1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu sự khác biệt thu nhập giữa hộ nông dân với hộ ngƣ dân trên địa bàn tỉnh bình thuận

126 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài "Nghiên cứu sự khác biệt thu nhập giữa hộ nông dân với hộ ngƣ dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận"nhằm xác định và đo lường các yếu tố tác động thu nhập của hộ gia đình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-HUỲNH VĂN HÙNG

NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT THU NHẬP GIỮA

HỘ NÔNG DÂN VỚI HỘ NGƯ DÂN TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn: "Nghiên cứu sự khác biệt thu nhập giữa hộ

nông dân với hộ ngƣ dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận" là bài nghiên cứu của

chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, 2017

Huỳnh Văn Hùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, với sự giảng dạy, giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy, Cô, sự hỗ trợ của các

sở, ban, ngành tỉnh Bình Thuận và các bạn học viên lớp Cao học kinh tế học khóa 6,

tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài:"Nghiên cứu sự khác biệt thu nhập

giữa hộ nông dân với hộ ngƣ dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận"

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quan trọng trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và kính trọng nhất đến PGS.TS.Đinh Phi Hổ đã hết lòng giảng dạy, chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo UBND tỉnh Bình Thuận, Lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh Bình Thuận, Lãnh đạo Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận, Lãnh đạo Ban Nội chính Tỉnh ủy Bình Thuận, Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận đã tạo điều kiện cho tôi tham gia lớp học; cảm ơn Lãnh đạo, các Chuyên viên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận,Chi cục Thống kê thành phố Phan Thiết, UBND các phường, xã, các hộ sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản trên địa bànthành phố Phan Thiết, thị xã La Gi, huyện Hàm Thuận Namđã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu phục

vụ cho nghiên cứu này, góp phần quan trọng trong việc hoàn thành đề tài này

Xin cảm ơn giáo viên phụ trách lớp, các anh, chị học viên cao học của Trường đã hỗ trợ, chia sẽ những kinh nghiệm, kiến thức trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ và

hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này./

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017

Người thực hiện

Huỳnh Văn Hùng

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài "Nghiên cứu sự khác biệt thu nhập giữa hộ nông dân với hộ ngƣ

dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận"nhằm xác định và đo lường các yếu tố tác động

thu nhập của hộ gia đình nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; tìm ra

sự khác biệt thu nhập giữa hai nhóm hộ gia đình này, trên cơ sở đó, đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập của hộ ngư dân và hộ nông dân góp phần phát triển bộ mặt nông thôn và vùng ven biển tương xứng với tiềm năng

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.Kỹ thuật thảo luận nhóm, phỏng vấn ý kiến chuyên gia được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đưa ra mô hình nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình làm nông, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trên địa bàn nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo danh sách đã được biết trước, với kích thước mẫu hợp lệ là 300 quan sát (150 quan sát đối với hộ nông dân và 150 quan sát đối với hộ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản) Dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê

mô tả, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến và sử dụng kỹ thuâ ̣t phân rã Oaxaca - Blinder cho mô hình tuyến tính để tìm ra sự khác biệt thu nhập của hộ từ việc sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, thanh long…) và thu nhập của hộ từ việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản

Qua phân tích đã tiến hành nghiên cứu 10 yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ ngư dân và hộ nông dân, xây dựng mô hình hồi quy 11 biến, trong

đó có 10 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc Với sự trợ giúp của phần mềm SPSS, kết quả hồi quy cho thấy:

Thu nhập của thu nhập của hộ ngư dân chịu tác động bởi 7 yếu tố: QUYMOHO, PHUTHUOC, KNGHIEM, KTHUCSX, VAY, DIENTICH, MAYMO Thu nhập của hộ nông dân chịu tác động bởi 4 yếu tố: HVAN, KNGHIEM, MAYMOC, DADANG

Trang 5

Bằng phương pháp phân tích phân rã cho thấy 44% khoảng cách thu nhập giữ hộ ngư dân và hộ nông dân đươ ̣c giải thích bởi các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu 56% của khoảng cách thu nhập giữa hộ nông dân và hộ ngư dân là không thể giải thích

Qua kết quả nghiên cứu, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cho

hộ gia đình, chính quyền địa phương tham khảo để có những giải pháp cụ thể và khả thi nhằm cải thiện thu nhập cho hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và hộ gia nuôi trồng, đánh bắt thủy sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, làm giảm sự khác biệt trong thu nhập của hai nhóm hộ,góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1Lý do nghiên cứu 1

1.2Vấn đề nghiên cứu 2

1.3Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5Đối tượng nghiên cứu 3

1.6Phạm vi nghiên cứu 3

1.7Phương pháp nghiên cứu 4

1.8Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 5

1.9Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1Các khái niệm 7

2.1.1Hộ gia đình 7

2.1.2Thu nhập hộ gia đình 8

2.2Các lý thuyết có liên quan 9

2.2.1Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp 9

2.2.2Lý thuyết về thu nhập 10

2.3Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình và sự khác biệt thu nhập của các nhóm hộ gia đình nông nghiệp và ngư nghiệp 12

2.3.1Các yếu tố liên quan đến chủ hộ 12

2.3.2Các yếu tố liên quan đến hộ gia đình 14

2.4Tổng quan các nghiên cứu trước 17

2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước 17

2.4.2 Các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam 17

Trang 7

2.5Sự giống và khác nhau giữa nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước 22

2.6Tổng quan địa bàn nghiên cứu 22

2.7Mô hình nghiên cứu đề xuất 30

2.8Tóm tắt chương 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1Quy trình nghiên cứu 33

3.2Phương pháp nghiên cứu 36

3.3Mô hình nghiên cứu 37

3.4Phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder 44

3.5Dữ liệu nghiên cứu 46

3.5.1 Nguồn dữ liệu thu thập 46

3.5.2 Phương pháp chọn mẫu và xác định kích thước mẫu 46

3.5.3 Mẫu nghiên cứu 47

3.5.4 Phương pháp phân tích số liệu 48

3.6Tóm tắt chương 3 48

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

4.1Kết quả nghiên cứu định lượng 49

4.1.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 49

4.1.2 Phân tích tương quan và phân tích hồi quy mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ ngư dân 62

4.1.3 Phân tích tương quan và phân tích hồi quy mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân 69

4.2Sự khác biệt thu nhập của hộ ngư dân và thu nhập của hộ nông dân 78

4.2.1 Ước lượng thu nhập trung bình của hộ ngư dân và thu nhập của hộ nông dân 78

4.2.2 Sự đóng góp của mỗi biến đối với sự khác biệt về thu nhập giữa hộ ngư dân và hộ nông dân 80

4.3Tóm tắt chương 4 82

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

Trang 8

5.1Kết luận 83

5.2Đóng góp của luận văn 84

5.3Kiến nghị 84

5.4Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 93

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Các xã, phường trong vùng nghiên cứu 4

Bảng 2.1 Diện tích trồng thanh long ở tỉnh Bình Thuận qua các năm 2012-2016 26

Bảng 2.2 Diện tích gieo trồng và sản lượng lúa ở tỉnh Bình Thuận qua các năm 2012-2016 27

Bảng 2.3 Sản lượng đánh bắt, nuôi trồng qua các năm 2010-2016 30

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến trong mô hình và cơ sở chọn biến 38

Bảng 3.2: Mẫu nghiên cứu 47

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ ngư dân 49

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân 50

Bảng 4.3: Quan hệ giữa thu nhập theo giới tính của chủ hộ ngư dân 51

Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa thu nhập theo giới tính của chủ hộ nông dân 52

Bảng 4.5: Mối quan hệ giữa thu nhập theo trình độ học vấn của chủ hộ ngư dân 52

Bảng 4.6: Mối quan hệ giữa thu nhập theo trình độ học vấn của chủ hộ nông dân 53

Bảng 4.7: Mối quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với kinh nghiệm của chủ hộ 54

Bảng 4.8: Mối quan hệ giữa thu nhập hộ nông dân với kinh nghiệm của chủ hộ 54

Bảng 4.9: Quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với quy mô hộ 55

Bảng 4.10: Quan hệ giữa thu nhập hộ nông dân với quy mô hộ 55

Bảng 4.11: Mối quan hệ giữa thu nhập của hộ dân ngư dân với số người phụ thuộc của hộ 56

Bảng 4.12: Mối quan hệ giữa thu nhập của hộ nông dân với số người phụ thuộc của hộ 56

Bảng 4.13: Quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với quy mô diện tích đất canh tác của hộ 57

Bảng 4.14: Quan hệ giữa thu nhập nông dân với quy mô diện tích đất canh tác của hộ 57

Trang 10

Bảng 4.15: Quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với thành phần Giá trị đầu tư máy

móc thiết bị 58

Bảng 4.16: Mối quan hệ giữa thu nhập nông dân theo Giá trị đầu tư máy móc thiết bị 58

Bảng 4.17: Quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với Đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập 59

Bảng 4.18: Quan hệ giữa thu nhập nông dân với Đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập 59

Bảng 4.19: Quan hệ giữa thu nhập hộ ngư dân với việc vay vốn từ các định chế chính thức 60

Bảng 4.20: Quan hệ giữa thu nhập với việc vay vốn từ các định chế chính thức 60

Bảng 4.21: Quan hệ giữa thu nhập của chủ hộ ngư dân với kiến thức sản xuất 61

Bảng 4.22: Quan hệ giữa thu nhập hộ nông dân với kiến thức khuyến nông 62

Bảng 4.23: Hệ số tương quan (Hộ ngư dân) 63

Bảng 4.24: Bảng kiểm tra hệ số VIF (Hộ ngư dân) 64

Bảng 4.25: Chỉ số R2 hiệu chỉnh của mô hình (Hộ ngư dân) 65

Bảng 4.26: ANOVA (Hộ ngư dân) 65

Bảng 4.27: Kết quả hồi quy của mô hình (Hộ ngư dân) 66

Bảng 4.28: Hệ số tương quan (Hộ nông dân) 70

Bảng 4.29: Bảng kiểm tra hệ số VIF (Hộ nông dân) 71

Bảng 4.30: Chỉ số R2 hiệu chỉnh của mô hình (Hộ nông dân) 71

Bảng 4.31: ANOVA (Hộ nông dân) 72

Bảng 4.32: Kết quả hồi quy của mô hình (Hộ nông dân) 72

Bảng 4.33: So sánh mức độ tác động của các biến trong mô hình thu nhập của hộ ngư dân và mô hình thu nhập của hộ nông dân 77

Bảng 4.34: So sánh giá trị trung bình của hộ ngư dân và nông dân 78

Bảng 4.35: Ước lượng thu nhập của hộ ngư dân và thu nhập của hộ nông dân và sự khác biệt giữa 2 nhóm sau khi hồi quy 79

Trang 11

Bảng 4.36: Sự khác biệt thu nhập giữa hộ ngư dân và hộ nông dân do các biến tạo ra 80 Bảng 4.37: Sự khác biệt thu nhập do hệ số hồi quy được ước lượng và do sự phân biệt đối xử giữa ngư dân và hộ nông dân 81

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận 23 Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân 31 Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 35

Trang 14

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Nội dung chương mở đầu sẽ trình bày tổng quan về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và kết cấu luận văn

1.1 Lý do nghiên cứu

Sau gần 30 năm đổi mới, trong thành quả chung về tăng trưởng kinh tế của đất nước và của địa phương, đời sống nông dân, ngư dântrên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã được cải thiện Hộ sản xuất nông lâm thủy sản trong tỉnh từ chỗ khó khăn trong từng bữa ăn, nay đã dư thừa lương thực để xuất khẩu, nhiều hộ nông dân trước đây sống trong cảnh “nhà tranh, mái lá” nay đã “ngói hóa” và “nhà tầng hóa”; người nông dân chủ yếu sản xuất cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, nay đã vươn ra thị trường nước ngoài Về cơ bản, thu nhập của đại bộ phận cư dân nông thôn tiếp tục được cải thiện, kể cả hộ dân ở vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định xã hội

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, thu nhập bình quân/hộ/tháng năm 2013 của hộ nông lâm nghiệp đạt 9,135 triệu đồng/tháng, thu nhập bình quân 1 người/tháng đạt 2,099 triệu đồng (năm 2010: 0,993 triệu đồng); của hộ thủy sản đạt 10,458 triệu đồng/tháng, thu nhập bình quân 1 người/tháng đạt 2,113 triệu đồng (năm 2010: 1,633 triệu đồng) So với năm 2010, thu nhập hộ gia đình nông lâm thủy sản tăng, tuy nhiên, mức thu nhập đạt thấp so với mức trung bình của các ngành nghề khác Điều này cũng cho thấy hộ hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản vẫn còn khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô đầu tư của Nhà nước

Trong những năm qua, nét nổi bật trong đầu tư, phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh Bình Thuận tiếp tục phát triển theo hướng nâng chất lượng, hiệu quả Các công trình thủy lợi được tập trung đầu tư và nâng cấp, nhờ đó diện tích tưới chủ động tiếp tục được mở rộng, tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ, hệ số sử dụng đất được nâng lên, góp phần hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất Kinh tế

Trang 15

thủy sản tiếp tục phát triển theo hướng coi trọng chất lượng Lượng tàu thuyền công suất lớn khai thác xa bờ gắn với các dịch vụ nghề cá trên biển tiếp tục tăng; lợi thế nuôi trồng thủy sản tiếp tục duy trì, phát triển Nhìn chung, đầu tư trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và ngư nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với các lĩnh vực khác, nhưng thu nhập bình quân hộ nông dân, hộ ngư dân vẫn còn thấp, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao.Số hộ nông dân trồng lúa chuyển diện tích sang trồng thanh long ngày càng phổ biến, diện tích nuôi trồng thủy sản ngày càng thu hẹp; số hộ nuôi trồng thủy sản có xu hướng chuyển đổi sang trồng thanh long hoặc bỏ hoang đất để làm nghề nghiệp khác ngày càng nhiều… Để có sự phân tích, đánh giá về vấn đề

này, tác giả chọn đề tài "Nghiên cứu sự khác biệt thu nhập giữa hộ nông dân với

hộ ngƣ dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận" làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên

ngành kinh tế học

1.2 Vấn đề nghiên cứu

Bình Thuận là một trong 3 ngư trường lớn nhất trong cả nước, nguồn lợi hải sản rất phong phú.Các sản phẩm lợi thế trong nông nghiệp như thanh long, sản xuất tôm giống, khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản là tiềm năng lớn để tăng thu nhập cho hộ sản xuất và là cơ hội làm giàu chính đáng cho người dân Tuy nhiên, đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp trong những năm qua vẫn còn khó khăn, thu nhập bấp bênh

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020, trong đó nâng cao thu nhập của hộ gia đình nông thôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm phải tập trung lãnh đạo thực hiện ở từng địa phương Đầu tư tàu thuyền đánh bắt xa bờ, nâng cao chất lượng con giống, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng là một trong những giải pháp giúp người nông dân, ngư dân nâng cao thu nhập

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định và đo lường các yếu tố tác động thu nhập của hộ gia đình nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; so sánh thu nhập giữa hai nhóm hộ gia đình này, trên cơ sở đó, đề xuất một số gợi ý chính sách

Trang 16

nhằm nâng cao thu nhập của hộ ngư dân và hộ nông dân góp phần phát triển bộ mặt nông thôn và vùng ven biển tương xứng với tiềm năng Cụ thể:

- Xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận;Điều chỉnh thang đo dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu (thu nhập và các yếu tố tác động đến thu nhập);

- Chứng minh có sự khác biệt trong thu nhập của hộ ngư dân và hộ nông dân;

- Đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập của hộ ngư dân và hộ nông dân

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra ở trên thì đề tài cần trả lời được những câu hỏi sau đây:

- Thu nhập của hộ gia đình nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận chịu tác động bởi những yếu tố nào?

- Có sự khác biệt trong thu nhập giữa hộ nông dân (trồng lúa, thanh long…) với hộ ngư dân?

- Chính sách nào là cần thiết để nâng cao thu nhập của các hộ nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận?

1.5 Đối tƣợng nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ

nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

- Về đối tượng khảo sát: các hộ gia đình nông dân và ngư dân trên địa bàn

các địa phương ven biển trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

1.6 Phạm vinghiên cứu

Đề tài thực hiện khảo sát đối tượng nghiên cứu tại các khu vực ven biển trên địa bàn tỉnh.Cụ thể:

Trang 17

Bảng 1.1: Các xã, phường trong vùng nghiên cứu Huyện, thị,

La Gi

Hàm Thuận

Nam

(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2016)

1.7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu ban đầu và nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu ban đầu được thực hiện thông qua phương pháp định tính Phỏng vấn ý kiến chuyên gia nhằm giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, làm căn cứ đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức và thiết kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp điều tra trực tiếp các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu qua bảng câu hỏi được thiết kế trước, để tạo lập dữ liệu sơ cấp.Từ đó tiến hành tổng hợp phân tích trên nền tảng thống kê mô tả,

mô hình hồi quy đa biến dưới sự hỗ trợ của phần mềm Excel và SPSS Sử dụng phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder (1973) để tìm ra sự khác biệt thu nhập của

hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân

Trang 18

1.8 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

- Đề tài xác định được các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ nông dân và ngư dân trên địa bàn tỉnh; thực hiện điều chỉnh thang đo dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu

- Đề tài đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập của các

hộ gia đình này

- Vận dụng các kiến thức về kinh tế học như kinh tế nông nghiệp, kinh tế phát triển và các mô hình kinh tế lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân và hộ ngư dân tại địa phương nghiên cứu Trên cơ sở đó tìm

ra được nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh và nhân tố nào ảnh hưởng ít đến biến phụ thuộc; các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt thu nhập của hộ từ việc sản xuất nông nghiệp so với thu nhập của của hộ từ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản Từ đó đưa

ra những gợi ý chính sách, giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của từng nhóm hộ; đồng thờilàm giảm sự khác biệt trong thu nhập của hai nhóm hộ này

1.9 Kết cấu của luận văn

Đề tài nghiên cứu được trình bày trong 5 chương, bao gồm cả chương mở đầu và chương kết luận và gợi ý chính sách Cụ thể như sau:

Chương 1: Mở đầu

Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do nghiên cứu, vấn

đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến chi phí, thu nhập Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.Cơ sở thực tiễn từ tổng quan điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp của địa bàn nghiên cứu.Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân

Chương 3:Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và những đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình

Trang 19

nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu.Trình bày kỹ thuật phân rã theo phương pháp phân rã Oxaca – Blinder để làm cơ sở khoa học phân tích sự khác biệt thu nhập của hộ trong việc sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, thanh long…) so với thu nhập của hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân; so sánh sự khác biệt thu nhập của hộ từ việc sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hộ từ việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản

Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị chính sách

Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, từ đó gợi ý chính sách đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân Đồng thời cũng nêu ra những hạn chế

của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 20

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về hộ gia đình, lý thuyết về chi phí, thu nhập Nêu lại các luận cứ khoa học, tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài; trên cơ sở đó xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của hai nhóm hộ nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Hộ gia đình

Haviland (2003), hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể

có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai

Vậy, hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động đã được thiết lập từ trước.Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình khi các thành viên trong hộ

có cùng chung một cơ sở kinh tế

Hộ nông dân: Hộ nông dân chủ yếu sống theo từng thôn, làng và lao động

sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Thu nhập của hộ nông dân chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, dịch vụ v.v

Hộ ngư dân: Hộ ngư dân thường sống tập trung thành từng thôn, làng trải dài

ở ven sông hoặc ven bờ biển Lao động sản xuất, thu nhập chủ yếu bằng nghề khai thác, đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ thuỷ hải sản

Trang 21

2.1.2 Thu nhập hộ gia đình

Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau:

- Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập

- Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

Singh and Strauss (1986) cho rằng: Thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập

từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp

Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa cụ thể hơn: Thu nhập của hộ là toàn

bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định

Đinh Phi Hổ (2014)nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi (sau khi đã trừ đi chi phí); từ hoạt động phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí); từ tiền công, tiền lương; và các khoản thu khác (quà tặng, lãi tiết kiệm, tiền cho thuê nhà, lương hưu, trợ cấp,…)

 Khái niệm thu nhập của nông dân

Có thể xem “Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình để sản xuất và thường nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” Nói cách khác, kinh tế hộ gia đình được hiểu ở các khía cạnh, thứ nhất là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế, các nguồn lực được góp thành vốn chung và cùng chung ngân sách, cùng sống chung trong một mái nhà, các thành viên đều có quyền và nghĩa vụ trong gia đình; thứ hai, các thành viên của gia đình đều có mối quan hệ

họ hàng và cùng chung huyết thống và phụ thuộc thểo quan điểm của mỗi xã hội

Trang 22

Thu nhập của hộ nông dân được tích luỹ từ các nguồn chính:Trồng trọt;Chăn nuôi;Thuỷ hải sản;Lâm nghiệp;v.v

 Khái niệm thu nhập của ngư dân

Thu nhập của hộ gia đình ngư dân mang lại chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuỷ hải sản bao gồm: Khai thác, đánh bắt; nuôi trồng và dịch vụ trong ngành thuỷ hải sản

Thu nhập mang lại từ lĩnh vực sản xuất – dịch vụ khác của hộ gia đình ngư dân là thứ yếu hoặc không đáng kể trong tổng thu nhập của hộ gia đình

Trong nghiên cứu này, nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ trồng trọt, nuôi trồng, khai thác và đánh bắt thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí); từ tiền công, tiền lương; và các khoản thu khác trong một năm

2.2 Các lý thuyết có liên quan

2.2.1 Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp

Mô hình David Colman (1994) chỉ ra rằng trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường có ý nghĩa sống còn đối với mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh, mỗi nhà sản xuất Bởi vì trong kinh tế thị trường nhà sản xuất cung cấp hàng hóa và dịch vụ, bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mình có vì mục tiêu lợi nhuận Do vậy, đòi hỏi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà sản xuất phải trả lời đúng, chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế đó là sản xuất kinh doanh cái gì? Sản

Qi

Trang 23

xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Có như vậy, cơ sở sản xuất kinh doanh mới có thể thu được kết quả và có hiệu quả kinh tế cao, mới tồn tại và đứng vững trên thương trường Như vậy, trước khi quyết định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỷ thị trường và nắm vững dung lượng thị trường, nhu cầu thị trường

Mô hình Ricardo (1823) cho rằng giới hạn của đất làm cho lợi nhuận của người sản xuất có hướng giảm và giới hạn của đất làm cho năng suất lao động nông nghiệp thấp Mô hình cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tài nguyên đất nông nghiệp

Mô hình của Kaldor (1961) cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển

kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ Mô hình Kaldor cho thấy trong nông nghiệp, nhất là những nước đang phát triển cần chú ý phát triển kỹ thuật, đưa phương tiện cơ giới hóa vào canh tác để tăng năng suất cây trồng

2.2.2 Lý thuyết về thu nhập

Kartunen (2009), cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình là nguồn lực vốn con người, nhân khẩu, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, số người phụ thuộc Bên cạnh đóMankiw (2003), cho rằng sự khác biệt trong thu nhập giữa các nước chính là do khác biệt về năng suất lao động Cùng quan điểm Barker (2002), cho rằng năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất đất (Giá trị tổng sản phẩm tính trên 1 ha đất nông nghiệp)

Theo Park (1992), trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng nông nghiệp do nâng cao năng suất lao động nông nghiệp và chính nó quyết định nâng cao thu nhập cho nông dân

Phan Thị Nữ (2010) có nhiều lý thuyết kinh tế giải thích thu nhập được tạo ra

từ đâu và yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến thu nhập của người lao động, hộ gia đình hay các doanh nghiệp Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng có ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất Tuy nhiên, các nhà kinh tế học Tân cổ điển cho rằng những yếu tố

này chỉ là điểm đầu của câu chuyện, họ đã đưa ra Lý thuyết vốn nhân lực, Lý thuyết thu nhập và sự phân biệt đối xử, Lý thuyết phát tín hiệu… để giải thích cho nguồn

Trang 24

gốc sâu xa của sự khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân Đó là do những yếu tố như: Đặc thù của nghề nghiệp, vốn nhân lực, năng lực tự nhiên, trình độ giáo dục,

sự phân biệt đối xử…

- Đặc thù của nghề nghiệp: Trong chừng mực nào đó, sự khác nhau về thu nhập giữa các cá nhân là để đền bù cho những đặc trưng của nghề nghiệp Với những yếu tố khác không đổi, người lao động thực hiện những công việc nặng nhọc, nguy hiểm sẽ được trả lương cao hơn những người có công việc dễ dàng, nhẹ nhàng

- Vốn nhân lực: Là sự tích lũy các khoản đầu tư vào con người Vốn nhân lực quan trọng nhất là giáo dục Đầu tư vào vốn nhân lực làm tăng năng suất lao động vì vậy những người có mức trang bị vốn nhân lực cao hơn sẽ nhận được mức thu nhập cao hơn những người có mức trang bị vốn nhân lực thấp

- Năng lực tự nhiên: Mỗi người sinh ra có thể có những năng lực bẩm sinh khác nhau và nỗ lực, cơ hội của mỗi cá nhân để phát triển năng lực đó cũng khác nhau Điều này có thể giải thích cho phần lớn sự khác biệt thu nhập giữa mỗi cá nhân mà những nhân tố khác không giải thích được

- Lý thuyết về phân biệt đối xử cho rằng một sự khác biệt về tiền lương cũng có thể do phân biệt chủng tộc, giới tính hoặc một số nhân tố khác Tuy nhiên, xác định mức độ phân biệt là việc làm khó khăn vì người ta loại trừ những khác biệt

về vốn nhân lực và những đặc trưng của công việc

- Lý thuyết phát tín hiệu giáo dục cho rằng những người có trình độ cao thường có thu nhập cao hơn không phải do giáo dục làm tăng năng suất lao động mà

do người lao động sử dụng bằng cấp như một tín hiệu để phân biệt người có năng lực cao với những người có năng lực thấp hơn Người có trình độ cao là những người có năng lực bẩm sinh cao hơn vì vậy các doanh nghiệp sẽ thuê họ

- Vốn xã hội (social capital): Vốn xã hội được xem là sự tin cẩn giữa các thành viên khác nhau trong cùng một cộng đồng, sự tuân theo lề thói hay phong tục tập quán của cộng đồng ấy (Bourdieu 1983) Vốn xã hội có thể tạo thành một yếu tố sản xuất độc lập Trên cấp độ vĩ mô, các nghiên cứu thường xem xét vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng Trên cấp độ vi mô, vốn xã hội được xem như là lợi

Trang 25

ích của sự hợp tác và có vai trò quan trọng trong thu nhập của từng cá nhân, hộ gia đình Những người có mối quan hệ xã hội tốt, được người khác tin cậy có thể có việc làm tốt hơn, dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực vì vậy có cơ hội nhận thu nhập cao hơn những người khác

Như vậy, thu nhập là một hàm đa biến phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Y=f(x1, x2, x3….xn )

Có thể là dạng hàm bán logarit : LN (Y) = β0 + β1X1 + β2 X2 + …+ βn Xn + εi ( Mincer, 1974)

Hoặc dạng hàm tuyến tính đa biến: Y = β0 + β1X1 + β2X2+….+βnXn+ εi cũng được sử dụng khá rộng rãi để ước lượng thu nhập hộ gia đình

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình và sự khác biệt thu nhập của các nhóm hộ gia đình nông nghiệp và ngư nghiệp

2.3.1 Các yếu tố liên quan đến chủ hộ

2.3.1.1 Tình trạng nghề nghiệp của chủ hộ

Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Ngân (2013), nghiên cứu kinh tế cửa khẩu ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở các xã biên giới tỉnh Đồng Tháp cho rằng nghề nghiệp của chủ hộ có ảnh đến thu nhập của hộ gia đình Đào Công Thiên (2010), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thì chủ hộ không có việc làm hoặc đi làm thuêsẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ

Nghề nghiệp ổn định là yếu tố tiên quyết đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra thu nhập ổn định, nó sẽ giúp cho hộ gia đình chủ động trong việc đầu tư sản xuất kinh doanh Nếu một nghề nghiệp không phù hợp và mất ổn định thì hộ dễ rơi vào tình trạng nghèo Tóm lại chủ hộ không có việc làm ổn định sẽ có thu nhập thấp Những hộ làm nông nghiệp có thu nhập thấp hơn những hộ làm ngành nghề khác

2.3.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ

Học vấn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của một cá nhân, một tổ chức cũng như một quốc gia (Foster & Rosenzweig, 1996; Pitt & Sumodiningrat, 1991; Yang, 2004) Học vấn quyết định lợi thế của mỗi người trong việc tạo ra thu

Trang 26

nhập bởi học vấn cao sẽ dễ tiếp thu, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác Bên cạnh đó, học vấn cũng giúp tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường để tạo ra cơ hội tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, qua đó làm tăng thu nhập

Theo Solow (1957) cho rằng giáo dục làm cho lao động hiệu quả hơn thông qua các tiến bộ kỹ thuật Điều này xuất phát từ thực tế là giáo dục cho phép mọi người thích nghi dễ dàng hơn với những thay đổi của xã hội và kỹ thuật Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình có ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình

Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất Cùng quan điển này Wharton (1963) cũng cho rằng: với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai người lao động với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp

sẽ có kết quả sản xuất khác nhau Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda đã kết luận rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì hộ gia đình càng giàu có

Theo Lê Văn Toàn (2009), nếu một lao động nông thôn qua trường học, đào tạo từ 5 năm đến 7 năm thì thu nhập lao động của họ tăng lên 10% đến 20%.Thực tế cho chúng ta thấy, khi số năm đi học càng tăng lên thì trình độ của chủ hộ càng tăng lên, nông nghiệp để nâng cao thu nhập, giảm thời gian lao động để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.Tóm lại chủ hộ có trình độ học vấn thấp sẽ có thu nhập thấp

2.3.1.3 Giới tính của chủ hộ

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), ở các nước đang phát triển, nơi còn có những thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắc khe thì giới tính của chủ hộ có ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ Những hộ gia đình có chủ hộ

là nữ giới có khả năng nghèo cao hơn những hộ có chủ hộ là nam giới, đặc biệt là những vùng nông thôn nghèo, vùng ven biển nơi mà phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận những việc làm với thu nhập cao mà thường xuyên làm việc nội trợ trong nhà, cuộc sống dựa vào nguồn thu nhập từ nam giới Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Trang 27

Ngọc Anh (2015), Đào Công Thiên (2008) cho rằng trong sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp thì thu nhập của chủ hộ là nam sẽ cao hơn chủ hộ là nữ Bởi vì từ khâu chăm sóc cho đến khâu thu hoạch trong nông nghiệp, khai thác thủy sản thì đòi hỏi nam giới phải có sức khỏe, có kinh nghiệm trong công việc, làm tăng hiệu quả sản xuất Tóm lại chủ hộ là nam sẽ có thu nhập cao hơn

2.3.1.4 Kinh nghiệm của chủ hộ

Kiến thức kinh nghiệm nghề nghiệp có được là do chủ hộ học hỏi tích lũy trong lao động sản xuất (19%) còn lại từ thu thập thông tin từ bên ngòai (Võ Thị Thu Hương(2007) Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2007), yếu tố kiến thức chủ hộ có ảnh hưởng cùng chiều với thu nhập của hộ Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh (2015), số năm kinh nghiệm chủ hộ càng nhiều thì thu nhập của

hộ sẽ cao hơn nhiều so với chủ hộ có số năm kinh nghiệm ít hơn Bởi kinh nghiệm tích lũy của chủ hộ sẽ giúp hộ gia đình định hướng hoạt động sản xuất hiệu quả mang lại thu nhập ổn định và dễ dàng thành công hơn trong họat động sản xuất của

hộ Tóm lại, kinh nghiệm của chủ hộ càng nhiều sẽ có thu nhập càng cao

2.3.2 Các yếu tố liên quan đến hộ gia đình

2.3.2.1 Quy mô hộ gia đình

Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda đã kết luận rằng quy mô hộ gia đình càng lớn thì hộ càng trở nên nghèo hơn Nguyễn Sinh Công (2004) khẳng định: nếu quy mô của hộ gia đình tăng thêm một người thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 9.2% Theo Nguyễn Thị Cang (2012), tại tỉnh Bình Phước, quy mô hộ trung bình của tỉnh là 4.76 người/hộ, trong khi đó quy

mô trung bình của hộ nghèo là 5.46 người/hộ, hộ giàu là 2.82 người/hộ Nếu gia đình đông con thì thu nhập bình quân đầu người của hộ càng thấp, điều này càng đúng khi các hộ gia đình ở các vùng nông thôn ven biểnvới nguồn thu nhập thấp là chủ yếu vì thế trong điều kiện thu nhập hạn chế việc tăng nhân khẩu thường làm giảm thu nhập bình quân của hộ Tóm lại, quy mô hộ gia đình càng đông sẽ có thu nhập càng càng giảm

Trang 28

2.3.2.2 Số người phụ thuộc

Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng Trong điều kiện sản xuất ít được cơ giới hóa, số lượng lao động sẽ là yếu tố cơ bản giúp làm tăng thu nhập cho hộ gia đình (Abdulai & CroleRees, 2001; Yang, 2004) Tuy nhiên, do tính thời vụ và trình độ của người lao động còn hạn chế, khó tham gia các hoạt động đa dạng thu nhập nên tình trạng lao động nhàn rỗi ở một số vùng nông thôn ven biển còn khá phổ biến

Do đó, các hộ gia đình có thể có nhiều lao động nhưng thu nhập không cao bởi một số lao động không trực tiếp làm ra thu nhập Tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động trong tổng số người trong độ tuổi lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), người phụ thuộc là người không tham gia lao động tạo ra thu nhập cho hộ gia đình Người phụ thuộc càng cao đồng nghĩa với việc có nhiều người ăn theo hơn nhưng lại có ít lao động hơn Điều này cho thấy tỷ

lệ phụ thuộc càng cao thì gánh nặng cho gia đình càng lớn, các thành viên có lao động phải chịu gánh nặng ngân sách gia đình lớn hơn do vậy sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ gia đình Theo nghiên cứu của Đào Công Thiên (2008) cho thấy,

tỷ lệ người sống phụ thuộc ở những hộ nghèo thường cao hơn so với hộ không nghèo Do đó, hộ gia đình có tỷ lệ phụ thuộc càng thấp thì mức chi tiêu bình quân đầu người sẽ tăng lên

2.3.2.3 Quy mô diện tích đất

Đất ngoài vai trò là tư liệu sản xuất cho các hộ ở vùng nông thôn thì nó còn là một tài sản có giá trị dùng để đánh giá tài sản của hộ gia đình.Với các nông hộ thì thu nhập của họ phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, mà sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là thủ công và dựa vào đất nên quy mô đất đai sẽ quyết định thu nhập Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm hạn chế khả năng cải thiện thu nhập, bởi diện tích nhỏ hẹp thì sẽ khó áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại, do đó sản phẩm có chất lượng thấp, không đồng đều nên giá trị thấp nhưng giá thành lại cao (Manjunatha & cs, 2013).Nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) và của

Trang 29

Mwanza (2011) đã chứng minh cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản xuất, tức là diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao

Còn đối với các ngư dân thì việc sở hữu đất đai sản xuất thể hiện khả năng đa dạng về thu nhập có thể có, ngoài ra nó cũng là giá trị tài sản của hộ gia đình Theo nghiên cứu của Đào Công Thiên (2008) cho thấy các hộ ngư dân xã ven biển sở hữu đất đai sản xuất có nhiều khả năng khai thác, nuôi trồng thủy sản và có thu nhập cao, còn những hộ không có đất, có đất ít thường là những hộ nghèo

Tóm lại đất là tư liệu chính và mang tính quyết định của hộ gia đình ở vùng nông thôn, vùngven biển để tạo ra thu nhập cho hộ gia đình Do đó, thiếu đất sản xuất hoặc không có đất sản xuất thường thì thu nhập thấp

2.3.2.4 Khả năng tiếp cận vốn

Vốn trong sản xuất tại khu vực nông thôn được hình thành từ 02 yếu tố là tiết kiệm và tín dụng Trong đó, vốn tiết kiệm được đầu tư sản xuất mở rộng, vốn tín dụng là vay từ các định chế chính thức và không chính thức hay từ dự án hỗ trợ tín dụng cho người nghèo của Chính phủ

Kết quả điều tra của Đào Công Thiên (2008) trong sáu xã ven đầm Nha Phu cho thấy hầu hết các hộ gia đình trong khu vực này đều có số tiền vay chính thức từ các tổ chức tín dụng của địa phương, số hộ gia đình trung bình không vay chỉ chiếm

tỉ lệ 12.47% Theo Nghiên cứu của Waheed (2006), trích trong Đinh Phi Hổ (2008), cho rằng thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, thu nhập hộ gia đình thấp và tiết kiệm thấp Tiết kiệm thấp làm thiếu hụt nguồn vốn để đầu tư mở rộng, dẫn đến thu nhập thấp

Nguyễn Trọng Hoài (2007), cho rằng người nghèo thường bị hạn chế trong việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức của Chính phủ, trong khi nguồn tín dụng phi chính thức ít giúp cho hộ gia đình thoát nghèo Bên cạnh đó, Nguyễn Bích Đào (2008), cho rằng tín dụng có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, là điều kiện giúp nhiều hộ mạnh dạn vay vốn đầu tư các tiến bộ khoa khọc kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng

Trang 30

Tóm lại, vốn rất cần thiết cho hoạt động sản xuất Tuy nhiên, không phải hộ dân nào cũng có khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, nhất là những người có ít tài sản thế chấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư, họ không thể mua nguyên liệu phục vụ sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, đầu tư máy móc, thiết bị nên khó có thể áp dụng tiến bộ khoa học vào kỹ thuật sản xuất

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Demurger, S., Fournier, M & Yang, W (2010), nghiên cứu về các yếu tố quyết định thu nhập hộ gia đình nông thôn ở một thị trấn miền Bắc Trung Quốc cho thấy thu nhập của nông hộ chịu ảnh hưởng của các yếu tố: vốn, đất đai, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất và số lao động trong hộ

Shrestha, R P., and Eiumnoh, A (2000),nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến thu nhập của nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan cho thấy các yếu tố: trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sản xuất và số thành viên trong độ tuổi lao động cótác động đến thu nhập của nông hộ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấythu nhập của nông hộ ở vùng đồng bằng và đồi núi là khác nhau

Nghiên cứu của Aikaeli, J (2010) về các yếu tố tác động đến thu nhập nông thôn Tanzania cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, diện tích đất sản xuất có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự phân biệt về thu nhập giữa chủ hộ là nam với chủ hộ là nữ, thu nhập của các chủ hộ là nam giới cao hơn thu nhập của các chủ hộ là nữ giới

2.4.2 Các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam

Nghiên cứu của Hoàng Sinh Bích (2010) Nâng cao thu nhập trong khai thác, đánh bắt hải sản của các hộ ngư dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp qua điều tra trực tiếp các hộ trên địa bàn thành phố Đồng Hới để phân tích và đánh thực trạng trong thời gian năm 2006 – 2008 và đề xuất giải pháp đến năm 2015 Phương pháp toán kinh tế, được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân thông qua hàm sản xuất

Trang 31

Cobb – Douglas Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn đầu tư sản xuất khó khăn, đa số

hộ dựa vào kênh vốn "nậu vựa" của thương lái nên bị ép giá bán hải sản làm giảm thu nhập của họ; thu nhập của hộ điều tra chủ yếu mang lại từ đánh bắt hải sản (91.89%), sản xuất khai thác vụ chính có thu nhập cao hơn hẳn trái vụ (74.32%), đối tượng hải sản mang lại thu nhập cao nhất là các loại cá khai thác (62.8%) Hộ đánh bắt xa bờ, nghề vây rút, lưới có thu nhập cao hơn so với các hộ ở hình thức khác Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy, các yếu tố lao động, vốn, sản lượng tác động mạnh đến thu nhập của hộ với mức ý nghĩa thống kê 90%, 95% và 99% Đầu

tư thêm vốn, lao động vào vụ chính sẽ tăng thêm thu nhập, ngược lại hạn chế đầu tư sản xuất trái vụ vì hiệu quả thu nhập mang lại rất thấp

Nghiên cứu của Nguyễn Lan Duyên (2014) Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng mô hình hồi quy nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 598 nông hộ được chọn ngẫu nhiên Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố như trình độ họcvấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở An Giang

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long Mô hình hồi qui tuyến tính được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân/người/tháng của người Khmer ởTrà Vinh và người Chăm ở An Giang Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích hai mô hình hồi qui tuyến tính, mô hình 1 sử dụng biến X1(trình độ học vấn của chủ hộ) và mô hình 2 sử dụng biến X11(trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ) để so sánh, kiểm chứng mức độ tác động của trình độ học vấn đến thu nhập bình quân/người/tháng của hộ dân tộc thiểu số.Thông qua số liệu điều tra trực tiếp từ150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang và áp dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy, các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở đồng

Trang 32

bằng sông Cửu Long là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộvà tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó, nhân tố số nhân khẩu và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc, nhân tố số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu Nguyễn Thanh Tâm (2002) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại địa bàn Nông Trường Sông Hậu huyện Ô Môn tỉnh Cần Thơ Số liệu được thu thập qua điều tra trực tiếp 100 hộ nông dân được chọn ngẫu nhiên trong tổng số 2157 hộ vào năm 2002 Các nông hộ được điều tra phỏng vấn trên cơ

sở sử dụng bảng mẫu điều tra đã được chuẩn bị trước Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập nông hộ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: trình độ văn hóa chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất, số thành viên trong gia đình, lao động ngoài nông nghiệp và khả năng tiếp cận với vốn vay Ngoài ra, thu nhập nông hộ còn bị tác động gián tiếp bởi các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và chính sách đa canh đa dạng hóa sản xuất của nông trường thông qua các mô hình canh tác

Nghiên cứu củaNguyễn Thị Thu (2005)Ảnh hưởng của trình độ học vấn của chủ hộ đến tổng thu nhập của nông hộ ở xã Tân Long, huyện Măng Thít, tỉnh Vĩnh

Long Nghiên cứu đi sâu phân tích mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn của chủ

hộ đến tổng thu nhập, sau đó nghiên cứu thêm ảnh hưởng của tổng thu nhập đến ý thức giữ gìn các mối quan hệ xã hội (món tiền gia đình dành đi dự tiệc hàng xóm, mức độ đóng góp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng địa phương) và ý thức về vệ sinh môi trường sống (việc lựa chọn nguồn nước sinh hoạt, loại nhà vệ sinh, loại nhà tắm).Nghiên cứu đã khẳng định rằng trình độ học vấn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh và tích cực đến thu nhập của hộ gia đình, học vấn càng cao thì thu nhập càng cao, và thu nhập là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội của hộ nông nghiệp

Nghiên cứu của Trương Châu (2013) Các nhân tố tác động đến thu nhập của

hộ ở các xã biên giới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Các biến độc lập đưa vào đánh giá

Trang 33

tác động đến thu nhập của hộ bao gồm: nghề nghiệp của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, thành phần dân tộc, qui

mô hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, qui mô diện tích đất, số hoạt động tạo ra thu nhập và vay vốn Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 biến có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Prob.< 0.01) gồm các biến: nghề nghiệp, kinh nghiệm, trình độ học vấn, quy mô

hộ, tỷ lệ phụ thuộc và biến vay vốn Có 2 biến có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (Prob.< 0.05) gồm các biến: Quy mô diện tích đất và số hoạt động tạo thu nhập Biến giới tính và biến thành phần dân tộc có Prob.>0.1 nên không có ý nghĩa thống kê.Mô hình có R2điều chỉnh (Adjusted R square) là 0.644 Như vậy 64.4% thu nhập của hộ gia đình nông thôn tại các xã biên giới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được giải thích bởi các biến độc lập

Nghiên cứu của Phan Thị Nữ (2010) Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam Nghiên cứu dựa trên số liệu điều tra mức sống

hộ gia đình năm 2004 và 2006 Nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hồi quy OLS Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng

có tác động tích cực lên mức sống của người nghèo thông qua làm tăng chi tiêu cho đời sống của họ Tuy nhiên, tín dụng không có tác động cải thiện thu nhập cho người nghèo vì vậy có thể sẽ không giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Tín dụng chính thức mặc dù có giá rẻ nhưng rất khó đến được với người nghèo do những thủ tục rờm rà Nghiên cứu cũng tìm thấy tác động tích cực của giáo dục và đa dạng hóa việc làm đến mức sống của hộ nghèo

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Cang (2012), kiến thức là động lực mạnh

mẽ nhất của sản xuất.Kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn.Với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kiến thức nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau.Kiến thức nông nghiệp cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất Để sản xuất, người nông dân phải có đất; có tiền mua các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị phụ vụ sản xuất,…

Trang 34

Tuy nhiên, nông dân phải có đủ kiến thức mới có thể phối hợp các nguồn lực đó hiệu quả

Nghiên cứu của Đào Công Thiên (2008) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Bằng việc sử dụng phương pháp điều tra thực địa tại các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu, mô hình hồi qui đa biến và hồi quy phi tuyến Binary Logistic được xây dựng để phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói của các hộ ngư dân khu vực này Kết quả nghiên cứu cho thấy những nguyên nhân ảnh hưởng tới đói nghèo ở khuc vực này bao gồm việc làm, đất đai, vốn, quy mô hộ và vấn đề giới tính trong đó quan trọng nhất là tình trạng việc làm Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng độc lập của từng yếu tố đến xác suất nghèo của một hộ gia đình

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Anh (2015),nghiên cứu về sự khác biệtthu nhập của hộ trồng thanh và hộ trồng lúa huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Sử dụng hai mô hình phân tích hồi quy tuyến tính đa biến và sử dụng kỹ thuâ ̣t phân rã Oaxaca - Blinder cho mô hình tuyến tính để tìm ra s ự khác biệt thu nhập của hộ

từ việc trồng thanh long và thu nhập của hộ từ việc trồng lúa.Kết quả cho thấy các yếu tố giới tính của chủ hộ, tham gia hội đoàn thể, vay vốn từ các định chế chính thức, kinh nghiệm, diện tích đất ảnh hưởng đến thu nhập thu nhập của hộ trồng thanh và hộ trồng lúa Có sự khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm hộ trồng thanh long và trồng lúa là do các hệ số hồi quy ước lượng và sự khác biệt do phân biệt giữa hộ trồng thanh long và hộ trồng lúa

Nhìn chung, nghiên cứu của các nhà khoa học đã phác họa được bức tranh tổng thể về thu nhập của các hộ gia đình; xác định và đo lường được các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình thông qua khảo sát 01 nhóm đối tượng là nông dân hoặc ngư dân tại những vùng và địa điểm khác nhau Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào kết hợp nghiên cứu đồng thời 02 nhóm đối tượng này cùng một thời điểm và một địa phương để các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện; thêm vào đó, các nghiên cứu được thực hiện tại những địa điểm, vùng khác nhau của Việt Nam mà

Trang 35

chưa có nghiên cứu tại tỉnh Bình Thuận trong khi có sự khác biệt về kinh tế và văn hóa giữa Bình Thuận và những địa phương khác tại Việt Nam

2.5 Sự giống và khác nhau giữa nghiên cứu của tác giả với các nghiên cứu trước

Các mô hình lý thuyết về kinh tế học nông nghiệp và các mô hình nghiên cứu trước cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, làm tăng thu nhập cho hộ, gồm các yếu tố chính: Quy mô đất, lao động, vốn, trình

độ văn hóa của chủ hộ, kiến thức khuyến nông

Tuy nhiên, thực tế việc sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Bình Thuậnhiện nay tác giả nhận thấy cần đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố kinh nghiệm trồng trọt (lúa, thanh long,…), yếu tố kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sảncủa chủ hộ

Khác biệt của đề tài này so với các nghiên cứu trước còn là việc sử dụng phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder để áp dụng trong mô hình hồi quy tuyến tính, phân tích sự khác biệt thu nhập của hộ từ việc trồng thanh long so với thu nhập

của hộ từviệc trồng lúa

2.6 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

 Điều kiện tự nhiên

Theo số liệu Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận: Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam trung bộ Việt nam, với bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná (Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) Là một tỉnh thuộc khu vực kinh tế miền Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Bắc giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía Tây giáp Đồng Nai, Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, Đông và Đông Nam giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 192 km Ngoài khơi có huyện đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Phan Thiết, cách thành phố Hồ Chí Minh 198 km, cách thành phố Nha Trang 250 km

Diện tích tự nhiên: 7.813 km2; dân số: 1.222.696 người, với trên 750 ngàn lao động; khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa:

Trang 36

từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình: 27.20C; lượng mưa trung bình năm: 89 mm.Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc - tây nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18.22%, đồng bằng phù sa chiếm 9.43%, vùng đồi gò chiếm 31.65% và vùng núi thấp chiếm 40.7% diện tích đất tự nhiên

Với vị trí địa lý như trên, bên cạnh mối quan hệ kinh tế truyền thống với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận có điều kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên và cả nước Sức hút của các thành phố và các trung tâm phát triển như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học

kỹ thuật, đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển nhanh nền kinh tế, nhất là những lĩnh vực thế mạnh, những sản phẩm đặc thù để mở rộng liên kết và phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để không bị tụt hậu so với khu vực và cả nước

Hình 2.1:Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận

(Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận, 2017)

Trang 37

 Dân cƣ

Theo Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận tính đến 2016 dân số của tỉnh đạt 1.266.228 người.Tỉ lệ đô thị hoá 40.2%.Dân cư tỉnh phân bố không đồng đều giữa các huyện, thị xã, thành phố Tập trung đông nhất tại thành phố Phan Thiết dân số (2016): 272.457 chiếm gần 1/4 dân số toàn tỉnh, tiếp đến là Phú Quý, Thị xã La Gi Thưa thớt tại các huyện Bắc Bình, Tánh Linh, Hàm Tân

Có 34 dân tộc cùng sinh sống ở Bình Thuận, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh; tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra Glai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết), Cơ Ho, Tày, Chơ Ro, Nùng, Mường

Bình Thuận có vùng lãnh hải rộng 52 nghìn km² nên Bình Thuận là một trong ba ngư trường lớn của Việt Nam trữ lượng khai thác đánh bắt hải sản đạt 240.000 tấn hải sản các loại, là điều kiện chế biến thủy sản xuất khẩu Sò điệp là đặc sản của biển Bình Thuận, tập trung ở 4 bãi chính là: La Khế, Hòn Rơm, Hòn Cau và Phan Rí, cho phép đánh bắt 25-30 nghìn tấn/năm

 Nông - Lâm nghiệp

Tỉnh Bình Thuận có 151.300 ha đất canh tác nông nghiệp, trong đó có trên 50.000 ha đất lúa.Sẽ phát triển thêm 100.000 ha đất sản xuất nông nghiệp

Chăn nuôi gia súc, gia cầm khá phát triển Đang đầu tư để hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả với:

- 30.000 ha thanh long

- 9.000 ha điều

Trang 38

Thực trạng sản xuất nông, ngƣ nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

 Nông nghiệp và chăn nuôi

 Cây thanh long

Do tầm quan tro ̣ng của cây thanh long trong phát triển kinh tế - xã hội của đại phương, tỉnh Bình Thuận đã xác đi ̣nh đó là cây trồng lợi thế của tỉnh Thực hiện Quyết định số 518/QĐ-UBBT ngày 04/03/2005 của UBND tỉnh Bình Thuận về quy hoạch phát triển cây thanh long; Quyết định 2115/QĐ-UBND ngày 03/08/2009 của UBND tỉnh Bình Thuận về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng trồng thanh long đến năm 2010 và Quy hoạch phát triển thanh long đến năm 2015, Quy hoạch vùng trồng thanh long tỉnh đến năm 2020, định hướng đến 2025 trên địa bàn tỉnh

Từ năm 2005 - 2010, bình quân mỗi năm, diện tích cây thanh long ở Bình Thuận tăng thêm khoảng một nghìn ha (năm 2005 là 5.799 ha; năm 2010 là 13.404 ha)

Trong những năm gần đây diện tích thanh long tỉnh có hệ số tăng mạnh Thống kê đến năm 2016, diện tích thanh long của tỉnh là 27.526 ha, tập trung ở các huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình…, sản lượng hàng năm khoảng 500.000 tấn

So với năm 2010, diện tích năm 2016 tăng gần gấp 2.05 lần Theo đó từ năm

2010 đến cuối năm 2016, diện tích thanh long trồng mới trên địa bàn tỉnh 14.122 ha Trong đó, tập trung nhiều nhất tại huyện Hàm Thuận Nam (11.000 ha), huyện Hàm Thuận Bắc (8.982 ha)

Trang 39

Năm 2016, UBND tỉnh Bình Thuận đã phê duyệt quy hoạch vùng trồng thanh long tỉnh đến năm 2020, định hướng đến 2025.Theo đó, tỉnh Bình Thuận đã Quy hoạch diện tích trồng thanh long đến năm 2020 đạt 28.000 ha, năng suất đạt 28 tấn/ha, sản lượng đạt 750 ngàn tấn.Đến năm 2025 sẽ mở rộng lên 30.000 ha, năng suất bình quân đạt 30 tấn/ha, sản lượng đạt trên 843 ngàn tấn

Tuy nhiên từ nay đến năm 2020, chủ yếu ổn định diện tích, tập trung cải tạo

để nâng cao chất lượng vườn cây sau đó mới tiếp tục mở rộng diện tích và phát triển thanh long trên đất lúa, đặc biệt là đất chuyên lúa

Bảng 2.1 Diện tích trồng thanh long ở tỉnh Bình Thuận qua các năm 2012-2016

Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Tổng diện tích (ha) 15.500 20.502 22.054 26.026 27.526

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận,2016)

Ngành Nông nghiệp đã đẩy mạnh sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, cuối năm 2012, toàn tỉnh có 6.370 ha thanh long được chứng nhận VietGAP thì đến 2016 toàn tỉnh đã có 8.000/27.526 ha trồng thanh long được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP góp phần nâng cao uy tín, chất lượng của sản phẩm thanh long Bình Thuận trên thị trường

 Cây lúa

Tỉnh Bình thuận bên cạnh thanh long thì lúa là cây trồng chiếm diện tích nhiều nhất trên địabàn tỉnh Năm 2010, hiện trạng đất thực tế có sản xuất lúa trên địa bàn toàn Tỉnh khoảng 48.063 ha, sản xuất đạt khoảng 256.080 nghìn tấn lúa; bình quân khoảng 450 kg/người dân Như vậy, so với chuẩn 100 kg gạo/người/năm của Chính phủ, vấn đề an ninh lương thực của tỉnh Bình Thuận vào thời điểm hiện nay hoàn toàn đảm bảo(Cục thống kê tỉnh Bình Thuận,2010)

Năm 2011, diện tích lúa của tỉnh đạt 52.236 ha tăng 6.69 % so năm 2010 sản lượng đạt 278.314 nghìn tấn Tuy nhiên do giá trị kinh tế lúa thấp người dân chuyển đổi cây trồng sang thanh long và các loại cây trồng khác khiến cho diện tích lúa giảm liên tục qua các năm

Trang 40

Năm 2012, toàn tỉnh đã gieo trồng được 46.714 ha giảm 10.57% so năm

2011, về sản lượng đạt 248.892 nghìn tấn Trong đó có 1.313 ha giống lúa xác nhận; xây dựng 1.120 ha cánh đồng lúa chất lượng cao và triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm cây lúa với 3.505 hộ tham gia trên 1.170 ha của 41 xã/3 huyện; tổng phí bảo hiểm ngân sách hỗ trợ hơn 2 tỷ đồng

Năm 2013 diện tích gieo trồng lúa là 44.345 ha giảm 5% so năm 2012; sản lượng đạt 236.271 nghìn tấn Năm 2014 diện tích lúa tiếp tục giảm và gieo trồng với 42.687 ha và đạt sản lượng 227.437 nghìn tấn.Năm 2015 là 41.552 ha với sản lượng 221.389 nghìn tấn.Và đến năm 2016 diện tích lúa chỉ chiếm 22.389 ha đã giảm 33.41% so năm 2013 và giảm 53.42% so với năm 2010 và và sản lượng lúa năm

2016 đạt 146.8 ngàn tấn

Bảng 2.2 Diện tích gieo trồng và sản lƣợng lúa ở tỉnh Bình Thuận qua các năm

2012-2016 Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Diện tích gieo trồng (ha) 46.714 44.345 42.687 41.552 41.110 Sản lƣợng lúa (ngàn tấn) 248.892 236.271 227.437 221.389 219.034

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2016)

 Cây trồng khác

 Cây ngắn ngày

Sản lượng cây ngắn ngày của tỉnh tăng liên tục qua các năm Năm 2015, diện tích gieo trồng đạt 7.973 ha Trong đó, rau các loại diện tích 3.116 ha (tăng 113.4%); đậu các loại diện tích 4.857 ha (tăng 107.4%).Đến năm 2016, nhóm cây rau, đậu gieo trồng ổn định Diện tích rau các loại đạt 2.367.2 ha (tăng 1%), sản lượng 18.533 tấn (giảm 5.6%); đậu các loại 3.419.3 ha (tăng 12.7%), sản lượng 2.751 tấn (giảm 10.1%

so với đông xuân năm trước) Nhóm cây công nghiệp ngắn ngày: Diện tích trồng đậu phụng đạt 884.1 ha (giảm 17.8%), sản lượng 1.363 tấn (giảm 5.8%); mè 43 ha (tăng gấp 3.5 lần), sản lượng 29 tấn (tăng gấp 2.7 lần); thuốc lá 28 ha (giảm 30%), sản lượng 35 tấn (giảm 57.7% so với vụ đông xuân năm trước)

Ngày đăng: 26/04/2018, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm