1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu ứng trung chuyển tỷ giá tại các thị trường mới nổi

48 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 257,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu này cũng tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa cácnước, đương nhiên dẫn đầu với câu hỏi cái gì đã quyết định cơ bản của sự chuyển dịch.Riêng Taylor 2000 đã đư

Trang 1

Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Trần Lê Hoàng Anh NH3

Vũ Hoàng Xuân Nga NH3

Hồ Minh Phương Quỳnh NH1Diệp Thị Tú Quỳnh NH3

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2013

Trang 4

1 TÓM TẮT VÀ GIỚI THIỆU:

1 Tóm tắt:

Bài nghiên cứu này là xem xét mức độ của hiệu ứng trung chuyển tỷ giá (ERPT) tớigiá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Theo kết quảcủa tác giả, dựa trên 3 mô hình vector tự hồi quy (VAR), phần nào trái ngược với thông lệtrước đây cho rằng: ERPT tác động vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các nước mớinổi luôn cao hơn ở các nước phát triển

Các thị trường mới nổi với mức lạm phát 1 con số (hầu hết là các nước Châu Á), sựchuyển dịch đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp và không quá khácbiệt so với những nền kinh tế phát triển Bài nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về sựtương quan thuận chiều giữa mức độ ERPT và lạm phát, phù hợp với giả thuyết củaTaylor khi loại trừ 2 nước (Argentina và Turkey) ra khỏi phân tích Cuối cùng, về mặt lýthuyết thì có sự tương quan dương giữa mở cửa nhập khẩu và ERPT, nhưng trên thực tế,tác giả chưa tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm chắc chắn về vấn đề này

2 Giới thiệu:

Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về ERPT đã được nghiên cứu Bắtđầu từ những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra vai trò của ERPT ởcác nền kinh tế nhỏ và lớn Các nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước phát triển baogồm: Anderton (2003), Campa và Goldberg (2004), Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005), Hahn (2003), Ihrig và cộng sự (2006), McCarthy (2000), Choudri vàHakura (2006), Frankel và cộng sự (2005), Mihaljek và cộng sự (2000)

Để đơn giản hóa, các nhà kinh tế truyền thống đã giả định rằng giá cả hàng hóa mậudịch – được tính trong cùng một loại tiền tệ - là ngang nhau giữa các quốc gia, ví dụ nhưđiều kiện ngang giá sức mua PPP Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, giả định này hầu nhưkhông có sự ủng hộ, ít nhất là trong trường hợp mẫu nhỏ và kiểm tra trong ngắn hạn đếntrung bình Cùng với các bằng chứng này, tài liệu lý thuyết đã phát triển hơn hai thập kỷ

Trang 5

qua cung cấp những giải thích khác nhau rằng tại sao ERPT là không hoàn toàn Trongbài báo chuyên đề của ông, Dornbusch (1987) chỉ ra sự chuyển dịch không hoàn toàn là

do các công ty hoạt động trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và điều chỉnhtăng giá để phản ứng với một cú sốc tỷ giá Burstein và cộng sự (2003) nhấn mạnh vai trò(phi mậu dịch) đầu vào trong nước trong chuỗi phân phối hàng hóa mậu dịch Burstein vàcộng sự (2005) chỉ ra vấn đề đo lường CPI mà bỏ qua điều chỉnh lớn chất lượng tỷ giáhối đoái hàng hóa mậu dịch Một hướng khác của lập luận nhấn mạnh hơn vai trò củachính sách tiền tệ, bằng cách bù đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá(Gagnon và Ihrig, 2004) Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003)

đã khám phá vai trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT

Thực vậy các cách tiếp cận lý thuyết khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm cho cảnhững nền kinh tế phát triển và mới nổi đã phát hiện bằng chứng về ERPT không hoàntoàn Những nghiên cứu này cũng tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa cácnước, đương nhiên dẫn đầu với câu hỏi cái gì đã quyết định cơ bản của sự chuyển dịch.Riêng Taylor (2000) đã đưa ra giả thuyết độ nhạy giá cả đến sự biến động tỷ giá hối đoáiphụ thuộc hoàn toàn vào lạm phát Lý do cho điều này liên quan đến sự tương quandương giữa mức độ và sự tồn tại lâu dài của lạm phát, kết hợp với mối quan hệ giữa sựtồn tại lâu dài của lạm phát và sự chuyển dịch Liên kết thứ hai có thể được nói rõ nhưsau: Càng lạm phát liên tục, thì tỷ giá hối đoái càng ít biến động được hiểu là tạm thời vàcác công ty càng có thể đối phó thông qua điều chỉnh giá

Bằng chứng qua các nghiên cứu khác nhau đã ủng hộ toàn bộ giả thuyết của Taylor

Sự tương quan dương giữa mức độ chuyển dịch và lạm phát mạnh mẽ hơn, tuy nhiên, khicác thị trường mới nổi được bao gồm trong mẫu được xem xét (xem riêng bảng dữ liệubằng chứng trong Choudhri và Hakura, 2006) Điều này có thể không ngạc nhiên, khi cáctranh luận của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn cho tỷ lệ lạm phát cao

Yếu tố quyết định quan trọng khác của ERPT từ một quan điểm lý thuyết là mức độ

mở cửa thương mại của một quốc gia Hầu hết các kết nối tức thì giữa 2 biến là dương:Quốc gia càng mở cửa giao thương, sự biến động tỷ giá hối đoái chuyển dịch vào CPI

Trang 6

thông qua giá nhập khẩu càng nhiều Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tácgiả đưa vào nghiên cứu rằng lạm phát có thể tương quan âm với sự mở cửa, như thựcnghiệm phát hiện bởi Romer (1993) Điều này đưa đến một kênh gián tiếp, theo đó sự mởcửa tương quan âm với lạm phát và mức độ của sự chuyển dịch khi xem xét giả thuyếtcủa Taylor Các kênh trực tiếp và gián tiếp đi theo chiều ngược nhau và dấu hiệu chungcủa sự tương quan giữa sự chuyển dịch và sự mở cửa do đó có thể dương hay âm

2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét mức độ của hiệu ứng trung chuyển tỷgiá (ERPT) tới giá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu.Dựa trên ba mô hình vector tự hồi quy (VAR), kết quả của tác giả phần nào trái ngược vớithông lệ trước đây cho rằng: ERPT tác động vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở cácnước mới nổi luôn cao hơn ở các nước phát triển

Việc xem xét ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái lên giá cả là rất quan trọng để

đo lường sự phản ứng của chính sách tiền tệ lên những biến động tiền tệ Nghiên cứuthực nghiệm đã chỉ ra rằng các biến động trong tỷ giá và giá cả không là 1 – 1 trong ngắnhạn tới trung hạn Một học thuyết mở rộng đã được phát triển hơn 3 thập kỷ qua đã đưa ranhững giải thích khác nhau rằng tại sao hiệu ứng trung chuyển tỷ giá (ERPT) đến giánhập khẩu và giá tiêu dùng là không hoàn toàn Phân tích thực nghiệm cũng đã cung cấpbằng chứng về sự khác biệt giữa các quốc gia đối với ERPT Taylor (2000) đã đưa ratranh luận trong khía cạnh này rằng độ nhạy của giá cả tới sự biến động của tỷ giá hốiđoái phụ thuộc hoàn toàn vào lạm phát

4 Câu hỏi nghiên cứu:

Để làm sáng tỏ vấn đề trên, tác giả đã nghiên cứu và làm rõ các câu hỏi dưới đây:

1 Mức độ chuyển dịch của ERPT tác động đến giá cả hay không ? Nếu có thì ERPTtác động như thế nào đến giá cả ?

Trang 7

2 Chuyển dịch tỷ giá đến giá cả đối với thị trường phát triển và thị trường mới nổikhác biệt như thế nào ?

3 Lạm phát tác động như thế nào lên sự chuyển dịch ERPT ?

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

5 Sơ lược lý thuyết:

1 ERPT là gì?

Tác động của tỉ giá đến mức giá tính bằng nội tệ được đo lường bởi hiệu ứng trungchuyển tác động của tỉ giá (Exchange rate pass - through, ERPT) Hiệu ứng trung chuyểntác động của tỉ giá thường được hiểu là mức % thay đổi giá trong nước tính bằng đồng tiền của nước nhập khẩu khi tỉ giá tiền tệ giữa các đối tác thương mại thay đổi 1% Nóicách khác, hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá chính là độ co dãn của giá trongnước so với tỉ giá Vấn đề này có hai khía cạnh: (1) có thể nghiên cứu mối tương quangiữa giá hàng nhập khẩu và tỉ giá; (2) mối quan tâm đặc biệt là tác động của tỉ giá đếnmức giá chung (chẳng hạn được biểu hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI)

2 Cơ chế tác động của tỉ giá đến giá trong nước:

Cái gì là nguyên nhân của ERPT? Tại sao tỉ giá có thể tác động đến giá trong nướccủa một quốc gia? Ngay từ năm 1953, khi bảo vệ cơ chế tỉ giá thả nổi, Milton Friedman

đã dựa trên lập luận rằng, cơ chế tỉ giá thả nổi có thể làm thay đổi nhanh chóng giá tươngđối giữa các quốc gia: “Tăng tỉ giá làm giá hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ hơn khi tínhbằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tính bằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóatrong nước trở nên đắt hơn khi tính bằng ngoại tệ, ngay cả khi giá của chúng không thayđổi nếu tính bằng nội tệ Điều này làm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu” Các giả thiếtcủa Friedman là giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ của nhà sản xuất cố định và tồn tại hiệuứng trung chuyển tác động của tỉ giá đến người mua hàng hóa ở mức độ lớn (trungchuyển toàn phần sang giá hàng nhập khẩu)

Trang 8

Có tối thiểu ba kênh mà thông qua đó, giá tiêu dùng thích ứng với những thay đổicủa tỉ giá danh nghĩa: trực tiếp, gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài Lafleche (1996)

đã đưa ra biểu đồ mô tả cơ chế, thông qua đó, một sự giảm tỉ giá có thể tác động đến giátrong nước của một quốc gia (lưu ý ở đây, tỉ giá được tính theo phương pháp gián tiếp, sốđơn vị ngoại tệ trên1 đơn vị nội tệ)

Hiệu ứng trực tiếp: Chuỗi hiệu ứng trực tiếp bao gồm thay đổi trực tiếp giá cả các

hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng do thay đổi tỉ giá Cácnghiên cứu thực nghiệm sử dụng chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu để nghiên cứu hiệu ứngnày một cách riêng biệt Obstefeld và Rogoff (2000) và các tác giả khác đã chứng minhrằng, giá cả các hàng hóa nhập khẩu có mức độ nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của

tỉ giá so với giá cả hàng tiêu dùng nói chung

Hiệu ứng gián tiếp: Chuỗi hiệu ứng gián tiếp dựa trên giả thuyết về sự thay thế lẫn

nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu

Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa ( sự thay thế bên trong , internal substitution) và trên thị trường nước ngoài ( sự thay thế bên ngoài , external substitution) Ở nước Nga, sau cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1998, sự thay thế bên trong

đã làm giảm tiêu thụ các hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao đắt tiền và làm tăng việctiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước chất lượng thấp và rẻ hơn (“flight from quality”,Burtein và cộng sự (2003)) Kết quả là giá cả hàng hóa nội địa tăng lên Một số tác giả(Engel (2002)) gọi hiệu ứng tăng tiêu thụ hàng hóa nội địa thay cho hàng hóa nhập khẩu

là “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu do những thay đổi trong giá tương đối switching effect of relative price changes)” Hiệu ứng thay thế bên ngoài cũng xẩy ra dohàng hóa sản xuất trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài và cầu của họ đối

(expenditure-với hàng hóa sản xuất trong nước tăng lên Bởi vì tiền lương danh nghĩa là cố định trong ngắn hạn, điều này làm giảm tiền lương thực tế, do đó, kích thích tăng sản lượng, từ đó,

khuyến khích xuất khẩu của quốc gia Hiệu ứng thay thế bên ngoài đòi hỏi nghiên cứuhành vi theo đuổi chiến lược dịch chuyển chi tiêu (“expenditureswitching strategy”,

Trang 9

Obstfeld & Maurice (2001) của các nhà sản xuất trong nước Các nhà sản xuất thay thếhàng hóa nhập khẩu trung gian bằng hàng hóa sản xuất trong nước Tuy nhiên, khi tiềnlương thực tế tăng lại về mức ban đầu, chi phí sản xuất tăng lên đẩy mức giá lên và làmgiảm sản lượng

Trong dài hạn, hiệu ứng này được minh họa bởi điều kiện Marshall- Lerner Các dữliệu cán cân vãng lai trong cán cân thanh toán của nước Nga sau khủng hoảng 1998khẳng định rằng sản lượng trong nước gia tăng là kết quả của việc phá giá đồng Rúp năm1998

Hiệu ứng FDI: Sự giảm giá mạnh của đồng Rúp năm 1998 đã làm giảm mạnh cầu

đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ Trước đó, các tập đoàn xuyên quốc gia đã cung cấp nhiều hàng hóa vào nước

Nga, trong thời gian khủng hoảng phải đối mặt với tình thế lưỡng nan: hoặc đánh mất thị

phần thị trường xuất khẩu của mình hay bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất tại nước Nga nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về tiền lương và công nghệ Nhiều tập đoàn đã mở chi nhánh và dịch chuyển các cơ sở sản xuất vào nước Nga (FDI flows) Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương Đến lượt mình, điều này đã đẩy giá tăng

lên Tóm lại, có một số cơ chế song hành, thông qua đó, giá cả trong nước phản ứng với những thay đổi của tỉ giá danh nghĩa

3 Học thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho tỉ

giá lệch khỏi PPP:

Học thuyết ngang giá sức mua (Quy luật một giá) - cơ sở luận của ERPT, cho rằng

sự trung chuyển tác động của tỉ giá sang giá trong nước phải là toàn phần (độ co giãnphải bằng 100%) và hoàn toàn không có một cơ hội nào cho kinh doanh chênh lệch giátrong dài hạn Vì vậy, nghiên cứu ERPT đồng nghĩa với nghiên cứu PPP Quy luật mộtgiá giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới có thể minh họa như sau:

P = P* x ETrong đó: P - giá trong nước

Trang 10

P* - giá ngoài nước

E - tỉ giá được đo bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ (tỉ giátrực tiếp)

Dựa vào giả thiết này là một trong những mô hình kinh tế vĩ mô Obstfeld & Rogoff(1995, 1998, 2000), trong đó, giá trong nước được cố định theo đồng tiền của nước nhàsản xuất, do đó, giá tiêu dùng thay đổi theo quan hệ 1 - 1 với tỉ giá

Nhưng ngay cả trong khuôn khổ mô hình cung cầu giản đơn, trong đó, quy luật mộtgiá được tuân thủ thì vẫn có những khác biệt về hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giáđối với giá trong nước (ERPT) giữa các nước Trong một nền kinh tế lớn, hiệu ứng lạmphát do sự giảm tỉ giá nội tệ được kết hợp với sự giảm giá toàn cầu (do cầu thế giớigiảm), từ đó làm giảm ERPT Trong một nền kinh tế nhỏ, một sự giảm tỉ giá nội tệ khôngảnh hưởng đến giá thế giới, do đó, ERPT phải là toàn phần (100%) trong mô hình này

Do đó, ngay cả trong khuôn khổ mô hình đơn giản này (mô hình ủng hộ quy luật mộtgiá), ERPT không đồng nhất ở các quốc gia và sẽ cao hơn ở các nền kinh tế nhỏ so với

các nền kinh tế lớn Mô hình lí thuyết của PPP dựa trên nhiều giả thiết mà trong thế giớithực rất khó xẩy ra, chẳng hạn, giả thiết về cạnh tranh hoàn hảo và chi phí vận chuyểnbằng 0 Các kiểm định thực nghiệm chứng minh rằng ERPT trong nhiều trường hợp,không đạt mức toàn phần (# 1 hoặc 100%) Isards (1977) là một trong những người đầutiên nghi ngờ khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên phạm vi toàn cầu có thể giảmchênh lệch giá cả giữa các quốc gia đến mức chi phí vận chuyển

Có nhiều lí thuyết giải thích tại sao ERPT không đạt mức toàn phần Mô hình củaObstfeld & Rogoff (2000) cho rằng sự tồn tại chi phí vận chuyển làm tăng giá trị hànghóa nhập khẩu và phân đoạn thị trường Ngay cả khi hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn cóthể thay thế hàng hóa sản xuất ở trong nước, thì chúng cũng không thể được tiêu thụ vớikhối lượng lớn (tỉ lệ nhập khẩu nhỏ), bởi vì giá của chúng tương đối cao Trong trườnghợp này, sự thay đổi tỉ giá tác động yếu đến sự biến động của chỉ số CPI

Một phương pháp tiếp cận tương tự (McCallun & Nelson (1999) cho rằng bản thânhàng hóa chỉ chiếm một tỉ lệ không lớn so với phần cá nhân tiêu thụ Người tiêu dùng

Trang 11

cũng sẵn sàng thanh toán các dịch cụ marketing, các dịch vụ phân phối và dịch vụ bán lẻ

mà thông qua các kênh này, hàng hóa đến tay người tiêu dùng Có thể, các khoản chi phínày chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá trị của hàng hóa Khi đó, những thay đổi của tỉ giá sẽkhông tác động lớn đến giá trị hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, bởi vì chúng chỉ tác độngđến một phần không lớn giá trị của hàng hóa Burstein, Neves & Rebelo (2002) vàBurstein, Eichenbaum & Rebelo (2002) cho rằng vai trò của hàng hóa và dịch vụ trunggian nội địa trong khu vực phân phối là khá quan trọng về mặt lượng, nhưng không thểgiải thích đầy đủ những khác biệt của ERPT

Mức ERPT thấp có thể không phải là kết quả của sự cố định tương đối giá cả, mà làchính sách phân biệt hóa về giá tối ưu Bergin & Feenstra (2001) và Bergin (2001) đã xâydựng các mô hình cân bằng tổng thể, trong đó, ERPT không bằng 100%, ngay cả khi giá

cả là hoàn toàn thả nổi Corsetti & Dedola (2001) xây dựng một mô hình, trong đó, ERPTmột phần (ERPT 100%) phát sinh do những khác biệt trong các mức chi phí phân phốitrên thị trường nội địa và thị trường nước ngoài Trong mô hình của họ, ERPT đến giáhàng hóa nhập khẩu không đạt mức toàn phần, bởi vì nhà xuất khẩu hoạt động trongngành cạnh tranh độc quyền cho rằng cầu của nhà nhập khẩu phụ thuộc vào chi phí phânphối trong nước Thay thế và bổ sung cho phương pháp tiếp cận nêu trên là mô hìnhBachetta & Wincoop (2002) Trong mô hình của mình, các tác giả bỏ qua chi phí phânphối và tập trung vào chiến lược định giá tối ưu của công ty

Luận cứ của mô hình là ở chỗ, đồng tiền được chọn để định giá phụ thuộc vào mức

độ cạnh tranh hàng nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước Nếu mức độ cạnh tranh

là cao thì các công ty nhập khẩu sẽ định giá bằng nội tệ, do đó, ERPT bằng 0 Ngay cảkhi công ty đối mặt với vấn đề rủi ro tỉ giá, nó cũng không muốn thay đổi giá cả hàng tiêudùng cuối cùng để bảo vệ thị phần Như vậy, mức độ cạnh tranh giữa nhà nhập khẩu vànhà sản xuất trong nước càng lớn thì ERPT trong ngành càng nhỏ

Một phương pháp tiếp cận khác cho rằng hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa trunggian và tồn tại sản phẩm thay thế được sản xuất trong nước Các nhà sản xuất trong nước

sử dụng hàng hóa nhập khẩu trung gian để sản xuất hàng hóa tiêu dùng cuối cùng Giá cả

Trang 12

hàng hóa tiêu dùng cuối cùng có thể được ấn định bằng nội tệ, còn hàng hóa nhập khẩutrung gian có thể được ấn định bằng đồng tiền nhà xuất khẩu Do đó, nhà nhập khẩu cóthể thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước nếu như tỉ giá thay đổitheo hướng bất lợi Obstfeld (2001) khẳng định trong một nền kinh tế như vậy, có thể tồntại “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” đáng kể (expenditureswitching effect), theo đó, khôngphải người tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước mà là nhàsản xuất trong nước Mặt khác, Devereux, Engel & Tille (1999) lưu ý rằng khả năng thaythế hàng nhập khẩu bằng hàng hóa sản xuất trong nước của các nhà phân phối hàng hóanhập khẩu được định giá bằng ngoại tệ là nhỏ Do vậy, mức độ thay thế hàng hóa xácđịnh độ lớn “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu” và ERPT.

4 Nguyên nhân của những khác biệt về ERPT:

Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vàomỗi nước và thời gian, cũng như giữa giá cả ở các mắt xích của dây chuyền sản xuất (giánhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi mộtquốc gia

Trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt

nó, chiến lược định giá lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành

Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổimức lợi nhuận của công ty (hiệu số giữa giá bán và giá thành sản phẩm) nhằm đối phóvới sự thay đổi của tỉ giá

Cơ sở lí luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Dornbursch(1987), trong đó, những khác biệt về ERPT được lí giải thông qua các mô hình lí thuyết

tổ chức công nghiệp, mà cụ thể là, mức độ tập trung hóa của thị trường, mức độ thâmnhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sảnxuất trong nước Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuậnbiên nhỏ) và tỉ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPTcàng lớn Nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và được phân đoạn, phản ứng củacác công ty đối với biến động của tỉ giá có thể khác nhau Ví dụ, nếu công ty có quyền

Trang 13

lực thị trường, và họ kì vọng tối đa hóa lợi nhuận của mình, ERPT sẽ phụ thuộc nhiềuvào các nhân tố khác (Phillips, 1998) Ngược lại, nếu công ty hướng đến mục tiêu tối đahóa thị phần của mình, ERPT sẽ nhỏ hơn (Hooper & Mann, 1989; Ohno, 1990) Hơn nữa,nếu tồn tại khả năng phân biệt hóa giá cả giữa các thị trường, có thể phát sinh tình huống

“định giá theo thị trường”, dẫn đến việc hình thành ERPT khác nhau trên các phân đoạnthị trường khác nhau (Krugman, 1986; Gagnon & Knetter, 1992) Cuối cùng, chiến lượcđịnh giá của công ty phụ thuộc vào kì vọng biến động tương đối của tỉ giá trong tương lai

và khung thời gian dự báo (Froot & Klemperer, 1988; Ohno, 1990)

Trên cơ sở các nguyên tắc này, Feinberg (1986, 1989) kết luận, ERPT đến giá củanhà sản xuất trong nước sẽ mạnh hơn ở các ngành có mức độ tập trung nhỏ hơn và ở cácngành, nơi có tỉ trọng nhập khẩu cao hơn Yang (1997) cho rằng, ERPT có mối tươngquan cùng chiều với mức độ phân biệt hóa sản phẩm (nghĩa là có mối tương quan nghịchvới khả năng thay thế của hàng hóa) và có mối tương quan nghịch với độ co giản của chiphí biên theo sản lượng

Menon (1996) đã đánh giá ERPT đến giá cả một số nhóm hàng hóa riêng biệt vàphát hiện rằng, ERPT tỉ lệ nghịch với các hạn chế định lượng (quota) đối với nhập khẩu,kiểm soát của nước ngoài (sự hiện diện của tập đoàn đa quốc gia), mức độ tập trung hóasản xuất, mức độ phân biệt hóa sản phẩm và tỉ lệ nhập khẩu trong tổng doanh thu bánhàng và tỉ lệ thuận với độ co dãn thay thế giữa hàng nhập khẩu và hàng trong nước Mộtphần kết luận của Menon có sự đối lập với kết luận của Yang và một số tác giả khác Trênphạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối của cầu vàcung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô (Phillips, 1988)

Thứ nhất, trong điều kiện không phát sinh các cơn sốc khác, độ co dãn của cầu và

cung theo giá là các nhân tố quyết định độ lớn của ERPT Đối với hàng hóa xuất khẩu,mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng lớn và độ co dãn của cungcàng thấp Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãncủa cầu càng nhỏ và độ co dãn của cung càng lớn (Spitaller, 1980) Do đó, ERPT phải làtoàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì cầu đối với xuất khẩu là co dãn tuyệt

Trang 14

đối và cung nhập khẩu là co dãn tuyệt đối do quốc gia đó không có khả năng tác độngđến thị trường thế giới.

Thứ hai, nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô của lí thuyết tổ chức công

nghiệp thì có thể kết luận rằng tỉ trọng nhập khẩu càng lớn thì ERPT đến giá trong nướccàng mạnh Cũng vậy, các công trình nghiên cứu gần đây về giả thiết định giá theo thịtrường (“pricing-to-market hypothesis”) của Krugman (1987) và Marston (1990) chothấy tác động của việc định giá đến ERPT Knettter (1993) kết luận rằng ngành nghề, chứkhông phải quốc tịch của công ty mới có ảnh hưởng nhiều hơn đến hành vi định giá củacông ty Như vậy, những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là do những khácbiệt về cơ cấu các ngành ở các quốc gia đó Nếu như công ty ít quan tâm đến chiến lượcđịnh giá trên các thị trường nhỏ, hiệu ứng “pricing-to-market” sẽ yếu và do đó, ERPT sẽmạnh hơn trong các nền kinh tế nhỏ

Thứ ba, Mann (1986) trong công trình nghiên cứu của mình, đã khảo sát một số

biến kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT Ông cho rằng, tỉ giá thườngxuyên biến động có thể làm giảm ERPT bởi vì, các nhà nhập khẩu có thể thiên về điềuchỉnh tỉ suất lợi nhuận hơn là giá cả Wei & Parsley (1995) và Engel & Rogers (1998) đãcung cấp những bằng chứng thực nghiệm để khẳng định giả thiết này ở phạm vi ngành vàsản phẩm Do đó, ERPT phải thấp hơn ở các nước có tỉ giá biến động thường xuyên hơn.Tuy nhiên, nếu như công ty kì vọng rằng sự thay đổi của tỉ giá có tính chất lâu dài, chứkhông phải mang tính tạm thời thì nhiều khả năng, công ty sẽ thay đổi giá cả hàng hóa,chứ không phải tỉ suất lợi nhuận, nên dẫn đến việc ERPT sẽ cao hơn Vì vậy, ERPT phảicao hơn ở các nước, nơi mà những thay đổi của tỉ giá thường kéo dài hơn (tỉ giá ổn địnhhơn) Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT – đó là tính ổnđịnh của tổng cầu (Mann, 1986) Nhưng thay đổi của tổng cầu cùng với dao động của tỉgiá có ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranhkhông hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia

có tổng cầu biến động nhiều hơn Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đếnERPT Lí do lựa chọn đồng tiền định giá, được nghiên cứu ở nhiều công trình khoa học

Trang 15

(Bachetta & Van Wincoop, 2001; Devereux & Engel, 2001; Giovannini, 1998) được cho

là tính ổn định của nội tệ Một nước với đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỉ lệ nhậpkhẩu khá lớn được định giá bằng ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơnđối với các công ty chỉ kinh doanhtrên thị trường nội địa Trong tình huống này, tỉ giá cónhững tác động không chỉ đối với giá hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với giá hàng hóaphi ngoại thương (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần (Tsesliuk, 2002) Một nhân tốkhác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác biệttrong mức lạm phát Taylor (2000) khẳng định môi trường lạm phát ở trong nước càngthấp và ổn định thì ERPT cũng càng nhỏ Giả thiết của Taylor về mối quan hệ giữa lạmphát và ERPT đã được kiểm định trong bài viết “Exchange Rate Pass-Through ToDomestic Prices: Does The Inflationary Environment Matter?” của Ehsan U Choudhri vàDalia S Hakura vào năm 2001 Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dầnkhi tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công tyhướng đến việc tối đa hóa thị phần của mình Theo kết luận của Dubravko & Marc(2002), ERPT đã giảm từ giữa những năm 90 ở các nước đang phát triển, có thể là do cácđiều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn và kết quả của cáccuộc cải cách cơ cấu được thựchiện trong thời gian gần đây

6 Các nghiên cứu trước đây:

1 Nghiên cứu của Taylor:

Taylor cho rằng quán tính và độ biến động của lạm phát càng thấp thì cảng giảmkhả năng của các công ty trung chuyển chi phí của họ sang giá bán do những biến độngcủa tỷ giá hay nhân tố khác, vì vậy ERPT thấp Bài nghiên cứu này cho ta thấy rằng lạmphát thấp được quan sát trong nhiều nước trong những năm gần đây đã làm giảm sự dịchchuyển và sự làm giá của doanh nghiệp Cụ thể, mô hình của việc điều chỉnh giá trongmôi trường cạnh tranh độc quyền ám chỉ rằng sức mạnh giá cả và sự liên tục của chi phí

có liên quan với nhau Đối với một doanh nghiệp đang quyết định vào việc điều chỉnh giá

cả thì lạm phát thấp có thể được kết hợp với sự thay đổi chậm trong chi phí và giá cả tạicác doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Nếu như giá cả đã được thiết lập cho vài thời kỳ

Trang 16

trước thì sự thay đổi chậm hơn sẽ dẫn đến việc dịch chuyển nhỏ hơn (không trùng với sựtăng giá và chi phí) Điều này sẽ đúng nếu giá chi phí tăng bắt nguồn sự thay đổi của giánhập khẩu do có sự giảm phát của tỷ giá hoặc có sự thay đổi trong giá hàng hóa hoặclương Bởi vì đã có bằng chứng chỉ ra việc lạm phát thấp kết hợp với xu hướng thay đổichậm, mô hình đã giải thích sự chuyển dịch khá ít trong những năm 1990 trong nhữngnước có lạm phát thấp.

2 Nghiên cứu của Romer: Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory

and Evidence”

Bài viết này cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát trung bình thì thấp hơn ở các nền kinh tếnhỏ và mở cửa Mối quan hệ này là có ý nghĩa thống kê, mẫu lớn, tương quan mạnh Nóđúng với hầu hết các quốc gia, ngoại trừ vài nước phát triển cao có tỷ lệ lạm phát trungbình thấp và không liên quan đến sự mở cửa của nền kinh tế Ở các quốc gia có chế độchính trị kém ổn định và ngân hàng trung ương thiếu tính độc lập thì mối tương quan âmgiữa lạm phát và mức độ mở cửa càng được thể hiện rõ nét hơn (xem biểu đồ Figure I ).Cuối cùng, mối quan hệ này đo lường tương đối mức độ biến thiên về tỷ lệ lạm pháttrung bình của các quốc gia

Trang 17

Bài viết cũng đề xuất một giải thích về mối quan hệ này Bởi vì chính sách mở rộngtiền tệ đột ngột sẽ dẫn đến khấu hao tỷ giá hối đoái thực, và tác hại của khấu hao thực làlớn hơn trong nền kinh tế mở, lợi ích của việc mở rộng bất ngờ sẽ làm giảm vai trò củaviệc mở cửa nền kinh tế Vì vậy, nếu có sự cấu kết của các cơ quan quản lý trong việc mởrộng chính sách là một quyết định ngăn chặn quan trọng của lạm phát, có nghĩa là nếuthiếu đi yếu tố ràng buộc loại trừ là cần thiết đối với chính sách tiền tệ, cơ quan quản lýtiền tệ có thẩm quyền ở các nền kinh tế có mức độ mở cửa cao hơn thì mức độ mở rộng

sẽ dưới trung bình, và kết quả sẽ có tỷ lệ lạm phát dưới mức trung bình Diễn giải kết quảnày ngụ ý rằng các nước phát triển cao nhất có thể tìm thấy một số giải pháp để khắcphục các vấn đề xung đột trong chính sách tiền tệ tối ưu, nhưng các nước còn lai không

có khả năng này Bài viết xem xét hai nghiên cứu khác giải thích về tương quan âm giữa

Trang 18

sự mở cửa và lạm phát, một nghiên cứu dựa trên sự mở cửa nội sinh và nghiên cứu kiadựa vào khả năng của chính phủ để thu thập các loại doanh thu khác nhau có ảnh hưởngnhư thế nào đối với mức độ mở cửa, và thấy rằng nó không phù hợp với thực tế.

Những phát hiện này cho thấy rằng các mô hình trong đó thiếu đi yếu tố ràng buộcloại trừ trong chính sách tiền tệ dẫn đến mức lạm phát trung bình cao hơn mức cần thiết,trong khi nó rất cần thiết để ước lượng được lạm phát ở hầu hết các nước trên thế giới.Kết quả quan sát này là của Rogoffs, chỉ ra rằng chính sách quốc tế phối hợp có thểkhông được mong đợi trong trường hợp thiếu đi yếu tố loại trừ: bởi vì phối hợp mở rộngcủa hai nước không thể làm cho đồng tiền của mỗi nước mất giá so với các nước khác,các khuyến khích để mở rộng (và do đó dẫn đến trạng thái cân bằng lạm phát) là cao hơndưới sự phối hợp Nói cách khác, bằng cách phối hợp chính sách tiền tệ của họ, hai nước

sẽ khiến mình trở thành một nền kinh tế lớn hơn, và do đó mức độ mở cửa của nền kinh

tế sẽ kém đi Việc này sẽ hạn chế tác động của khấu hao thực sự gây ra bởi sự mở rộngbất ngờ tiền tệ, và do đó làm tăng trạng thái cân bằng lạm phát Cùng một lý do trực tiếpdẫn đến dự đoán mà tác giả tập trung vào trong bài viết này là: quốc gia càng lớn, và do

đó càng ít mở cửa nền kinh tế, đó là động lực để nó tiếp tục mở rộng, và tỷ lệ cân bằnglạm phát cao hơn Vì vậy, các mô hình có mức lạm phát trung bình cao hơn mức cầnthiết phát sinh từ sự thiếu đi yếu tố ràng buộc loại trừ sẽ dự đoán một mối quan hệ nghịchbiến giữa mức độ mở cửa và lạm phát Các kết quả cũng cho thấy rằng tăng cường hợptác kinh tế và hội nhập, ngoại trừ hầu hết các nước phát triển cao, nên được xem xét mộtcách thận trọng: trong việc thiếu đi một số cơ chế để khắc phục các vấn đề xung đột, tăng

sự hội nhập có thể dẫn đến sự gia tăng lớn trong lạm phát

Trang 19

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU:

7 Phương pháp nghiên cứu:

4.1.1.2. Ưu điểm của mô hình:

Không cần xác định biến nào là biến nội sinh biến nào là biến ngoại sinh hay là ta

có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ

4.1.1.3. Nhược điểm của mô hình:

- Do trọng tâm mô hình được đặt vào dự báo nên ít được dùng trong phântích chính sách

- Khi xét đến mô hình Var ta còn phải xét đến tính dừng của các biến trong

mô hình

- Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp

4.1.1.4. Phương pháp ước lượng mô hình Var:

Phương pháp ước lượng mô hình Var:

Trang 20

- Xét tính dừng của các biến trong mô hình Nếu chưa dừng thì dung kỹ thuậtlấy sai phân để đưa về các chuỗi dừng.

- Lựa chọn khoảng trễ phù hợp

- Xem xét mức độ phù hợp của mô hình chạy ra (bằng cách kiểm định tínhdừng của phần dư Nếu phần dư của mô hình dừng thì mô hình nhận đượcphù hợp với chuỗi thời gian và ngược lại

- So sánh các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp nhất

2 Sử dụng phương pháp Var trong bài nghiên cứu:

Phân tích được thực hiện bằng cách sử dụng mô hình VAR chuẩn :

Việc xác định cú sốc cấu trúc bằng cách sắp xếp thích hợp các biến và áp dụng phân

tích Cholesky đối với ma trận hiệp phương sai để làm giảm số dư εt

Điểm khởi đầu của phân tích, mô hình VAR 6 biến giống như của McCathay 2000

và Hahn 2003 Mô hình VAR cơ bản áp dụng cho các quốc gia khác nhau bao gồm :

- oilt: Chỉ số giá dầu

- yt : biến đầu ra.

- et: tỷ giá hối đoái

- pimt: chỉ số giá nhập khẩu.

- cpit: Chỉ số giá tiêu dùng.

- it : lãi suất ngắn hạn.

Tỷ giá hối đoái và hai biến giá cả là những biến chính trong phân tích của tác giả.Biến đầu ra và giá dầu để xem xét sự tác động đến mặt thực của nền kinh tế Biến lãi suất

Trang 21

nhằm xem xét sự ảnh hưởng của thị trường tiền tệ, bao gồm cả tác động của chính sáchtiền tệ đến sự chuyển dịch.Trong mô hình cơ bản, các biến được sắp xếp theo thứ tự nhưtrên.

Trong mô hình cơ bản, các biến sẽ được sắp xếp theo thứ tự như trên Việc sử dụngmột chương trình nhận dạng đệ quy ngụ ý rằng những cú sốc trong ngắn hạn đã đồng thờiảnh hưởng đến các biến tương ứng và các biến được sắp xếp ở vị trí sau, nhưng lại không

có tác động đến những biến được sắp xếp trước đó Do đó, dễ dàng để sắp xếp hầu hếtcác biến ngoại sinh, trong trường hợp này biến đầu tiên là giá dầu Vì vậy, những cú sốccủa giá dầu ảnh hưởng đồng thời đến tất cả biến khác trong mô hình nhưng giá dầu không

bị ảnh hưởng đồng thời bởi bất kỳ cú sốc nào khác Các biến tiếp theo trong mô hình đó

là biến đầu ra và tỷ giá Với cách sắp xếp này tác giả cho rằng có sự tác động đồng thờicủa cú sốc cầu lên tỷ giá, trong khi tác động của cú sốc tỷ giá lên biến đầu ra cần một độtrễ Tiếp theo là biến giá, nó bị tác động đồng thời bởi các cú sốc đã đề cập trên (cú sốcgiá dầu, cú sốc cầu, cú sốc tỷ giá) Theo chuỗi giá cả, giá nhập khẩu đặt trước giá tiêudùng cho thấy sự tác động đồng thời của cú sốc giá nhập khẩu lên giá tiêu dùng nhưngkhông có sự tác động ngược lại Cuối cùng là biến lãi suất (xem xét trong thị trường tiền

tệ thông qua chính sách tiền tệ) phản ứng lại đồng thời lên tất cả các biến trong mô hình.Các kỹ thuật cơ bản thể hiện chỉ là một trong nhiều lựa chọn thay thế hợp lý trong điềukiện hiểu biết cho phép Do đó, tác giả thực hiện phân tích sự biến động (độ nhạy) bằngcách sử dụng hai mô hình khác

Bài viết này xem xét lại các kết quả từ các nghiên cứu trước, tìm ra độ lớn củaERPT và sự khác biệt giữa các quốc gia bằng mô hình VAR cho các nước mới nổi và chonền kinh tế các nước công nghiệp hóa ví dụ như: Khu vực sử dụng đồng Euro, Hoa Kỳ vàNhật Bản , Cách tiếp cận phương trình song song được sử dụng để tính đến khả năng nộisinh cao và tiềm năng giữa các biến xem xét Đơn giản, chỉ cần bỏ qua sự đồng thời đó,như thường được thực hiện trong các phương trình đơn, sẽ cho kết quả sai lệch vớiphương trình song song Hơn nữa, mô hình mẫu được lựa chọn vì nó chỉ ra các tác độngphản ứng của các biến với những cú sốc ngoại sinh qua thời gian Công trình nghiên cứu

Trang 22

cho đến nay đã ước tính các mô hình phương trình đơn lẻ hoặc hệ thống các mô hìnhphương trình cho từng quốc gia riêng biệt, hoặc thiết lập các mô hình phương trình đơnkhác cho một hệ thống các quốc gia lớn (trích theo Choudhri và Hakura (2006), vàMihaljek v.v…, 2000) Thay vào đó, trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp

hệ thống một số nước đáng kể trong 3 khu vực thị trường mới nổi chính của thế giới, cụthể là Châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháptương tự với ba nền kinh tế công nghiệp lớn, đảm bảo tính so sánh thông qua các kết quảnghiên cứu của các quốc gia này Bằng cách đánh giá từng mô hình của mỗi quốc giatrong khoảng thời gian dài nhất, hơn nữa tác giả hướng tới độ chính xác cao nhất có thểtrong ước lượng sự chuyển dịch cho mỗi quốc gia Về mặt này, thành phần quan trọng đểphân tích là việc thiết lập cơ sở dữ liệu có thể so sánh được và phù hợp với mỗi quốc giatheo định kỳ hàng quý, mà tiêu biểu cho thách thức chủ yếu là việc tìm nguồn cũng nhưchất lượng của các dữ liệu cho các nước thị trường mới nổi Điều này cũng đã giúp tácgiả đáp ứng những yêu cầu của một hệ thống phương pháp nghiên cứu dựa trên số lượngbiến tương đối cao để cho phép xem xét động lực đủ phong phú và để tránh sự thiên lệchbiến bị bỏ sót

Sau khi tác giả sử dụng những kết quả của các quốc gia tác giả xem xét để nghiêncứu các thông lệ trước đây rằng ERPT ở thị trường mới nổi cao hơn trong nền kinh tếcông nghiệp hóa và nghiên cứu các mô hình về hiệu ứng trung chuyển tỷ giá trong mốitương quan của chúng, trích dẫn theo McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006)

Dù ERPT cao hay không cao ở thị trường mới nổi có thể là vấn đề để cân nhắc việc xácđịnh cán cân thương mại cũng như sự lựa chọn chế độ tỷ giá của một quốc gia Mức độtương đối cao của sự chuyển dịch cho các nước đang phát triển cũng đã được xem như làmột nhân tố cơ bản chứng minh rõ ràng "khuynh hướng tránh dao động tỷ giá" của cácnước đang phát triển Nó cũng có ý nghĩa bởi vì sự chuyển dịch thấp ở thị trường mới nổi

có thể khiến năng lực thị trường của các công ty ở những quốc gia này gia tăng khôngngừng, như là xu hướng toàn cầu hoá Tuy nhiên, những quốc gia thị trường mới nổi bộc

lộ những nét đặc trưng quan trọng gây khó khăn trong việc ước lượng ERPT một cáchđáng tin cậy Một số nước châu Á thường xuyên theo đuổi các chính sách tích cực nhằm

Trang 23

kiểm soát tỷ giá hối đoái Các quốc gia Trung và Đông Âu đã trải qua một sự chuyển biếncăn bản nền kinh tế của họ trong những năm 1990 Cuối cùng, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước

Mỹ Latinh đã trải qua những bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phátrất cao và / hoặc biến động tỷ giá và lãi suất mạnh

Kết quả của tác giả chỉ hỗ trợ một phần quan điểm phổ biến rằng mức độ ERPT ởthị trường mới nổi cao hơn ở các nước phát triển (sử dụng như một chuẩn mực của Mỹ,khu vực sử dụng đồng Euro và Nhật Bản) Cụ thể hơn, tác giả thấy rằng nền kinh tế mớinổi lạm phát thấp (đặc biệt là nền kinh tế của các nước châu Á) sự chuyển dịch đến giátiêu dùng khá thấp Liên quan đến vấn đề này, bài nghiên cứu ủng hộ toàn bộ giả thuyếtcủa Taylor, việc tìm kiếm bằng chứng về tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạmphát ở những thị trường mới nổi Mối liên kết này có ý nghĩa mang tính thống kê trên tất

cả các phương pháp xác định khác nhau đang được xem xét khi loại trừ 2 nước Nhưtrong các nghiên cứu liên quan, thông thường, vai trò của sự mở cửa được tìm thấy làyếu, thậm chí sau khi kiểm soát được mức độ tỷ lệ lạm phát

3 Mô hình VECM:

Khi hồi quy mô hình với các biến là chuỗi thời gian thì yêu cầu đặt ra là các chuỗinày phải dừng trong trường hợp các chuỗi này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân củachúng cho đến khi có được chuỗi dừng tuy nhiên, khi ta hồi quy các giá trị sau khi đã lấysai phân có thể sẽ bỏ sót những thông tin dài hạn trong mối quan hệ giữa các biến Chính

vì thế khi hồi quy những mô hình đã lấy sai phân phải có thêm phần dư E Ví dụ đốivới

mô hình có hai biến Y1và Y2 ta có:

+ +

Số hạng chính là phần mất cân bằng Mô hình ước lượng sự phụ thuộc của mứcthây đổi của Y1 vào mức thây đổi của Y2 và mức cân bằng ở thời kì trước Mô hình trênđược gọi là mô hình hiệu chỉnh sai số ECM

Mô hình VECM là một dạng của mô hình Var tổng quát, được sử dụng trong trườnghợp chuỗi dữ liệu là không dừng và chứa đựng mối quan hệ đồng kết hợp

Trang 24

Mô hình VECM tổng quát:

8 Mô tả dữ liệu:

Trong nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích vào các quốc gia từ ba khu vựctrên Thế giới, Châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông), cácquốc gia Trung và Đông Âu (Cộng Hòa Czech, Hungary, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ) và cácnước Mỹ Latinh (Argentina, Chile và Mexico) Các quốc gia này được chọn gồm cácquốc gia có thị trường mới nổi tiêu biểu trong khu vực này Ở mỗi quốc gia tác giả thuthập dữ liệu theo quý trong quá khứ

- Giá dầu sẽ được tính bằng giá dầu thô theo đồng USD

- Biến đầu ra được sử dụng là GDP, dù trong vài trường hợp tác giả đã sửdụng sản lượng công nghiệp để có một mẫu đầy đủ hơn trong nghiên cứu

- Tác giả đã sử dụng chính sách tỷ giá danh nghĩa ở các quốc gia

- Giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được quy về đồng nội tệ, ngoại trừ TrungQuốc do phân tích giá nhập khẩu và giá tiêu dùng không có giá trị

- Và cuối cùng, lãi suất ngắn hạn đại diện cho công cụ của chính sách tiền tệ.Một dữ liệu mẫu qua các giai đọan đã được xác định là phù hợp và có sựkhác nhau giữa các quốc gia (Phụ lục mô tả chi tiết về nguồn gốc các dữliệu, dòng đầu tiên trong Bảng 1 và 2 của mẫu nghiên cứu)

Tóm lược về các điều kiện kinh tế vĩ mô của các thị trường mới nổi trong thời kỳcủa mẫu được thể hiện ở Bảng 1 Mức độ lạm phát trung bình thì tương đối thấp tại cácquốc gia Châu Á, đặc biệt là Đài Loan và Singapore Cả hai quốc gia này đã quản lý nềnkinh tế để có được sự kết hợp hài hòa giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phátthấp và chính sách ổn định tỷ giá danh nghĩa có hiệu quả, cả về giá trị và độ bất ổn Cácquốc gia Trung và Đông Âu cũng kết hợp đầu ra tăng trưởng cao vào khoảng 2-3% nhưngmột tỷ lệ lạm phát giảm Đặc biệt hơn, tình trạng giảm phát xuất hiện sớm ở Cộng hòaSéc mặc dù nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và nó kéo dài cho đến những năm saukhi khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 kết thúc Trong khoảng thời gian được xem xét,cùng với việc hòa nhập trở lại với hệ thống kinh tế thị trường của Cộng hòa Séc,

Ngày đăng: 26/04/2018, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w