1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc SGK tiếng việt ở tiểu học

50 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 345,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Đề tài "Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩn thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học" được nghiên cứu và hoàn thành dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy những công tr

Trang 1

SGK TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

Th.S PHAN THỊ THẠCH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian cố gắng, nỗ lực của bản thân, đề tài khóa luận đã được hoàn thành Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phòng Đào tạo Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, tới các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài khóa luận của mình

Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo Th.S Phan Thị Thạch đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành tốt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài "Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩn thơ thuộc

SGK Tiếng Việt ở Tiểu học" được nghiên cứu và hoàn thành dựa trên cơ sở

kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả, cộng với sự cố gắng, phấn đấu của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của cô

Trang 4

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

SGK : Sách giáo khoa Nxb : Nhà xuất bản

GS : Giáo sư

THCS : Trung học cơ sở

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 Cơ sở lí luận 6

1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 6

1.1.1 Từ láy 6

1.1.1.1 Khái niệm 6

1.1.1.2 Phân loại 7

1.1.1.3 Chức năng của từ láy 10

1.1.2 Phân biệt từ láy với từ đơn đa âm tiết và từ ghép 11

1.1.2.1 Phân biệt từ láy với từ đơn đa âm tiết 11

1.1.2.2 Phân biệt từ láy với từ ghép 11

1.1.3 Văn bản 12

1.1.3.1 Khái niệm 12

1.1.3.2 Đặc trưng của văn bản 13

1.2 Cơ sở tâm lí học và giáo dục học 14

1.2.1 Cơ sở tâm lí học 14

1 2.1.1 Năng lực tư duy của học sinh Tiểu học 15

1.2.1.2 Tình cảm, cảm xúc của học sinh Tiểu học 16

1.2.1.3 Khả năng ngôn ngữ 16

Trang 6

1.2.2 Cơ sở giáo dục học 17 1.3 Tiểu kết chương 1 18

Chương 2: Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ

thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học 19

2.1 Khái quát kết quả khảo sát thống kê phân loại các tác phẩm thơ

thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học 19 2.1.1 Tỉ lệ các tác phẩm thơ được phân chia theo thể loại 19 2.1.2 Tỉ lệ các tác phẩm thơ được phân chia theo đề tài 25 2.2 Kết quả thống kê phân loại từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc

SGK Tiếng Việt ở Tiểu học 28 2.2.1 Tiêu chí phân loại từ láy 29 2.2.1.1 Dựa vào số lượng tiếng (âm tiết) tham gia cấu tạo từ 29 2.2.1.2 Dựa vào các thành tố âm thanh của tiếng (âm tiết) cơ sở

được sử dụng để tạo ra từ theo phương thức hòa phối ngữ âm 29 2.2.2 Kết quả thống kê phân loại từ láy trong các tác phẩm thơ

thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học 29 2.2.2.1 Kết quả thống kê phân loại dự vào số lượng tiếng tham

gia cấu tạo từ 29 2.2.2.2 Kết quả thống kê phân loại từ láy dựa vào thành tố âm

thanh của tiếng cơ sở dùng để tạo từ được tổ chức theo phương

thức hòa phối âm thanh 31 2.3 Hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ ở SGK Tiếng Việt ở

Tiểu học 36 2.3.1 Từ láy có tác dụng tạo hình, biểu cảm trong thơ 36 2.3.2 Từ láy có tác dụng tạo tính nhạc tăng giá trị thẩm mĩ cho lời

thơ 39

KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong các đơn vị của ngôn ngữ, từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm Đơn vị này được các nhà ngôn ngữ học xem như một loại vật liệu đặc biệt mà thiếu nó không thể nói đến sự tồn tại của ngôn ngữ F.desaussure nhà ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới đầu thế kỉ XX đã từng viết:

“Từ là đơn vị ngôn ngữ luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ mặc dù khái niệm này khó định nghĩa”

Vì có tầm quan trọng đặc biệt như vậy, nên từ trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Ngôn ngữ học đại cương, Từ vựng học, Ngữ pháp học, Phong cách học… Chỉ riêng trong từ vựng học Tiếng Việt, việc nghiên cứu về từ là luôn cần thiết và không có hồi kết thúc Đúng như nhận định của GS: Hoàng Văn Hành “Vấn đề về từ trong ngôn ngữ học đại cương cũng như trong ngành Việt ngữ học là vấn đề đã, đang và sẽ tiếp tục được bàn luận” Nhận thức rõ được yêu cầu của ngôn ngữ học nói chung

và từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt nói riêng, chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu

từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học là một việc làm hữu ích, có ý nghĩa khoa học sâu sắc

Với một sinh viên năm cuối của khoa GDTH, tìm hiểu về từ láy trong các văn bản thơ dành cho học sinh Tiểu học còn có ý nghĩa thực tiễn Trước hết, thực hiện đề tài này tác giả khóa luận có điều kiện củng cố, nâng cao những hiểu biết về từ trong tiếng Việt, những cách dùng từ mang tính nghệ thuật và hiệu quả của những cách dùng từ đó trong việc giáo dục nhận thức, giáo dục tình cảm và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh Tiểu học Những kết quả nghiên cứu đó giúp cho tác giả khóa luận có điều kiện làm giàu kiến thức và phương pháp dạy học để dạy tốt hơn môn Tiếng Việt trong đợt thực tập sư

Trang 8

Hiểu rõ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc tìm hiểu từ láy,

chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác

phẩm thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học”

2 Lịch sử vấn đề

Vì từ là đơn vị đặc biệt quan trọng nên nó được nhiều người quan tâm, nghiên cứu Có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu từ láy từ các nguồn tài liệu sau:

2.1 Một số giáo trình từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt

- Từ và vốn từ hiện đại, Nguyễn Văn Tu, Nxb GD, H.1968

- Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu, Nxb GD, H.1981

- Từ trong tiếng Việt, Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH, H.1985

- Vấn đề từ trong tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp, Nxb GD, H.2011 Trong các cuấn giáo trình trên, khi nghiên cứu về từ láy, các tác giả đã đưa ra những nhận định về từ láy như sau:”

Nguyễn Văn Tu cho rằng:

“Những từ lấp láy gồm những âm tiết tương quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm”

(Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb GD, H.1968, Tr 34)

Hay nói khác:

“Đây là những từ giống nhau bộ phận hoặc chỉ là ở vần cái hoặc chỉ là phụ âm đầu”

(Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb GD, H.1968, Tr 39)

Cũng nghiên cứu về từ láy, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng:

“Từ láy là cụm từ cố định được lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ

âm, vừa có giá trị biểu tả gợi cảm”

(Từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp, Nxb ĐH và THCN, H.1985, Tr 91)

Trang 9

Theo Đỗ Hữu Châu:

“Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức ấm tiết”

(Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu, Nxb GD, H.1981,

Tr 138)

Tìm hiểu về từ láy mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm của mình

về loại từ này Tuy mỗi quan niệm diễn đạt không hoàn toàn giống nhau, nhưng đã chỉ ra được những nét đặc trưng của từ láy – một kiểu từ được cấu tạo bằng cách lặp lại ngữ âm của hình vị cơ sở Tìm hiểu về từ láy là vấn đề được nhiều người quan tâm và tiếp tục nghiên cứu

2.2 SGK Tiếng Việt ở Tiểu học và SGK Ngữ Văn THCS

Trong chương trình Tiểu học, nội dung dạy học về từ láy được các tác giả đưa vào phân môn Luyện từ và câu thuộc SGK Tiếng Việt, lớp 4, tập một

Ở bài Từ ghép – từ láy Trong SGK, tác giả chưa nêu ra khái niệm cụ thể về

từ láy, học sinh sẽ được nhận biết về từ láy bằng cách phối hợp những tiếng

có âm hay vần giống nhau, qua các ví dụ… Các em sẽ được củng cố kiến thức

về từ láy thông qua các hoạt động luyện tập, thực hành

Những kiến thức về từ láy lại được các nhà biên soạn SGK lựa chọn và đưa vào thực hiện trong SGK Ngữ Văn lớp 7 ở THCS Ở bài Từ láy, SGK Ngữ Văn lớp 7, tập một

Ở lớp này các em sẽ được học và tìm hiểu sâu hơn về từ láy, biết khái niệm, cấu tạo, phân loại từ láy Các em sẽ được củng cố, khắc sâu hơn những kiến thức về từ láy

2.3 Các khóa luận của sinh viên khoa giáo dục Tiểu học

Trong những năm gần đây một số sinh viên khoa giáo dục Tiểu học đã nghiên cứu về từ tiếng Việt ở góc nhìn của ngữ pháp học, song chưa có ai nghiên cứu, tìm hiểu về hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc

Trang 10

Tổng thuật nghiên cứu về từ láy, có thể thấy rằng đây không phải là vấn

đề hoàn toàn mới vì đã có nhiều người quan tâm và nghiên cứu Nhưng Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học chắc chắn là một vấn đề không cũ vì nó chưa trùng với đề tài khoa học nào

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: "Tìm hiểu hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học "

4 Mục đích nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm những mục đích sau

4.1 Củng cố nâng cao hiểu biết của mình về từ láy

4.2 Làm giàu cho mình những kiến thức đặc thù về từ láy trong một văn bản nghệ thuật ngôn từ

4.3 Giúp các bạn sinh viên, những giáo viên Tiểu học những người mong muốn làm giàu nội dung kiến thức và phương pháp để dạy tốt tiếng Việt ở Tiểu học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận

5.2 Hệ thống hóa những kiến thức về từ láy trong các tài liệu về từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt

5.3 Khảo sát thống kê việc sử dụng từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

5.4 Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp để chỉ ra đặc thù của

từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc đối tượng khảo sát

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu từ láy tiếng Việt và hiệu quả của từ láy trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 11

6.2 Giới hạn các tác phẩm thống kê

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê 63 tác phẩm thơ trong SGK Tiếng Việt lớp 2, 3, 4, 5 thuộc phân môn Tập đọc

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau :

7.1 Phương pháp thống kê phân loại

Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê số lượng văn bản thơ trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, đồng thời thống kê phân loại việc

sử dụng từ láy trong các văn bản thơ

8 Cấu trúc của đề tài

Về cơ bản, khóa luận có cấu trúc 3 phần: Mở đầu; Nội dung; Kết thúc

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

(Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H.1985,

Tr 109)

Trong cuấn giáo trình Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (1968) Nguyễn Văn Tu cho rằng: "Những từ lấp láy gồm những âm tiết tương quan với nhau, giống nhau về ngữ âm"

(Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb GD, H.1968,

Tr 34)

Không đồng nhất với ý kiến của Nguyễn Tài Cẩn, không chung chung như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và sát với đặc thù của từ láy hơn Đó là: "Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết"

(Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, H.1981, Tr 38) Với tư cách một chuyên gia nghiên cứu về từ láy, Hoàng Văn Hành cho rằng:

Trang 13

"Từ láy nói chung là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về ngữ âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa"

(Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, Nxb KHXH, H.1985, Tr 27) Thông qua định nghĩa về từ láy của các nhà khoa học, chúng tôi cho rằng để có thể nắm được nội hàm khái niệm của kiểu từ này, chúng ta cần chú

ý đến những đặc điểm sau của nó:

Từ láy là một kiểu từ phức được cấu tạo theo phương thức hòa hòa phối

âm thanh (còn được gọi là phương thức láy)

Kết quả của việc vận dụng phương thức lặp lại yếu tố ngữ âm (âm thanh) của tiếng gốc sẽ tạo ra một kiểu từ láy có giá trị gia tăng hoặc giảm nhẹ

so với ý nghĩa của tiếng gốc

1.1.1.2 Phân loại

Trong cuấn Từ tiếng Việt do Hoàng Văn Hành làm chủ biên, tác giả Hà Quang Năng đã đưa ra hai tiêu chí phân loại từ láy Hai tiêu chí đó là: số lượng âm tiết trong từ láy và sự thống nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo các thành tố của từ láy theo quy luật hòa phối ngữ âm

a Dựa vào số lượng âm tiết trong cấu tạo từ láy

Dựa vào tiêu chí này, người ta chia từ láy thành

a.1 Từ láy đôi

VD1: đất đai, sạch sẽ, tuổi tác, hỏi han, nhỏ nhắn, xinh xắn…

a.2 Từ láy ba

VD2: dửng dừng dưng, tẻo tèo teo, sát sàn sạt, sạch sành sanh…

a.3 Từ láy tư

VD3: hớt ha hớt hải, khấp kha khấp khểnh, tẩn ngẩn tần ngần, vội vội

vàng vàng…

Trang 14

Trong ba kiểu từ láy trên thì từ láy đôi là kiểu từ cơ bản vì kiểu từ này chiếm số lượng lớn nhất trong từ láy tiếng Việt Đồng thời ở kiểu từ này, tất

cả đặc trưng ngữ âm, ngữ nghĩa của từ láy đều được thể hiện rõ ràng, đầy đủ (Hà Quang Năng )

b Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành tố tham gia cấu tạo từ:

Dựa vào tiêu chí này, người ta chia từ láy thành : từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

b.1 Từ láy hoàn toàn

Theo giáo sư Hoàng Văn Hành "Từ láy hoàn toàn là từ láy có sự đồng nhất tương ứng hoàn toàn giữa các thành tố cấu tạo âm tiết của từ"

Căn cứ vào mức độ đồng nhất về mặt ngữ âm giữa các tiếng trong cấu tạo từ, nhiều nhà khoa học phân loại từ láy hoàn toàn thành hai kiểu như sau :

- Láy âm, láy thanh

Giáo sư Hoàng Văn Hành cho rằng mặc dù trong kiểu từ láy này hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo (âm, thanh) nhưng giữa chúng vẫn

có sự khác biệt Ở tiếng thứ hai của từ bao giờ cũng cũng có sự nhấn mạnh và

có độ dài trong phát âm

VD4 :đỏ đỏ, đẹp đẹp, đùng đùng, đoàng đoàng, nhỏ nhỏ…

- Từ láy âm biến đổi thanh

Đó là kiểu từ láy giữa hai tiếng giống hệt nhau về âm, khác nhau về thanh điệu, do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng (âm tiết) đầu nên xảy ra hiện tượng biến thanh theo quy luật chặt chẽ

VD5 :chồm chỗm, mơn mởn, ngay ngáy, ra rả, sừng sững…

Sự khác biệt về mặt ngữ âm được phân biệt theo hai sự đối lập sau:

- Đối lập bằng trắc: đó là sự đối lập giữa các thanh điệu

- Thuộc nhóm thanh bằng: là thanh không dấu, thanh huyền

Trang 15

- Thuộc nhóm thanh trắc: là thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng

- Đối lập âm vực cao, âm vực thấp chủ yếu theo quy luật cùng âm vực

Sự phối hợp thanh điệu như trên hình thành quy tắc hài thanh đối các thanh điệu bằng – trắc cùng âm vực, tức là trong từ láy hoàn toàn nếu cả hai tiếng đều là thanh trắc thì một tiếng thanh điệu trắc bao giờ cũng chuyển sang thanh bằng cùng âm vực

(Hoàng Văn Hành, Từ trong tiếng Việt, Nxb KHXH, H.1985 Tr 77 )

VD6:

đẹp đẹp – đèm đẹp mởn mởn – mơn mởn tím tím – tim tím chậm chậm – chầm chậm Ngoài hai kiểu từ láy hoàn toàn nêu trên tác giả Hà Quang Năng đã thêm một kiểu từ láy hoàn toàn nữa Đó là kiểu từ láy hoàn toàn khác nhau về phụ âm cuối

VD7: anh ách, chiêm chiếp, san sát…

Chúng tôi cho rằng những từ láy nêu trên nên đưa vào từ láy bộ phận sẽ hợp lí hơn

b.2 Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là từ láy trong đó có sự phối hợp giữa ngữ âm của từng

bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định

Trong tiếng Việt, kiểu từ láy bộ phận là kiểu chính xét cả về số lượng

từ và tính đa dạng, phong phú của quy tắc phối hợp âm thanh

Căn cứ vào sự phối hợp các bộ phận khác nhau của âm tiết, ta có thể chia từ láy bộ phận thành hai kiểu nhỏ là từ láy phụ âm đầu và từ láy vần

Trang 16

b.2.1 Từ láy phụ âm đầu

Đó là kiểu từ láy trong đó âm đầu được lặp lại

VD8: bập bềnh, thập thò, tí tách, róc rách, rì rào, xum xuê…

b.2.2 Từ láy vần

Từ láy vần là từ láy trong đó có phần vần lặp lại ở hai âm tiết, còn phụ

âm đầu khác biệt với nhau

VD9: lác đác, lưa thưa, lô nhô,lúc nhúc, luẩn quẩn…

1.1.1.3 Chức năng của từ láy

a Đỗ Hữu Châu cho rằng: Từ láy có chức năng sắc thái hóa ý nghĩa tiếng cơ sở theo chiều hướng gia tăng hoặc giảm nhẹ

VD10: chầm chậm, dìu dịu, đo đỏ, tim tím, nhè nhẹ…

Những từ láy thuộc kiểu cấu tạo trên thường mang ý nghĩa giảm nhẹ hơn ý nghĩa của tiếng cơ sở (hình vị gốc)

VD11: dợn dợn, đỏ đắn, thuỵch thuỵch…

Những kiểu từ láy thuộc kiểu cấu tạo ở ví dụ trên có ý nghĩa gia tăng hơn ý nghĩa của tiếng cơ sở (hình vị gốc)

Ngoài chức năng gia tăng hoặc giảm nhẹ ý nghĩa của tiếng gốc (hình vị

cơ sở) từ láy còn tiềm tàng khả năng tạo hình biểu cảm

VD12: chán chường, chói chang, đìu hiu,gập ghềnh, hơn hớn,hớt hải,

khúc khuỷu…

b Chức năng tạo tính nhạc của từ láy:

Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm, chính phương thức này tạo nhạc tính tiềm tàng trong bản thân mỗi từ Tính nhạc của

từ láy hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm, cấu tạo của từ, nhờ đó hình thành sự đắp đổi về âm vực, tạo âm hưởng, vần điệu cho từ

VD13: lung linh, lao xao, lấp lánh, xanh xanh…

Trang 17

1.1.2 Phân biệt từ láy với từ đơn đa âm tiết và từ ghép

1.1.2.1 Phân biệt từ láy với từ đơn đa âm tiết

a Từ đơn đa âm tiết

Trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra hai kiểu từ đơn đa âm tiết

Một là: một số ít từ đơn thuần Việt như: bù nhìn, bồ các, chèo bẻo, bồ hóng… Theo tác giả, những từ này xét về nguồn gốc có thể trước đây chúng

là những từ phức, nhưng hiện nay cả hai hình vị (hai tiếng) đã mất nghĩa

Hai là: các từ phiên âm của ngôn ngữ Ấn – Âu như: apatit, a xít, cà phê,

mô tô…

Đỗ Hữu Châu cho rằng việc xếp những từ trên vào từ đơn chẳng những không ảnh hưởng đến nguyên tắc phân loại, mà còn phù hợp với đặc điểm hoạt động hiện nay của chúng

b Phân biệt từ đơn đa âm tiết với từ láy

Trong các từ đơn đa âm tiết, có những từ khi thoáng nhìn rất giống từ láy

VD14: ba ba, chuồn chuồn, châu chấu, thuồng luồng…

Đỗ Hữu Châu cho rằng những từ trên không thể coi là từ láy bởi lẽ giữa các tiếng cấu tạo từ không có tiếng nào được coi là tiếng gốc mang nghĩa Vả lại, số lượng của những từ đơn đa âm tiết kiểu trên chiếm tỉ lệ quá ít không thể đại diện cho một kiểu từ như từ láy

Như vậy từ láy khác với từ đơn đa âm tiết chính là ở chỗ nó là một kiểu

từ phức được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm, kiểu từ này có đặc điểm cấu tạo và đặc điểm nghĩa rõ ràng

1.1.2.2 Phân biệt từ láy với từ ghép

a Khái niệm từ ghép

Từ ghép là một kiểu của từ phức Nó được cấu tạo theo phương thức ghép hai tiếng có nghĩa theo quan hệ đẳng lập hay chính phụ Kết quả của

Trang 18

việc vận dụng phương thức cấu tạo đó sẽ tạo ra một kiểu từ ghép có ý nghĩa khác hẳn với tiếng (hình vị) cơ sở

b.Phân biệt từ láy với từ ghép

Từ láy và từ ghép khác nhau chính từ phương thức cấu tạo từ Từ láy được tạo ra theo phương thức hòa phối ngữ âm tiếng gốc, còn từ ghép được tạo ra theo phương thức ghép hai tiếng (hình vị có nghĩa) theo quan hệ ngữ pháp nhất định

Ý nghĩa của hai kiểu từ được tạo ra từ hai phương thức khác nhau là rất khác nhau Các từ láy do cấu tạo theo phương thức ngữ âm nên có chức năng

“sắc thái hóa ý nghĩa” theo chiều hướng gia tăng hoặc giảm nhẹ ý nghĩa của tiếng cơ sở

Sự kết hợp hai tiếng có nghĩa theo quan hệ đẳng lập sẽ cho ra đời kiểu

từ ghép đẳng lập Những kiểu từ ghép này có ý nghĩa khái quát hơn ý nghĩa của thành tố cấu tạo từ

VD15: ruộng đất, trâu bò, nhà cửa, vợ chồng…

Sự kết hợp hai hình vị có nghĩa theo quan hệ chính phụ sẽ tạo ra kiểu từ ghép chính phụ Những từ ghép kiểu này có ý nghĩa cụ thể, hoặc hẹp hơn ý nghĩa của hình vị đóng vài trò thành tố chính

VD16: hoa hồng, hoa cúc, hoa sen, hoa vi ô lét…

Trang 19

1.1.3.2 Đặc trưng của văn bản

a Về mặt nội dung

Mỗi một văn bản thường thể hiện một chủ đề Chủ đề đó được khai triển theo dụng ý của người tạo lập văn bản Nội dung của văn bản phải có tính mạch lạc, tính lên kết, tính hoàn chỉnh

Tính hoàn chỉnh là việc trình bày văn bản trọn vẹn vấn đề

Trong một văn bản phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn văn bản, ngôn ngữ trong sáng, mạch lạc

Trong cuấn Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, 2011 Diệp Quang Ban đã chỉ rõ: “Mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó ngôn ngữ được tiếp nhận như là có

“mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn có liên quan với nhau”

Liên kết là một đặc trưng cơ bản của văn bản Diệp Quang Ban quan niệm: “Liên kết là một bộ phận biểu hiện của mạch lạc, liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai (hơn hai) yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai (hơn hai) câu (hay khúc đoạn lời nói chung) theo kiểu, muốn hiểu nghĩa của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của các yếu tố kia Trên cơ sở đó, hai câu chứa đựng chúng lên kết được với nhau” (Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Nxb 2011)

b Về hình thức

b.1 Mỗi văn bản thuộc một thể loại nhất định

Chính đặc trưng về thể loại góp phần tạo ra những sắc thái riêng không thể trộn lẫn giữa các văn bản

Chẳng hạn: Văn bản nghệ thuật có thể được phân chia thành ba thể loại lớn là: văn xuôi, thơ và kịch

Trong văn bản thơ, người ta lại chia thành các thể loại sau: Các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, hát nói), thơ Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt), các thể thơ

Trang 20

Mỗi thể thơ cụ thể nêu trên có luật định riêng về số câu, số tiếng về quy luật ngắt nhịp, hiệp vần, hài thanh Trong văn bản thơ lại có những đặc trưng riêng mà ở các văn bản khác không có Chẳng hạn:

Thơ trước hết là nơi để nhân vật trữ tình, nhà thơ gửi gắm tâm tư, tình cảm, bộc lộ cảm xúc

Trong các tác phẩm thơ, hình ảnh thơ đóng vai trò rất quan trọng trong câu Nhiều hình ảnh được sử dụng làm biểu tượng nghệ thuật ngôn từ giàu ý nghĩa, thông qua các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

Yếu tố nhạc điệu không thể thiếu trong các tác phẩm thơ Điều đó được thể hiện ở cách ngắt nhịp, hiệp vần, ở niêm luật, hài thanh…

Giọng điệu trữ tình trong thơ cũng khác với giọng điệu tự sự trong các tác phẩm văn xuôi

b.2 Thuộc về hình thức văn bản là kết cấu của nó

Kết cấu là cách tổ chức của toàn văn bản hoặc từng phần của văn bản cho phù hợp với việc nêu chủ đề

b.3 Cách dùng ngôn ngữ trong văn bản cũng thuộc về hình thức của văn bản

Văn bản là một chỉnh thể thường được tạo ra từ nhiều câu Các câu liên kết với nhau mật thiết về mặt hình thức và nội dung

Ngôn ngữ trong văn bản thường thuộc về một phong cách, chức năng ngôn ngữ nhất định, chúng mang đặc trưng của phong cách đó

Chẳng hạn: Các phương tiện ngôn ngữ trong các văn bản thơ mang đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, đó là tính hình tượng (tính tạo hình biểu cảm), tính hàm súc và tính cá thể hóa

1.2 Cơ sở tâm lí học và giáo dục học

1.2.1 Cơ sở tâm lí học

Các em học sinh Tiểu học có lứa tuổi từ 6 đến 10 tuổi Ở lứa tuổi này các em có những biến đổi quan trọng về tâm sinh lí Do ở lứa tuổi này các em

Trang 21

phải chuyển đột ngột từ hoạt động chơi là chủ yếu sang hoạt động học tập là chủ yếu nên các em sẽ có nhiều sự bỡ ngỡ, và đặc biệt là ở giai đoạn lớp 1 Từ lớp 2 trở đi các em dần dần quen hơn với môi trường học tập, lao động… Dưới đây là một số đặc điểm tâm lí của các em học sinh Tiểu học

1.2.1.1 Năng lực tư duy của học sinh Tiểu học

a Khái niệm về tư duy

Theo giáo trình tâm lí học đại cương của Nguyễn Quang Uẩn – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành thì tư duy được định nghĩa như sau:

“Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết”

b Hai giai đoạn về tư duy

c Năng lực tư duy của học sinh Tiểu học

Căn cứ vào đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh mà người ta chia đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học thành hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: (giai đoạn đầu Tiểu học) lớp 1, 2, 3

Giai đoạn 2: (giai đoạn sau) lớp 4, 5

Quá trình phát triển tư duy của học sinh Tiểu học thể hiện rõ ràng ở từng độ tuổi, từng lớp học Ở giai đoạn đầu Tiểu học tư duy cụ thể chiếm ưu thế, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành tuy nhiên vẫn còn hạn chế ở khả năng khái quát hóa Các em thường căn cứ vào dấu hiệu bề ngoài, trực

Trang 22

quan, chưa chú ý đến bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Sang giai đoạn sau (giai đoạn lớp 4, 5) tư duy cụ thể của các em tiếp tục được phát triển, tư duy trừu tượng dần được hình thành và chiếm ưu thế hơn so với giai đoạn đầu Học sinh có khả năng thực hiện các thao tác trí tuệ Các em bước đầu biết quan sát tìm ra những dấu hiệu đặc trưng của bản chất

sự vật, biết phân biệt đối tượng Các em bước đầu có khả năng lập luận khi trình bày về một vấn đề

1.2.1.2 Tình cảm, cảm xúc của học sinh Tiểu học

Theo giáo trình tâm lí học đại cương của Nguyễn Quang Uẩn – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành: “Tình cảm chính là sự thể hiện rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ”

Như vậy tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí của con người Đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học, tình cảm, cảm xúc có một vị trí hết sức quan trọng vì nó gắn liền với hoạt động nhận thức của trẻ Tình cảm tích cực không chỉ kích thích các em nhận thức mà còn dẫn dắt, đưa các em tới những hoạt động tích cực Ở độ tuổi này các em rất dễ xúc động, khó kìm nén được tình cảm của mình trước những cái đẹp, cái mới lạ và ngộ nghĩnh Song tình cảm của các em còn chưa thật sâu sắc nên dễ bị biến đổi Đơn giản như: hôm nay các em thích bài hát này nhưng ngày mai các em lại thích bài hát khác Vì vậy ở lứa tuổi này các em cần được bồi đắp sâu sắc về tình cảm

Trang 23

thông qua giao tiếp với mọi người xung quanh, tuy nhiên vốn từ đó là rất ít Khi bước vào trường Tiểu học vốn từ của các em dần được phát triển hơn Các em có thể bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình với mọi người xung quanh nhờ vốn từ có sẵn

Việc sử dụng ngôn ngữ để nhận thức, phản ánh nhận thức (để tư duy) cũng có những đặc điểm khác biệt

Do tư duy của các em chủ yếu là tư duy trực quan nên ở giai đoạn này các em chủ yếu vận dụng ngôn ngữ để trình bày về những điều mình biết một cách đơn giản nhất Cuối bậc Tiểu học các em dần biết tư duy trừu tượng Ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú hơn Lúc này các em đã biết sử dụng ngôn ngữ để phân tích, so sánh các sự vật hiện tượng xung quanh mình

1.2.2 Cơ sở giáo dục học

a Mục tiêu dạy học tiếng Việt ở Tiểu học sau năm 2000 nhằm:

a.1 Hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy

a.2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội, con người, văn hóa, văn học của người Việt Nam và nước ngoài

a.3 Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Bám sát mục tiêu dạy học đã đặt ra, các nhà khoa học đồng thời xác định nguyên tắc giáo dục phải được tuân thủ nghiêm túc Các nguyên tắc đó là: Dạy học tiếng Việt phải đảm bảo tính vừa sức, tính phát triển Trong các

Trang 24

nguyên tắc dạy học cần vận dụng ở Tiểu học, việc thực hiện chương trình SGK ở Tiểu học phải tôn trọng những nguyên tắc dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

Theo định hướng của các mục tiêu dạy học và nguyên tắc dạy học tiếng Việt, các tác giả SGK tiếng Việt đã định lượng hóa kiến thức phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Đó cũng là lí do lí giải vì sao việc dạy học từ láy lại đặt trong mục luyện từ và câu Điều đó cũng lí giải vì sao các tác phẩm thơ lựa chọn trong chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học thường ngắn gọn

và đáng yêu đến vậy

1.3 Tiểu kết chương 1

Như vậy ở chương 1 chúng tôi đã lựa chọn một số lí thuyết thuộc đại cương ngôn ngữ học, phong cách học và tâm lí học để xác định cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận của mình Những lí luận có tính chất liên ngành đó sẽ trở thành cơ sở đáng tin cậy để chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu của mình

Trang 25

CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU HIỆU QUẢ CỦA TỪ LÁY TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ

THUỘC SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

2.1 Khái quát kết quả khảo sát thống kê phân loại các tác phẩm thơ thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 63 bài thơ thuộc phân môn Tập đọc có

sử dụng từ láy trong SGK Tiếng Việt lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 do nhà xuất bản giáo dục ban hành

Trong 63 bài thơ được khảo sát có:

13 bài thơ thuộc SGK Tiếng Việt lớp 2

21 bài thơ thuộc SGK Tiếng Việt lớp 3

16 bài thơ thuộc SGK Tiếng Việt lớp 4

13 bài thơ thuộc SGK Tiếng Việt lớp 5

Để phân loại các tác phẩm thơ thuộc đối tượng khảo sát, chúng tôi đã dựa vào hai tiêu chí sau để phân loại:

Tiêu chí thứ nhất: căn cứ vào thể loại tác phẩm gồn có: thơ lục bát, thơ bốn tiếng, thơ năm tiếng, thơ sáu tiếng, thơ bảy tiếng, thơ tám tiếng, thơ tự do

Tiêu chí thứ hai: căn cứ vào đề tài được phản ánh trong các tác phẩm thơ bao gồm thơ viết về đề tài thiên nhiên, về đất nước, về con người

2.1.1 Tỉ lệ các tác phẩm thơ được phân chia theo thể loại

a Trong tổng số 63 bài thơ chúng tôi đã tiến hành khảo sát, có 10 tác phẩm thuộc thể thơ lục bát, chiếm khoảng 15%

VD17:

Sáng nay trời đổ mưa rào

Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương

Ngày đăng: 26/04/2018, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Tu, (1968), Từ và vốn từ hiện đại, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và vốn từ hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1968
2. Đỗ Hữu Châu, (1981). Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1981
3. Nguyễn Văn Hành, (1985), Từ trong tiếng Việt, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1985
4. Nguyễn Thiện Giáp, (2011), Vấn đề từ trong tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2011
6. SGK Tiếng Việt lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD
5. Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w