1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở các trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên vĩnh phúc

73 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 656,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục học sinh tiểu học trong đó có giáo dục đạo đức chiếm một vị trí hết sức quan trọng “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắ

Trang 1

PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo Doãn Ngọc Anh, đã hướng dẫn giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể giáo viên, học sinh các trường Tiểu học: trường Tiểu học Trưng Nhị, trường Tiểu học Hùng Vương, trường Tiểu học Đồng Xuân đã giúp đỡ và tạo điệu kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Phạm Thị Nhưng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi Những kết quả thu đƣợc hoàn toàn chân thực và chƣa có trong đề tài nghiên cứu nào

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Phạm Thị Nhƣng

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5

1.1.Một số vấn đề về đạo đức 5

1.1.1 Khái niệm về đạo đức 5

1.1.2 Khái niệm về giáo dục đạo đức 6

1.1.3 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức 7

1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 7

1.2.1 Khái niệm của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 7

1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 8

1.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 9

1.2.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 9

1.2.4.1 Giáo dục ý thức đạo đức 10

1.2.4.2 Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức 11

1.2.5 Những nguyên tắc hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 12

1.2.5.1 Khái niệm 12

1.2.5.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục 12

1.2.6 Phương pháp giáo dục hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 17

1.2.6.1 Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân 17

1.2.6.2 Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, hình thành kinh nghiệm ứng xử cho học sinh 18

1.2.6.3 Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh các hành vi ứng xử của học sinh 20

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THỊ XÃ PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC 22

Trang 7

2.1 Thực trạng 22

2.1.1 Khảo sát thực trạng về việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở các trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc 22

2.1.1.1 Mục tiêu khảo sát 22

2.1.1.2 Nội dung khảo sát 22

2.1.1.3 Phương pháp khảo sát 22

2.1.1.5 Cách thức tiến hành 23

2.1.2 Kết quả khảo sát đối với giáo viên 23

2.1.2.1 Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm khối 4 23

2.1.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng trong vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 24

2.1.2.3 Thực trạng nhận thức của các giáo viên về vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4 25

2.1.2.4 Thực trạng việc giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 25

2.1.2.5 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 27

2.1.2.6 Thực trạng thực hiện nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 27

2.1.2.7 Thực trạng việc sử dụng phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 32

2.1.3 Kết quả khảo sát đối với học sinh 34

2.2 Nguyên nhân của thực trạng 36

Chương 3 GIẢI PHÁP CẦN THIẾT ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 38

3.1 Nâng cao trình độ nhận thức và năng lực sư phạm của giáo viên 38

3.2 Đầu tư kinh phí cho các hoạt động giáo dục 38

3.3.Vận động mọi lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh 38

3.4 Giáo dục đạo đức thông qua quá trình dạy học 39

Trang 8

3.4.1 Thông qua môn Đạo đức 4 39 3.4.2 Thông qua môn Tiếng Việt 45

3.5 Giáo dục đạo đức thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh 51 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trang 9

Luật giáo dục năm 2005 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ

Tổ Quốc Vậy để đạt được mục tiêu, để thực hiện được mục tiêu giáo dục phổ thông thì “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động và sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[Điều 3, Luật giáo dục của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005]

Đất nước ta đang chuyển mình đổi mới cùng với những mặt tích cực, cuộc sống xã hội cũng đang cọ sát với cái ác, cái xấu ngày càng gia tăng do

đó phải chấp nhận cơ chế thị trường Nó làm cho con người ta năng động, sáng tạo hơn nhưng cũng làm cho con người ta tha hóa về lối sống, nề nếp, bản sắc văn hóa dân tộc… cũng bị đe dọa, xói mòn những giá trị đạo đức Hiện nay trong nhà trường phổ thông, một số học sinh vi phạm đạo đức

có chiều hướng gia tăng tình trạng học sinh nói năng thô tục, chia bè kéo cánh, vô lễ với giáo viên, đánh nhau, trộm cắp,… đang được báo động do vậy giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay đã và

Trang 10

đang là một vấn đề được cả xã hội quan tâm, các nhà giáo dục quan tâm và các bậc phụ huynh quan tâm

Như chúng ta đã biết, trong hệ thống giáo dục ở nước ta Tiểu học là một bậc học có vị trí và vai trò to lớn là bậc học tiếp nối bậc học Mầm Non và là bậc học nền tảng của các bậc học tiếp theo Giáo dục học sinh tiểu học trong

đó có giáo dục đạo đức chiếm một vị trí hết sức quan trọng “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”

[Điều 27, mục 2, Luật giáo dục]

Do đó việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là vô cùng quan trọng, giáo dục đạo đức ngoài thông qua bộ môn Đạo đức là môn học trực tiếp hình thành cho học sinh những tình cảm đạo đức, quy tắc đạo đức, chuẩn mực

và hành vi cho học sinh thì còn thông qua các môn học khác cũng giúp học sinh phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Với tư cách là người giáo viên Tiểu học trong tương lai, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4 ở các trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc và đưa ra một số biện pháp khắc phục những khó khăn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, thông qua đó nhằm góp phần nâng cao chất lượng

và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh một cách toàn diện

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề đạo đức ngày càng được quan tâm Bởi vậy nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục hiện nay không chỉ tạo ra những con người có tài, mà còn phải đào tạo ra những con người có đức, có phẩm chất tốt đẹp Đó là những thế hệ mới đáp ứng được điều kiện, yêu cầu của thời đại Chính vì vậy mà việc giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung

Trang 11

và học sinh Tiểu học nói riêng đang được rất nhiều người quan tâm Cũng đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu thành công về vấn đề này như:

1, Lưu Thu Thủy - Giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua trò chơi

2, Lưu Thu Thủy - Đổi mới phương pháp dạy học Đạo đức ở Tiểu học

3, Nguyễn Thị Thanh Thủy - Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

4, Hà Thế Ngữ - Một số vấn đề về phương pháp giáo dục đạo đức và giáo dục môn Đạo đức ở cấp 1

Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở một số trường tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu về đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4 và nguyên nhân dẫn đến thực trạng, từ cơ sở đó đề ra các giải pháp khắc phục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh thông qua đó góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo

4 Khách thể nghiên cứu của đề tài

Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp

5 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở một số trường tiểu: Trưng Nhị, Hùng Vương, Đồng Xuân khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc

7 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng các giải pháp giáo dục đạo đức thì hiệu quả giáo dục đạo

Trang 12

đức của các trường tiểu học: Trưng Nhị, Hùng Vương, Đồng Xuân khu vực thị xã Phúc Yên-Vĩnh Phúc sẽ được nâng cao

8 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

8.1 Nghiên cứu lí luận của vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

8 2 Thực trạng và nguyên nhân thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở 3 trường tiểu học: Trưng Nhị, Hùng Vương, Đồng Xuân khu vực thị xã Phúc Yên-Vĩnh Phúc

8 3 Các giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 ở các trường tiểu học nói trên

9 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê toán học

10 Kế hoạch nghiên cứu:

- Từ tháng 10/2013 đến tháng 11/2013: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương

- Từ tháng 12/2013 đến tháng 01/2014: Tìm hiểu cơ sở lý luận

- Từ tháng 02/2014 đến tháng 3/2014: Tìm hiểu thực trạng

- Tháng 4/2014: Tổng kết số liệu

- Tháng 5/2014: Đưa ra giải pháp và hoàn thành đề tài

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về đạo đức

1.1.1 Khái niệm về đạo đức

Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong hình thái xã hội phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng chuẩn mực đạo đức Theo quan niệm Mác- xít: “Đạo đức

là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người này với người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội” [3-tr11]

Đạo đức ra đời do nhu cầu của thực tiễn cuộc sống để thực hiện chức năng duy trì mối quan hệ giữa con người với con người, duy trì trật tự xã hội

và thông qua đó làm cho xã hội tồn tại và phát triển

Đạo đức hình thành một cách thự phát ngay trong hiện thực Đạo đức được duy trì bằng lương tâm và dư luận xã hội

Đạo đức là một hiện tượng xã hội xuất hiện đầu tiên khi loài người mới hình thành Đạo đức ra đời và phát triển cùng quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và sự tiến bộ về văn hóa, vật chất, tinh thần của con người Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc, bản chất về đạo đức theo quan niệm triết học Mác-Lênin, Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có quan hệ với hình thái ý thức xã hội khác, nảy sinh từ tồn tại xã hội, phát triển cùng với

sự biến đổi tồn tại xã hội Nhưng đạo đức khác với hình thái ý thức xã hội nó điều chỉnh hoạt động của con người trong mối quan hệ xã hội, giúp con người

tự hoàn thiện nhân cách của mình

Đạo đức là một phạm trù lịch sử Khi điều kiện kinh tế - xã hội sinh ra

nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và quan hệ đạo đức cũng thay đổi theo Với tư cách như một sự định hướng các quan hệ xã hội, vừa với tư cách

Trang 14

phản ánh qua hệ đạo đức của xã hội mới thì sớm hay muộn ý thức đạo đức cũng thay đổi Trong xã hội có giai cấp thì đạo đức mang tính giai cấp rõ rệt, ứng với mỗi giai cấp khác nhau là một nền giáo dục đạo đức khác nhau, nền giáo dục đạo đức của giai cấp này khác nền giáo dục đạo đức của giai cấp kia

là mục đích, nội dung, phương pháp

Đạo đức là một nhân tố quan trọng của nhân cách và được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề đánh giá tốt/ xấu, sai/đúng, lành/ác, hiền/ dữ… trong phạm vi: lương tâm con người,hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt mà đôi lúc còn được gọi là giá trị đạo đức Đạo đức gắn liền với văn hóa, chủ nghĩa nhân văn, triết học và pháp luật của một xã hội Hay nói một cách dễ hiểu, đạo đức là một khuynh hướng tốt đẹp trong tâm hồn con người, mà khuynh hướng đó tạo nên những lời nói, hành vi bên ngoài phù hợp với những quy tắc xử sự của cộng đồng xã hội khiến cho mọi người xung quanh được an vui, lợi ích, chuyển hóa

Có thể nói đạo đức là cái tốt, cái đúng bên trong con người được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói hành vi Đạo đức là cái gốc bên trong được chuyển hóa thành lời nói và hành vi tốt đẹp bên ngoài Tức là con người phải

có nhận thức đúng, tốt về sự vật hiện tượng và từ đó có lời nói, hành vi tốt đẹp, đúng đắn với sự vật hiện tượng Để có được nhận thức đúng cần phải có giáo dục “Hiền dữ đâu phải tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”(Hồ Chí Minh) Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phải được thực hiện ngay từ lúc nhỏ, từ lứa tuổi Tiểu học

1.1.2 Khái niệm về giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết về quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà trẻ đang sống Trên cơ sở đó, hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con người Việt Nam mới

Trang 15

Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người nói chung và thế hệ trẻ nói riêng

1.1.3 Khái niệm quá trình giáo dục đạo đức

Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích xuất phát

từ những yêu cầu của xã hội, từ mong muốn của nhà giáo dục dẫn dắt thế hệ trẻ vươn tới những chuẩn mực văn hóa xã hội phù hợp với những truyền thống dân tộc và thời đại nó mang tính định hướng xã hội

Giáo dục đạo đức là quá trình lâu dài được thực hiện trong suốt cuộc đời mỗi con người và thực hiện ở mọi lúc mọi nơi Như vậy, giáo dục là suốt đời Giáo dục đạo đức là quá trình phức tạp, diễn ra nhiều mâu thuẫn

Giáo dục đạo đức là quá trình có những quy luật chung có số đông, nhưng có ngoại lệ với đặc điểm cá biệt Do vậy quá trình giáo dục đạo đức là quá trình gắn với những đối tượng cụ thể

Quá trình giáo dục này là quá trình chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố khách quan bởi các yếu tố như môi trường chính trị - xã hội, trình độ kinh tế - văn hóa … và quá trình giáo dục chỉ có hiệu quả khi gắn liền với quá trình tự giáo dục

1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

1.2.1 Khái niệm của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là quá trình tác động từ nhiều con đường khác nhau làm cho nhân cách của học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ của các cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững, có bản lĩnh đạo đức để ứng xử đúng trong mối quan hệ xã hội [3-tr42]

Trang 16

1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

Chúng ta có thể nhận thấy thành phần quan trọng và căn bản của giáo dục phổ thông và cũng là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục đạo đức thế

hệ trẻ trong giáo dục không những có kiến thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng - đạo đức của con người xã hội chủ nghĩa Cho nên công tác giáo dục trước hết phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho người học, coi đó là cái gốc của phát triển nhân cách

Giáo dục đạo đức cho học sinh có vai trò rất quan trọng: góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp các em rèn luyện ý thức, trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ tuổi nhỏ, biết sống hợp đạo lí và tuân thủ pháp luật.[3-tr43]

Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết vì

vị trí của các em trong tương lai của nước nhà, làm cho các em trở thành những công dân tốt, đủ phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ gánh vác vận mệnh dân tộc Đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng

Bậc Tiểu học là bậc nền tảng, cung cấp, rèn luyện, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản như: giao tiếp, tính toán, đọc, viết… giáo dục đạo đức

là một trong các con đường quan trọng hình thành kĩ năng giao tiếp có văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh

Mặt khác, thực tiễn đạo đức đầy biến động, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen từng ngày từng giờ tác động vào học đường Do đó, giáo dục đạo đức là một nội dung giáo dục hết sức cần thiết và qua trọng nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, kinh nghiệm, thái độ đúng mực trong lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội

Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử đúng trong các mối quan hệ

cụ thể

Trang 17

Nói chung là giáo dục đạo đức có vai trò và vị trí quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, không chỉ ở bồi dưỡng nhận thức về chuẩn mực đạo đức

xã hội, mà chủ yếu góp phần định hình và phát huy những phẩm chất cần thiết của nhân cách con người với hành vi cao đẹp đầy tinh thần nhân văn

1.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

- Giáo dục ý thức đạo đức: Cung cấp tri thức, giúp học sinh hiểu được một số một số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ở mức sơ giản, cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh, từ đó có nhận thức đúng đắn phù hợp giữa hành vi ứng xử của mình với lợi ích xã hội, tích lũy kinh nghiệm đạo đức ứng xử đúng đắn

- Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức: Bồi dưỡng, giúp học sinh hình thành xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực, bền vững để đảm bảo cho hành vi đạo đức luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức, hình thành niềm tin đạo đức,từ

đó tạo ra động cơ đạo đức trong sáng trong việc thực hiện bổn phận, trách nhiệm đạo đức của mình [3-tr45]

- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Giúp học sinh rèn luyện thói quen hành vi đúng chuẩn mực, biết hành động phù hợp với yêu cầu đạo đức của xã hội, kế thừa và phát triển truyền thống đạo đức của dân tộc trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giáo dục văn hóa ứng xử, hành vi văn minh trong giao tiếp, thực hiện “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”

1.2.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

Ở Tiểu học, quá trình giáo dục đạo đức nhằm vào việc hình thành các chuẩn mực hành vi, phẩm chất đạo đức vững chắc Vì vậy, quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình thực hiện ba nhiệm vụ: giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức, giáo dục hành vi thói quen đạo đức Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học được thể hiện qua nội dung

cụ thể của việc thực hiện các nhiệm vụ đó

Trang 18

1.2.4.1 Giáo dục ý thức đạo đức

Giáo dục ý thức đạo đức là quá trình cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ bản, sơ đẳng về các hành vi, trên cơ sở bước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh Các chuẩn mực này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức: lòng yêu nước, lòng nhân ái, thái độ mới đối với lao động, tinh thần tập thể, tính kỉ luật Chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em, đó là:

- Quan hệ của cá nhân đối với xã hội: Tôn kính Quốc kì, Quốc ca, kính yêu Bác Hồ; tự hào về đất nước, con người Việt Nam; biết ơn những thương binh liệt sĩ, các chiến sĩ quân đội, công an; yêu quê hương, xóm làng, phố phường; yêu mến và tự hào về trường lớp; gìn giữ môi trường sống xung quanh, bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa do cha ông để lại…

- Quan hệ của cá nhân đối với công việc, lao động: Trước hết là biết chăm chỉ, kiên trì vượt khó trong học tập, có phương pháp học tập tốt, tích cực tham gia các công tác lao động khác nhau (lao động tự phục vụ, lao động sản xuất, lao động công ích cho xã hội…)

- Quan hệ của cá nhân đối với những người xung quanh: Đầu tiên là lòng hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình; kính trọng và biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè; tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật… theo khả năng của mình

- Quan hệ của cá nhân đối với tài sản xã hội, tài sản của người khác: Tôn trọng, bảo vệ tài sản của nhà trường(trường, lớp, bàn ghế, dụng cụ lao động, sách vở, đồ dùng học tập, dụng cụ thí nghiệm…), của nhà nước (nhà cửa, máy móc, hàng hóa, các khu di tích lịch sử- văn hóa, những nơi công cộng…), của người khác (đồ đạc, thư từ…)…

- Quan hệ của cá nhân đối với thiên nhiên: Bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi ở, nơi học, nơi chơi, nơi qua lại, bảo vệ cây trồng, cây xanh

Trang 19

có ích, động vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại(chuột, muỗi, dán…), vệ sinh môi trường…

- Quan hệ của cá nhân đối với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, bạo dạn, giữ vệ sinh, có trách nhiệm với lời nói và việc làm của mình…

1.2.4.2 Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức

Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức cho học sinh là hình thành trong học sinh những rung động, cảm xúc đối với hiện thực xung quanh, làm cho các

em biết yêu, biết ghét rõ ràng, qua đó có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể …Thái độ thờ ơ, lãnh đạm là sản phẩm không mong muốn của giáo dục tình cảm

Đối với học sinh Tiểu học, cần giáo dục những thái độ, tình cảm như:

- Kính yêu Bác Hồ, tôn trọng Quốc kì, Quốc ca; biết ơn những thương binh liệt sĩ, bộ đội, yêu mến trường, lớp, quê hương làng xóm…

- Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng và yêu mến bạn bè; tôn trọng những người xung quanh: hàng xóm, phụ nữ, cụ già, em nhỏ…

- Yêu lao động, chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp

- Có lòng tự trọng, khiêm tốn học giỏi, trung thực…

- Có thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành những tấm gương, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức và ngược lại, có thái độ lên án, phê phán những người có hành động xấu, làm hại người khác, cộng đồng, xã hội…

- Yêu thiên nhiên, có thái độ giữ gìn môi trường sống xung quanh

Tình cảm đạo đức được hình thành dựa vào ý thức đạo đức đúng đắn và được củng cố, khẳng định qua hành vi; ngược lại, nó có tác dụng thúc đẩy, tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực, thực hiện hành vi đạo đức

1.2.4.3 Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức

Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, cuộc

Trang 20

sống, nhằm có được hành vi đạo đức đúng đắn, từ đó có thói quen đạo đức bền vững

Ở Tiểu học, cần hình thành cho học sinh các hành vi, thói quen đạo đức như:

- Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình bằng những việc làm vừa sức

- Lễ phép với người lớn, đặc biệt là với ông bà cha me, anh chị, thầy cô giáo

- Làm được những việc vừa sức để giúp đỡ thầy cô giáo, hàng xóm, láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật

- Có những việc làm nhân đạo vừa sức đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ những người gặp thiên tai, khó khăn, các bạn khuyết tật, thiệt thòi…

- Có hành động, việc làm phù hợp bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng, môi trường thiên nhiên, đồ đạc của người khác…

Cần giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ ngay từ nhỏ, tức là hình thành cho trẻ em hành vi không những đúng về đạo đức, mà còn đẹp về thẩm mĩ

1.2.5 Những nguyên tắc hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học

1.2.5.1 Khái niệm

Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận giáo dục có tác dụng chỉ đạo mọi hoạt động của người giáo dục và người được giáo dục trong quá trình giáo dục

Các nguyên tắc giáo dục bản thân nó không phải là những quy luật của quá trình giáo mà các nguyên tắc giáo dục chỉ là những luận điểm cơ bản phản ánh giáo dục là những mối quan hệ bền vững và tất yếu giữa các nhân tố cấu trúc quá trình giáo dục

1.2.5.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục

+ Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích: Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục

phải luôn hướng vào mục đích chúng ta lựa chọn Lấy đó làm cơ sở, phương pháp cho mọi hoạt động của chủ thể và khách thể trong quá trình giáo dục

Trang 21

- Muốn đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình giáo dục hay trước khi tiến hành giáo dục chúng ta phải ý thức đúng được mục đích

- Luôn lấy mục đích làm cơ sở để lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức giáo dục

Để đảm bảo những mục đích này, trong giáo dục, nhà giáo dục nên quan tâm:

 Hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học và nhân sinh đúng đắn, lí tưởng xây dựng một đất nước “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

 Trong cuộc sống biết phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái ác Tỏ thái

độ không đồng tình với cái xấu, cái ác, góp phần xây dựng đạo đức, văn hóa lành mạnh, đem lại lợi ích và hạnh phúc cho xã hội

Thường xuyên tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động giao lưu phong phú trong xã hội, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi năng lực học sinh

 Trong giáo dục, cần tránh thái độ áp đặt thô bạo, cứng nhắc, trái với bản chất của quá trình giáo dục

+ Nguyên tắc gắn giáo dục với thực tiễn lao động đấu tranh, xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động

Nguyên tắc này có ý nghĩa lớn nhất là hình thành ở học sinh niềm tin đạo đức Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải thực hiện ngay trong thực tiễn lao động đấu tranh xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân lao động Lấy thực tiễn lao động để đấu tranh, để chứng minh, để làm sáng tỏ cho những chuẩn mực xã hội mà ta cần giúp học sinh nắm vững trong quá trình giáo dục trong nhà trường

- Muốn đảm bảo nguyên tắc này, trong giáo dục đòi hỏi trước hết nhà giáo dục phải có những hiểu biết nhất định thực tiễn cuộc sống

- Tận dụng vai trò của tổ chức Đội và Sao nhi đồng, các hoạt động ngoại khóa, thu hút sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường các mục tiêu giáo dục

Trang 22

- Không nên tách rời quá trình giáo dục khỏi cuộc sống, khỏi sự nghiệp lao động xây dựng đất nước, không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường, các hoạt động nội khóa Vì vậy học sinh sẽ trở thành những người thiếu bản lĩnh, khó hội nhập được cuộc sống, không có khả năng đương đầu với những tình huống phức tạp trong cuộc sống

+ Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động

Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành ngay trong hoạt động của học sinh trong và ngoài nhà trường, lấy lao động làm phương tiện giáo dục cho học sinh những phẩm chất cần thiết của con người lao động mới

Muốn đảm bảo nguyên tắc này đòi hỏi phải:

- Thường xuyên tổ chức hoạt động lao động trong và ngoài nhà trường đưa học sinh tham gia vào

- Trong lao động phải khai thác hết được ý nghĩa của lao động trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh

- Tổ chức cho học sinh tham gia một cách vừa sức vào sự nghiệp xây dựng đất nước qua các hoạt động lao động hữu ích, từ đó giúp các em hình thành những phẩm chất của người công dân, người lao động mới Khi đưa học sinh vào các hoạt động, phải tạo ra các điều kiện để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

+ Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể

Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được thực hiện ngay trong tập thể học sinh Lấy tập thể làm mục tiêu, làm phương tiện giáo dục cho học sinh

- Để thực hiện đảm bảo nguyên tắc này: Trong giáo dục chúng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng tập thể học sinh, trước hết tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi

Trang 23

- Trong giáo dục chúng ta phải luôn khai thác hết ý nghĩa cũng như tác dụng của tập thể trong việc giáo dục mỗi cá nhân

- Xây dựng các mỗi quan hệ tập thể và giao lưu đúng đắn, lành mạnh trong tập thể: quan hệ trách nhiệm - học tập; quan hệ nhân ái bạn bè và các quan hệ riêng tư

- Xây dựng tập thể lành mạnh Khuyến khích nhận thức, thái độ và hành

vi đúng đắn, đồng thời ngăn chặn, lên án những hành vi sai trái làm ảnh hưởng đến lợi ích chung, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể

- Tuyệt đối cần tránh tình trạng: cực đoan háo lợi ích cá nhân hoặc lợi ích chung của tập thể

+ Nguyên tăc đảm bảo sự thống nhất giữa việc phát huy vai trò chỉ đạo của nhà giáo với việc phát huy vai trò tự giác, tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình giáo dục

Đây là nguyên tắc biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Nguyên tắc này đòi hỏi nhà giáo dục phải giữ được vai trò chủ thể, khách thể trong quá trình giáo dục

Muốn đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình giáo dục thì chúng ta phải chống lại hai khuynh hướng:

- Tuyệt đối hóa vai trò chủ thể (của nhà giáo dục)

- Tuyệt đối hóa vai trò của khách thể

+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tôn trọng nhân cách của học sinh với việc đưa ra những yêu cầu hợp lí

Trước hết chúng ta phải hiểu, tôn trọng nhận cách học sinh là:

- Tuyệt đối tin tưởng học sinh

- Thường xuyên đưa ra những yêu cầu hợp lí buộc học sinh phải thực hiện

- Không được sử dụng những biện pháp gây ra đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn

Trang 24

+ Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống tính thường xuyên, liên tục

Trong suốt quá trình giáo dục mỗi nét tính cách khi được hình thành được củng cố, luyện tập, nâng cao theo những yêu cầu phát triển của công tác giáo dục Quá trình giáo dục không được đứt đoạn và phải thực thi trong mọi hoàn cảnh, trong sự kết hợp giáo dục và tự rèn luyện thì kết quả mới vững chắc, ổn định

Trong suốt cuộc đời học sinh, các tác động của quá trình giáo dục luôn mang tính toàn vẹn, các nhiệm vụ giáo dục được thực hiện một cách đồng bộ

+ Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt trong giáo dục

Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục gắn với mỗi cá nhân cụ thể, gắn với mỗi tình huống giáo dục cụ thể

Để đảm bảo nguyên tắc này: trước khi tiến hành quá trình giáo dục, nhà giáo dục phải nắm vững học sinh một cách toàn diện, đòi hỏi các nhà giáo dục phải năng động, sáng tạo trong việc xử lí tất cả các tình huống giáo dục; đòi hỏi mỗi giáo viên phải có trình độ sư phạm vững vàng, hiểu sâu sắc đối tượng của mình để có thể lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáo dục được tốt

+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình

- Nhà trường, gia đình, xã hội cùng phối hợp để giáo dục trẻ ở mọi nơi, mọi lúc để cùng thống nhất các ảnh hưởng giáo dục, nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giáo dục

Trang 25

- Nhà trường luôn thấy được và thực hiện vai trò chủ đạo của mình và kết hợp với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục thế hệ trẻ

- Gia đình và xã hội cần chủ động phối hợp với nhà trường theo định hướng xã hội chung của nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục của nhà trường và hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực

Nhờ những nguyên tắc này, sẽ là cơ sở giúp cho học sinh có hành vi ứng

xử của mình phù hợp với lợi ích của xã hội, giúp cho các em lĩnh hội các lý tưởng đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các chuẩn mực đạo đức để đảm bảo

độ, tình cảm, hành vi, việc làm của học sinh Nói cách khác ý thức được hình thành đúng đắn giúp cho học sinh biết cách cư xử phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà xã hội đòi hỏi ở từng thành viên trong các mối quan hệ với bản thân, với những người xung quanh, với công việc, với môi trường… các phương pháp cụ thể ở đây là đàm thoại, kể chuyên, giảng giải, nêu gương

+ Phương pháp đàm thoại: là phương pháp tổ chức trò chuyện, chủ yếu

là giữa giáo viên và học sinh về các chủ đề đạo đức - thẩm mỹ dựa trên một

hệ thống câu hỏi nhất định

Trang 26

+ Phương pháp kể chuyện: là phương pháp giáo viên dùng lời của mình

thuật lại 1 câu chuyện có ý nghĩa giáo dục

Học sinh Tiểu học rất ham thích nghe kể chuyện Các em nghe kể chuyện với hứng thú rất cao Những câu chuyện hấp dẫn có thể gây ra ở học sinh những ấn tượng mạnh mẽ, những cảm xúc sâu sắc, tác động mạnh đến hành vi của các em và có khi các em ghi nhớ suốt đời

Trong một số năm vừa qua, hàng năm cuộc thi kể chuyện đạo đức được

tổ chức sâu rộng từ cấp trường đến cấp Quốc gia Đó chính là một nghệ thuật của khoa học giáo dục đạo đức có tác dụng giáo dục rất lớn Bởi vậy nên khuyến khích, hướng dẫn học sinh sưu tầm và tự kể

+ Phương pháp giảng giải: là phương pháp giáo viên dùng lời của mình

để trình bày, giải thích, chứng minh cho chuẩn mực đạo đức nào đó

Phương pháp này có tác dụng giúp học sinh nhận thức đầy đủ, chính xác

về mẫu hành vi đạo đức, hiểu sâu về chuẩn mực hành vi, nhận thức đúng, sai Tuy nhiên hạn chế của phương pháp giảng giải là nếu lạm dụng nó thì nó có thể dẫn đến sự thuyết giáo khô khan kém hấp dẫn, làm hạn chế hứng thú nhận thức và tính tích cực độc lập của học sinh

+ Phương pháp nêu gương: là phương pháp dùng những tấm gương mẫu

mực cụ thể, sống động trong đời sống đạo đức để kích thích học sinh bắt trước Trong giáo dục tấm gương được sử dụng như phương tiện giáo dục Nó làm cho chuẩn mực đạo đức trở nên trực quan hơn Lời nói sẽ giảm giá trị, giảm ảnh hưởng nếu không có các tấm gương thực tế sinh động, cụ thể của người khác chứng minh

1.2.6.2 Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, hình thành kinh

nghiệm ứng xử cho học sinh

- Phương pháp nêu yêu cầu sư phạm:

Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện nôi quy, quy chế dành

Trang 27

cho các em hay yêu cầu các em thực hiện hành vi công việc cụ thể phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, quy định tập thể

- Phương pháp tập luyện:

Là phương pháp tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, có hệ thống các thao tác, các hành động nhất định nhằm biến chúng thành kĩ năng, kĩ xảo, thói quen cần thiết

Việc tập luyện được thực hiện trong các tình huống, điều kiện khác nhau với tần số cao thì việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo, thói quen càng có hiệu quả Ngược lại, nếu tính thường xuyên và tính hệ thống bị vi phạm thì khó có thể giúp các em có được kĩ năng, kĩ xảo, thói quen tích cực

- Phương pháp rèn luyện:

Rèn luyện là phương pháp tổ chức các hoạt động và cuộc sống đa dạng, phong phú cho học sinh, tạo cho các em điều kiện ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội, có các kĩ năng tổ chức các hoạt động của mình

Trong thực tiễn nhà trường Tiểu học, phương pháp này thường được vận dụng để tổ chức các hoạt động theo chủ điểm, các sinh hoạt tập thể

- Phương pháp tạo tình huống:

Là phương pháp mà nhà giáo dục phát hiện ra những tình huống giáo dục hoặc tạo ra tình huống giáo dục và đưa đối tượng giáo dục vào trong các tình huống giáo dục đó Nhờ việc đối tượng giáo dục thường xuyên xử lý các

tình huống giáo dục mà hành vi thói quen hành vi được hình thành

- Phương pháp tạo dư luận xã hội lành mạnh:

Là phương pháp giáo dục mà nhà giáo dục sử dụng để hình thành ở đối

tượng giáo dục những hành vi thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực

xã hội bằng cách tạo ra những dư luận xã hội lành mạnh Nhờ việc đối tượng giáo dục thường xuyên phải thực hiện những quy định và những yêu cầu của tập thể mà hành vi thói quen hành vi được hình thành

Trang 28

- Phương pháp giao công việc:

Là phương pháp giáo dục mà nhà giáo dục giáo dục cho đối tượng giáo dục những công việc cụ thể Nhờ việc hoàn thành những công việc được giao mà hành vi thói quen hành vi được hình thành

1.2.6.3 Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh các

hành vi ứng xử của học sinh

- Phương pháp thi đua:

Phương pháp thi đua là phương pháp mà giáo viên dùng kích thích điều chỉnh hành vi bằng cách phát động phong trào thi đua, khích lệ đối tượng tham gia vào phong trào thi đua

Đây là phương pháp tác động mạnh vào tâm lí của học sinh tạo ra tâm thế hồ hởi, ý chí, nghị lực đề đạt được những thành tích cao nhất trong thi đua Vấn đề quan trọng là thi đua phải có mục đích, có phong trào cụ thể

- Phương pháp khuyến khích (khen thưởng):

Khuyến khích là một phương pháp giáo viên biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hoạt động và hành vi ứng xử của cá nhân học sinh hay của nhóm tập thể Khuyến khích là cách tạo dư luận xã hội tích cực, đồng tình, khích lệ, ủng hộ hành vi đúng đắn

Tác dụng của khuyến khích là ở chỗ, khi đánh giá tích cực, các em có được cảm giác hài lòng, phấn khởi tự tin vào năng lực của mình và từ đó mong muốn cố gắng tiếp tục thực hiện tốt hoạt động hành vi đó

Các hình thức biểu thi phương pháp khuyến khích là: Đồng tình ủng hộ, khen ngợi, biểu dương, khen thưởng…

- Phương pháp trách phạt:

Trách phạt là phương pháp giáo viên biểu thị sự không bằng lòng về những hành động, hành vi sai trái của học sinh không phù hợp với các chuẩn mực hành vi xã hội, quy tắc tập thể Trách phạt là cách tạo dư luận xã hội không đồng tình, không ủng hộ hành vi sai trái

Trang 29

Tác dụng giáo dục của trách phạt là ở chỗ, nhờ có đánh giá của giáo viên

mà học sinh thấy sai trái, lỗi lầm của mình và từ đó các em sẽ thay đổi hành

vi, cách thực hiện sao cho phù hợp

Việc trách phạt cần đi kèm với việc phân tích nguyên nhân và tính đến điều kiện nảy sinh hành vi đó cũng như mức độ phổ biến của hành vi

Các hình thức biểu thị trách phạt: nhắc nhở, chê trách, phê bình, trừng phạt,… Nhờ những phương pháp giáo dục này sẽ giúp học sinh:

- Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá

- Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học

- Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 4 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU

2.1.1.2 Nội dung khảo sát

Tôi tiến hành khảo sát thực trạng về các vấn đề:

- Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm khối 4

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng trong vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4

- Thực trạng nhận thức của giáo viên về các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

- Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

- Thực trạng thực hiện nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

- Thực trạng việc sử dụng phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

2.1.1.3 Phương pháp khảo sát

Tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau để thực hiện đề tài:

- Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu một số giáo viên và học sinh

Trang 31

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp trò chuyện

2.1.1.4 Thời gian khảo sát

Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài vào khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014

2.1.1.5 Cách thức tiến hành

Tôi đã tiến hành phát - thu 12 phiếu điều tra cho các giáo viên của 3 trường Tiểu học trong khu vực, cụ thể là:

+ Trường Tiểu học Trưng Nhị: 5 phiếu

+ Trường Tiểu học Hùng Vương: 4 phiếu

+ Trường Tiểu học Đồng Xuân: 3 phiếu

- Phỏng vấn sâu một số giáo viên về giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

- Dự giờ một số tiết đạo đức của các giáo viên trường Tiểu học Trưng Nhị (trường thực tập sư phạm) Đồng thời trò chuyện với giáo viên chủ nhiệm lớp, trò chuyện với học sinh và qua sát hành vi của trẻ trên lớp

2.1.2 Kết quả khảo sát đối với giáo viên

2.1.2.1 Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm khối 4

Qua tìm hiểu và nghe báo cáo chung về nhà trường, kết quả trò chuyện với ban giám hiệu của các trường tôi đã thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Trình độ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm khối 4

Tên trường Tiểu

học

Tổng số giáo viên

Trình độ Trung

cấp

Cao đẳng Đại học

Sau đại học

Trang 32

khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã đạt chuẩn và trên chuẩn Các trường

có số giáo viên có trình độ Đại học và Cao đẳng chiếm số lượng cao Khối 4 ở các trường đều không có giáo viên Trung cấp, cụ thể: Trường Tiểu học Trưng Nhị có giáo viên trình độ sau Đại học chiếm 20%, Đại học chiếm 80%, không

có giáo viên trình độ Cao đẳng và trình độ Trung cấp.Trường Tiểu học Hùng Vương không có giáo viên đạt trình độ sau Đại học, giáo viên đạt trình độ Đại học chiếm 75%, giáo viên đạt trình độ Cao đẳng là 25% chiếm tỉ lệ thấp Trường Tiểu học Đồng Xuân có giáo viên không có giáo viên trình độ sau Đại học, giáo viên đạt trình độ Đại học chiếm 66,7%, giáo viên đạt trình độ Cao đẳng chiếm 33,3% Đây là điều kiện rất thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở trường Tiểu học

2.1.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng trong vấn

đề giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

Kết quả thu được như sau:

Bảng 2: Tầm quan trọng trong vấn đề giáo dục đạo đức

cho học sinh khối 4

Tổng số

Mức độ Quan trọng

(%)

Bình thường (%)

Trang 33

2.1.2.3 Thực trạng nhận thức của các giáo viên về vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh khối lớp 4

Kết quả thu được như sau:

Bảng 3: Nhận thức của các giáo viên khối 4 về vai trò của giáo dục đạo

đức cho học sinh

Tổng số

Mức độ nhận thức Quan trọng

(%)

Bình thường (%)

sẽ góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp các

em rèn luyện ý thức trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ nhỏ, sống hợp đạo

lý, tuân thủ pháp luật.Tuy nhiên có 8,3% giáo viên cho rằng vai trò của việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4 là ở bình thường đây là nhận thức chưa đúng đắn hoặc chưa đầy đủ

2.1.2.4 Thực trạng việc giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

Kết quả thu được như sau:

Bảng 4: Thực trạng việc sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục trong giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

Trang 34

Kết quả ở bảng trên cho thấy việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Tiểu học: Trưng Nhị, Hùng Vương, Đồng Xuân được tổ chức tương đối tốt:

Đối với hình thức trên lớp: 100% giáo viên đã sử dụng hình thức dạy học trên lớp một cách thường xuyên để giáo dục đạo đức cho học sinh, đây là nhận thức rất đúng đắn vì với hình thức này sẽ cung cấp kiến thức đạo đức một cách khoa học, cập nhật, giúp học sinh hiểu được tập luyện kĩ năng, thói quen đúng hành vi chuẩn mực

Đối với hình thức khi dạo chơi: 58,3% giáo viên thường xuyên sử dụng hình thức này, 41,7% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng hình thức khi dạo chơi Đối với hình thức khi lao động: đa số các giáo viên đã sử dụng hình thức

tổ chức giáo dục đạo đức này tương đối tốt, có 41,7% giáo viên thường xuyên

sử dụng hình thức này, 33,3% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng hình thức này, chỉ có một số ít giáo viên không bao giờ sử dụng hình thức giáo dục này chiếm 25%

Đối với hình thức thông qua các hoạt động khác: rất ít giáo viên sử dụng hình thức này, có 16,6% giáo viên đã sử dụng hình thức này, 41,7% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng hình thức này và 41,7% giáo viên không bao giờ sử dụng hình thức giáo dục này

Qua đây cho thấy các giáo viên cũng đã có sự quan tâm đầu tư cho giáo dục đạo đức cho học sinh nhưng chưa đầy đủ, chưa góp phần nâng chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh

Trang 35

2.1.2.5 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

Kết quả thu được như sau:

Bảng 5: Thực trạng việc thực hiện nội dung giáo dục đạo đức

cho học sinh khối 4

TT Nội dung giáo dục đạo đức

Mức độ Thường

xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)

Không bao giờ (%)

Các nội dung giáo dục đạo đức: ý thức đạo đức, thái độ tình cảm 91.7% giáo viên đã thường xuyên thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Còn đối với nội dung giáo dục hành vi, thói quen: đa số các giáo viên cũng thực hiện tương đối tốt, 83,3% giáo viên thường xuyên thực hiện nội dung này, 16,7% giáo viên chỉ thỉnh thoảng thực hiện nội dung này đó là chưa nhận thức đầy đủ, chưa góp phần tích cực vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh

2.1.2.6 Thực trạng thực hiện nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 4

Kết quả thu được như sau:

Trang 36

Bảng 6: Thực trạng thực hiện nguyên tắc giáo dục đạo đức

cho học sinh khối 4

TT Nguyên tắc giáo dục đạo đức

Mức độ Tích

cực (%)

Bình thường (%)

Không tích cực (%)

1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 50,0 33,3 16,7

2

Nguyên tắc gắn giáo dục với thực tiễn lao

động đấu tranh, xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã

hội chủ nghĩa của nhân dân lao động

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò

chỉ đạo của nhà giáo với việc phát huy vai trò

tự giác, tích cực, tự lực của học sinh trong quá

trình giáo dục

83,3 16,7 0

6

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tôn

trọng nhân cách học sinh với việc đưa ra

8 Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt trong giáo dục 83,3 8,3 8,3

9 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo

dục nhà trường, gia đình và xã hội

50,0 50,0 0

Ngày đăng: 26/04/2018, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w