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên và làm rõ tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh

viên trong giai đoạn hiện nay: Nguyễn Quốc Anh với bài Công tác giáo dục

đạo đức chính trị cho học sinh, sinh viên, Tạp chí Cộng sản, 1997; Nguyễn

Thị Minh Chiến với "Giáo dục đạo đức cho HSSV" - Nhà xuất bản Đại học

Sư phạm, Hà Nội, 2009

Trang 20

- Khi nghiên cứu về “Giáo dục đạo đức sinh viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hữu Thụ

đã đưa ra ba quan niệm cơ bản về chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức như sau:

Thứ nhất, đạo đức được thể hiện trong các hoạt động…

Thứ hai, đạo đức được thể hiện trong giáo dục công dân - giáo dục các

quan niệm, nguyên tắc ứng xử công dân và nguyên tắc ứng xử trong giáo dục

Thứ ba, các nguyên tắc đạo đức và nguyên tắc ứng xử trong hoạt động

nghề nghiệp

Với quan niệm này, theo tác giả, đối với bậc đại học, giáo dục đạo đức không chỉ dừng lại ở việc giáo dục luân lý mà cần tăng cường giáo dục nguyên tắc ĐĐNN cho sinh viên Coi trọng bồi dưỡng tri thức, năng lực và thái độ đối với hành vi xã hội và hoạt động nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu thực tiễn Tác giả cho rằng, một trong những giải pháp quan trọng hiện nay là cần phải “Xây dựng được chương trình giáo dục đạo đức thông qua nội dung các môn học, các hoạt động nội và ngoại khoá cho sinh viên trong suốt thời gian đào tạo”

- Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tri thức có thể có được bằng cách luyện tập cấp tốc trong một thời gian ngắn nhưng phẩm chất nghề nghiệp thì không thể có được trong ngày một, ngày hai Những phẩm chất

đó muốn có được phải có tổ chức giáo dục chặt chẽ ngay từ khi sinh viên mới bước vào trường”

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh sinh viên hiện nay ở nước ta Tuy nhiên đến nay, những công trình này hầu hết chỉ đề cập tập trung vào ĐĐNN trong lĩnh vực giáo dục mà chưa đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong khối ngành khác trong giai đoạn hiện nay

Trang 21

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý thực sự bắt đầu đóng vai trò đáng kể từ cuộc cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh vào thế kỷ XVIII và sau đó lan sang Mỹ vào thế kỷ XIX, khi mà máy móc đã thay thế lao động thủ công và sản xuất theo dây chuyền xuất hiện và chính từ đó quản lý đã trở thành một khoa học

Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra theo góc độ tổ chức Theo góc độ điều khiển thì quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định

Theo F.W Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là biết được chính

xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất"

Theo Henry Fayol (1841 - 1925), người đặt nền móng cho lý luận tổ

chức cổ điển cho rằng: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối

hợp và kiểm tra Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng

quản lý

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động, gây ảnh

hưởng của chủ thể quản lý, đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”

[3,tr.17]

Như vậy có thể thấy khái niệm quản lý được nhiều tác giả đề cập ở các góc độ khác nhau, có cách biểu đạt khác nhau.Ở các mức độ khác nhau đều

đề cập đến các nhân tố về tổ chức, mục tiêu hoạt động; chủ thể quản lý chính

là người đứng đầu tổ chức; khách thể quản lý là người bị quản lý trong tổ chức đó; mục tiêu của quản lý phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức đó

Trang 22

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động tự giác, có ý thức, có mục

đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt tới mục tiêu

Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý

Để đạt được mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý cần thực hiện tốt các chức năng quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra

- Kế hoạch hóa: là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt động, cách thức và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó

- Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức

- Chỉ đạo: là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương trật tự

- Kiểm tra: là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm đánh giá các kết quả vận hành của tổ chức, thông qua đó chủ thể quản lý đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt được những mục tiêu đã đặt ra, đồng thời làm cơ sở cho việc lập kế hoạch tiếp theo

Chủ thể

quản lý

Công cụ quản lý

Phương pháp quản lý

Khách thể

Trang 23

Các chức năng quản lý có được thực hiện một cách hiệu quả hay không đều là nhờ tới thông tin Thông tin vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản lý, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý

1.2.2 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp

lề thói; tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người

và người trong giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học

Đạo đức được xem là luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi là giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này

Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Con người sống trên đời cần rất nhiều thứ như tiền bạc, tình yêu, địa vị, gia đình, con cái, tiện nghi, vân vân… Nhưng trong tất cả những cái đó, con

Trang 24

người rất cần Đạo đức làm nền tảng, làm cốt lõi, làm linh hồn Thiếu Đạo đức, con người sẽ làm đổ vỡ tất cả Ví dụ một người kỹ sư thiếu đạo đức sẽ tạo nên một công trình kém chất lượng; một luật sư kém đạo đức sẽ lách qua

kẻ hở pháp luật để bênh vực kẻ có tội; một bác sĩ kém đạo đức sẽ kéo dài bệnh để ăn tiền; một viên chức kém đạo đức sẽ lợi dụng chức quyền để làm khổ dân… Vì vậy, trong bất cứ lãnh vực nào, nghề nghiệp nào, con người vẫn luôn luôn cần đạo đức để làm đúng với trách nhiệm của mình

Đạo đức ngày nay bao gồm nhiều lãnh vực, chứ không gói gọn trong cách học làm người: Đạo đức sinh học, đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong chính trị, đạo đức trong nhà trường, đạo đức trong tôn giáo… mỗi một trong những nền đạo đức này nói lên một khía cạnh nào đó của cuộc sống con người Giá trị của chúng khác nhau, tuy nhiên, chúng có một điểm chung là con người Giá trị đạo đức thực là cái bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc hơn, sung mãn hơn

Người ta có thể làm một kỹ sư hay một thương gia tài giỏi, nhưng không có đạo đức thì không thể trở nên một con người hoàn hảo và không thể phát triển tất cả những gì cao quý tốt đẹp của bản thân chúng ta

1.2.2.2: Đạo đức nghề nghiệp:

Đạo đức nghề nghiệp nói chung không thể tách rời nền tảng đạo đức chung của mỗi conngười.Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức cụ thể trong đạo đức chung của xã hội

Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện để là tên gọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con người (Déon: bổn phận cần phải làm, logos: học thuyết – Déontologic được nhà triết học Anh Bentam sử dụng có ý nghĩa là nghĩa vụ luận, đạo đức nghề nghiệp)

Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp của các quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của 1 lĩnh vực nghề nghiệp trong đời sống, nhờ đó mà mọi thành viên

Trang 25

của lĩnh vực nghề nghiệp đó tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,

cá nhân với tập thể với xã hội,

Tuy nhiên mỗi một nghề, do tính đặc thù của nó lại đòi hỏi người hành nghề có những tri thức, kỹ năng, thái độ đối với công việc, đối với khách hàng và đối với bản thân theo những yêu cầu khác nhau

ĐĐNN luôn thể hiện qua hành vi NN và kết quả lao động ĐĐNN có các chức năng sau đây:

- Định hướng giáo dục những người làm việc trong NN để họ có được những phẩm chất phù hợp với mong đợi của xã hội và mục tiêu ĐĐNN;

- Điều chỉnh hành vi của người làm việc trong NN phải tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực của lĩnh vực đó;

- Giúp những người quản lý có cơ sở khách quan để đánh giá người lao động nghề nghiệp…

Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua một số nét

đặc trưng của nghề nghiệp ta có thể hiểu: ĐĐNN là hệ thống các chuẩn mực đạo

đức phản ánh những yêu cầu đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó; là yếu tố cơ bản giúp họ có nhận thức, thái độ, hành vi đúng đắn trong nghề nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm

vụ của mình

Từ khái niệm trên ta thấy:

- ĐĐNN là phản ánh những đòi hỏi của xã hội đối với nghề đó;

- Người làm nghề phải có những phẩm chất đạo đức do nghề yêu cầu;

- ĐĐNN thể hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi và kết quả lao động của người hành nghề

Vì vậy, tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp

Trang 26

1.2.3 Giáo đục đạo đức nghề nghiệp

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống các hoạt động, các giải pháp nhằm giáo dục những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên để khi hành nghề, mỗi cá nhân biết kết hợp hài hòa giữa năng lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp.

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng, là một hoạt động mang tính xã hội phức tạp từ nhiều phía: Gia đình, nhà trường, xã hội, được thực hiện đồng bộ trên các mặt (giáo dục tư tưởng chính trị , giáo dục hành vi, lối sống, nếp sống, truyền thống…) Kết quả đều phục vụ mục tiêu chung là hình thành ở họ những tri thức đạo đức, tình cảm, hành vi đạo đức lành mạnh Từ nhận thức về các giá trị và chuẩn mực đạo đức dần hình thành các nhu cầu, động cơ bên trong thúc đẩy các em có hành vi, hành động thể nghiệm chúng trong cuộc sống hàng ngày

Hiện nay, trên thế giới, trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực nói chung và lĩnh vực dạy nghề nói riêng, người ta ngày càng nhấn mạnh tới thuật ngữ đạo đức nghề nghiệp và coi đó là một trong những yếu tố không thể thiếu, để tạo nên chất lượng nguồn lao động Thực tế cho thấy, để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, chúng ta không thể chỉ chú trọng phát triển đội ngũ những người lao động lành nghề, giỏi về chuyên môn mà còn phải biết làm việc một cách có văn hoá, có tinh thần trách nhiệm và ý thức tôn trọng đạo đức trong hoạt động, tức là có đạo đức nghề nghiệp

Tóm lại: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình xây dựng và điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân phù hợp với mục tiêu đã định Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhằm mục đích tạo ra một đội ngũ những người lao động có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới

Trang 27

1.2.4 Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV là quá trình lãnh đạo, tổ chức, điều khiển toàn bộ hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV nhằm đảm bảo cho công tác giáo dục này đạt được kết quả mong muốn Hay nói cách

khác:Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐNNcho HSSV là sự tác động của chủ thể

quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp phù hợp nhằm hướng hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSVđạt được kết quả theo mục tiêu đã xác định

Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV là hoạt động bao gồm quản lý trong nội bộ trường học (vi mô) và quản lý của các cấp, ngành, tổ chức đối với công tác giáo dục ĐĐNN cho HSSV của các nhà trường (vĩ mô)

Ở phạm vi thứ nhất, chủ thể quản lý là CBQL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng), còn đối tượng quản lý là công tác giáo dục ĐĐNN cho HSSV Ở phạm vi thứ hai, chủ thể quản lý là cơ quan giáo dục các cấp, còn đối tượng quản lý là các nhà trường

1.3 Tầm quan trọng của giáo dục ĐĐNN trong nhà trường và những phẩm chất ĐĐNN cần hình thành ở sinh viên

1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục ĐĐNN trong nhà trường

Những năm đầu thế kỷ 21 thế giới có nhiều biến đổi to lớn, cả thế giới đang dần hoà mình vào xu thế chung những mối quan hệ hoà bình hữu nghị Trong xu hướng hội nhập quốc tế về kinh tế và các lĩnh vực xã hội khác, sự bùng nổ về thông tin, mở rộng giao lưu quốc tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều thách thức đối với người lao động Việt Nam Bên cạnh

đó, sự cạnh tranh trong lao động ngày càng trở nên gay gắt hơn đòi hỏi người lao động Việt Nam ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các yêu cầu khác về đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đang được đặt ra như những thách thức mới Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp, hiểu biết

Trang 28

về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao động Việt Nam phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt

Mặt khác, việc tiếp thu các tiến bộ về khoa học và công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ trí thức Do vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải đầu tư cho con người mà cốt lõi là đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực lao động trực tiếp Cũng với ý nghĩa đó, nhiều nhà khoa học đã cho rằng, cần phải có một lực lượng lao động được đào tạo phù hợp với sự phát triển của các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Trong đó giáo dục, đào tạo vẫn là cốt lõi của chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay Điều đó khẳng định rằng, giáo dục đạo đức nghề nghiệp không những chỉ có ý nghĩa vè mặt xã hội mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế Do đó, giáo dục đạo đức nghề nghiệp đang là vấn đề thu hút sự quan tâm không phải chỉ bản thân các doanh nghiệp mà cả từ phía các nhà quản lý

Nhận thức được tầm quan trọng của những xu thế phát triển và những vấn đề xảy ra xung quanh nó, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chính sách, biện pháp kịp thời để vừa đào tạo được một đội ngũ lao động mới vừa có trình độ chuyên môn vừa có đạo đức nghề nghiệp tốt đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế; thông qua thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu nhất

Xuất phát từ đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ, cùng với mục tiêu đào tạo

là phải đào tạo ra lớp người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức trong sáng Trong giáo dục, đào tạo nói chung, giáo dục ĐĐNN nói riêng vẫn là cốt lõi của chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay.Do đó, việc giáo dục đạo đức nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng cho học sinh, sinh viên có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện:

Trang 29

Thứ nhất: Giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên nhằm góp phần phát

triển toàn diện nguồn nhân lực trong cả nước

Thứ hai: Giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên góp phần tích cực

vào việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, chống lại những thói hư tật xấu

Thứ ba: Giáo dục ĐĐNN còn có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn

và phát huy bản lĩnh chính trị cho học sinh, sinh viên

Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sự lựa chọn đúng đắn, hợp quy luật Song hiện thực đất nước còn rất nhiều khó khăn Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến lý tưởng, niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào Đảng Cộng sản, vào chủ nghĩa xã hội- đặc biệt là tầng lớp thanh niên

Vì vậy, việc đẩy mạnh giáo dục ĐĐNN cho học sinh, sinh viên không chỉ xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của chính bản thân họ mà còn xuất phát từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới của đất nước

1.3.2 Những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần hình thành ở sinh viên

1.3.2.1 Đặc điểm tâm lí sinh viên

Giáo dục ĐĐNN muốn đạt kết quả tốt phải phù hợp với đặc điểm sinh viên Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt Là một bộ phận của tầng lớp thanh niên SV mang những phẩm chất mà thế hệ trẻ Việt Nam đang xây dựng: Độc lập và thống nhất Tổ quốc; tự do và dân chủ; lòng nhân đạo, trọng hiền tài, học vấn, giá trị nghề nghiệp; tình yêu và cuộc sống gia đình, sức khỏe, học vấn và tri thức, việc làm và nghề nghiệp

Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội Sinh viên

là những công dân thực thụ của đất nước với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ trước

Trang 30

pháp luật Họ có quyền bầu cử, ứng cử, phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi và việc làm trước Bộ luật hình sự, luật nghĩa vụ quân sự, luật hôn nhân gia đình… Như vậy xã hội coi họ là một thành viên chính thức, một người trưởng thành Tuy nhiên do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên thanh niên sinh viên chưa hoàn toàn tự lập về mọi mặt so với thanh niên cùng độ tuổi vào đời sớm

* Đặc điểm về tự đánh giá, tự giáo dục ở sinh viên

Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức Nó giúp cho SV hướng tới sự tích cực, chủ động theo những chuẩn mực đạo đức xã hội Từ

đó biết tự đánh giá bản thân Đây là một phẩm chất quan trọng của nhân cách Công việc tự đánh giá của SV phải đạt được độ toàn diện và sâu sắc, phải đạt đến mức độ bản chất, nội dung của sự việc Qua hoạt động tự đánh giá mà sinh viên có thái độ, hành vi sao cho phù hợp với tính chất của lao động sư phạm Ý thức tự đánh giá ở SV có ý nghĩa để tự giáo dục Vì thế, SV đã sớm hình thành cho mình một số phẩm chất nhân cách như: Lòng tự trọng, sự tự tin vào bản thân, lòng yêu trẻ, lòng nhân ái, yêu thích lao động sư phạm ở SV…Đó là những tiền đề quan trọng để hình thành ĐĐNN

* Đặc điểm về định hướng tương lai

Định hướng cho tương lai của học sinh, sinh viên liên quan mật thiết với

xu hướng phát triển nhân cách và kế hoạch đường đời của họ Nhiều sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế giảng đường đã có kế hoạch riêng về nhiều mặt để đạt được mục đích cuộc đời của mình, họ không ngần ngại tìm việc làm thêm

để thoả mãn những yêu cầu học tập ngày càng cao và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hành nghề sau này

Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian), có những học sinh, sinh viên đã hình thành được tư duy của người lao động mới trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế, thể hiện ở việc hướng đến lựa chọn những

Trang 31

kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v.v Nói chung là tính mục đích định hướng cho

tương lai trong hành động và suy nghĩ của các em rất thực tế

* Đặc điểm về Tính liên kết (tính làm việc theo nhóm):

Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt

là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Mặt khác, trước xu hướng hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay đòi hỏi quá trình lao động phải có sự phối hợp của nhiều người, chính vì vậy khi đang học tập thực hành tay nghề tại trường, học sinh, sinh viên đã được trang bị về tính cách làm việc theo nhóm, biết trao đổi kinh nghiệm và phối hợp cùng nhau thực hành để tạo ra sản phẩm tốt nhất

Trên đây là một số đặc điểm của học sinh, sinh viên được đưa ra để phục vụ công tác nghiên cứu Các đặc điểm ấy tồn tại đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực

1.3.2.1.Những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần hình thành ở sinh viên

Nền kinh tế thị trường chịu sự tác động của một hệ thống các quy luật như các quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh… Những quy luật này đã đảm bảo cho nguyên tắc “tối đa hoá lợi ích cá nhân” Các chủ thể tham gia vào quan hệ thị trường có thể làm tổn hại đến lợi ích người khác, của xã hội Vì thế xã hội có những yêu cầu, những đòi hỏi cụ thể về đạo đức đối với từng dạng hoạt động nghề nghiệp nhất định, còn gọi là đạo đức nghề nghiệp

Điều kiện để người lao động Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế và có thể cạnh tranh được với lao động nước ngoài thì ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các

Trang 32

yêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi người lao động phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt

Trong thực tế hiện nay, giá trị lao động, đạo đức nghề nghiệp là những vấn đề cụ thể như sau:

- Chất lượng sản phẩm là mục tiêu cao nhất của người làm việc, lao động

- Giữ gìn không khí tâm lý trong doanh nghiệp luôn tốt đẹp, xây dựng

sự đồng thuận trong nhóm lao động

- Không tham ô, lãng phí nguyên vật liệu, thời gian lao động

- Coi trọng sự học tập, làm chủ tri thức làm chủ công nghệ

- Hoàn thiện năng lực sáng tạo, thích nghi nhanh chóng với những biến đổi của thị trường

- Có lối sống lành mạnh, không tham gia vào những tiêu cực xã hội

- Tích cực tham gia các phong trào tại doanh nghiệp và chương trình

xã hội

Cùng với việc nâng cao trí thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp thì học sinh, sinh viên còn phải được giáo dục đạo đức nghề nghiệp Giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là “chế định và giáo dục những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động, quản lý và kinh doanh, nhằm giải quyết một cách hợp lý quan hệ lợi ích giữa cá nhân - chủ thể quản lý, kinh doanh với lợi ích tập thể - đó là lợi ích của các chủ thể khác”

Đối với học sinh, sinh viên trường CĐ Công thương Hà Nội nói riêng,

có những yêu cầu cụ thể về đạo đức cần được hình thành Từ thực tiễn có thể

Trang 33

rút ra một số những giá trị đạo đức nghề nghiệp cần được giáo dục cho học sinh, sinh viên như sau:

Thứ nhất, Yêu nghề, tích cực học tập, tích lũy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp

Thứ hai, Hình thành tác phong công nghiệp, có ý thức, trách nhiệm với nghề nghiệp, đề cao tính trung thực là tiêu chuẩn hàng đầu về đạo đức nói chung.

Thứ ba, Không tham ô, lãng phí nguyên vật liệu và thời gian lao động Thứ tư, Có tinh thần đoàn kết, làm việc theo nhóm, tăng cường năng lực thích ứng nghề

Thứ năm, Giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có nếp sống văn hóa, hiểu biết pháp luật

Xây dựng những giá trị về năng lực hành nghề chính là xây dựng ý chí, quyết tâm để người lao động có hoài bão không ngừng học tập và nhận thức được thời gian học ở nhà trường chỉ là giai đoạn đầu của quá trình học tập suốt đời trong một xã hội học tập Người làm việc phải có ý thức mở rộng kiến thức nghề nghiệp, nâng cao năng lực, tư duy khoa học, độc lập, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới để không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp

1.4 Nội dung quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

Lập kế hoạch là quá trình xây dựng các mục tiêu và xác định các nguồn lực, quyết định cách tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đề ra

Nội dung lập kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho HSSV bao gồm:

-Xác đinh mục tiêu giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Xây dựng kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Xác định các bước thực hiện kế hoạch

Trang 34

- Chuẩn bị đội ngũ tham gia giáo dục đào tạo…

- Chuẩn bị tài chính, CSVC

- Kế hoạch chuẩn bị cho các hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV, trong đó chủ đạo là lớp học chính trị đầu khóa

- Lập kế hoạch phụ trợ, thời gian biểu

1.4.2 Tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của tổ chức

Tổ chức giáo dục ĐĐNN cho HSSV bao gồm:

- Xây dựng, xác định các chương trình của hoạt động giáo dục

- Quán triệt mục đích, yêu cầu của giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Bố trí, phân công nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Tổ chức phối hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Tập huấn cho các lực lượng tham gia giáo dục ĐĐNN cho HSSV

1.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

Đây là chức năng thể hiện năng lực của người lãnh đạo Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người lãnh đạo phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra

Chỉ đạo hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV bao gồm:

- Xác định, phương hướng, mục tiêu giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Lên kế hoạch cho việc tích hợp các hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong các môn học khác theo chương trình

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho HSSV theo tiến độ

- Điều chỉnh kế hoạch thực hiện giáo dục ĐĐNN cho HSSV (nếu cần)

Trang 35

- Kiểm tra, tổng kết việc thực hiện kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho

- Xây dựng tiêu chí, xác định các khâu kiểm tra hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Kiểm tra hoạt động của các bộ phận tham gia giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Kiểm tra các việc thực hiện các hoạt động giáo dục theo tiến độ kế hoạch đã đề ra

- Điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Đánh giá việc thực hiện mục tiêu

- Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV

1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến hoạt động quản lý giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường cao đẳng trong giai đoạn hiện nay

1.5.1 Yếu tố khách quan

Ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường, môi trường xã hội có nhiều thay đổi, ngày càng diễn biến phức tạp; các chuẩn mực đạo đức bị chi phối và

có phần lệch lạc bởi giá trị vật chất; một số người lớn không gương mẫu, còn

vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật đã tác động tiêu cực đến công tác giáo dục ĐĐNN cho HSSV

Trang 36

Sự bùng nổ thông tin với các phương tiện nghe, nhìn hiện đại và sự bất cập trong quản lí của xã hội đối với những văn hóa phẩm độc hại, bạo lực hàng ngày, hàng giờ tác động ảnh hưởng đến các em

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học một số trường chưa đáp ứng đầy đủ để phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV, kinh phí nhà trường dành cho tổ chức hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV còn hạn hẹp Việc huy động kinh phí chưa tốt, nên khó khăn cho việc đi giao lưu, học hỏi ở các trường có phong trào mạnh

Do tiêu chí thi đua còn chú trọng nhiều đến chất lượng học sinh giỏi, đào tạo chuyên môn nên hầu hết các nội dung học tập chỉ tập trung vào công tác bồi dưỡng lý thuyết nhiều hơn so với việc tổ chức các hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV

1.5.2.Yếu tố chủ quan

Về phía nhà trường:

Một số CBQL chưa nhận thức sâu sắc, chưa đổi mới tư duy trong việc hoạch định những biện pháp quản lý giáo dục ĐĐNN cho HSSV trong điều kiện môi trường cuộc sống đã có nhiều thay đổi Công tác giáo dục giá trị sống,

kỹ năng sống, công tác tư vấn tâm lý học đường chưa được quan tâm đúng mức Một số CBQL chưa thực sự chú trọng đến hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV (từ khâu xây dựng kế hoạch đến việc triển khai, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá), còn giao phó trách nhiệm cho GV trong việc tổ chức thực hiện các nội dung của hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV Các hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV còn thiên về phong trào, ít quan tâm đến giáo dục

cá thể, nhất là với số HSSV chưa làm chủ được bản thân trước những tác động tiêu cực của môi trường xã hội và biến động của gia đình

Một số ít CBQL chưa dành nhiều tâm huyết, chỉ đạo quyết liệt thực hiện nhiệm vụ giáo dục ĐĐNN cho HSSV; còn nặng chỉ đạo "dạy chữ", chưa

Trang 37

quan tâm thích đáng đến việc "dạy người"; chưa phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo của nhà trường thực hiện có hiệu quả công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương để thực hiện có hiệu quả bản Quy chế phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội

Còn chưa làm tốt công tác tuyên truyền đối với các bậc phụ huynh về vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV nên họ thường cấm đoán con em mình tham gia các hoạt động này Việc tuyên truyền, biểu dương và nhân rộng điển hình các tấm gương học giỏi chăm ngoan trong trường

và ngoài xã hội chưa được quan tâm đúng mức, ít nêu những tấm gương cụ thể người thật, việc thật để các em HSSV noi theo

Một bộ phận GV bộ môn chưa chú trọng thực hiện yêu cầu lồng ghép giáo dục ĐĐNN cho HSSV trong giờ dạy mà chỉ chú ý đến kiến thức bài giảng, dẫn đến HSSV chỉ quan tâm đến kiến thức văn hóa, coi nhẹ yêu cầu rèn luyện đạo đức, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp

Một số ít thầy cô giáo chưa thực sự là tấm gương đạo đức và tự học để HSSV noi theo, còn có thầy cô vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ảnh hưởng đến

uy tín của người thầy; một số thầy cô giáo chưa tích cực tự bồi dưỡng nghiệp

vụ về quản lý HSSV, còn nặng về cách quản lý hành chính, ít gần gũi chăm

lo, động viên, tư vấn giúp mỗi HSSV trong lớp phát triển toàn diện

Công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV của Ban Giám hiệu các trường chưa thường xuyên, còn hời hợt, không động viên khích lệ được những người làm tốt Chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV, vì vậy công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm chưa thực sự hiệu quả

Về phía gia đình:

Một bộ phận gia đình HSSV chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm quản

lý giáo dục con cái, nặng mưu sinh lo cuộc sống vật chất, ít quan tâm đến việc

Trang 38

xây dựng nề nếp, gia phong; nhận thức và hiểu biết về phương pháp giáo dục con cái còn hạn chế

Về phía xã hội:

Một số cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, mặt trận tổ quốc, các cơ quan chức năng và tổ chức đoàn thể, hội… chưa thực sự vào cuộc cùng ngành GDĐT thực hiện đồng bộ những quy định trong bản Quy chế phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục HS Những yếu kém trong công tác quản lý xã hội đã nêu ở trên nhằm hạn chế những tiêu cực tác động vào HSSV chậm được các cơ quan có trách nhiệm khắc phục

Trang 39

- Quản lý hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV là sự tác động của

chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp phù hợp nhằm hướng hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV đạt được kết quả theo mục tiêu đã xác định

- Nội dung quản lý giáo dục ĐĐNN cho HSSV bao gồm:

+ Lập kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho HSSV

+ Tổ chức giáo dục ĐĐNN cho HSSV

+ Chỉ đạo hoạt động giáo dục ĐĐNN cho HSSV

+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục ĐĐNN cho HSSV

- Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quản lý giáo dục ĐĐNN cho HSSV như mặt trái kinh tế thị trường, tiêu chí thi đua,yếu tố

về phía nhà trường, gia đình, xã hội

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDĐĐ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Vài nét về sự phát triển của trường cao đẳng công thương Hà Nội

2.1.1 Đội ngũ CBQL, GV, nhân viên

Trường Cao đẳng Công thương Hà Nội được thành lập theo quyết định

số 1260/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Cao đẳng Công Thương Hà Nội trước đây là Trường Trung cấp Công thương Hà Nội thành lập năm 2003 Trường Cao đẳng Công Thương Hà Nội nhiều năm đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, xuất sắc Trong quá trình phấn đấu và trưởng thành nhà trường đã đào tạo được nhiều lớp học sinh ra trường phục

vụ nhiều ngành kinh tế trong cả nước

Trường là một trong các trường có phong trào “xã hội hoá giáo dục” xếp vào hạng tốt ở địa bàn quận Thanh xuân, HN Đội ngũ CB, GV, công nhân viên nhà trường hiện có 228 người Nhà trường phấn đấu đến năm 2018

GV có trình độ Thạc Sỹ đạt khoảng 80%, 5% Tiến Sỹ, 5% ĐH Nhà trường có một đội ngũ CBQL có trình độ và thâm niên công tác, dày dạn kinh nghiệm

Số lượng HSSV của trường năm học 2014 - 2015 là 5.500 HS Năm học 2015

- 2016 là 6.000 HSSV

Chức năng của Trường là đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc mạng lưới các trường CĐ chuyên nghiệp, Trường chịu sự quản lý trực tiếp của Sở GD&ĐT

Hà Nội với nhiệm vụ :

+ Đào tạo các hệ CĐ, Trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật,

CĐ nghề cho các ngành Cơ khí, Động Lực, Điện Công Nghiệp, Điện Tử, Kinh Tế, Tin Học đáp ứng nhu cầu của các Doanh Nghiệp, cơ sở sản xuất các

tổ chức kinh tế XH có nhu cầu

Ngày đăng: 26/04/2018, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w