Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái
Trang 1THỊ XÃ PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học Th.S DOÃN NGỌC ANH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô Doãn Ngọc Anh, người đã hướng dẫn giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể giáo viên các trường Tiểu học: trường Tiểu học Đồng Xuân, trường Tiểu học Xuân Hòa, trường Tiểu học Trưng Nhị đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong đề tài nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Khách thể nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
9 Phương pháp nghiên cứu 4
10 Kế hoạch nghiên cứu 5
11 Nội dung của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Một số vấn đề về đạo đức 6
1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 9
1.2.1 Một số khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức 9
1.2.2 Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 9
1.2.3 Vai trò của nhà trường Tiểu học trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 11
1.2.4 Nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 12
1.2.5 Những nguyên tắc giáo dục hướng tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 15
1.2.6 Những phương pháp giáo dục hướng tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 20
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 1 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TIỂU HỌC KHU VỰC THỊ XÃ PHÚC YÊN- VĨNH PHÚC 23
2.1 Thực trạng 23
2.1.1 Khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1 23
2.1.2 Kết quả khảo sát 24
2.2 Nguyên nhân của thực trạng 39
CHƯƠNG 3 NHỮNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 1 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THỊ XÃ PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC 42
3.1 Nâng cao hiểu biết và năng lực giáo dục của mỗi giáo viên khối 1 42
3.2 Tìm hiểu về tâm lý lứa tuổi học sinh 43
3.3 Chú ý đến mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng 44
3.4 Giáo dục đạo đức thông qua quá trình dạy học môn đạo đức 44
3.5 Giáo dục đạo đức thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục 48
3.6 Vận động mọi người cùng tham gia vào quá trình giáo dục học sinh 55
3.7 Đầu tư kinh phí cho các hoạt động giáo dục 57
3.8 Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục ở học sinh. 58
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện, một con người hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay
từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường Có thể nói, việc hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế
hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ của nhà trường nói riêng, của ngành giáo dục nói chung cần phải thực hiện Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với những người xung quanh Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục mà là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ trẻ Trong giáo dục không những có kiến thức mà phải có đạo đức Vì vậy, công tác giáo dục trước tiên phải đặt chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó là cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách Hồ Chí Minh đã nói: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
một việc rất quan trọng và cần thiết” [8-tr261]
Công cuộc đổi mới xã hội hiện nay ở nước ta cũng nhằm tiếp tục nhân đạo hóa các quan hệ giữa người và người, giữa người và môi trường sống, làm cho những nguyên tắc của nền đạo đức mới được khẳng định trong các chính sách và chủ trương, trong các hoạt động và quan hệ xã hội Đồng thời chính sự nghiệp đổi mới cũng đòi hỏi xuất hiện những con người có phẩm chất đạo đức đầy đủ để đưa sự nghiệp đó tiến lên đúng hướng và thu được nhiều kết quả Thái
độ đặc biệt coi trọng nhân cách đã được Hồ Chủ Tịch dạy: “Có tài mà không có
đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”
Trang 7Người Việt Nam từ xưa đã có biết bao truyền thống tốt đẹp Song cũng thật đáng buồn là hiện nay chất lượng đạo đức đang bị suy giảm xuống trông thấy Theo nghị quyết Hội nghị TW2- Đại hội VIII đã nêu “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lí tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp
về tương lai bản thân và đất nước” [11-tr4] Ngoài xã hội thì xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng và tràn lan khắp mọi nơi Có những gia đình cha mẹ mải chạy theo cơn lốc xoáy của kinh tế thị trường, bị cuốn theo tiền tài danh vọng mà quên đi trách nhiệm giáo dục con cái và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm cho chúng trở thành những đứa con bất hiếu, đạo đức bị giảm sút Trước thực trạng đó giáo dục đạo đức càng trở nên cần thiết và quan trọng Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Chính vì vậy, mọi nhà trường tiến bộ, nhân đạo, dân chủ, hướng về tương lai nhất thiết phải coi trọng và ngày càng làm tốt hơn việc bồi dưỡng đạo đức mới cho thế hệ trẻ đang lớn lên và tiến hành ngay từ bậc tiểu học
Quan trọng hơn nữa bậc học tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người Đặc biệt học sinh lớp 1 là lớp đầu tiên của bậc học này, đây là thời điểm đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong cuộc sống và phát triển tâm lí Các em phải tham gia mọi hoạt động trong học tập cũng như trong các hoạt động giao tiếp
Muốn các em có đạo đức tốt người giáo viên phải uốn nắn, rèn giũa cho các em ngay từ khi bước chân vào ngưỡng cửa nhà trường Nếu ngay từ lớp 1 được rèn rũa một cách nghiêm túc và có hiệu quả thì ở các lớp sau các em sẽ
là những học sinh có đạo đức tốt, tạo bước đi vững chắc cho các em trong việc học tập ở các lớp trên và tạo tiền đề cho việc rèn luyện, phấn đấu thành người công dân có ích cho đất nước sau này
Trang 8Với tư cách là một sinh viên sư phạm, là một giáo viên tiểu học tương
lai nên tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh
khối 1 ở một số trường tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc” nhằm
nâng cao hiểu biết chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một
số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Bàn về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học có nhiều tác giả đã đề cập đến:
Lưu Thu Thủy - “Giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi
Lưu Thu Thủy - “Đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học” Nguyễn Thị Thanh Thủy - “Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp”
Hà Thế Ngữ - “Một số vấn đề về phương pháp giáo dục đạo đức và giáo dục môn đạo đức ở cấp I”
Đã có nhiều chương trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng các đề tài đó chỉ dừng lại ở mức độ chung chung mà chưa đi sâu cụ thể vào một khối lớp nào đó, cũng chưa có tác giả nào đưa ra các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1 tại một số trường khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn viết về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phát hiện ra thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1 của một
số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc hiện nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạng Trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục thực trạng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Trang 96 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu thực trạng và đưa ra biện pháp khắc phục ở 3 trường khu vực Thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc: Tiểu học Đồng Xuân, Tiểu học Xuân Hòa, Tiểu học Trưng Nhị
7 Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1 ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên chưa được đảm bảo tốt Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do đội ngũ giáo viên nhà trường chưa có biện pháp triệt để để khắc phục thực trạng này Nếu sử dụng các biện pháp giáo dục thì hiệu quả, chất lượng giáo dục đạo đức sẽ được nâng cao
8 Nhiệm vụ nghiên cứu
8.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận
8.2 Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của thực trạng
8.3 Đề xuất giải pháp
9 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Trang 10- Phương pháp thống kê toán học
10 Kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 10- 11/ 2013 nhận đề tài và hoàn thành đề cương
- Tháng 12- 1/2014 tìm hiểu cơ sở lí luận
- Tháng 2- 3/2014 tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân thực trạng
- Tháng 4/2014 tổng kết số liệu
- Tháng 5/2014 đưa ra biện pháp khắc phục và hoàn thành đề tài
11 Nội dung của đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân thực trạng việc giáo dục đạo
đức cho học sinh khối 1 ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc
Chương 3: Những biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho
học sinh khối 1 ở một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 11Đạo đức là một trong những hình thái sớm của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (quan hệ gia đình, bạn bè, hàng xóm, giai cấp, dân tộc)
Đạo đức được thể hiện ở các quan hệ về thiện/ác, lòng nhân ái, lương tâm, danh dự, hạnh phúc, lẽ công bằng về những điều cần phải làm, nên làm, được hay không được làm,… Căn cứ vào những chuẩn mực đó, người ta đánh giá hành vi của mỗi người và của chính mình Tuy chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản pháp quy có tính chất bắt buộc mỗi người phải thực hiện, nhưng vẫn được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và dư luận xã hội Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân, phải điều tiết hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trang 12Đạo đức là sự phản ánh tồn tại xã hội nhất định, phản ánh các quan hệ
xã hội Vì vậy, trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp “Xã hội nào
thì đạo đức ấy” Đạo đức của xã hội ta là đạo đức xã hội chủ nghĩa Đạo đức
được xây dựng trên cơ sở một xã hội không có người bóc lột người, trên cơ sở
có sự kết hợp thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Các hình thái kinh tế xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những kiến thức chung Do vậy đạo đức cũng có tính chất kế thừa nhất định
Cụ thể, mọi thời đại đều lên án cái ác, cái tàn bạo, tham lam, hèn nhát,… và đều khen ngợi cái thiện, sự độ lượng, khiêm tốn Xã hội càng tiến bộ, quan hệ giữa người với người càng mang tính nhân đạo hơn
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là hình thành cho các em lòng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam; Yêu quê hương đất nước hòa bình, công bằng bác ái, kính trên nhường dưới, đoàn kết với mọi người,… Có
ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, các quy định của nhà trường, khu dân cư, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực Biết cách tự phục vụ, biết cách học tập, vận dụng làm được một số việc trong gia đình
Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng ta phải hình thành cho các em những thói quen chuẩn mực đạo đức cụ thể là: Lòng kính yêu ông bà, cha mẹ, kính trọng thầy giáo, cô giáo, quý mến bạn bè, giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn; thật thà dũng cảm trong học tập, lao động; lòng biết ơn những người có công với đất nước… Những thói quen này, những đức tính này thực hiện theo các chuẩn mực đạo đức nhân đạo của loài người là các yếu
tố tạo thành nền tảng để hình thành và phát triển nhân cách đạo đức mới Những thói quen hành vi đạo đức này không đơn thuần là những hành động ứng xử có được do lặp lại bằng luyện tập trong nhiều tình huống quen thuộc
Trang 13Đó phải là những hành động ứng xử chịu sự kích thích của những động cơ đạo đức đúng đắn
Như vậy phẩm chất đạo đức của thế hệ trẻ, sự ứng xử này được hình thành do trẻ rèn luyện những thói quen đạo đức, tình cảm đạo đức, kiến thức đạo đức Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là cung cấp cho trẻ những biểu tượng và khái niệm đạo đức, bồi dưỡng xúc cảm và tình cảm đạo đức, rèn luyện kỹ năng và thói quen đạo đức Trường học là nơi trẻ em hình thành và phát triển nhân cách toàn diện nhất Ở trường các em được đón nhận
sự quan tâm dạy bảo của thầy cô giáo, sự giúp đỡ của bạn bè và được sống trong tập thể lớp, các em có điều kiện phát triển trí tuệ và năng khiếu của bản thân Đến trường các em không chỉ được học các môn học mà còn được rèn luyện, được tham gia nhiều hoạt động tập thể phù hợp với lứa tuổi, vui và bổ ích Hoạt động học và hoạt động giáo dục là hai mặt quan hệ chặt chẽ, hữu cơ nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển trong quá trình phát triển chung của trẻ Có thể nói trường học là vườn ươm cho những tài năng tương lai của đất nước Muốn nâng cao chất lượng toàn diện ở nhà trường Tiểu học thì mọi kỉ cương, nề nếp phải chặt chẽ, nghiêm túc Các hoạt động trong nhà trường phải đồng bộ, tạo nên bộ máy nhịp nhàng đều tay, tạo được phong trào thi đua trong nhà trường thực sự có hiệu quả và chất lượng cao
Học sinh lớp 1 là lớp học đầu tiên của cấp học đầu tiên, lớp học tạo nên nền móng tốt cho những năm học sau K.D.Usinxki- nhà giáo dục Nga (cũ) đã nói: “Tính tình con người ta hơn lúc nào hết được hình thành vào những năm đầu của cuộc đời và những gì đã nằm trong tính tình ấy vào những năm đầu
đó sẽ bám chắc và trở thành bản chất thứ hai của con người”[1-tr99] Từ thực tiễn cho thấy nếu giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác xây dựng và rèn luyện
ý thức đạo đức tốt thì sẽ có tác dụng rất lớn cho việc thực hiện các chỉ tiêu giáo dục, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Trang 141.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.2.1 Một số khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.1.1 Đạo đức
- Theo quan điểm Mac-xit: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc chuẩn mực của đời sống xã hội và hành vi của con người Nó quy định nghĩa vụ của người này với người khác, nghĩa vụ của con người đối với xã hội nguồn”
- Theo Hồ Chí Minh: Đạo đức có thể được định nghĩa theo các khía cạnh sau:
+ Nghĩa rộng: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng
+ Nghĩa hẹp: Đạo đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành
vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống
+ Nghĩa rất hẹp: Đó là hành vi đạo đức, hành vi đạo đức là hành động
cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại
1.2.1.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức nói chung là quá trình tác động một cách tích cực, có
hệ thống đến nhận thức, thái độ và hành vi của con người nhằm hình thành và phát triển tính tự giác, ý thức trách nhiệm ở trẻ
1.2.2 Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Chúng ta có thể nhận thấy mục đích của toàn bộ công tác giáo dục đạo đức thế hệ trẻ trong giáo dục là không những có kiến thức phổ thông mà phải
có đạo đức cách mạng - đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa Vị trí, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức từ xưa đến nay đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định: “Đạo đức như gốc
Trang 15của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức mạnh mới gánh được mạnh và đi được xa” Theo Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [9-tr252-253] Cho nên công tác giáo dục trước hết phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho người học, coi đó
là cái gốc cho sự phát triển nhân cách
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là quá trình tác động từ nhiều con đường làm cho nhân cách học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ
sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ của các cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử đúng trong các mối quan hệ cụ thể
Học sinh có thể làm được những gì ở tương lai điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố quan trọng như: các biện pháp giáo dục của nhà trường, của
xã hội, ý thức tự giác và đạo đức của mỗi học sinh Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết về vị trí của trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những người công dân tốt, đủ phẩm chất
và năng lực trí tuệ để gánh vác vận mệnh dân tộc Đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và của trường Tiểu học nói riêng
Có rất nhiều cách giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học nhưng trường Tiểu học có thể là nơi làm tốt công tác giáo dục đạo đức và mang lại hiệu quả cao Như đã biết, học sinh tiểu học dễ dàng học được điều tốt và cũng dễ dàng nhiễm điều xấu Nếu ngay từ bậc học này không có sự đầu tư cho giáo dục đạo đức thì rất khó cho việc hình thành nhân cách con người sau này Chính
vì thế môn học đạo đức trong nhà trường Tiểu học có nhiệm vụ cung cấp những tri thức cơ bản ban đầu về phẩm chất đạo đức con người và rèn luyện những hành vi ứng xử theo các chuẩn mực đạo đức xã hội
Trang 16Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 thì việc giáo dục đạo đức cho các em càng quan trọng hơn nữa Người xưa có câu:
Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ lúc hãy còn trẻ thơ
Do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh các lớp đầu cấp còn chịu nhiều ảnh hưởng trực tiếp từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè Tính tự chủ, độc lập còn thấp, các em thường làm theo những gì người lớn làm do vậy đây sẽ là thời điểm giáo dục hiệu quả nhất Tương lai, sự trường tồn và phát triển của mỗi dân tộc, mỗi đất nước luôn phụ thuộc vào thế hệ trẻ Nếu ngay từ lớp 1 các em được rèn rũa một cách nghiêm túc thì ở các lớp sau các em cũng sẽ là những người có đạo đức tốt tạo bước đi vững chắc cho các em trong việc rèn luyện và học tập ở các lớp trên cũng như ngoài xã hội để trở thành người công dân có ích cho đất nước sau này - những con người có trình độ văn hóa, khoa học, nhanh nhạy, nhạy bén đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện đại
Nói chung giáo dục đạo đức có vị trí và vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Không chỉ bồi dưỡng nhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội, mà chủ yếu góp phần hình thành và phát huy những phẩm chất cần thiết của con người với hành vi cao đẹp đầy tính nhân văn
1.2.3 Vai trò của nhà trường Tiểu học trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
- Làm cho học sinh tiểu học nhận thấy rằng cần làm cho hành vi ứng xử của mình phù hợp với lợi ích của xã hội, giúp cho các em lĩnh hội các lý tưởng đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các chuẩn mực đạo đức để đảm bảo
sự phù hợp đó
- Bồi dưỡng tình cảm đạo đức tích cực và bền vững các phẩm chất ý chí (thật thà, dũng cảm, kỷ luật, kiên trì…) để đảm bảo cho hành vi đạo đức luôn luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức
Trang 17- Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức, làm cho chúng trở thành bản tính
tự nhiên của cá nhân và duy trì lâu bền các thói quen đó để ứng xử đúng đắn
- Giáo dục văn hóa ứng xử thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người, bảo quản tính nhân đạo, trình độ thẩm mĩ cao của các quan hệ
cá nhân trong cuộc sống
- Việc bồi dưỡng tình cảm đạo đức và rèn luyện thói quen hành vi đạo đức là nhằm hình thành bản lĩnh đạo đức vững vàng cho học sinh
1.2.4 Nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
“Giáo dục đạo đức là một bộ phận cực kì quan trọng của quá trình sư phạm đặc biệt là ở Tiểu học Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh tiểu học, giúp các em biết ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày” [2-tr96]
Có thể nói nhân cách học sinh tiểu học được thể hiện trước hết qua bộ mặt đạo đức Điều này thể hiện qua những thái độ, hành động, việc làm đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè, qua thái độ với học tập, rèn luyện hàng ngày của các em…
Ở Tiểu học, quá trình giáo dục đạo đức nhằm vào việc hình thành các chuẩn mực hành vi, phẩm chất đạo đức vững chắc Vì vậy quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình thực hiện ba nhiệm vụ: giáo dục ý thức đạo đức; giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức; giáo dục hành vi, thói quen đạo đức Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học được thể hiện qua nội dung
cụ thể của việc thực hiện các nhiệm vụ đó
1.2.4.1 Giáo dục ý thức đạo đức
“Giáo dục ý thức đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh những tri thức cơ bản, cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức, trên cơ sở đó bước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho các em Các chuẩn mực hành vi này cần được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức - lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng
Trang 18yêu lao động, tinh thần tập thể, tính kỷ luật Chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em” [2-tr97] Đó là:
- Quan hệ cá nhân với xã hội: tôn kính Quốc kì, Quốc ca, kính yêu Bác Hồ; tự hào về đất nước, con người Việt Nam; biết ơn những thương binh, liệt
sĩ, các chiến sĩ quân đội công an; yêu quê hương, làng xóm, phố phường của mình; yêu mến và tự hào về trường lớp; giữ gìn về môi trường sống xung quanh; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa do cha ông ta để lại…
- Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: chăm chỉ, kiên trì, vượt khó trong học tập, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau
- Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: yêu quý, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, quan tâm, giúp đỡ anh chị em trong gia đình; kính trọng và biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng, giúp đỡ đoàn kết với bạn bè; quan tâm giúp đỡ hàng xóm láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật…
- Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác: tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, của xã hội và của người khác…
- Quan hệ cá nhân với thiên nhiên: bảo vệ, giữ gìn môi trường tự nhiên xung quanh nơi học, nơi chơi, nơi qua lại - bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích, vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại, tiết kiệm bảo vệ nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên…
- Quan hệ cá nhân với bản thân: khiêm tốn, thật thà, trung thực, bạo dạn…
1.2.4.2 Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
Đời sống tinh thần của con người nói chung, của trẻ em nói riêng sẽ trở nên khô khan, trống rỗng nếu không biết yêu, ghét, không có cảm xúc mà thờ
ơ với những người xung quanh Ngược lại, những người có tình cảm đạo đức chân chính họ dễ dàng hòa nhập với cuộc sống xung quanh và có đời sống tinh thần phong phú… Vì vậy, giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhưng rất khó khăn, tinh tế
Trang 19“Giáo dục thái độ tình cảm đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh những thái độ đúng đắn liên quan đến các chuẩn mực hành vi và từ đó hình thành tình cảm đạo đức bền vững cho các em” [2-tr98]
Đối với học sinh tiểu học cần giáo dục những thái độ, tình cảm được thể hiện ở các nhóm như:
+ Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; tôn trọng yêu mến bạn bè; kính trọng biết ơn thầy cô giáo, tôn trọng những người xung quanh…
+ Kính yêu Bác Hồ, tôn kính Quốc kì, Quốc ca; biết ơn thương binh, liệt sĩ, bộ đội; yêu trường, mến lớp, yêu quê hương, làng xóm…
+ Chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp, yêu lao động…
+ Yêu thiên nhiên, môi trường sống xung quanh
+ Lòng tự trọng, khiêm tốn, trung thực
+ Ủng hộ, đồng tình, tán thành với những việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức Lên án, phê phàn chê cười những hành động sai trái, có hại cho người khác…
1.2.4.3 Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức
Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm có được những hành vi đạo đức đúng đắn, từ đó có thói quen đạo đức bền vững
Ở Tiểu học cần hình thành cho học sinh những thói quen đạo đức căn bản như:
+ Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình bằng những việc làm vừa sức
+ Hành vi lễ phép với người lớn
+ Giúp đỡ những người xung quanh
Trang 20+ Tham gia các hoạt động nhân đạo để giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn, các phong trào đền ơn đáp nghĩa ở địa phương
+ Bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng, giữ gìn đồ đạc của người khác + Tham gia các công việc giữ gìn bảo vệ thiên nhiên
1.2.5 Những nguyên tắc giáo dục hướng tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.2.5.1 Khái niệm
“Nguyên tắc giáo dục tiểu học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận giáo dục tiểu học có vai trò định hướng, chỉ đạo toàn quá trình giáo dục tiểu học nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục và từ đó đạt được mục đích giáo dục tiểu học đã đề ra” [2-tr38]
Các nguyên tắc giáo dục bản thân nó không phải là những quy luật của quá trình giáo dục mà các nguyên tắc giáo dục chỉ là những luận điểm cơ bản phản ánh trong nó những quy luật của quá trình giáo dục Những quy luật của quá trình giáo dục là những mối quan hệ bền vững và tất yếu giữa các nhân tố cấu trúc của quá trình giáo dục
1.2.5.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
* Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục phải hướng vào mục đích mà chúng ta lựa chọn Lấy đó làm cơ sở, phương pháp luận cho mọi hoạt động của chủ thể
và khách thể trong quá trình giáo dục
- Muốn đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình giáo dục hay trước khi tiến hành giáo dục chúng ta phải ý thức đúng được mục đích
- Luôn lấy mục đích làm cơ sở để lựa chon nội dung, phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức giáo dục
Để đảm bảo những mục đích này, trong giáo dục, nhà giáo dục nên quan tâm:
Trang 21+ Hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học và nhân sinh đúng đắn, lí tưởng xây dựng một đất nước “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
+ Trong cuộc sống biết phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái ác Tỏ thái độ với cái xấu, cái ác góp phần xây dựng đạo đức, văn hóa lành mạnh, đem lại lợi ích và hạnh phúc cho xã hội
* Nguyên tắc gắn giáo dục với thực tiễn lao động đấu tranh, xây dựng
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động
Nguyên tắc này có ý nghĩa lớn nhất là hình thành ở học sinh niềm tin đạo đức
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được thực hiện ngay trong thực tiễn lao động đấu tranh xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân lao động Lấy thực tiễn lao động để đấu tranh, để chứng minh, để làm sáng tỏ cho những chuẩn mực xã hội mà ta cần giúp học sinh nắm vững trong quá trình giáo dục trong nhà trường
- Muốn đảm bảo nguyên tắc này, trong giáo dục trước hết đòi hỏi nhà giáo dục phải có những hiểu biết nhất định về thực tiễn cuộc sống
- Tận dụng vai trò của tổ chức Đội và Sao nhi đồng, các hoạt động ngoại khóa, thu hút sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường vào các mục tiêu giáo dục
- Không nên tách rời quá trình giáo dục khỏi cuộc sống, khỏi sự nghiệp lao động xây dựng đất nước, không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường, các hoạt động nội khóa Vì như vậy học sinh sẽ trở thành những người thiếu bản lĩnh, khó hội nhập được với cuộc sống, không có khả năng đương đầu với những tình huống phức tạp trong cuộc sống
* Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành ngay trong hoạt động của học sinh trong và ngoài nhà trường, lấy lao động làm
Trang 22phương tiện Giáo dục cho học sinh những phẩm chất cần thiết của con người lao động mới
Muốn đảm bảo nguyên tắc này đòi hỏi phải:
- Thường xuyên tổ chức hoạt động lao động trong và ngoài nhà trường đưa học sinh tham gia vào
- Trong lao động phải khai thác được hết ý nghĩa của lao động trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu về cuộc sống và hoạt động lao động, sáng tạo của người lao động hữu ích, từ đó giúp các em hình thành những phẩm chất của người công dân, người lao động mới Khi đưa học sinh vào các hoạt động phải tạo ra các điều kiện để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
* Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được thực hiện ngay trong tập thể học sinh Lấy tập thể làm mục tiêu, làm phương tiện giáo dục học sinh
- Để thực hiện đảm bảo nguyên tắc này: trong giáo dục chúng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng tập thể học sinh, trước hết tạo môi trường giáo dục thuận lợi
- Trong giáo dục chúng ta phải khai thác hết ý nghĩa cũng như tác dụng của tập thể trong việc giáo dục mỗi cá nhân
- Xây dựng các mối quan hệ tập thể và giao lưu đúng đắn, lành mạnh trong tập thể: quan hệ trách nhiệm - học tập; quan hệ nhân ái bạn bè và các quan hệ riêng tư
- Xây dựng tập thể lành mạnh Khuyến khích nhận thức, thái độ và hành vi đúng đắn, đồng thời ngăn chặn, lên án những hành vi sai trái, làm ảnh hưởng đến lợi ích chung, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể
Trang 23- Tuyệt đối cần tránh tình trạng: cực đoan hóa lợi ích cá nhân hoặc lợi ích chung của tập thể
* Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa việc tôn trọng nhân cách học sinh với việc đưa ra những yêu cầu hợp lí
Trước hết chúng ta phải hiểu, tôn trọng nhân cách học sinh là:
- Tuyệt đối tin tưởng học sinh
- Thường xuyên đưa ra những yêu cầu hợp lí buộc học sinh phải thực hiện
- Không được sử dụng những biện pháp gây ra đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn
* Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa việc phát huy vai trò chỉ đạo của nhà giáo dục với việc phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh trong giáo dục
Đây là nguyên tắc biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Nguyên tắc này đòi hỏi nhà giáo dục phải giữ được vai trò chủ thể, khách thể trong quá trình giáo dục
Muốn đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình giáo dục thì chúng ta phải chống lại hai khuynh hướng:
+ Tuyệt đối hóa vai trò chủ thể (của nhà giáo dục)
+ Tuyệt đối hóa vai trò của khách thể
* Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình
Trang 24- Nhà trường, gia đình, xã hội cùng phối hợp để giáo dục trẻ ở mọi nơi, mọi lúc để cùng thống nhất các ảnh hưởng giáo dục, nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giáo dục
- Nhà trường luôn thấy được và thực hiện vai trò chỉ đạo của mình, chủ động kết hợp với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục thế hệ trẻ
- Gia đình và xã hội cần chủ động phối hợp với nhà trường theo định hướng giáo dục chung, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục của nhà trường và hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực
* Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính thường xuyên, liên tục
Trong suốt quá trình giáo dục mỗi nét tính cách khi đã được hình thành cần được củng cố luyện tập, nâng cao theo những yêu cầu phát triển của công tác giáo dục Quá trình giáo dục không được đứt đoạn và phải thực thi trong mọi hoàn cảnh, trong sự kết hợp giáo dục và sự rèn luyện thì kết quả mới vững chắc ổn định
Trong suốt cuộc đời học sinh, các tác động của quá trình giáo dục luôn mang tính toàn vẹn, các nhiệm vụ giáo dục phải được thực hiện một cách đồng bộ
* Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt trong giáo dục
Nguyên tắc này đỏi hỏi quá trình giáo dục gắn với mỗi cá nhân cụ thể, gắn với mỗi tình huống giáo dục cụ thể
Để đảm bảo nguyên tắc này trước khi tiến hành quá trình giáo dục, nhà giáo dục phải nắm vững học sinh một cách toàn diện, đòi hỏi nhà giáo dục phải năng động, sáng tạo trọng việc sử lí tất cả các tình huống giáo dục; đòi hỏi mỗi giáo viên phải có trình độ sư phạm vững vàng, hiểu sâu sắc đối tượng của mình để có thể lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáo dục được tốt
Trang 25Kết luận: Chính nhờ hệ thống các nguyên tắc này sẽ là cơ sở để học sinh nắm vững các tri thức đạo đức, để có hành vi và lối sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức
1.2.6 Những phương pháp giáo dục hướng tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Phương pháp giáo dục là tổ hợp các cách thức hoạt động của chủ thể và khách thể mà chủ thể và khách thể sử dụng để đạt được mục đích giáo dục
Để giải quyết được những nhiệm vụ đó giáo viên cần sử dụng một số phương pháp chính và phân thành các nhóm sau:
- Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân: Chức năng của nhóm phương pháp này là cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức theo các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh Ý thức đó có tác dụng điều hướng, điều chỉnh thái độ, tình cảm, hành vi, việc làm của học sinh Nói cách khác ý thức được hình thành đúng đắn giúp học sinh có cách ứng xử phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà
xã hội đòi hỏi ở mỗi thành viên trong các mối quan hệ với bản thân, với những người xung quanh, với công việc, với môi trường… Các phương pháp
cụ thể ở đây là: kể chuyện, đàm thoại, giảng giải, nêu gương
+ Kể chuyện là phương pháp giáo viên dùng lời của mình thuật lại câu chuyện có ý nghĩa giáo dục nhất định [2-tr123]
+ Phương pháp đàm thoại là phương pháp tổ chức trò chuyện, chủ yếu
là giữa giáo viên và học sinh, về các vấn đề đạo đức dựa trên một hệ thống câu hỏi nhất định [2-tr118]
+ Phương pháp giảng giải là phương pháp giáo viên dùng lời của mình
để trình bày, chứng minh cho hành động, việc làm nói riêng hay chuẩn mực hành vi nào đó nói chung [2-tr125]
+ Phương pháp nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương cụ thể, sống động “ấn tượng” để kích thích học sinh bắt chước hoặc tránh [2-tr128]
Trang 26- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, hình thành kinh nghiệm ứng xử cho học sinh: phương pháp nêu yêu cầu sư phạm, phương pháp tập luyện, phương pháp rèn luyện, phương pháp tạo tình huống giáo dục, phương pháp tạo dư luận xã hội lành mạnh, phương pháp giao công việc
+ Phương pháp nêu yêu cầu sư phạm là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện nội quy, quy chế dành cho chúng hay yêu cầu chúng thực hiện hành vi công việc cụ thể phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, quy định tập thể [2-tr131]
+ Phương pháp tập luyện là phương pháp tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại các thao tác, các hành động nhất định một cách thường xuyên có hệ thống nhằm biến chúng thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen cần thiết [2-tr135]
+ Phương pháp rèn luyện là phương pháp tổ chức các hoạt động và cuộc sống đa dạng, phong phú cho học sinh, tạo cho các em điều kiện cư xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội, có các kỹ năng tổ chức các hoạt động của mình [2-tr144]
+ Phương pháp tạo dư luận xã hội lành mạnh:
Dư luận là hiện tượng tâm lí bắt nguồn từ một nhóm người, biểu hiện
bằng những phán đoán, bình luận về một vấn đề nào đó kèm theo thái độ cảm xúc và sự đánh giá nhất định, được truyền từ người này tới người kia, nhóm này sang nhóm khác Nó có thể được truyền đi một cách tự phát hoặc được tạo ra một cách cố ý Nếu được lan truyền rộng rãi và lặp lại thì trở thành dư luận xã hội
Dư luận xã hội lành mạnh là những dư luận được lan truyền theo hướng tích cực, tạo ra những dư luận tốt
+ Phương pháp tạo tình huống giáo dục là đưa ra những tình huống thường xảy ra trong thực tế hoặc có thể xảy ra trong thực tế để xem xét, phân tích và xây dựng các phương án giải quyết tình huống đó
Trang 27+ Phương pháp giao công việc là phương pháp lôi cuốn học sinh vào các hoạt động đa dạng với những công việc cụ thể, với những nghĩa vụ xã hội nhất định Qua đó, học sinh sẽ có điều kiện để thể hiện những kinh nghiệm vốn có của mình hình thành được những hành vi phù hợp với công việc được giao, thu nhận kiến thức phù hợp
- Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh: phương pháp khuyến khích, phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua
+ Phương pháp khuyến khích là phương pháp giáo viên biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hoạt động và hành vi ứng xử của cá nhân học sinh hay của nhóm tập thể [2-tr148] Khuyến khích là cách tạo dự luận xã hội tích cực, đồng tình, khích lệ, ủng hộ hành vi đúng đắn
+ Phương pháp trách phạt là phương pháp giáo viên biểu thị sự đánh giá tiêu cực những hành động, hành vi sai trái của học sinh không phù hợp với các chuẩn mực hành vi xã hội, nội quy học sinh, những quy định của nhà trường, của lớp, tập thể [2-tr148-149]
Các hình thức biểu thị hình phạt là: nhắc nhở, chê trách, phê bình, trừng phạt…
+ Phương pháp thi đua: thi đua là phương pháp giáo dục nhằm khích lệ khuyến khích khuynh hướng tự khẳng định của mỗi cá nhân hay tập thể, tạo điều kiện và cơ hội cho học sinh cố gắng nhiều hơn, hăng hái đua tài, đua sức
để vươn lên cao hơn so với điều kiện bình thường
Tổng kết: Tất cả các phương pháp này đều có những ưu và nhược điểm khác nhau, không có một phương pháp nào là vạn năng phù hợp cho tất cả các phương pháp Do vậy để giáo dục đạo đức cho học sinh chúng ta cần phối hợp vận dụng các phương pháp với nhau cho phù hợp để có được kết quả giáo dục như mong muốn
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 1 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU
2.1.1.2 Nội dung khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát trên các vấn đề sau:
+ Thực trạng về đội ngũ giáo viên khối 1
+ Thực trạng nhận thức của giáo viên khối 1 về sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+ Thực trạng nhận thức của giáo viên khối 1 về mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+ Thực trạng việc giáo viên đã sử dụng các hình thức giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nội dung giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+ Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nguyên tắc giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+ Thực trạng việc giáo viên đã sử dụng các phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
+ Thực trạng đạo đức của học sinh khối 1
Trang 292.1.1.3 Phương pháp khảo sát
Tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau để thực hiện đề tài này: + Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi
+ Phương pháp phỏng vấn sâu
+ Phương pháp quan sát: quan sát thái độ, hành vi của học sinh
+ Phương pháp trò chuyện với giáo viên và học sinh khối 1
2.1.1.4 Thời gian khảo sát
Tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014
2.1.1.5 Cách thức tiến hành
- Tôi đã tiến hành phát - thu 14 phiếu điều tra cho giáo viên khối 1 của
3 trường khu vực Phúc Yên - Vĩnh Phúc, cụ thể:
Với tổng số phiếu trưng cầu ý kiến là: 14 phiếu, trong đó trường Tiểu học Đồng Xuân là 4 phiếu, Tiểu học Xuân hòa là 6 phiếu, Tiểu học Trưng Nhị là 4 phiếu Trong số 14 giáo viên khối 1 được lấy ý kiến, trình độ các giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn
Tổng số phiếu thu lại: 14 phiếu
- Phỏng vấn sâu một số giáo viên về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
2.1.2 Kết quả khảo sát đối với giáo viên
2.1.2.1 Thực trạng về đội ngũ giáo viên khối 1
Qua tìm hiểu và nghe báo cáo chung về nhà trường tôi đã thu được kết quả sau:
Trang 30Bảng 1: Trình độ giáo viên khối 1
Tên trường
tiểu học
Tổng số giáo viên
3/4 75%
0/4 0%
0%
0/6 0%
6/6 100%
0/6 0%
0%
2/4 50%
2/4 50%
0/4 0%
Dựa vào kết quả thu được ta thấy trình độ giáo viên khối 1 của ba trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã đạt chuẩn và trên chuẩn Các trường có số giáo viên khối 1 có trình độ Cao Đẳng, Đại học chiếm số lượng cao, trình độ Trung cấp và trên Đại học là không có Trường Tiểu học Đồng Xuân có số lượng giáo viên khối 1 có trình độ Đại học chiếm tỉ lệ cao là 75%, trình độ Cao đẳng chiếm 25% Trường Xuân Hòa không có giáo viên nào có trình độ trên Đại học, Cao đẳng và Trung cấp nhưng 100% số giáo viên khối 1 có trình độ Đại học Trường Tiểu học Trưng Nhị không có giáo viên nào có trình độ trên Đại học và trình độ Trung cấp, 50% giáo viên có trình độ Đại học, 50% giáo viên có trình độ Cao đẳng Nhìn mặt bằng chung cho thấy đội ngũ giáo viên khối 1 của trường Tiểu học Xuân hòa có trình độ đồng đều nhất Đây là điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường Tiểu học Giáo viên khối 1 của ba trường phần lớn là những cán bộ giáo viên có thâm niên từ 5 năm trở lên, một số ít cán bộ giáo viên dưới 5 năm Tất cả các giáo viên trong trường đều biểu lộ tình đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau Các đồng chí đã tập hợp thành một khối xây dựng một tổ ấm đoàn kết nhất
Trang 31trí, khắc phục những mặt yếu, phát huy những mặt mạnh cùng nhau gánh vác công việc chung để đẩy mạnh công tác giáo dục của nhà trường Đây là điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp giữa các giáo viên trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
2.1.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Kết quả thu được như sau:
Bảng 2: Nhận thức của giáo viên khối 1 về sự cần thiết của việc giáo dục
đạo đức cho học sinh khối 1
Tổng số
Mức độ Cần thiết
(%)
Bình thường (%)
2.1.2.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên về mục đích của giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Kết quả thu được như sau:
Trang 32Bảng 3: Nhận thức của giáo viên về mục đích của giáo dục đạo đức cho
học sinh khối 1
các em, giúp các em rèn luyện ý thức, trách nhiệm, hành vi
công dân ngay từ nhỏ,sống hợp đạo lí, tuân thủ pháp luật
85,8%
Kết quả thu được ở bảng 3 cho thấy đa phần các giáo viên đều xác định được đúng mục đích của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Đó là, góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp các em rèn luyện ý thức, trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ nhỏ, sống hợp đạo lí, tuân thủ pháp luật (85,8%) Một số giáo viên cho rằng mục đích của giáo dục đạo đức là làm cho các em trở thành người công dân tốt hoặc hình thành kỹ năng giao tiếp cũng không sai tuy nhiên chưa đầy đủ Không có ai cho rằng giáo dục đạo đức không nhằm mục đích gì vì đây là quan niệm sai hoàn toàn
2.1.2.4 Thực trạng việc giáo viên đã sử dụng các hình thức giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Kết quả thu được như sau:
Trang 33Bảng 4: Thực trạng việc giáo viên đã sử dụng các hình thức giáo dục đạo
đức cho học sinh khối 1
Mức độ Thường xuyên
( % )
Thỉnh thoảng ( % )
Không bao giờ ( % )
Qua bảng trên cho thấy: việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 được
tổ chức tương đối tốt Các giáo viên đã sử dụng các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 với mức độ như sau: hình thức ở trên lớp (thường xuyên 92,9%, thỉnh thoảng 7,1%, không bao giờ 0%), hình thức khi dạo chơi (thường xuyên 71,4%, thỉnh thoảng 28,6%, không bao giờ 0%), hình thức khi lao động (thường xuyên 25,0%, thỉnh thoảng 75,0%, không bao giờ 0%), các hình thức khác (thường xuyên 14,3%, thỉnh thoảng 50,5%, không bao giờ 37,5%) Qua đó chúng ta thấy được các thầy cô giáo đã biết phối hợp các hình thức giáo dục để giáo dục các em được hiệu quả
2.1.2.5 Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nội dung giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Kết quả thu được như sau:
Trang 34Bảng 5: Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nội dung giáo dục để
giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Mức độ Thường
xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Không bao giờ (%)
Kết quả thu được ở bảng 5 cho thấy:
Việc thực hiện tất cả các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh một cách thường xuyên chiếm tỉ lệ cao 92,9% Chỉ có 7,1% giáo viên thỉnh thoảng thực hiện tất cả các nội dung Điều đó cho thấy các thầy cô đã nhận thức đúng đắn việc cần giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức, giáo dục hành vi, thói quen đạo đức cho học sinh khối 1 Về giáo dục ý thức đạo đức (thường xuyên 85,7%, thỉnh thoảng 14,3%, không bao giờ 0%) Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức (thường xuyên 85,7%, thỉnh thoảng 14,3% , không bao giờ 0%) Giáo dục hành vi, thói quen hành vi (thường xuyên 92,9%, thỉnh thoảng 7,1% , không bao giờ 0%)
2.1.2.6 Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nguyên tắc giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Kết quả thu được như sau:
Trang 35Bảng 6: Thực trạng việc giáo viên đã thực hiện các nguyên tắc giáo dục
để giáo dục đạo đức cho học sinh khối 1
Mức độ Thường
xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Không bao giờ (%)
2 Nguyên tắc gắn giáo dục với thực tiễn lao
động đấu tranh, xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa của nhân dân lao động
5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa việc
phát huy vai trò chỉ đạo của nhà giáo dục với
việc phát huy vai trò tự giác, tích cực, tự lực
của học sinh trong giáo dục
6 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa việc
tôn trọng nhân cách của học sinh với việc đưa
9 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo
dục nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 36Dựa vào kết quả bảng trên tôi nhận thấy:
Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 ít được thực hiện Mức độ thực hiện như sau: thường xuyên 14,3%, thỉnh thoảng 71,4%, không bao giờ 14,3% Việc dạy môn đạo đức được thực hiện hầu như trong khuổn khổ bốn bức tường lớp học với những bài tập sách giáo khoa, vở bài tập môn học này Một quan niệm sai lầm cho rằng: khi học sinh học thuộc các quy tắc thì ắt sẽ thể hiện được các hành vi tương ứng Nhưng thực tế cho thấy hành vi của con người bị tri phối rất lớn bởi xung đột giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của những người xung quanh, lợi ích của xã hội Trong trường hợp đó nếu không được rèn luyện thì con người rất dễ chọn hành vi mang tính lợi ích cá nhân Như vậy môn Đạo Đức chưa đảm bảo tính mục đích đề ra Một thực tế dễ dàng nhận thấy là khi lồng ghép việc giáo dục đạo đức trong các môn học khác nhất là việc bảo vệ môi trường cũng chưa đảm bảo tính mục đích Học sinh vẫn ngang nhiên vứt rác bừa bãi ra sân trường, bẻ cây, hái hoa khi không có ai để ý
Nguyên tắc gắn giáo dục với thực tiễn lao động đấu tranh và xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động trong giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 được thực hiện như sau: thường xuyên 14,3%, thỉnh thoảng 42,9%, không bao giờ 42,8% Nguyên tắc này hầu như không được giáo viên thực hiện hay thực hiện không đủ số tiết Vì theo kế hoạch của học sinh là có hai tiết ngoại khóa trên một tuần nhưng hầu như các trường thực hiện việc này chưa được tốt Đa phần các trường chỉ có một tiết ngoài giờ lên lớp, đôi khi thay thế môn học khác vào tiết đó Có chăng cũng chỉ bó hẹp trong khuôn viên nhà trường Một số thầy cô vẫn xem nhẹ môn học này, ít có
tư liệu nghiên cứu các bài học Qua dự giờ cho tôi thấy việc dạy học đạo đức
ở khối lớp 1 đều ít gắn với thực tế lao động đấu tranh của dân tộc, tư liệu không phong phú, không sinh động, ít thu hút sự tập trung chú ý của học sinh,