Luận văn đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm: Biến phụ thuộc là GDP của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung lnGDP và 6 biến độc lập: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh
tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP Hồ Chí Minh, năm 2017
Ngô Tấn Lực
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình làm luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ để hoàn tất luận văn Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Lê Thái Thường Quân đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Đào tạo Sau Đại Học của Trường Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học cao học vừa qua
Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy Cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp sức khỏe và thành đạt
Tác giả
Ngô Tấn Lực
Trang 4iii
TÓM TẮT
Luận văn thực hiện nhằm làm rõ tác động của ODA đến tăng trưởng kinh
tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016 Từ kết quả hồi quy, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để ODA phát huy tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung
Trên cơ sở tham khảo lý thuyết tổng quan về ODA và cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, cùng các nghiên cứu trước Luận văn đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm: Biến phụ thuộc là GDP của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (lnGDP)
và 6 biến độc lập: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15 tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX), Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai (GD), Lạm phát (LP)
Phương pháp nghiên cứu định lượng Pool OLS, REM sử dụng để ước lượng hồi quy với bộ dữ liệu bảng cân bằng, thu thập từ niên giám thống kê có 8 tỉnh, thành phố * 23 năm (giai đoạn 1993 – 2016) = 192 quan sát
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
có ý nghĩa thống kê và có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016; các yếu tố như: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15 tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX), đều có có nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016 Một số kiến nghị được đề xuất giúp gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung
Trang 5
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 3
1.7 Kết cấu luận văn 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1 Các khái niệm có liên quan 5
2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 5
2.1.2 Nợ công 5
2.2 Tổng quan về ODA 6
2.2.1 Khái niệm về ODA 6
2.2.2 Vai trò của ODA 7
Trang 6v
2.3 Mô hình tăng trưởng 9
2.4 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển 9
2.4.1 Mô hình tăng trưởng nội sinh 11
2.5 ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế 13
2.6 Một số nghiên cứu trước 16
Tóm tắt chương 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Mô hình nghiên cứu 24
3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Xử lý dữ liệu nghiên cứu 29
3.3.2 Phương pháp ước lượng hồi quy 30
3.3.3 Các kiểm định để lựa chọn mô hình 32
3.3.4 Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng 32
Tóm tắt chương 3 33
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Khái quát về tình hình thu hút ODA của Việt Nam 34
4.2 Thực trạng chung nguồn vốn ODA các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016 37
4.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung 37
4.2.2 Thực trạng thu hút ODA vào vùng Duyên hải Miền Trung 38
Trang 7vi
4.2.3 Những kết quả đạt được vào phát triển kinh tế xã hội 40
4.3 Kết quả phân tích tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung 42
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 42
4.3.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 43
4.3.3 Kiểm tra đa cộng tuyến theo hệ số VIF 44
4.3.4 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 45
Tóm tắt chương 4 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 53
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 53
5.2 Kiến nghị 54
5.2.1 Vốn đầu tư trong nước 54
5.2.2 Lực lượng lao động 55
5.3 Nguồn vốn ODA 56
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 9viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước 26 Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 34 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 48 Bảng 4.2 Bảng ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu 49 Bảng 4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến mô hình nghiên cứu: 50 Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo OLS, REM 51 Bảng 4.5 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 52 Bảng 4.6 Kết quả hồi quy các biến độc lập Mô hình nghiên cứu: 53
Trang 10ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tình hình thu hút vốn ODA 1993 – 2014 41 Hình 4.2 Cơ cấu thu hút ODA 1993 – 2014 42 Hình 4.3 Tỷ lệ ODA theo vùng giai đoạn 1993 – 2016 44
Trang 111
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 trình bày tổng quan về nghiên cứu như mục tiêu mà đề tài hướng đến, phạm vi, phương pháp nghiên cứu đồng thời cũng nêu lên mức giới hạn và giới thiệu bố cục đề tài
1.1 Lý do nghiên cứu
Trong thời kì đầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) như những ‘viên gạch’ đầu tiên giúp Việt Nam xây dựng nền tảng để thu hút các nguồn lực khác Trong 24 năm qua, các nhà tài trợ đã cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế Hội nghị bàn tròn về việc viện trợ dành cho Việt Nam diễn ra tại Paris (Pháp) từ ngày 9-10/11/1993 đã đặt nền tảng cho quan
hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế Đến nay Việt Nam đã có trên 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội Đây là nguồn ngoại tệ mạnh, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng
dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá trong nhiều năm qua
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư (2012), các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lên tới 78 tỷ USD trong giai đoạn 1993 – 2012 Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,8 tỷ USD Tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD Mặc dù nguồn vốn ODA chỉ chiếm khoảng 4% GDP; song lại chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn đầu tư
từ ngân sách nhà nước (bình quân chiếm khoảng 15% – 17%) Trong giai đoạn
2013 – 2016, tổng số vốn ODA, vay ưu đãi được ký kết đạt khoảng 26,4 tỷ USD, đóng góp phần lớn vào đầu tư cơ sở hạ tầng
Trang 122
Với tầm quan trọng như vậy, việc đo lường những đóng góp của nguồn vốn ODA đối với tăng trưởng kinh tế là cần thiết Tại các tỉnh Duyên hải miền Trung, kinh tế của mỗi địa phương những năm gần đây tăng trưởng khá ổn định Trong
đó, ODA đã có những đóng góp đáng kể đến nền kinh tế các địa phương, các dự
án ODA đã góp phần tích cực vào chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân nhất là với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, đã từng bước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, cho người người dân Tuy nhiên, hiện nay có rất ít những nghiên cứu định lượng về đóng góp của nguồn vốn ODA đối với tăng trưởng kinh tế địa
phương do đó đề tài: "Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung" là hết sức cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (trường hợp các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng)
Đề xuất các giải pháp chính sách nhằm thu hút, quản lý ODA để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi sau:
ODA có đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung hay không?
Mức độ đóng góp của ODA vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung như thế nào?
Trang 133
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (trường hợp các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng)
+ Về thời gian: Tập trung phân tích, nghiên cứu số liệu trong giai đoạn
từ năm 1993 đến năm 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Có hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Thứ nhất, phương pháp phân tích thống kê được dùng để đánh giá, phân tích thực trạng thu hút ODA tại các tỉnh Duyên hải miền Trung
Thứ hai, phương pháp phân tích định lượng Nghiên cứu sử dụng phần mềm kinh tế lượng STATA để phân tích mô hình hồi quy yếu tố ODA ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh Duyên hải miền Trung
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Hiện nay để phát triển kinh tế khu vực Duyên hải miền Trung nếu chỉ sử dụng các nguồn vốn trong nước là không đủ, do đó ODA là nguồn vốn bổ sung góp phần đầu tư phát kinh tế khu vực Thông qua việc đánh giá thực trạng thu hút
và sử dụng nguồn vốn ODA tại các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn
1993 – 2016 và phân tích mô hình kinh tế lượng với dữ liệu bảng theo thời gian nghiên cứu giúp nhận diện mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Duyên hải miền Trung
Trang 144
1.7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn được chia thành 5 chương:
Kết cấu dự kiến của nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 155
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, nợ công, ODA cùng các nghiên cứu đã thực hiện trước đây Đây là cơ sở để tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đánh giá mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Duyên hải miền Trung
2.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Theo Nguyễn Văn Phúc (2014), tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là
sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Tổng sản lượng quốc gia (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia (GNP) thường được dùng để đo lường sản lượng hay thu nhập được tạo ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Thời gian thường được báo cáo theo năm, nhưng cũng có thể được tính theo tháng, quý hay nhiều năm tùy theo mục đích nghiên cứu Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ, cán cân thương mại,… sẽ làm thay đổi quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Quá trình tăng trưởng kinh tế thể hiện các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, trình độ quản lý, quan hệ thị trường được khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể bao gồm tăng trưởng hướng nội, tăng trưởng hướng ngoại hoặc là sự kết hợp của cả hai tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.1.2 Nợ công
Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được
Trang 16Theo Quốc hội (2009), Điều 3 - Luật Quản lý nợ công Việt Nam, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ (Chính phủ Trung ương, chính quyền liên bang, chính quyền địa phương) và khu vực các tổ chức công (các tổ chức công phi tài chính và các tổ chức công tài chính, gồm: ngân hàng trung ương, các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi trừ ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính công khác) Các tổ chức công phi tài chính có thể là các tập đoàn nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực điện tử, viễn thông, hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnh viện công, trường học công, Những tổ chức công tài chính là những
tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện nhiệm vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ
tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu
2.2 Tổng quan về ODA
2.2.1 Khái niệm về ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hình thành từ cuối Chiến tranh thế giới thứ 2 (1939 – 1945) trong bối cảnh nền kinh tế thế giới sau chiến tranh bị tàn phá và suy thoái nghiêm trọng Mục đích chính của ODA
Trang 17Tóm lại ODA có thể hiểu một cách chung nhất như sau: ODA là các khoản cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn cho không mà quốc gia này dành cho quốc gia khác có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Tính ưu đãi của ODA thể hiện
ở phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, lịch trả nợ với phần cho vay Quốc gia tiếp nhận nguồn hỗ trợ chính thức sẽ được hưởng ít nhất là 25% so với tổng giá trị nguồn hỗ trợ đó (Nguyễn Thị Lan Anh, 2015)
2.2.2 Vai trò của ODA
Vai trò của ODA đối với các quốc gia đang và chậm phát triển là không thể phủ nhận:
(1) Bổ sung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế
ODA có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và chậm phát triển Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH- HĐH), vốn đầu tư để tạo cơ sở vật chất nhằm nâng cấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội là một vấn đề lớn được đặt ra đối với nước này Nguồn lực hạn chế trong nước không cho phép các nước này dễ dàng thực hiện những mục tiêu phát triển của mình Trong nghiên cứu của rất nhiều các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng viện trợ nước ngoài đã có một tác
Trang 188
động tích cực trong ngắn hạn và tác động tiêu cực trong dài hạn (Adams & Atsu, 2014) Và không thể bác bỏ giả thiết không có mối quan hệ nhân quả giữa viện trợ và hiệu quả kinh tế (Burhop, 2005) Feeny, (2007) khẳng định rằng viện trợ nước ngoài có hiệu quả trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận, nhưng hiệu quả của nó có thể phụ thuộc vào một số yếu tố Một nửa trong tổng
số tác động của viện trợ phát triển có tác động trong vòng hai năm sau khi nó giải ngân (Feeny & Fry, 2005)
(2) ODA mang lại nguồn lực cho đất nước thông qua những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở những nước đang và chậm phát triển
ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn, nguồn vốn này trực tiếp cải thiện điều kiện về vệ sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường Đồng thời ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo
(3) ODA giúp các nước đang và chậm phát triển xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho kinh tế của nhiều nước kém phát triển là sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế Quá trình chuyển đổi nền kinh tế cần thực hiện hàng loạt các điều chỉnh cơ cấu thông qua các chính sách trên nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, cải cách doanh nghiệp Nhà nước, Trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp, các nước đang và chậm phát triển thực hiện điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế theo các chương trình hợp tác với ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức quốc tế khác (Hà Thị Thu, 2014)
(4) ODA góp phần đào tạo nguồn nhân lực, tăng khả năng ứng dụng các thành tựu cao của khoa học và công nghệ cho nước tiếp nhận
Trang 199
Các công trình, dự án sử dụng ODA thường được xây dựng và hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế đã làm cho những người bản xứ ở các nước tiếp nhận hoạt động trong dự án có cơ hội tiếp thu các công nghệ, kỹ thuật mới, phơng cách quản lý tiên tiến hiện đại Cùng với vốn và công nghệ, ODA đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng thời giải quyết việc làm cho một số lượng lao động lớn tại địa phương thụ thưởng ODA (Hà Thị Thu, 2014)
(5) ODA làm tăng khả năng thu hút vốn FDI
Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước luôn quan tâm đến khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư cũng như chi phí cơ hội của đầu tư bởi mục tiêu chính của họ là lợi nhuận
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư là sự hoàn chỉnh và đồng bộ của cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, thể chế pháp luật, Tuy nhiên, vốn đầu tư để thực hiện điều này rất lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn hạn chế của Nhà nước thì không thể đáp ứng được Bởi vậy, ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn FDI (Hà Thị Thu, 2014)
2.3 Mô hình tăng trưởng
2.3.1 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Công trình của Solow (1956) là một công trình tiên phong về mô hình tăng trưởng tân cổ điển Mặc dù những mô hình tăng trưởng tân cổ điển khác được phát triển sau đó nhưng mô hình Solow vẫn là mô hình đặc trưng nhất Mô hình này chứa đựng những thành tố cơ bản của những mô hình tăng trưởng tân
cổ điển và các mô hình tân cổ điển khác đều cho ra những kết luận tương tự
Mô hình Solow bắt đầu với một hàm sản xuất tổng thể gồm ba yếu tố đầu vào: Vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật Hàm sản xuất có dạng hàm Cobb - Douglas và có hiệu suất không đổi theo quy mô Hàm này thể hiện hiệu suất biên giảm dần đối với từng yếu tố đầu vào Trong dài hạn nền kinh tế đạt đến
Trang 2010
trạng thái cân bằng dài hạn tại đó vốn trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc
là không đổi và do đó, sản lượng đầu ra trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc cũng cố định; nói cách khác tổng vốn và sản lượng đầu ra tăng cùng tốc độ với tốc độ tăng của lực lượng lao động và tiến bộ kỹ thuật Sản lượng đầu ra và vốn bình quân đầu người tăng cùng tốc độ với tốc độ của tiến bộ kỹ thuật ở trạng thái cân bằng dài hạn Tiến bộ kỹ thuật được xem như biến ngoại sinh cho trước của mô hình
Với những tham số tham chiếu cho trước (tiết kiệm, tốc độ tăng dân số)
và khoa học công nghệ (A), lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow (1956) dự báo rằng các quốc gia sẽ hội tụ tại cùng một mức cân bằng chung của thu nhập bình quân đầu người Tốc độ hội tụ của các quốc gia tùy thuộc khoảng cách giữa nó với điểm cân bằng chung
Những quốc gia khởi đầu với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn sẽ dịch chuyển về điểm cân bằng chung với tốc độ nhanh hơn những quốc gia vốn
đã giàu có Luận cứ cho sự hội tụ dựa trên quy luật lợi tức biên giảm dần của vốn Những nước nghèo có tỉ lệ vốn trên lao động thấp hơn, có hệ số sản lượng biên của vốn cao hơn và tốc độ tăng tích lũy vốn cao hơn và do đó, có khuynh hướng tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước giàu Đó chính là điểm hội tụ tuyệt đổi Nếu chúng ta bỏ đi giả định là tất cả các nền kinh tế đều có cùng tham số
và do đó có cùng điểm cân bằng chung thì sự hội tụ được xem là hội tụ có điều kiện Vị trí cân bằng ổn định của mỗi nền kinh tế sẽ khác nhau, phụ thuộc vào những đặc trưng của quốc gia (như tỉ lệ tiết kiệm, tốc độ tăng dân số, trình độ
kỹ thuật ), những yếu tố có thể thay đổi giữa các quốc gia khác nhau Mỗi nền kinh tế hội tụ tại điểm cân bằng ổn định của mình Mức thu nhập bình quân đầu người càng thấp tương đối so với vị trí cân bằng ổn định thì tôc độ tăng trưởng càng cao Trong trường hợp cân bằng có điều kiện, những nền kinh tế nghèo hơn không nhất thiết có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn những nền kinh tế giàu
Trang 21Hạn chế của mô hình tân cổ điển là: nếu tiến bộ kỹ thuật là nhân tố duy nhất của tăng trưởng dài hạn, vậy cái gì ảnh hưởng đến tiến bộ kỹ thuật? Mô hình tân cổ điển không trả lời câu hỏi này Đây là mối quan tâm của trường phái
lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.3.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Không hài lòng với giải thích của trường phái tân cổ điển là tiến bộ kỹ thuật ngoại sinh là yếu tố duy nhất giải thích tăng trưởng trong dài hạn, từ giữa những năm 1980, một số nhà kinh tế học đã tìm cách giải thích tiến bộ kỹ thuật
và phát triển những mô hình mà trong đó tăng trưởng dài hạn có thể được tạo ra
từ những yếu tố nội sinh Mô hình tăng trưởng nội sinh Romer (1994) loại bỏ giả thuyết của trường phái tân cổ điển về lợi tức biên giảm dần của vốn, theo cách đó vốn được tích lũy và nhờ vậy tăng trưởng có thể đạt được ngay cả trong điều kiện không có tiến bộ kỹ thuật Hiện nay có rất nhiều mô hình tăng trưởng nội sinh Chúng ta có thể tạm chia thành các mô hình này thành 3 nhóm chính: 1) mô hình AK; 2) mô hình ngoại tác; 3) mô hình R&D
Trang 2212
Trong mô hình AK, giải pháp đầu tiên để tránh được quy luật lợi tức biên của vốn giảm dần trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là xây dựng hàm sản xuất tổng thể dưới dạng sau (xem Barro và Salai-Martin 1995, tr 39-42):
Y = A.K Với: Y: là sản lượng, K: vốn (bao gồm vốn vật chất và vốn con người)
và A là một hằng số đương thể hiện trình độ kỹ thuật
Trong phương trình trên, vốn có lợi tức không đổi Vì thế, mô hình cho phép tích lũy vốn không giới hạn và tăng hưởng kinh tế dài hạn được đảm bảo Theo Barro và Salai-martin (1995), việc xem như hoàn toàn không có sự giảm sút trong lợi tức là không thực tế nhưng ý tưởng này sẽ trở nên hợp lý hơn nếu chúng ta xem xét K theo nghĩa rộng, bao hàm cả vốn con người Do đó, một khái niệm quan trọng của mô hình AK là vốn con người Vốn con người có thể được định nghĩa một cách khái quát là tri thức và kỹ năng đạt được thông qua quá trình làm việc và đào tạo Với lực lượng lao động không đổi, khả năng tiếp tục học tập và đạt được những kỹ năng cao hơn luôn luôn có thể xảy ra, vốn con người nhiều hơn sẽ giúp cho hiệu suất biên của vốn vật chất được duy trì Vì thế tích lũy vốn (bao gồm cả vốn con người và vốn vật chất) và do đó tăng trưởng kinh tế có thể được duy trì ngay cả trong trường hợp không có tiến bộ kỹ thuật
và sự gia tăng của lực lượng lao động Trong quá trình sản xuất việc học hỏi kinh nghiệm thông qua quá trình làm việc (learning by doing) luôn diễn ra, điều này góp phần cải thiện hiệu quả của vốn Rebelo (1991) là một đại diện tiêu biểu của mô hình AK Trong mô hình Rebelo (1991), những cá nhân có thể tích lũy tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất Vốn con người bổ trợ cho lao động Vốn vật chất và vốn nhân lực bổ trợ lao động sẽ tăng cùng tốc độ trong dài hạn, giúp ngăn chặn sự giảm sút của lợi tức biên theo vốn trong khi tỉ lệ vốn/ lao động tăng như trong mô hình Solow
Mô hình tăng trưởng nội sinh thứ hai xuất phát từ những ngoại tác của quá trình tích lũy vốn (vốn vật chất và con người) Trong mô hình này, vốn có
Trang 2313
thể vẫn tuân theo quy luật lợi tức biên giảm dần đối với từng nhà đầu tư riêng
lẻ, nhưng khoản đầu tư của nhà đầu tư này lại làm tăng khả năng sinh lợi của những khoản đầu tư khác Những hiệu ứng này của tích lũy vốn được gọi là '"những ngoại tác" hay hiệu ứng "lan tỏa" Nhờ hiệu ứng này, xét về tổng thể, nền kinh tế không bị lợi tức biên của vốn giảm dần dù mỗi nhà đầu tư riêng lẻ vẫn phải đối mặt với vấn đề này Do đó, tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế trong toàn bộ nền kinh có thể được duy trì lâu dài
2.4 ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Về mặt lý thuyết, nợ công có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế Về mặt tích cực, theo lý thuyết Keynes (Keynes, 1936), khi chính phủ tăng chi tiêu thì làm gia tăng tổng cầu, tác động có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hệ số nhân trong hàm tổng cầu Ngoài ra, chi tiêu công còn tác động lên tổng cung vì nhiều khoản chi tiêu công là chi cho đầu tư, đặc biệt là chi phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế Do sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hoá công, một số nhà kinh tế ủng hộ sự tham gia của chính phủ trong việc cung ứng các hàng hoá thiết yếu này Theo quan điểm này, đầu tư công có thể bổ sung cho đầu tư tư nhân vì cung cấp các cơ sở
hạ tầng và các hàng hoá quan trọng cho nền kinh tế Sự phát triển của khu vực công cũng tạo ra nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho khu vực tư phát triển Hiện nay, tại Việt Nam thì ODA chủ yếu là dạng đầu tư công nhằm phát triển kết cấu
hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế
Các nhà kinh tế cũng lưu ý nhiều tác động tiêu cực của nợ công Kumar
và Woo (2010) cho rằng nợ công nợ công có tác động tiêu cực lên tăng trưởng
ở các khía cạnh sau Nợ công làm tăng lãi suất, theo đó làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm gia tăng khả năng nhà nước tăng thuế trong tương lai Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm tăng lạm phát, tăng bất ổn kinh tế vĩ mô Các yếu tố trên làm giảm đầu tư tư nhân Các tác động làm giảm đầu tư tư nhân gọi là tác động “chèn lấn” (crowding-
Trang 2414
out) Nói cách khác là đầu tư công làm giảm các nguồn lực dành cho đầu tư tư nhân, làm tăng chi phí đối vói đầu tư tư nhân Blanchard (1998) cho rằng chi tiêu công luôn luôn có tác dụng “chèn ép” (crowding-out) chi tiêu tư nhân Chính sách sử dụng việc mở rộng tài khoá để kích thích tổng cầu và tăng trưởng
có tác dụng hạn chế nhất là khi nền kinh tế gần với mức toàn dụng lao động Reinhart và Rogoff (2010) cho rằng ảnh hưởng tiêu cực nhất của nợ công lên tăng trưởng là gánh nặng về thuế trong tương lai và sự bất ổn do gánh nặng này gây ra Gagnon và Hinter Schweiger (2011) cho rằng mức nợ công có thể chịu đựng được không thể dựa trên một công thức trừu tượng nào mà tuỳ thuộc vào tình hình thực tế là xã hội và chính phủ sẵn lòng trả lãi suất cho các khoản nợ
và mức độ chấp nhận GDP thấp hơn do lãi suất cao hơn, thuế khoá cao hơn gây
ra Reinhart và Rogoff (2009) cho thấy rằng lạm phát cao và siêu lạm phát có nguyên nhân chủ yếu từ việc chính phủ chi tiêu quá mức thông qua việc phát hành tiền ồ ạt Điều này thường gắn liền với các giai đoạn chiến tranh hoặc các giai đoạn đối phó với khủng hoảng kinh tế Reinhart và Rogoff (2011b) dẫn chứng số liệu lịch sử cho thấy rằng khủng hoảng nợ công gắn liền với các khủng hoảng khác như khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng
nợ nước ngoài làm cho tình hình trở nên rất nghiêm trọng
Về mặt lý thuyết, tác động của nợ công nói chung và ODA nói riêng lên tăng trưởng có thể đặt trong cuộc tranh luận lớn hơn về vai trò của nhà nước và thị trường trong phát triển kinh tế Báo cáo Phát triển năm 1997 của Ngân hàng Thế giới (WB, 1997) đã dành riêng cho chủ đề này Báo cáo dựa trên lý thuyết
và kinh nghiệm phát triển của nửa sau thế kỷ 20 đã rút ra những nhận xét đáng chú ý Phần lớn thế kỷ 20, mọi người kỳ vọng vào vai trò lớn hơn của chính phủ trong phát triển nhưng sự thất bại của các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
sự thất bại của các nền kinh tế nhà nước can thiệp nặng ở châu Phi và các nước khác, sự thất bại của các mô hình nhà nước phúc lợi và sự thành công của các nền kinh tế Đông Á phát triển dựa vào thị trường và hướng ra bên ngoài đã đặt
ra thách thức cho những suy nghĩ truyền thống về vai trò của nhà nước Cần
Trang 25sự tồn tại của ngoại tác Khi tồn tại ngoại tác thì sản lượng của thị trường là không hiệu quả Với ngoại tác tiêu cực, người sản xuất có khuynh hướng sản xuất quá mức Với ngoại tác tích cực, người sản xuấ có khuynh hướng sản xuất không đủ Thứ tư, có sự tồn tại của thông tin bất cân xứng đẫn đến thị trường không hoàn hảo Thứ năm, sự mất cân bằng kính tế vi mô tạo ra sự bất ổn định kinh tế vĩ mô Thứ sáu, vì lý đo công bằng, nhà nước can thiệp để phân phối lại thu nhập
Trong kinh tế học vĩ mô, sự ra đời của lý thuyết Keynes cũng góp phần vào việc tăng vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Trái với các nhà kinh tế cổ điển, Keynes cho rằng có những lúc nền kinh tế rơi vào suy thoái hay khủng hoảng mà không tự điều chỉnh được Nếu để thị trường tự điều chỉnh thì tình trạng suy thoái hay khủng hoảng sẽ kéo dài, giống như Cuộc đại suy thoái năm 1929-1933 Keynes chủ trương là nhà nước nên chủ động can thiệp vào nền kinh tế đặc biệt là gia tăng tổng cầu để thúc đẩy nền kinh tế Do ảnh hưởng của Keynes, rất nhiều nước theo đuổi chính sách nhà nước tác động ngày càng nhiều hơn vào nền kinh tế, dẫn đến sự gia tăng của nợ công Ở các nước đang phát
Trang 2616
triển, sự can thiệp của nhà nước và mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được thực hiện ở nhiều nước Kết quả là nhà nước ngày càng phình to ra Tỉ lệ chi tiêu của nhà nước trên tổng GDP tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn 1960-
1990 (WB, 1997) Tuy nhiên, thành công hạn chế hơn nhiều so với kỳ vọng ban đầu Thất bại của thị trường là cơ sở cho can thiệp của nhà nước Tuy nhiên, không có gì đảm bảo là can thiệp nhà nước tạo ra kết quả tốt Trong nhiều trường hợp, can thiệp nhà nước dẫn đến kết quả tệ hơn Đây được gọi là thất bại nhà nước Một trong các lý do chính cho thất bại nhà nước là nhà nước không hiệu quả, tham nhũng Với một nhà nước như vậy, nếu sử dụng nguồn lực nhiều hơn, can thiệp nhiều hơn thì nền kinh tế càng tệ hại hơn Nói tóm lại, muốn phát triển kinh tế đòi hỏi phải có thị trường hoạt động tốt và một nhà nước hoạt động hiệu quả
Tóm lại, về mặt lý thuyết, nợ công nói chung và ODA nói riêng tác động
cả tích cực lẫn tiêu cực lên tăng trưởng Nhìn chung, khi nợ công ở mức thấp, việc gia tăng nợ công nói chung và ODA nói riêng thì tác động tiêu cực chưa lớn nhưng khi nợ công nói chung và ODA nói riêng ở mức cao thì việc gia tăng
nợ công nói chung và ODA nói riêng có khả năng tác động tiêu cực lên tăng trưởng
2.5 Một số nghiên cứu trước
Nghiên cứu của Burnside và Dollar (1997)
Burnside và Dollar (1997) kiểm tra các mối quan hệ giữa viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế các nước trong giai đoạn bốn năm (1970-93) Mô hình nghiên cứu dựa trên chỉ số của 3 chính sách (trên thặng dư tài chính, lạm phát và mở cửa thương mại), tương tác với viện trợ nước ngoài, và cho cả viện trợ và viện trợ tương tác với chính sách Họ nhận thấy rằng viện trợ có tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển có tài chính tốt, chính sách tiền tệ và thương mại Đối với các chính sách kém, mặt khác viện trợ không có tác động tích cực đến tăng trưởng
Trang 2717
Nghiên cứu Driffiel (2006)
Bài viết này nhằm mục đích nghiên cứu những đóng góp tương đối của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA) và kiều hối của người di cư đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Tác giả sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá tác động vốn có trong các mối quan hệ Bên cạnh đó, tác giả xem xét tầm quan trọng của các tổ chức, không chỉ cho sự phát triển trực tiếp, mà còn là sự tương tác giữa các tổ chức và các nguồn khác của tăng trưởng Tác giả thấy rằng tất cả các nguồn vốn nước ngoài
có tác động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng của các tổ chức khi nhận được
hỗ trợ
Mô hình nghiên cứu được xây dựng với các biến độc lập: ODA, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, Kiều hối (REM) và các biến nguồn lực con người như tăng trưởng dân số POP Kết quả phân tích hồi quy dữ liệu mảng chỉ ra rằng:
Cả 3 nhân tố ODA, FDI và kiều hối đều có tác động lên tăng trưởng kinh tế các nước đang phát triển Trong đó, tác giả thấy rằng ODA lại có tác động ngược chiều lên tăng trưởng GDP còn FDI và kiều hối có tác động cùng chiều (đều ở mức ý nghĩa 5%) (Driffield, 2006)
Nghiên cứu của Chung-Yee Liew, Masoud Rashid Mohamed, Said Seif Mzee (2012)
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng bao gồm POLS, REM và FEM để kiểm tra tác động của viện trợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Phi trong giai đoạn 1985 đến 2010 Kết quả cho thấy viện trợ nước ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của các nước này Điều này đòi hỏi nghiên cứu thêm để điều tra các kênh có thể thông qua đó viện trợ nước ngoài có thể có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng
Nghiên cứu của Veledinah M Joseph (2014)
Trang 2818
Nghiên cứu của Veledinah M Joseph (2014) về “Tác động của viện trợ phát triển chính thức (ODA) đối với tăng trưởng kinh tế ở Kenya” đã chỉ ra các nước đang phát triển thiếu nguồn lực tài chính nên ODA sẽ đảm đương nguồn vốn hỗ trợ trong việc thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo
Nghiên cứu xem xét tác động của ODA đối với tăng trưởng kinh tế ở Kenya Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật lập dự toán VECM và số liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn 1970 - 2012 Mô hình tăng trưởng Solow được sử dụng để thiết lập mối liên hệ giữa lý thuyết và thực nghiệm Những phát hiện thực nghiệm cho thấy một quan hệ nhân quả lâu dài chạy từ các biến giải thích đến tăng trưởng GDP trên đầu người và 66,6% tốc độ điều chỉnh để cân bằng; ngụ
ý rằng 66,6% sự chênh lệch về tăng trưởng GDP bình quân đầu người năm trước được điều chỉnh cho năm hiện tại Kết quả cũng chỉ ra rằng sự mở cửa thương mại và nguồn vốn bên ngoài tư nhân có ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh
tế trong ngắn hạn Nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của tăng trưởng tổng lượng vốn trong nước năm trước đối với tăng trưởng trong ngắn hạn Hệ số ODA không có ý nghĩa thống kê, riêng ODA (-1) là tích cực cho thấy các dòng vốn ODA đến Kenya không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn
Nghiên cứu của Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Ngô Minh Tuấn (2008)
Nghiên cứu của Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Ngô Minh Tuấn (2008) nghiên cứu tại Việt Nam, các tác giả thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của ODA, vốn đầu tư trong nước và tăng trưởng lao động lên GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2006 Kết quả cho thấy đầu tư trong nước có tác động cùng chiều lên GDP bình quân, ODA chỉ có tác động lên GDP bình quân ở mức ý nghĩa 10% và tăng trưởng lao động lại có tác động ngược chiều lên GDP bình quân
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2014)
Trang 2919
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2014) về mối liên hệ giữa nợ công
và tăng trưởng kinh tế Kết quả của ước lượng mô hình cho thấy là nợ công có tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế dài hạn Biến nợ công có ý nghĩa thống
kê ở mức cao, 1% Hệ số hồi qui cho thấy là với các điều kiện khác không đổi, khi tỉ lệ nợ công trên GDP tăng 10% điểm thì tốc độ tăng trưởng giảm đi trung bình là 0,13%/năm Kết quả cũng cho thấy là lạm phát tác động tiêu cực lên tăng trưởng và tác động này có ý nghĩa thống kê Hệ số hồi qui cho thấy là với các điều kiện khác không đổi, khi lạm phát tăng 10% điểm thì tốc độ tăng trưởng giảm đi trung bình là 0,41%/năm Như vậy có thể kết luận là nợ công tác động tiêu cực lên tăng trưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua lạm phát cao
Các biến kiểm soát như thu nhập bình quân đầu người ban đầu, tỉ lệ đầu
tư, dân số, chỉ số hiệu quả chính quyền đều có tác động ở mức có ý nghĩa thống
kê lên tăng trưởng Biến thu nhập bình quân đầu người ban đầu có tác động âm cho thấy là, với các điều kiện khác không đổi, tốc độ tăng trưởng của mỗi quốc gia có xu hướng giảm khi mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao lên Biến đầu tư có tác động dương, có nghĩa là, với các điều kiện khác không đổi,
tỉ lệ đầu tư trên GDP tăng lên thì tốc độ tăng trưởng cao hơn Biến dân số có tác động âm, có nghĩa là, với các điều kiện khác không đổi, khi giá trị biến này tăng lên thì tăng trưởng giảm xuống Biến hiệu quả chính quyền có tác động dương,
có nghĩa là, với các điều kiện khác không đổi, khi hiệu quả chính quyền tăng lên thì tốc độ tăng trưởng cao hơn Nhìn chung, các kết quả trên phù hợp với lý thuyết và các nghiên cứu trước Riêng biến giáo dục không có ý nghĩa thôhg kê Điều này cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Knack và Keefer (1995), Mauro (1995) Lý do được giải thích là các chỉ số đo lường vốn con người hiện nay còn nhiều khiếm khuyết, đồng thời chỉ thiên về số lượng mà không phản ảnh được chất lượng giáo dục
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Anh (2015)
Trang 3020
Trong nghiên cứu này nhằm lượng hóa ảnh hưởng của ODA lên GDP
bình quân đầu người cho vùng nghiên cứu 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai
Châu Tác giả sử dụng mô hình hồi quy bội nhằm xem xét riêng cho từng tỉnh
và dữ liệu bảng xem xét đánh giá chung cho cả 3 tỉnh
Để đưa ra mô hình tổng quát đánh giá chung cho cả 3 tỉnh, tác giả tiến
hành sử dụng mô hình dữ liệu mảng để xem xét mối quan hệ chung của ODA,
VDTTN, LD15 vào GDPBQ của cả khu vực Tây Bắc, đồng thời xem xét đến
độ trễ 1 năm của các biến độc lập
Dữ liệu nghiên cứu sau khi thu thập sẽ được cho vào phần mềm STATA
để phân tích bao gồm các bước phân tích như trên (đối với từng tỉnh) Đối với
dữ liệu mảng (là sự kết hợp giữa dữ liệu chuỗi thời gian từ 1993 đến 2013 và
sắp xếp cùng lúc cho 3 tỉnh về không gian)
Ở mức ý nghĩa R2=0,8658 cho thấy ODA(-1); VDTTN và LD15(-1) giải
thích được 86,58% sự thay đổi của GDP bình quân đầu người của cả khu vực 3
tỉnh là Lai Châu, Điện Biên và Sơn La Trong đó, riêng ODA (-1) có ý nghĩa ở
mức 5% còn VDTTN và LD15(-1) có ý nghĩa ở mức 10%
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước
Tác giả Nội dung Biến số sử dụng Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu nước ngoài
Burnside
và Dollar
(1997)
Đánh giá tác động của viện trợ, chính sách đối với tăng trưởng kinh tế
- Thặng dư tài chính
- Lạm phát
- Mở cửa thương mại
Kết quả nghiên cứu viện trợ có tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển có tài chính tốt, chính sách tiền tệ và thương mại
Trang 31- FDI, POP và kiêu hối
có tác động cùng chiều tăng trưởng GDP
- Nguồn vốn đầu tư
Veledinah
M Joseph
(2014)
Xem xét tác động của ODA đối với tăng trưởng kinh tế ở Kenya
- Vốn đầu tư trong nước
- Sự mở cửa thương mại
và nguồn vốn bên ngoài
tư nhân có ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn
- Hệ số ODA không có
ý nghĩa thống kê, riêng ODA (-1) là tích cực cho thấy các dòng vốn ODA đến Kenya không thúc
Trang 32tư trong nước và tăng trưởng lao động lên GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn từ năm 1993 đến năm
2006
- Đầu tư trong nước
- ODA
- Tăng trưởng lao động
- Đầu tư trong nước có tác động cùng chiều lên GDP bình quân
- ODA chỉ có tác động lên GDP bình quân ở mức ý nghĩa 10%
- Tăng trưởng lao động lại có tác động ngược chiều lên GDP bình quân
- Tổng đầu tư nội địa
- Phần trăm dân số trên
15 tuổi tốt nghiệp cấp hai
- Lạm phát
- Tốc độ tăng dân số hằng năm
- GE
- Chỉ số hiệu quả chính quyền
Kết quả của ưóc lượng
mô hình cho thấy là nợ công có tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh
tế dài hạn Kết quả cũng cho thấy là lạm phát tác động tiêu cực lên tăng trưởng và tác động này
có ý nghĩa thống kê
Trang 33Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2017
Tóm tắt chương 2
Chương này đã trình bày toàn bộ cơ sở lý thuyết được sử dụng trong phân
tích nghiên cứu về mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó,
các phương pháp và kết quả của các nghiên cứu trước đây đã được lược khảo
để làm rõ vấn đề nghiên cứu đây là cơ sở để xây dựng mô hình đo lường mức
độ tác động của ODA và tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh vùng Duyên hải miền
Trung
Trang 3424
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, trình tự nghiên cứu, phương pháp phân tích và đo lường các khái niệm nghiên cứu, xây dựng thang đo
3.1 Mô hình nghiên cứu
Mục tiêu của mô hình này là nhằm lý giải tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung Xuất phát từ ý tưởng mô hình của các nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước, đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tế tổng các nguồn vốn để phục vụ phát triển kinh tế
xã hội ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung bao gồm: Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), vốn ODA, số lao động (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước (CHI_TX), Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai (GD), Lạm phát (LP)
Vì vậy, mô hình tác giả đưa ra sẽ tham khảo mô hình nghiên cứu của các tác giả: Burnside và Dollar (1997), Driffield năm 2006, Lê Xuân Bá và cộng sự năm 2008, Nguyễn Văn Phúc (2014), Nguyễn Thị Lan Anh (2015) với các biến quan trọng trong mô hình nghiên cứu gồm: tỷ lệ tăng trưởng GDP (ΔGDP), ODA, Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15 tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX), Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai (GD), Lạm phát (LP) Cụ thể, mô hình kiểm định nhân tố được áp dụng là:
ΔGDP = β 0 + β 1 *ODA + β 2 *TVDT + β 3 *LAODONG + β 4 *CHI_TX +
β 5 *GD + β 6 *LP + e
Cụ thể, các biến độc lập và phụ thuộc được giải thích như sau:
Biến số phụ thuộc
Trang 35 ODA
Đây là biến đại diện cho vốn hỗ trợ phát triển chính thức nên có tương quan với nền kinh tế của quốc gia nói chung và các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung Ở Việt Nam viện trợ nước ngoài là một hình thức chủ yếu của vốn nước ngoài và có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế của đất nước đặc biệt là các khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung
Nghiên cứu Chenery và Strout (1996) trên cơ sở thực nghiệm ở các nước kém phát triển rằng vốn nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế Và một số nghiên cứu khác cũng cho rằng sự hỗ trợ kinh tế nước ngoài kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên một số nhà kinh tế khác như Leff (1969)
và Griffin (1970) đã phân tích tác động tiêu cực của vốn nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng viện trợ nước ngoài tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế bằng cách thay thế tiết kiệm trong nước Vì vậy các tài liệu về hiệu quả viện trợ nước ngoài có cả 2 tác động vừa tích cực vừa tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Hasen và Tarp (2000) chạy mô hình hồi quy giữa viện trợ và tăng trưởng, kết quả thể hiện viện trợ làm tăng tốc độ tăng trưởng trên điều kiện có chính sách tốt Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Ngô Minh Tuấn (2008), nghiên cứu Nguyễn Thị Lan Anh (2015) cho kết quả tác động dương giữa ODA và tăng trưởng kinh tế Theo kỳ vọng, dấu của ODA và ODA/GDP sẽ dương trong mô hình hồi quy này
Trang 3626
Tổng vốn đầu tư từng tỉnh (TVDT)
Tổng vốn đầu tư từng tỉnh (TVDT) (tỷ đồng) bao gồm tổng Vốn nhà nước, Vốn tư nhân và nước ngoài FDI vào từng tỉnh là một trong những yếu tố cấu thành GDP nên tác giả kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế cho các tỉnh Duyên Hải miền Trung Nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (2015) cho thấy vốn đầu tư có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực Tây Bắc Theo kỳ vọng, dấu của TVDT sẽ dương trong
mô hình hồi quy này
Lao động trên 15 tuổi (LAODONG)
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong nền kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (nghìn người) Nguồn dữ liệu về Lực lượng lao động từ
15 tuổi trở lên được lấy từ thống kê của Tổng cục Thống kê tại Niên giám Thống
kê (2016), Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu
Phương trình hạch toán tăng trưởng kinh tế của Solow (1956), lao động (L) là một trong những yếu đầu vào quan trọng cấu thành sản lượng của nền kinh tế; tác giả kỳ vọng khi lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong nền kinh
tế gia tăng 1% sẽ thúc kinh tế địa phương tăng trưởng theo
Theo hầu hết các kết quả của nghiên trước như Driffiel (2006), Yee Liew, Masoud Rashid Mohamed, Said Seif Mzee (2012), Nguyễn Thị Lan Anh (2015) cho thấy lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Lực lượng lao động mà quan trọng nhất là tri thức, kỹ năng của người lao động được xem là chìa khóa thúc đẩy việc tăng trưởng kinh tế Theo
Chung-kỳ vọng, dấu của LAODONG sẽ dương trong mô hình hồi quy này
Chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX)
Trang 3727
Chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (đơn vị tính: tỷ đồng),
là các khoản chi tiêu phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước Với xu thế phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước ngày càng gia tăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng
Chung-Yee Liew, Masoud Rashid Mohamed, Said Seif Mzee (2012), chi thường xuyên của khu vực nhà nước tác động tích cực tới tăng trưởng Ở nhiều quốc gia cho thấy đây là tác động qua lại theo một chu kỳ nhanh dần: chi tiêu tăng lên tại những khu vực đem lại hiệu quả cao sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Nhưng đồng thời tăng trưởng kinh tế nhanh hơn cũng làm cho nhiều nhà đầu tư mới nhận ra họ có thể thu được lợi nhuận tiềm tàng
và chính điều đó làm tăng đầu tư trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh
Ở Việt Nam, Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Ngô Minh Tuấn (2008) cho thấy tác động tiêu cực của chi tiêu đầu tư phát triển của địa phương với tăng trưởng kinh tế Qua đó có thể thấy được sự chi tiêu chưa hợp lý dẫn đến kém tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên với nghiên cứu này tác giả kỳ vọng hệ số hồi quy
có dấu (+) và có ý nghĩa thống kê, nghĩa là khi CHI_TX tại các địa phương tăng 1% sẽ thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởng
Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai (GD)
Vốn con người phản ánh trình độ của lực lượng lao động, được hình thành qua nhiều kênh khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là qua kênh giáo dục Biến GD được đại diện bởi phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai Nghiên cứu của Barro (1998) tìm ra mối tương quan dương xác định giữa tăng trưởng với số năm đi học trung bình ban đầu ở bậc trung học và cao hơn của nam giới Trong
Trang 3828
nghiên cứu của Bleaney và Nishiyama (2002), hệ số về giáo dục của nam giới
và tuổi thọ kỳ vọng đều có mối tương quan dương và có ý nghĩa về mặt thống
kê Theo dự đoán, Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai (GD) được
dự báo sẽ có tác động dương tới tốc độ tăng trưởng
Lạm phát (LP)
Lạm phát đại diện cho sự ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia và được
đo bằng sự thay đổi trong tỷ lệ giảm phát GDP hằng năm Ổn định kinh tế vĩ
mô được định nghĩa với lạm phát thấp Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc (2014) tác động tiêu cực lên tăng trưởng và tác động này có ý nghĩa thống kê
Vì vậy lạm phát được dự báo sẽ có tác động âm tới tốc độ tăng trưởng kinh tế
Ý nghĩa và kỳ vọng các biến được thể hiện tóm tắt trong bản sau:
Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình
Số liệu thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Duyên hải miền Trung
+
Trang 39+
CHI_TX Chi thường xuyên của
khu vực nhà nước từng tỉnh
Số liệu thống kê của Tổng cục thống kê
+
GD Phần trăm dân số trên
15 tuổi tốt nghiệp cấp hai
Tính toán từ số liệu thống kê của Cục Thống kê các tỉnh Duyên hải miền Trung
+
LP Lạm phát Số liệu thống kê của Cục
Thống kê
-
3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Do đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu (dữ liệu thương mại của một tỉnh) nên việc thu thập dữ liệu sơ cấp khó có thể thực hiện được Bởi vậy, dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu đã công bố - còn gọi là dữ liệu thứ cấp
Nguồn số liệu về ODA được lấy từ Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh Duyên hải miền Trung; Số liệu về Vốn đầu tư, Lao động 15 tuổi trở lên, Chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh, Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp hai từng tỉnh, Lạm phát từng tỉnh được lấy và tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê và Cục Thống kê các tỉnh Duyên hải miền Trung; Số liệu được tập hợp theo năm từ năm 1993 đến năm 2016
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu sử dụng để nghiên cứu là pháp định lượng
3.3.1 Xử lý dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Excel để xử lý dữ liệu cơ bản để tính toán
và tạo ra giá trị của những biến số cần phân tích trong mô hình Từ đó xây dựng
Trang 4030
một bảng dữ liệu thông qua việc kết hợp các chuỗi dữ liệu theo thời gian (từ
1993 – 2016) của các quan sát theo không gian
Những ưu điểm của việc sử dụng dữ liệu bảng trong ước lượng, theo Gujarati (2004) như sau:
Dữ liệu bảng liên kết các đối tượng cá thể (các công ty, các quốc gia,…) theo thời gian, nên có sự không đồng nhất (heterogeneity) giữa các cá thể này
Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có thể xem xét đến sự không đồng nhất này bằng cách đưa vào những biến số đặc trưng riêng của từng cá thể nghiên cứu
Bằng việc kết hợp những chuỗi quan sát theo thời gian và không gian,
dữ liệu bảng hạn chế dược hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến số độc lập, bậc tự do được tăng thêm và hiệu quả hơn
Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường một cách tốt hơn sự tác động không thể quan sát được theo dữ liệu chỉ theo thời gian hoặc chỉ theo không gian thuần túy, tránh được phần nào việc bỏ sót các biến số có ý nghĩa trong mô hình
Dữ liệu bảng có thể tối thiểu hóa độ chệch (bias) có thể phát sinh nếu chúng ta kết hợp các cá thể thành nhóm
Thống kê mô tả bằng phần mềm chuyên dụng STATA 12 được sử dụng
để mô tả đặc trưng dữ liệu nghiên cứu thông qua các giá trị của các biến số trong
mô hình
Nghiên cứu sử dụng phần mềm chuyên dụng STATA 12 để tạo lập ma trận hồi quy tương quan và ước lượng hồi quy
3.3.2 Phương pháp ước lượng hồi quy
Đối với dữ liệu bảng, có rất nhiều phương pháp để ước lượng hồi quy cho mô hình nghiên cứu Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm