Trong điều kiện cho phép cùng với khả năng của mình tôi chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ
Trang 1-*** -
NGUYỄN THỊ MAI
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH GIAI ĐOẠN CUỐI TIỂU HỌC THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Nguyễn Thị Xuân Lan, người đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em cũng chân thành cảm ơn đến thầy cô giáo, học sinh ở các trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên đã đóng góp và giúp đỡ chân tình cho
em trong quá trình điều tra thực tiễn để hoàn thành luận văn này
Do điều kiện thời gian có hạn, khóa luận sẽ không tránh khỏi có những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giai đoạn cuối Tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc” là kết quả mà tôi trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong quá trình thực
hiện đề tài trên tôi đã kế thừa kết quả nghiên cứu của một số tác giả Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đề tài khóa luận của tôi hoàn toàn không trùng với kết quả của tác giả khác
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Mai
Trang 4MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
UBND: Ủy ban nhân dân FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Giới hạn của đề tài 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Một số vấn đề lí luận cơ bản về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 7
1.1.1 Kỹ năng 7
1.1.2 Kỹ năng sống 8
1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống 11
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 12
1.2.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 12
1.2.2 Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13
1.2.3 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 14
1.2.4 Đặc điểm của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học 14
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 15
Trang 61.3.1 Bản chất, nguyên tắc và nội dung của giáo dục kỹ năng sống sống cho học sinh Tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp 15
1.3.2 Một số kỹ năng sống cần giáo dục và vai trò giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 20
1.3.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học nói chung và học sinh cuối tiểu học nói riêng 26
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN CUỐI TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC 34
2.1 Vài nét về địa bàn và phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 34
2.1.2 Vài nét về phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp 4, 5 ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh và nguyên nhân 37
2.2.1 Thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp 4, 5 ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh 37
2.2.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến KNS của học sinh lớp 4, 5 ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh 40
2.3 Thực trạng về việc thực hiện GDKNS cho học sinh lớp 4, 5 thông qua HĐNGLL ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh 41
2.3.1 Nhận thức của các cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh và phụ huynh về vị trí và vai trò của giáo dục KNS ở giai đoạn cuối Tiểu học thông qua HĐGDNGLL 41
Trang 72.3.2 Mức độ triển khai nội dung GDKNS cho học sinh lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên
Minh 45
2.3.3 Nội dung GDKNS thông qua HĐNGLL cho học sinh lớp 4, 5 thông qua HĐNGLL ở ba trường tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh 47
2.3.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức GD KNS cho học sinh thông qua HĐNGLL 48
2.3.5 Các nguyên nhân ảnh hưởng không tốt tới việc giáo dục KNS cho học sinh thông qua HĐGDNGLL 50
Chương 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN CUỐI TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC 53
3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất các biện pháp 53
3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 53
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 53
3.2 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDKNS cho HS cuối tiểu học thông qua HĐGDNGLL 54
3.2.1 Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo 54
3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường về việc xây dựng, tổ chức thực hiện GDKNS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 55
3.2.3 Thiết kế các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với nội dung các hoạt động thực hiện chủ đề của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 56
Trang 83.2.4 Phát huy vai trò tác dụng và hiệu quả của HĐGDNGLL để
GDKNS cho học sinh 58
3.2.5 Vận dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức HĐGDNGLL để thực hiện mục tiêu GD KNS cho HS 59
3.2.6 Xây dựng quy trình tổ chức HĐGDNGLL để giáo dục KNS cho học sinh một cách hiệu quả 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC
Trang 9xã hội không ngừng biến đổi đòi hỏi con người phải thường xuyên ứng phó với những thay đổi hàng ngày của cuộc sống Mục tiêu giáo dục không chỉ giúp con người học để biết, học để làm mà còn học để chung sống Do đó vấn
đề giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho học sinh là vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết
Học sinh tiểu học là những học sinh ở lứa tuổi nhi đồng Đây là giai đoạn mà các phẩm chất, nhân cách, những thói quen cơ bản chưa có tính ổn định mà mới chỉ đang được hình thành và củng cố Do đó việc giáo dục cho học sinh tiểu học kỹ năng sống để giúp cho các em có thể sống một cách an toàn và khỏe mạnh là việc làm cần thiết Chính điều này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh phát triển nhân cách sau này
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là một bộ phận của quá trình giáo dục ở trường phổ thông nói chung và ở trường tiểu học nói riêng Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp Thông qua các
Trang 10hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) học sinh phát huy được vai trò của chủ thể hoạt động giáo dục, nâng cao tính tích cực chủ động, năng động, sáng tạo trong hoạt động HĐGDNGLL góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách cho các em
Với vị trí và vai trò như vậy, HĐGDNGLL thực sự cần thiết và có nhiều khả năng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Tuy nhiên trong thực tế việc GDKNS cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua HĐGDNGLL được thực hiện như thế nào và hiệu quả ra sao cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu Vì vậy mà tôi đã quyết định
chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
giai đoạn cuối tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ “KNS” được đề cập đến lần đầu tiên bởi những nhà tâm lý học thực hành năm 1960 Sau này việc nghiên cứu về GDKNS được phát triển rộng khắp trên thế giới và được coi là vấn đề quan trọng và cần thiết, cần được nghiên cứu và huấn luyện cho mọi người
* Ở nước ngoài cụ thể như:
Ở Lào: KNS được đề cập đến năm 1997 với nội dung có liên quan đến
GD phòng chống HIV/AIDS được lồng ghép vào chương trình chính quy và không chính quy ở các trường sư phạm đào tạo GV
Ở Campuchia: Cũng sớm đưa vấn đề GDKNS vào nhà trường Nội dung GDKNS được tích hợp vào các bài học của các môn học cơ bản từ lớp 1 dến lớp 12
Ở Malaysia: GDKNS do bộ GD và các cơ quan khác thực hiện Bộ GD coi KNS là môn kĩ năng của cuộc sống (Living Skills) Trong chương trình
GD ở Malaysia, môn này được dạy như là một môn học ở trường tiểu học từ lớp 4, 5…
Trang 11Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: GD sức khỏe, GD giới tính, quyền con người…
Nói chung các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai GDKNS nên chưa toàn diện, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng KNS
* Ở trong nước:
Trong lịch sử GD Việt Nam, nội dung GD con người biết đối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng với những thách thức của thiên tai đá được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ…Tuy nhiên những nội dung đó chưa được gọi là GDKNS vì xã hội trong giai đoạn đó chưa chứa đựng những vấn đề mang tính thách thức, nguy cơ rủi ro như trong xã hội hiện nay
Thuật ngữ KNS được biết đến bắt đầu từ những năm 1995 – 1996 thông qua dự án “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/ADIS cho thanh thiếu nhiên trong và ngoài nhà trường” Tuy nhiên đến năm 2003 khái niệm KNS mới được hiểu nội hàm đầy đủ sau hội thảo “Chất lượng GD
Trang 12Từ các kết quả nghiên cứu trên các nhà khoa học trong nước và trên thế giới về GDKNS nói chung và thông qua HĐGDNGLL để GDKNS cho HS nói riêng, cho thấy vấn đề GDKNS còn ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy cần phải có sự quan tâm hơn nữa để tập trung nghiên cứu các mặt lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cuối bậc tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về GDKNS cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua HĐGDNGLL
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Ba trường Tiểu học: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Minh khu vực thành
phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
5 Giả thuyết khoa học
GDKNS cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp hiện chưa được quan tâm đúng mức Nếu phát hiện đúng thực trạng và đề xuất được những biện pháp hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDKNS cho học sinh giai đoạn đầu tiểu học nói chung và thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp nói riêng
Trang 136 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Tìm hiểu các vấn đề lí luận về giáo GDKNS, GDKNS cho học sinh giai
đoạn cuối tiểu học, GDKNS cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua các HĐGDNGLL
6.2 Tìm hiểu thực trạng GDKNS cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông
qua HĐGDNGLL ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
6.3 Phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất những biện pháp để giải
quyết thực trạng
7 Giới hạn của đề tài
Kĩ năng sống là một vấn đề rất rộng và mới Trong điều kiện cho phép cùng với khả năng của mình tôi chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giai đoạn cuối tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
8 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
8.1.1 Phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết
Thông qua đọc tài liệu sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác, tôi đã dùng phương pháp này để phân tích, tổng hợp lí thuyết có liên quan
8.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết
Trên cơ sở phân loại, hệ thống hóa lí thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát học sinh: Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Hành động, lời nói, nét mặt, cử chỉ …)
Trang 14- Quan sát giáo viên
8.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trực tiếp trò chuyện với giáo viên và học sinh để tìm hiểu nhận thức như thế nào về vai trò, ý nghĩa của kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và việc thực hiện như thế nào?
8.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Các đối tượng được điều tra gồm giáo viên, học sinh và cán bộ quản lý của khối lớp 4, 5 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
8.2.4 Phương pháp trắc nghiệm
Sử dụng một số bài trắc nghiệm để đo mức độ hiểu biết về kĩ năng sống của học sinh tiểu học
8.2.5 Phương pháp phỏng vấn
8.2.6 Các phương pháp thống kê toán học
Tôi sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả nghiên cứu, tăng mức độ tin cậy của đề tài
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề lí luận cơ bản về giáo dục kĩ năng sống cho hoc sinh tiểu học
1.1.1 Kỹ năng
1.1.1.1 Kỹ năng
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng
Theo L Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định
A.U.Pêtrôpxki cho rằng: Kỹ năng là sự vận dụng tri thức đã có thể lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt
ra [8]
Theo G.S.TSKH Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [3]
Theo G.S.TSKH Thái Duy Tuyên, kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Sự thực hiên một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng
ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định
Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: Kỹ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình
Trang 16Ta thấy rằng những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết các định nghĩa trên đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Vậy, “Kỹ năng là khả năng hay năng lực thực hiện một hành động, một hoạt động nào đó một cách thuần thục trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.”
1.1.1.2 Phân loại kỹ năng
Có nhiều cách phân loại kỹ năng khác nhau:
Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại:
- Kỹ năng chuyên môn
Trang 17dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa
Theo UNESCO: Kỹ năng sống là năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Bao gồm tất các kỹ năng liên quan đến tất cả các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày
Theo UNICEF: Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi học hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng
Ta thấy:
- Các khái niệm đều thống nhất: KNS thuộc về phạm trù năng lực tức là bao hàm cả tri thức, thái độ và hành vi mà không phải là phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi
- KNS tồn tại dưới dạng hành vi, hành động và cả ở dạng tinh thần như
tư duy, cảm xúc, biểu cảm
- KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội
Vậy: Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người
1.1.2.2 Phân loại
Theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết
Một cách phân loại khác (chia làm 3 nhóm):
Trang 18* Nhóm kỹ năng nhận thức:
- Nhận thức bản thân
- Xây dưng kế hoạch
- Xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân
- Khắc phục khó khăn để đạt mục đích
- Tư duy tích cực và tư duy sáng tạo
* Nhóm kỹ năng xã hội
- Kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Kỹ năng giao tiếp không lời
- Kỹ năng thuyết trình và nói trước đám đông
- Kỹ năng diễn đạt cảm xúc, phản hồi
Trang 19- Kỹ năng xác định giá trị
- Kỹ năng xác định mục tiêu
- Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng kiên định
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực
- Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp
GDKNS còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối mặt với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề đó
1.1.3.2 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống
Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố quyết định sự thành công của con người, kỹ năng sống đóng góp đến khoảng 85%
Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức,
kỹ năng và thái độ Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp…
Trang 20Chúng ta đều biết: cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để cho con người vượt qua, những mất mát để con người biết yêu quý những gì đang có
Vì vậy, kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu giúp các em thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai Cụ thể là:
- Trong quan hệ với chính mình: GDKNS giúp HS biết gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình
- Trong quan hệ với gia đình: GDKNS giúp HS biết kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên,
an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
- Trong quan hệ với xã hội: GDKNS giúp HS biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên…Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt
đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu – quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng
Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách cho HS nói chung và đối với GDKNS nói riêng ngày càng trở nên quan trọng
và cấp thiết hơn
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học văn hóa HĐGDNGLL ở trường tiểu học giúp các em có cơ hội tham gia các hoạt động thực tiễn, học sinh được hòa mình vào đời sống xã hội sẽ có thêm những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp, để làm tăng vốn sống của mình,
để rèn luyện trở thành người có nhân cách
Trang 21Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kĩ thuật, hoạt động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, thể dục, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách.”[4]
Có tác giả đưa ra khái niệm: “HĐGDNGLL là những hoạt động được
tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối các hoạt động dạy
và học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hoạt động của học sinh”
Vậy chúng ta có thể hiểu: HĐGDNGLL là một hoạt động cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo nhân cách học sinh đáp ứng những yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội (vì thế, còn gọi là quá trình giáo dục ngoài giờ lên lớp)
Hoạt động này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp theo chương trình, kế hoạch dạy học Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội do nhà trường chỉ đạo diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè
để khép kín quá trình giáo dục làm cho quá trình đó được thực hiện mọi nơi mợi lúc
1.2.2 Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* HĐGDNGLL là một bộ phận cấu thành trong hoạt động giáo dục Theo cách phân chia hiện nay, hoạt động giáo dục trong nhà trường được chia thành hai bộ phận: hoạt động dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Mỗi một bộ phận đều có một vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chúng đều góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp không phải là hoạt động phụ khóa trong nhà trường mà là một bộ phận quan trọng trong hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông
Trang 22* HĐGDNGLL là cầu nối tạo ra mối liên hệ giữa nhà trường và xã hội
1.2.3 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Có 3 nhiệm vụ sau đây:
- Củng cố tăng cường nhận thức: HĐGDNGLL trước hết phải nhằm giúp học sinh tiểu học củng cố các tri thức của bộ môn đã học ở trên lớp Đồng thời bổ sung thêm những tri thức về tự nhiên, xã hội, về con người mà trong bài học trên lớp chưa có điều kiện mở rộng
- Bồi dưỡng thái độ tình cảm: HĐGDNGLL sẽ làm bộc lộ hứng thú, sở trường, năng lực của các em đồng thời thể hiện lòng tự tin, tự trọng, tôn trọng bạn bè và mọi người kể cả các em nhỏ tuổi hơn mình từ đó phát triển hài hoà giữa tình cảm thẩm mĩ, tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và hoạt động xã hội
để tạo nên một nhân cách toàn diện
- Hình thành hệ thống KN, hành vi: Đó là KN thực hiện các công việc lao động đơn giản, các kĩ năng sáng tạo nghệ thuật, thực hiện các bài tập thể dục, các môn thể thao, các trò chơi các hành vi ứng xử đối với mọi người trong gia đình, trong nhà trường và trong xã hội KN tổ chức các hoạt động tập thể, biết phối hợp cùng thực hiện, nâng cao ý thức tự chủ, tự tin chủ động
và kĩ năng giao tiếp với mọi người
1.2.4 Đặc điểm của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
- HĐGDNGLL phù hợp với nhu cầu hoạt động của lứa tuổi HS tiểu học
và có khả năng huy động sự tham gia tích cực của học sinh
- HĐGDNGLL mang tính linh hoạt, mềm dẻo cả về quy mô, thời điểm, thời lượng, địa điểm, hình thức tổ chức
- Nội dung HĐGDNGLL mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục
- Các hình thức đa dạng của HĐGDNGLL giúp cho việc chuyển tải các nội dung giáo dục tới học sinh một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn
Trang 231.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.1 Bản chất, nguyên tắc và nội dung của giáo dục kỹ năng sống sống cho học sinh Tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.1.1 Bản chất của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Từ quan niệm về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nêu trên và quan niệm về giáo dục kĩ năng sống đã trình bày ở 1.1.3 có thể khẳng định:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là giáo viên tổ chức các hoạt động đa dạng phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động vào các quá trình hoạt động, thông qua đó hình thành hoặc thay đổi hành vi cho người học theo hướng tích cực nhằm phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện, giúp các em có thể sống một cách an toàn, khoẻ mạnh, tích cực chủ động trong cuộc sống hàng ngày
Giáo dục KNS thông qua HĐGDNGLL là quá trình thiết kế, vận hành đồng bộ các thành tố của HĐGDNGLL và giáo dục KNS trong một chỉnh thể
để thực hiện đồng thời cả mục tiêu của HĐGDNGLL lẫn mục tiêu của giáo dục KNS Về bản chất, giáo dục KNS thông qua HĐGDNGLL là thực hiện tích hợp HĐGDNGLL với giáo dục KNS Nói cách khác đó là quá trình thực hiện giáo dục KNS và HĐGDNGLL theo quan điểm tích hợp
Để thực hiện tích hợp GDKNS với HĐGDNGLL theo phương pháp tích hợp, cần thiết phải thực hiện các nội dung sau:
- Tích hợp được các mục tiêu của giáo dục KNS cho học sinh tiểu học trong HĐGDNGLL
- Xác định cụ thể các nội dung giáo dục KNS (xác định cụ thể các KNS cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học) để tích hợp vào nội dung củaHĐGDNGLL
Trang 24- Lựa chọn các phương pháp để thực hiện các nội dung của HĐGDNGLL phù hợp với phương pháp giúp học sinh hình thành và phát triển các KNS đã xác định
- Thiết kế các công cụ kiểm tra đánh giá cho phép đánh giá được kết quả của HĐGDNGLL và kết quả của GDKNS
Tóm lại, giáo dục KNS thông qua HĐGDNGLL là thực hiện tích hợp các thành tố cơ bản của giáo dục KNS với các thành tố cơ bản của HĐGDNGLL và vận hành chỉnh thể này một cách tối ưu
1.3.1.2 Các nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Tương tác
KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp HS thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNS được hình thành trong quá trình HS tương tác với bạn cùng học
và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề ) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, HS có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả
* Trải nghiệm
Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế HS chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi HS được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 25GV cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác
* Tiến trình
GDKNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ
* Thay đổi hành vi
Mục đích cao nhất của GDKNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực GDKNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị , thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các họat động liên tục để HS duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới GV không nhất thiết phải luôn luôn tóm tắt bài “hộ” HS, mà cần tạo điều kiện cho HS tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học/phần học
* Thời gian - môi trường giáo dục
Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “”thực” trong cuộc sống
Trang 26Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, GDKNS được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, HĐGDNGLL và các hoạt động giáo dục khác
1.3.1.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học
Nội dung các chủ đề trong chương trình HĐGDNGLL ở trường Tiểu học tập chung chủ yếu vào các vấn đề sau:
- Truyền thống nhà trường
- Tôn sư trọng đạo
- Uống nước nhớ nguồn
- Tiến bước lên đoàn
- Nghe nói chuyện về ý nghĩa tên trường
- Phát động phong trào quyên góp sách giáo khoa, vở tặng các bạn có hoàn cảnh khó khăn
- Tổ chức cuộc thi “ An toàn giao thông”
Trang 27Tháng
10
Chăm ngoan
học giỏi
- Tổ chức câu lạc bộ: “Học mà vui, vui mà học”
- Tổ chức câu lạc bộ “Đôi bạn cùng tiến”
- Phát động phong trào hoa điểm 10
Tháng
11 Tôn sư trọng đạo
- Phát động phong trào Chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam
- Làm báo chủ đề về thầy cô, mái trường
- Sinh hoạt tập thể kỉ niệm ngày 20/11
- Tổ chức hội thi văn nghệ: Tiếng hát mừng thầy cô
- Tổ chức cho HS tìm hiểu về truyền thống địa phương
- Sinh hoạt tập thể kỷ niệm ngày 3/2, nghe nói chuyện về truyền thống quê hương, đất nước, Đảng
Trang 28- Tổ chức hội thi: “Chúng em kể chuyện Bác Hồ”
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình
Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, vào nền văn hoá, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân
* Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp KN xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác
như: xử lí cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lý cảm xúc
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẩn một cách
Trang 29hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn
* Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
KN ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi
bị căng thẳng
KN ứng phó với căng thẳng rất quan trọng đối với học sinh tiểu học, giúp cho các em:
- Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng
- Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tổn hại sức khỏe thể chất
và tinh thần của bản thân
- Xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến
người xung quanh
KN ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các KNS khác như: KN tự nhận thức, KN xử lý cảm xúc, KN giao tiếp, tư duy sáng tạo, KN tìm kiếm sự giúp đỡ và KN giải quyết vấn đề
* Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác nhất là học sinh tiểu học tuổi còn nhỏ có những việc vượt khỏi tầm với của các em nhưng vì bản tính tò
mò, thích khám phá nên quyết làm bằng được Vì vậy lúc này các em cần tới
sự trợ giúp của những người xung quanh KN tìm kiếm sự hỗ trợ sẽ giúp các
em tìm kiếm được người hỗ trợ phù hợp nhất
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu tố sau:
- Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ
- Biết xác định được những địa chỉ hỗ trợ đáng tin cậy
Trang 30- Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó
- Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp
* Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai,
cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ
KN thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống
* Kỹ năng giao tiếp
KN giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh
và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết
KN giao tiếp giúp học sinh tiểu học nói chung hay học sinh cuối tiểu học nói riêng sống hòa đồng hơn với mọi người, đồng thời các em cũng biết
cách bày tỏ quan điểm, mong muốn của bản thân một cách tốt nhất
* Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó
KN giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái
độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên
và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình
Trang 31KN giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của KN giải quyết vấn
đề KN giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều KN liên quan khác như: KN giao tiếp, KN tự nhận thức, KN tư duy phê phán, KN ra quyết định, …
* Kỹ năng hợp tác
KN hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm
Có kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì:
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung
- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một chi tiết của một
cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ
- KN hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hoà và tránh xung đột trong quan hệ với người khác
Vì vậy ngay từ nhỏ chúng ta nên dạy cho học sinh biết kĩ năng này nó sẽ giúp các em hoàn thành tốt nhất trong học tập hay trong một lĩnh vực nào đó
* Kỹ năng tư duy phê phán
KN tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng, xảy ra Để phân tích một cách có phê phán, con người cần:
KN tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân Một người
có được KN tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với KN tự nhận thức và KN xác định giá trị
* Kỹ năng tư duy sáng tạo
Trang 32Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý
tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ
KN tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt
* Kỹ năng giải quyết vấn đề
KN giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan tới
KN ra quyết định và cần nhiều KNS khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định,
* Kỹ năng đặt mục tiêu
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc một công việc nào đó Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ
KN đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó
KN đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu của mình
* Kỹ năng quản lý thời gian
KN quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định
Trang 33* Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
KN tìm kiếm và xử lí thông tin cần kết hợp với KN tư duy phê phán và
KN tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ
* Kỹ năng xử lí tình huống và kỹ năng ra quyết định
Ở lứa tuổi cuối tiểu học GV thường tập trung vào hai kĩ năng quan trọng đó là kĩ năng xử lý tình huống và kĩ năng ra quyết định Hai kỹ năng này cùng với những kỹ năng khác nếu được thực hiện một cách hợp lý sẽ làm thay đổi hành vi của con người từ thói quen sống thụ động, cơ thể gây rủi ro mang lại hiệu quả chuyển những hành vi tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiêu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và góp phần bền vững cho xã hội
Cụ thể giáo dục kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng ra quyết định cho học sinh tiểu học nhằm:
- Trang bị cho các em những kiến thức hiểu biết về một số chuẩn mực
về hành vi đạo đức và pháp luật trong mối quan hệ của các em với những tình huống cụ thể, những lời nói, việc làm của bản thân với những người thân trong gia đình, với bạn bè
- Giúp các em học tập học tập, rèn luyện những kỹ năng nói, nhận xét, đứng trước tập thể, lựa chọn
- Giúp các em có những thái độ trách nhiệm đối với những lời nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, biết quan tâm chăm sóc ông bà, bố mẹ, biết ơn Bác Hồ và những người có công với đất nước, biết bảo
vệ môi trường
Trang 34Chính những mục tiêu trên mà GDKN xử lý tình huống, KN ra quyết định cho học sinh cuối tiểu học có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống và chính bản thân các em
1.3.2.2 Vai trò giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Góp phần củng cố, khắc sâu và phát triển những kiến thức đã học qua các môn học trên lớp
- Phát triển sự hiểu biết trong các lĩnh vực đời sống, xã hội, từng bước làm phong phú hơn vốn tri thức của HS, tạo nên sự cân đối hài hoà của quá trình giáo dục toàn diện
- Phát triển ở HS các KN cần thiết, phù hợp với sự phát triển lứa tuổi (KN giao tiếp, KN sống, KN ra quyết định, KN hợp tác và sẵn sàng tham gia các hoạt động của tập thể )
-Tạo cho HS lòng ham thích, hứng thú trong hoạt động
- Bồi dưỡng tình cảm yêu trường, yêu lớp, yêu quý thầy cô, bạn bè
1.3.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học nói chung và học sinh cuối tiểu học nói riêng
Dưới đây là những đặc điểm tâm sinh lý cơ bản nhất của học sinh tiểu học:
1.3.3.1 Đặc điểm về mặt cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy
cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa
Trang 35các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
1.3.3.2 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
* Hoạt động của học sinh tiểu học
- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ
hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt
động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ
vật sang các trò chơi vận động
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào
của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,
* Những thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có
thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương
Trang 36pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội
mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt
là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
1.3.3.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)
* Nhận thức cảm tính
- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào
chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong
phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm
Trang 37ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc
điểm nổi bật sau:
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này
bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
* Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh
và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
* Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Trang 38* Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Ở cuối tiểu học ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
* Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn
thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn
chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi
trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.3.3.4 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật, hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Trang 39Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy
so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện
và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
1.3.3.5 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi
trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang
những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức,
tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và
ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng
lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn
mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một
sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
Mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên với một nhân cách đang hình thành , đang phát triển Mỗi em đều có những đặc điểm chung của
Trang 40lứa tuổi tiểu học nhưng cũng có những đặc điểm riêng, từ cá tính, tâm lý, trí tuệ, thể chất… cho đến những nhu cầu khả năng tiềm ẩn
Ở lứa tuổi học sinh cuối tiểu học các em vẫn có tính tự phát, tính cách biểu hiện thất thường, bướng bỉnh, thích vui chơi, ghét gò bó Phần lớn các
em đều có phẩm chất tốt như vị tha, ham hiểu biết, hay tò mò, thích khám phá những điều mới lạ… các em sống hồn nhiên, cả tin trong các mối quan hệ bạn
bè đồng trang lứa, với người lớn, đặc biệt với thầy cô giáo
Đối với sự phát triển của học sinh cuối tiểu học, những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế, sự bùng nổ thông tin dẫn đến lối sống thực dụng buông thả ảnh hưởng mạnh mẽ tới các em Do đó, nếu không được trang bị những các kĩ năng sống cần thiết các em sẽ dễ mắc vào những cạm bẫy của đời sống tiêu cực
Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung và học sinh cuối tiểu học nói riêng, nhằm rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực, biết ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống…Ngoài ra việc giáo dục kĩ năng sống càng hiệu quả hơn khi học sinh được tự do vui chơi, tìm hiểu, khám phá…trong các giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tiểu kết chương 1
KNS là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Chính vì vậy việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách