1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

71 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 868,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân gồm Toà án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

THÁI HOÀNG ĐẮC

TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

THÁI HOÀNG ĐẮC

TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỘC LẬP TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HỒ HOÀNG ĐỨC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Thái Hoàng Đắc – mã số học viên: 7701250428A, là học viên lớp LOP-K25-MBL-Cà Mau; khóa 25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật

học với đề tài “Tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu

phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Thái Hoàng Đắc

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Tình hình nghiên cứu: 2

3 Mục đích nghiên cứu: 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

7 Kết cấu đề tài 5

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ QUY ĐỊNH VỀ TÍNH ĐỘC LẬP TRONG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1 Sự phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 6

1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường 6

1.1.2 Thương mại quốc tế và hội nhập quốc tế 7

1.1.3 Doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập thương mại quốc tế 8

1.2 Vai trò của Tòa án và tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án 12

1.2.1 Tòa án Việt Nam trong hệ thống Tư pháp 12

1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Tòa án 12

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án các cấp 17

1.2.4 Tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án 20

Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI CÀ MAU 24

2.1 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau 24

2.1.1 Quy định pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức của Tòa án 24

2.2 Đánh giá tính độc lập trong xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau 28

2.2.1 Những tiêu chí đánh giá tính độc lập trong xét xử của Tòa án 28

2.2.2 Những yếu tố tác động đến nguyên tắc độc lập trong xét xử 35

2.2.3 Kết quả xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cà Mau 39

2.2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 43

Kết luận chương 2 44

3.1 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp theo hướng độc lập: 46

Trang 5

3.2 Một số giải pháp về nâng cao tính độc trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 503.2.1 Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án 503.2.2 Đổi mới cơ chế tuyển chọn, đào tạo, có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với Thẩm phán; nâng cao năng lực Hội thẩm nhân dân 533.2.3 Công khai, minh bạch, dân chủ hoạt động xét xử của Toà án 57Kết luận chương 3 60

PHẦN KẾT LUẬN

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI CẢM ƠN 

Sau quá trình học tập và nghiên cứu nghiêm túc, tác giả đã tích lũy được những kiến thức hữu ích có giá trị phục vụ cho việc hoàn thành luận văn thạc sĩ

với đề tài “Tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”

Để hoàn thành được đề tài trên, bên cạnh sự cố gắng của bản thân tác giả thì tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Tất cả quý thầy cô đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức quý báu cho tác giả trong thời gian học tập, đây chính là nền tảng để tác giả nghiên cứu luận văn Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Phạm Duy Nghĩa đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, cung cấp tài liệu để tác giả có thể hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian tác giả thực hiện đề tài đã động viên, giúp đỡ về tinh thần để tác giả có động lực hoàn thành luận văn của mình

Trân trọng./

Trần Văn Thời, ngày 03 tháng 7 năm 2017

Tác giả

Thái Hoàng Đắc

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Quyền lực Nhà nước theo quy định của Hiến pháp hiện hành là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc

thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó: "Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền

tư pháp; Tòa án nhân dân gồm Toà án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyên công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Chức năng xét xử của Toà án

Việt Nam đã được quy định trong Hiến pháp năm 20131 Để đưa ra những phán quyết đúng pháp luật, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Trong thực tiễn còn nhiều yếu tố tác động đến hoạt động xét

xử của Toà án, tình trạng xét xử oan sai vẫn còn tồn tại Vì vậy nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới với các nhiêm vụ cơ bản như xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách tư pháp ở nước ta, Toà án giữ vai trò trung tâm của cải cách tư pháp, Toà án

là nơi thề hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý nước ta, là nhà nước của dân, do dân và vì dân, nơi mà quyền lợi của người dân được đảm bảo

Tỉnh Cà Mau là tỉnh cuối cùng của cực Nam tổ quốc, một trong bốn tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh duy nhất trong khu vực có ba mặt giáp với biển Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, những năm gần đây, kinh tế Cà Mau có mức tăng trưởng và phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 12% Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ Năm 2013, GDP đạt 31.290 tỷ VNĐ; GDP bình quân đầu người đạt 1.230 USD; kim ngạch xuất khẩu đạt 910 triệu USD Cùng với hội nhập kinh tế thế giới, 06 tháng đầu

1 Trương Tấn Sang (2012), "Bài phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành TAND", Tạp chí Tòa án nhân dân

Trang 8

năm 2016, kinh tế Cà Mau tiếp tục tăng trưởng, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) ước đạt 13.970 tỉ đồng, tăng 4% so cùng kỳ Tỉnh đã thu hút được 22 dự

án đầu tư, với tổng số vốn 6.299 tỷ đồng, nâng tổng số dự án đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư đến tháng 7/2016 là 199 dự án, với tổng vốn đầu tư 83.457 tỷ đồng2…

Với nhiệm vụ là cơ quan bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong toàn tỉnh, góp phần vào sự thắng lợi mục tiêu của Đảng và Nhà nước trong tỉnh đề ra Trong hoạt động tư pháp nói chung, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nói riêng, khi xét xử được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật quy định, tuân theo các nguyên tắc "Thẩm phán phải độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật", "nêu cao nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa" Từ đó đảm bảo tính độc lập của hoạt động xét xử của Tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách

tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài làm luận văn “Tăng

cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, với

mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật, tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử, giúp doanh nghiệp phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

- "Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân,

vì dân của nước ta" của GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

số 3/2003;

2 Báo cáo kinh tế-xã hội của UBND tỉnh Cà Mau năm 2016

Trang 9

- Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền" do GS.TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004;

- Bài "Một số biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", của PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Nha nước và pháp luật, số 5/2003;

- "Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp" của TS Phạm Văn Hùng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3/2008;

- Bài "Độc lập xét xử ở những nước quá độ", của Ths.Lưu Tiến Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân dân, các số 20, 21/2006;

- Bài "Những bảo đảm cho nguyên tắc tòa án độc lập xét xử có hiệu lực thực tế" Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19/2007;

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã bình phẩm những vấn đề cơ

sở lý luận, thực tiễn cũng như đánh giá thực tế tính độc lập trong hoạt động xét

xử của Tòa án ở nước ta Những thành quả nghiên cứu, tài liệu nêu trên đóng góp vào tiến trình cải cách tư pháp nói chung, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án nói riêng; là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu về tính độc lập của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau trong hoạt động xét xử Những vấn đề cần được nghiên cứu tiếp đó là: đánh giá tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa

án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau; các yếu tố tác động đến tính độc lập xét xử tại

Cà Mau; những giải pháp mang tính hữu hiệu, đảm bảo tính độc lập xét xử của Tòa án từ những kinh nghiệm, thực tiễn xét xử tại Cà Mau nhằm đáp ứng yêu cầu, bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay

Với tình hình trên, tác giả mạnh dạng chọn đề tài “Tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu:

Với đề tài “Tăng cường tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và quy định về tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án

Thứ hai, đánh giá tính độc lập trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau

Thứ ba, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện tính độc lập trong hoạt động xét xử đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án làm sao đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Đề tài tập trung làm rõ những vướng mắc về tính độc lập xét xử của Tòa án nhân dân và thực tiễn xét xử tại Cà Mau, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện cho từng vấn đề cụ thể

Phạm vi nghiên cứu:

Do điều kiện công tác của tác giả nên nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu luận văn được thực hiện trong phạm vi hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cà Mau và thực tiễn những vụ án đã được giải quyết tại Tòa án tỉnh Cà Mau

từ năm 2013 đến năm 2016

Trong khoảng thời gian này nước ta ban hành Hiến pháp mới năm 2013, các Luật và các Bộ luật sửa đổi được ban hành như: Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hành chính, Bộ luật tố tụng hành chính, Luật doanh nghiệp nghiên cứu của tác giả đi từ những lý luận chung về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và quy định về tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Thông qua các báo cáo, tổng kết của ngành Tòa án tại Cà Mau từ kinh nghiệm

Trang 11

giải quyết án để tăng cường tính độc lập, nâng cáo tính hiệu quả xét xử, đáp ứng kịp thời nguyện vọng chính đáng của doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp giải thích, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê và phân tích số liệu, phương pháp đối chiếu … được sử dụng để hoàn thành mục tiêu của đề tài

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng đề tài

Công trình nghiên cứu chuyên sâu của đề tài, góp phần đem lại những giá trị nhất định về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng:

Về mặt lý luận, tác giả đã tập hợp một cách khái quát, khoa học và hệ thống những vấn đề mang tính lý luận về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và quy định về tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy định pháp luật đối với vấn đề này

Về mặt thực tiễn áp dụng, thông qua việc phân tích, làm rõ những tồn tại của quy định pháp luật về tính độc lập xét xử của Tòa án nhân dân và những vướng mắc từ thực tiễn xét xử tại Tòa án hai cấp tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện cụ thể Đề tài làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân khi nghiên cứu về tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án

Trang 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ QUY ĐỊNH VỀ TÍNH ĐỘC LẬP TRONG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Sự phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường hình thành từ quá trình sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để bán trên thị trường Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất-phân phối-trao đổi-tiêu dùng, sản xuất như thế nào và cho ai đều thông việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định

Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hoá, lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính chất tư nhân, cá biệt, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân, cá biệt lao động của sản xuất hàng hoá Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường

Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá nông dân, thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân họ Đây là một kiểu sản xuất nhỏ, dựa trên kỹ thuật thủ công

và lạc hậu khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất quy mô lớn Quá trình chuyển biến này diễn ra trong một thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản

Trang 13

Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì gọi đó

là nền kinh tế hàng hoá; khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường

Như vậy, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ môi trường, động lực và quy luật chi phối sự vận động của thị trường Trong cơ chế thị trường động lực hoạt động của các thành viên là lợi nhuận, lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các doanh nghiệp sản xuất mà xã hội cần Cơ chế thị trường dùng lỗ, lãi

để quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là

tự vận động tuân theo những quy luật như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ; các quy luật vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên

hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra những nguyên tắc vận động của thị trường

1.1.2 Thương mại quốc tế và hội nhập quốc tế

1.1.2.1 Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà

là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và

Trang 14

phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn

1.1.2.2 Khái niệm về hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế (Interational integration) là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó Có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục )

1.1.3 Doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập thương mại quốc tế

1.1.3.1 Sự phát triển của Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Kinh tế Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới khi nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với nhiều cơ hội mới mở ra cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Để vượt qua những khó khăn, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải đóng vai trò nòng cốt, nắm bắt được những chuẩn mực của khu vực và quốc tế

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập năm 2016 (tính đến hết ngày 20-12) trên cả nước đạt kỷ lục cao chưa từng có là 110.100 đơn vị, tăng 16,2% so với năm ngoái, theo số liệu thống kê từ Cơ sở Dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)3

3 Số liệu thống kê của Cục quản lý đăng ký

Kinh doanh, Bộ kế hoạch và Đầu tư

Trang 15

Số vốn cam kết đưa vào thị trường của số doanh nghiệp này là 891.094 tỉ đồng, đạt bình quân 8,09 tỉ đồng mỗi doanh nghiệp, tăng 48,1% so cùng kỳ năm

Ngược lại, một số ngành nghề kinh doanh có số lượng đăng ký giảm so với cùng kỳ là nghệ thuật, vui chơi và giải trí (giảm 26,2%), nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (giảm 15%)

TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp tục là hai địa phương năng động, tập trung cơ hội đầu tư kinh doanh của cả nước với số doanh nghiệp thành lập lần lượt là 36.442 và 22.663 đơn vị Tổng số doanh nghiệp của Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh chiếm 53,7% tổng số doanh nghiệp thành lập của cả nước; tiếp theo là các địa phương như Bình Dương, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng, Khánh Hòa - đều

có tỷ lệ thành lập tăng khá so với cùng kỳ

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp mới đăng ký có xu hướng tăng cao, đặc biệt kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực thi hành Năm 2015 đã tăng cao ấn tượng với số doanh nghiệp thành lập tăng 26,6% và số vốn đăng ký mới tăng 39,1% so với năm trước đó

Cùng với đó, việc thực thi Luật Doanh nghiệp 2014 với yêu cầu rút ngắn thời gian đăng ký doanh nghiệp còn 3 ngày đã được thực hiện tốt Hiện nay, thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp của cả nước được rút xuống chỉ còn 2,9 ngày, thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp là 2,05 ngày Tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận ngay lần đầu tiên đạt gần 86%, tỷ lệ hồ sơ trả kết quả đúng hẹn đạt gần 90%

Trang 16

Các địa phương cũng đã tích cực thực hiện các giải pháp để nâng cao tỷ lệ

sử dụng phương thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử theo yêu cầu của Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ Trong năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư đã cho nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, cập nhật ứng dụng cho phép thực hiện đăng

ký doanh nghiệp trực tuyến; đồng thời, bộ cũng đã thực hiện công khai hóa toàn

bộ quy trình đăng ký doanh nghiệp cũng như tình trạng hồ sơ doanh nghiệp trên

Hệ thống Thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cộng đồng được biết, cập nhật việc xử lý hồ sơ của cơ quan đăng ký kinh doanh

1.1.3.2 Cơ hội để doanh nghiệp hội nhập thành công

Việt Nam là nước có nền kinh tế mới phát triển, doanh nghiệp (DN) là bộ phận quan trọng nhất, đóng góp quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới

Thời gian qua, nước ta đã ký kết và thực thi các hiệp định mở cửa thương mại quan trọng, trong đó tiêu biểu là Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (năm 2000), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (năm 2007), tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng khác có thể kể tới như: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc thành thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

Việt tham gia vào các hiệp định FTA mở ra con đường hội nhập thuận lợi hơn cho các DN Việt Nam cũng như toàn bộ nền kinh tế với các đối tác thương mại lớn Đồng thời, thông qua việc thực thi các cam kết trong đó môi trường đầu

tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ, tạo điều kiện để DN

tự do sáng tạo, kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước

Thêm vào đó, môi trường kinh doanh cho DN tư nhân liên tục được cải thiện với nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ DN phát triển như các nghị quyết của Chính phủ (từ các năm 2014, 2015, 2016) và Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020 Theo đó,

Trang 17

mục tiêu mà Chính phủ đặt ra là đến năm 2020, xây dựng DN Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất 01 triệu DN hoạt động, trong đó có các DN có quy mô lớn, nguồn lực mạnh

Để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đòi hỏi DN phải hoạt động sản xuất kinh doanh bài bản, chuyên nghiệp, đúng pháp luật, bắt nhịp được những chuẩn mực của khu vực và quốc tế, doanh nhân phải năng động sáng tạo, có kiến thức, có bản lĩnh kinh doanh dám đương đầu với hội nhập để vươn ra biển lớn4

1.1.3.3 Những khó khăn, thách thức

Bên cạnh những cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho DN phát triển, liền theo đó là không ít khó khăn, thách thức đặt ra:

Một là, việc nắm bắt thông tin về các FTA là vô cùng quan trọng vì nó có

tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Tuy nhiên, nhiều

DN, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa Việt Nam hiện vẫn chưa được trang bị đầy đủ hoặc ít quan tâm về những lợi thế mà các FTA mang lại

Hai là, DN Việt Nam đang phát triển theo chiều rộng (tăng về số DN, lao

động, vốn), nhưng chưa cải thiện nhiều về chất lượng và chiều sâu

Ba là, thị trường tiêu thụ hàng hóa trong nước đang tràn ngập các mặt

hàng nhập khẩu có chất lượng, thương hiệu và giá cả cạnh tranh hơn từ các nước đối tác FTA Đây là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất trong nước Hàng hóa Việt Nam chưa có nhiều thương hiệu hấp dẫn khách hàng và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…

Bốn là, môi trường kinh doanh của Việt Nam dù đã được cải thiện đáng

kể, nhưng chưa đủ minh bạch, thông thoáng và còn thiếu một hệ thống pháp luật đồng bộ, hiệu quả Trong khi đó, việc cải cách khung thể chế kinh tế sẽ đòi hỏi bản thân các DN phải tái cấu trúc cách tổ chức hoạt động, cách sử dụng các nguồn lực, cũng như hệ thống công nghệ… có như vậy, DN mới có thể tồn tại trong môi trường kinh doanh thay đổi

4 Nguyễn Nguyệt Nga (Đại sứ Ban Thư ký Quốc gia APEC 2017), Một số vấn đề then chốt của hội nhập quốc tế nước ta giai đoạn mới, Tạp chí kiến trúc số 11/2015

Trang 18

Năm là, nguồn lực của DN Việt Nam (nguồn vốn, chất lượng lao động,

đầu tư phát triển khoa học công nghệ, marketing, môi trường kinh doanh…) còn nhiều hạn chế, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của DN Việt Nam nhìn chung còn ở mức thấp

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế với những thuận lợi cũng như thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam như đã đề cập trên, thì vai trò của Tòa án và tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án sao cho đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp, cần phải được nghiên cứu tiếp tục làm rõ Mục nghiên cứu dưới đây sẽ làm rõ hơn về vấn đề này

1.2 Vai trò của Tòa án và tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án 1.2.1 Tòa án Việt Nam trong hệ thống Tư pháp

Đối với nhiều nước trên thế giới, nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của Tòa án cũng như nói đến cơ quan tư pháp là nói đến Tòa án Còn trong khoa học pháp lý, thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước Việt Nam, khái niệm tư pháp được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau và việc xác định cơ quan nào là cơ quan tư pháp luôn có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử gắn với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc phân kỳ phát triển của hệ thống các cơ quan tư pháp Việt Nam trong đó có Tòa án được dựa trên cơ sở quy định tại các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 20135

1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Tòa án

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án được xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau, chia làm nhiều loại khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán, bầu Hội thẩm nhân dân:

Về chế định Thẩm phán Tòa án, khoản 3 Điều 88 Hiến pháp 2013 quy đinh việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Thẩm phán Tòa án khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước Đây là quy định

5 Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Hà Nội, tr.3 - 8

Trang 19

mới, nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của người Thẩm phán với tư cách nhân danh nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp khi đưa ra phán quyết bảo vệ công lý Đồng thời khoản 3 Điều 105 Hiến Pháp 2013 quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán do luật định nên có thể nhiệm kỳ của Thẩm phán sẽ được luật định theo hướng kéo dài Có thể nói đây cũng chính là những điểm đổi mới cơ bản trong Hiến pháp tạo tiền đề luật pháp tốt nhất cho ngươi Thẩm phán thực sự công tâm khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ luật pháp Việc bổ nhiệm của Thẩm phán trên cơ sơ tiêu chuẩn luật định nhằm tạo vị thế cho người Thẩm phán độc lập trong hoạt động xét xử, giải quyết vụ án mà không bị lệ thuộc vào cơ quan dân cư

Về việc bầu Hội thẩm thuộc Toà án địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu hiệp thương của Chánh án Tòa án cùng cấp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cũng do Hội đồng nhân dân cùng cấp bãi nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án cùng cấp Nơi không có Hôi đồng nhân dân cấp (quận) huyện thì do Hội đồng nhân dân tỉnh (thành phố) bầu Việc bầu cử Hội thẩm nhân dân tạo điều kiện cho dân cử người đại diện tham gia vào công tác xét xử của Toà án, điều này thể hiện rõ nét bản chất dân chủ của Nhà nước trong hoạt động xét xử

Thứ hai, nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm tham gia:

Để đảm bảo công bằng, dân chủ của pháp luật cũng như thể hiện đúng tâm

tư nguyện vọng của người dân, bảo vệ quyền lợi cho người dân, trong hoạt động xét xử của Toà án không chỉ có Thẩm phán chuyên nghiệp mà còn có sự tham gia của các Hội thẩm - người đại diện cho nhân dân, được nhân dân bầu ra Điều

này được quy định tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013: “Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”6

Hiến pháp chỉ quy định Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử sơ thẩm chứ không tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm hay giám đốc thẩm Trong quá trình xét xử, các Hội thẩm ngang quyền, bình đẳng với Thẩm phán khi xem xét toàn

6 Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

Trang 20

bộ vụ án, được xét hỏi, đưa ra ý kiến, thảo luận và biểu quyết khi nghị án, mọi quyết định được biểu quyết theo đa số

Thứ ba, nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm độc lập chỉ và tuân

theo pháp luật:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”7 Đây là nguyên tắc bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này đòi hỏi:

- Khi xét xử Hội đồng xét xử độc lập với quan điểm của Viện kiểm sát, không bị chi phối bởi bất kỳ tác động nào ở bên ngoài

- Các thành viên trong Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc đánh giá chứng cứ, lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng, quyết định tội danh, hình phạt Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định cá nhân của mình

Sự độc lập của Thẩm phán, Hội thẩm trong hoạt động xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ tuyệt đối pháp luật Mọi phán quyết của Hội đồng xét xử phải được căn cứ trên các quy định của pháp luật không được phán quyết tùy tiện, dựa theo cảm tính

Thứ tư, nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số:

Đây là nguyên tắc xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước, được quy định tại khoản 4 Điều 103 Hiến

pháp 2013: “Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”8 Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong việc phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo việc xét xử của Toà án được thận trọng, khách quan, toàn diện chống độc đoán Hội đồng xét xử làm việc tập thể và phải chịu trách hiệm đối với quyết định của mình, các thành viên của Hội đồng xét xử

có quyền ngang nhau quyết định nội dung vụ án và quyết định theo đa số

Thứ năm, nguyên tắc Toà án xét xử công khai:

7 Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

8 Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp 2013

Trang 21

Theo quy định tại khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013: “Toà án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự”9

Công khai hoạt động xét xử là một nguyên tắc đảm bảo tính công khai, minh bạch pháp luật cũng như hoạt động của cơ quan nhà nước Thực hiện nguyên tắc trên góp phần giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của người dân đối với đấu tranh phòng chống tội phạm Người dân có thể tham gia đông đảo phiên toà, là một kênh giám sát hữu hiệu hoạt động xét xử của Toà án góp phần nâng cao năng lực cũng như trách nhiệm của những người làm công tác xét xử

Thứ sáu, nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa:

Về nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định tại khoản 5 Điều 103

Hiến pháp 2013 “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”10 Đây là quy định mới được thể chế hoá từ yêu cầu cải cách tư pháp tại Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nhằm đảm bảo việc xét xử của Toà án được khách quan, công khai, minh bạch

Thứ bảy, nguyên tắc mội công dân đều bình đẳng trước pháp luật:

Đây là nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được quy

định tại Điều 8 Luật tổ chức Toà án năm 2002: “Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”11

Thứ tám, nguyên tắc bảo đảm bảo chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ

lợi ích hợp pháp của đương sự:

9 Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013

10 Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

11 Điều 8 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002

Trang 22

Tại khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền bảo chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm”12 Quy định này không chỉ buộc Toà án mà các cơ quan tố tụng khác phải đảm bảo quyền của bị can, bị cáo, quyền của các đương sự Luật tố tụng hình sự còn quy định trong một số trường hợp cơ quan tố tụng, Toà án phải đề nghị Đoàn luật sư bảo chữa cho bị can, bị cáo (khi họ có nhược điểm thể chất, tinh thần; khi bị can,

bị cáo chưa thành niên; khi họ phạm tội mà có khung hình phạt cao nhất là tử hình) Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước quan tâm thành lập nhiều tổ chức, cơ quan bảo chữa hoặc bảo vệ quyền lợi trước pháp luật miễn phí cho một số đối tượng như người chưa thành niện, hộ gia đình nghèo, gia đình chính sách

Thứ chín, nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ

viết của dân tộc mình trước Toà án:

Nguyên tắc này được quy định trong Luật tổ chức Toà án năm 2002 và trong các quy định của luật tố tụng Theo đó Toà án phải bảo đảm cho người tham gia tố tụng được sử dụng ngôn ngữ chữ viết của dân tộc mình trước Toà án Đây là nguyên tắc đảm bảo yếu tố đoàn kết đại dân tộc, giữ gìn ngôn ngữ, truyền thống và văn hoá các dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời cũng để tạo cho việc xét xử được khách quan chính xác nhất, khi bị can, bị cáo, đương sự dùng chính ngôn ngữ quen thuộc của mình để trình bày trước Toà Khi người tham gia tố tụng trình bày bằng ngôn ngữ dân tộc mình thì phải có người phiên dịch tham gia tố tụng

Thứ mười, nguyên tắc Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử:

Theo khoản 6 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm”13 Nội dung của quy định này là bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị trong thời gian luật định, khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án đó sẽ được xét

xử phúc thẩm Đây là nguyên tắc nhằm bảo đảm cao nhất quyền lợi của bị cáo, của đương sự, tránh những nhầm lẫn sai sót của Toà án cấp sơ thẩm Cần phân

12 Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

13 Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

Trang 23

biệt thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử thứ ba mà chỉ

là một trình tự đặc biệt theo luật định để xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Thứ mười một, nguyên tắc Toà án chịu sự giảm sát của cơ quan quyền lực

nhà nước:

Theo quy định khoản 2 Điều 105 Hiến pháp 2013: “Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và bảo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và bảo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chế độ bảo cáo công tác của Chánh án các Tòa án khác do luật định”14

Đây là nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp trong bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án các cấp

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử là một nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ này đã được giao cho Tòa án theo quy định tai Điều 102 Hiến Pháp 2013:

1 Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp

2 Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân15

Như vậy, ngoài Tòa án ra không một cơ quan Nhà nước nào được thực hiện chức năng xét xử Tòa án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng xét xử của mình Khi thực hiện chức năng này, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật và tuân thủ theo quy định của pháp

14 Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013

15 Điều 102 Hiến pháp năm 2013

Trang 24

luật Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ

đó Tòa án phối hợp với các cơ quan khác như Viện kiểm sát, cơ quan Công an, Thanh tra, Mặt trận Tổ quốc… trong việc phát huy tác dụng giáo dục ý thức pháp luật, phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác

Một là, Điều 104 Hiến pháp 2013 quy định: 1 Tòa án nhân dân tối cao là

cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2 Tòa

án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật đinh 3 Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử16

Tại Điều 20 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; Giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định Tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; Đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân; Quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức theo quy định của Luật tổ chức TAND và các luật có liên quan, bảo đảm độc lập giữa các Tòa án; Trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định của luật

Hai là, Toà án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ phúc thẩm vụ việc mà bản

án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

16 Điều 104 Hiến pháp năm 2013

Trang 25

và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng17

Ba là, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắc

là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có nhiệm vụ sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật18 (Theo Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014)

Bốn là, Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và

tương đương (gọi tắt là Tòa án nhân dân cấp huyện) có chức năng xét xử sơ thẩm những vụ việc theo quy định của pháp luật và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật19 Tòa án cấp huyện được xét xử những vụ án hình sự đối với tội phạm có khung hình phạt cao nhất 15 năm tù, được xét xử tất cả các vụ án kinh doanh thương mại không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp, được xét xử một số vụ

án có yếu tố nước ngoài…Ngoài ra còn được xin miễn, giảm thi hành án đối với các khoản án phí, lệ phí, tiền phạt trong một số trường hợp mà pháp luật quy định

Bốn là, các Tòa án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt

Nam để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật Trong phạm vi chức năng của mình, các Tòa án quân sự

có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính

17 Điều 29 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

18 Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

19 Điều 44 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Trang 26

mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác

Như vậy chức năng, nhiệm vụ của Tòa án các cấp đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luât tố tụng hình sự 2003, Luật Tố tụng hành chính …

1.2.4 Tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án

Thế nào là độc lập trong xét xử? Trong quá trình xét xử, Tòa án dựa trên các chứng cứ và quy định của pháp luật để đưa ra quyết định về vụ án

mà không bị phụ thuộc vào bất kỳ sự tác động nào khác Độc lập xét xử bao gồm các thành tố cơ bản: Độc lập của quyền tư pháp, độc lập của thiết chế thực hiện quyền tư pháp, độc lập của những người thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nên nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật được thể hiện ở hai yêu cầu: Xét

xử độc lập và tuân theo pháp luật

Tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án được quy định trong Hiến

pháp 2013 có sửa đổi bổ sung: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”20

Cần phải hiểu Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật kể

từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên toà xét xử chứ không chỉ giới hạn

khi xét xử Mặt khác quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” nhằm nhấn mạnh và đảm bảo nguyên

tắc này phải được tôn trọng và thực thi nghiêm túc Như vậy, độc lập trong hoạt động xét xử của Toà án có vị trí là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung, tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân nói riêng Độc lập xét xử của Toà án giữ vai trò là một điều kiện tiên quyết để Toà án thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con

20 Hiến pháp năm 2013

Trang 27

người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Trong bất kỳ nhà nước nào thì Tòa án luôn là một bộ phận không thể tách rời của cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Do vậy khi xem xét tính độc lập xét xử của Tòa án không thể không xem xét trong mối liên hệ tổng thể với các cơ quan khác nhưng có sự tách bạch về tổ chức và hoạt động của mỗi cơ quan

Có quan điểm cho rằng, Chánh án, Thẩm phán phải do Tổng thống (Chủ tịch nước) bầu thì mới tạo cơ sở cho sự độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa

án Còn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

do Quốc hội bầu (như ở Việt Nam) thì chưa hẳn độc lập với nghĩa là một chính thể trong phân quyền

Có quan điểm tổ chức Tòa án theo mô hình phân cấp quản lý như hiện nay

ở Việt Nam, đó là Tòa án “cấp trên”, Tòa án địa phương “cấp dưới”; Tòa án phụ thuộc chỉ đạo của cấp ủy địa phương không thể có sự độc lập, khách quan trong xét xử Cũng có quan điểm cho rằng Thẩm phán phải là người không đảng phái chính trị, khi đó quyết định của họ mới thực sự là vô tư, vì luật pháp, đúng luật pháp21

Để đánh giá, nhận xét những quan điểm này, như đã phân tích, trong nhà nước pháp quyền nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án luôn đi đôi với sự phân công rành mạch và phối hợp, kiểm soát giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Hiện nay pháp luật quy định một số điểm mới đối với vụ án hình sự, dân

sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, lao động và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Tòa án phải xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình tố tụng và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án Vậy Tòa án quyết định việc có tội hay không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền, nghĩa vụ về tài sản cũng như nhân thân Đây được xem là một trong

21 Nghĩa Nhân, Nhiều quy định hạn chế sự độc lập của Tòa án, báo điện tử VnExpress,

2002, http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2002/08/3b9bf659/, [truy cập ngày 10/10/2011]

Trang 28

những nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp, tức là người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự do luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Sắp tới đây, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2018 quy định cụ thể về quyền của Tòa án xét xử

vụ án hình sự Theo đó, Tòa án có quyền xem xét kết luận tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra truy tố xét xử hoặc có quyền xem xét, kết luận tính hợp pháp các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên, luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng Đây là điểm mới, thể hiện thẩm quyền (quyền tư pháp) của Tòa án22

Ngoài ra, Tòa án thực hiện xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, lấy lời khai của bị can, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng để giải quyết án hình sự, các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh nghĩa là Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố đưa ra những chứng cứ mà Tòa án thấy chưa đủ căn cứ để buộc tội hoặc để ra một quyết định dân sự, quyết định kinh tế thì Tòa án sẽ đi thu thập tài liệu, chứng cứ Hay nói cách khác, đây

là một hoạt động điều tra mà trước đây chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Công an mới có quyền tiến hành

Tính độc lập được hiểu ở nhiều gốc độ: Độc lập theo chiều dọc là giữa hệ thống cơ quan tư pháp với hệ thống cơ quan khác; độc lập theo chiều ngang là giữa thẩm quyền xét xử, giữa cấp sơ thẩm, phúc thẩm; độc lập giữa người trực tiếp xét xử (Thẩm phán) với Chánh án và cuối cùng là Thẩm phán, Hội đồng xét

xử có quyền độc lập, tự mình dựa vào pháp luật để quyết định

Tóm lại, sự độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án đó là sự độc lập của

Thẩm phán, Hội thẩm trong hoạt động xét xử, chỉ tuân theo pháp luật, không bị can thiệp, không bị tác động hay phụ thuộc vào bất cứ cơ quan tổ chức hay cá nhân nào kể cả trong hệ thống hay ngoài hệ thống tư pháp

22 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trang 29

Kết luận chương 1

Ở nước ta, Toà án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp (Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án) Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Toà án được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản: bổ nhiệm Thẩm phán, bầu Hội thẩm; khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm độc lập, chỉ tuân theo pháp luật; Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; xét xử được thực hiện công khai; tranh tụng tại phiên toà; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Sự độc lập xét xử của Toà án là một trong những nguyên tắc căn bản trong

tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền, bởi vì toà án là một thiết chế cuối cùng bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 30

Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI CÀ MAU

2.1 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau

2.1.1 Quy định pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức của Tòa án

Theo Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định tổ chức Tòa án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

1 Tòa án nhân dân Tối cao;

2 Tòa án nhân dân cấp cao;

3 Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

4 Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

5 Các Tòa án quân sự;

Các Tòa án nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc độc lập về thẩm quyền xét xử.

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao được quy định tại Điều 21 của Luật tổ

chức Tòa án 2014 gồm Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc; Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao bao gồm: Chánh án, các Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không dưới 13 người và không quá 17 người23

- Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao gồm các vụ và các đơn vị tương đương Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổ chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc

- Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân Việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Tòa án nhân dân tối cao được thực hiện theo quy định của luật

23 Điều 22 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Trang 31

Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp cao gồm có Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân

dân cấp cao; Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên; Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc; Tòa án nhân dân cấp cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động

Trong đó, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm Chánh án, các Phó Chánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao Số lượng thành viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao không dưới 11 người và không quá 13 người

Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp cao có Văn phòng và các đơn

vị khác do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập và quy định24

Thứ ba, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi

tắt là Tòa án cấp tỉnh) gồm có Uỷ ban Thẩm phán; Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Kinh tế, Toà Hành chính; Toà Lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên Trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Căn

cứ theo quy định và yêu cầu xét xử ở mỗi Tòa án cấp tỉnh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức các Tòa án chuyên trách; Bộ máy giúp việc

Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động

Trong đó, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Chánh án, các Phó chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, một số Thẩm phán do Chánh án TANDTC quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh Tổng số thành viên Uỷ ban Thẩm phán Tòa

án nhân dân cấp tỉnh không quá 9 người Tùy thuộc vào biên chế Thẩm phán của

24 Điều 30 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014

Trang 32

mỗi địa phương mà số lượng thành viên Uỷ ban Thẩm phán có thể khác nhau, tối thiểu là 5 và tối đa là 9 người;

Thứ tư, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi

chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) gồm có Chánh án, môt hoặc hai Phó chánh án; các Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án

Thứ năm, các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức trong Quân đội Theo quy định tại Điều 50 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, tổ chức Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự gồm có Tòa án quân sự trung ương; Tòa

án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án quân sự khu vực

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng ở nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua có thể thấy rằng hệ thống cơ quan Tòa án là bộ phận trọng yếu của bộ máy nhà nước Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các cơ quan Tòa án nước ta gắn với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam, tổ chức và hoạt động của Tòa án luôn mang đậm dấu ấn lịch sử của mỗi thời kỳ Hiện nay, khi sự nghiệp đổi mới đang

đi vào chiều sâu, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đảng đặt ra nhiều vấn đề mới, trong đó có vấn đề cải cách tư pháp, đòi hỏi phải tiếp tục có sự nghiên cứu toàn diện, cơ bản để xây dựng luận cứ khoa học cho công cuộc cải cách đó Có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để thực hiện nhiệm vụ này và việc nghiên cứu, đánh giá từ góc độ lịch sử chắc chắn sẽ là một trong những hướng cần được tiếp tục thực hiện25

25 Vũ Thị Ngọc Hà, Tăng cường tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử,

http://hcmcbar.org/NewsDetail.aspx

Trang 33

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cà Mau

Sơ đồ 1.1: Tổ chức của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Cà Mau

Thứ nhất, Tòa án nhân dân cấp tỉnh:

- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau gồm có Ủy ban Thẩm phán; Tòa chuyên trách: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính, Tòa lao động; Bộ máy giúp việc (gồm có Phòng Tổ chức cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng; Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án; Văn phòng)

Tòa án nhân dân tỉnh có Chánh án, hai Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán trung cấp, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác

và người lao động

- Nhiệm vụ, quyền hạn Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau là sơ thẩm vụ việc

theo quy định của pháp luật; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh

Trang 34

án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật

Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp huyện:

Tòa án nhân nhân dân cấp huyện gồm có 09 đơn vị: Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, Tòa án nhân dân huyện U Minh, Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển

- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp huyện gồm có bộ máy giúp việc

là Văn phòng Tòa án nhân dân cấp huyện có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán sơ cấp, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác và người lao động

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp huyện là sơ thẩm vụ việc

theo quy định của pháp luật và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật

2.2 Đánh giá tính độc lập trong xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Cà Mau

2.2.1 Những tiêu chí đánh giá tính độc lập trong xét xử của Tòa án

2.2.1.1 Tòa án độc lập về thể chế

Trong xã hội phong kiến, quyền lực tập trung vào tay nhà vua, vua nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mặc dù việc xét xử có thể giao cho các quan lại địa phương hoặc các quan chuyên trách trong triều nhưng phán quyết cao nhất thuộc về nhà vua Vua có thể trực tiếp xử án và ra các quyết định trừng phạt những hành vi mà vua coi là tội phạm Nhằm mục đích hạn chế quyền lực vô biên của nhà vua trong đó có quyền tư pháp, các nhà tư tưởng triết học, xã hội học, luật học giai đoạn thế kỷ 17-18 mà điển hình là Montesquieu, Jonh loce đề ra tư tưởng, học thuyết “Tam quyền phân lập” Trong tác phẩm “Tinh thần

luật pháp” Montesquieu viết: “Khi quyền lập pháp được sáp nhập với quyền hành pháp và tập trung vào trong một người hay một tập đoàn, thì sẽ không có tự

do được Bởi vì người ta có thể sợ rằng chính nhà vua hay Nghị viện ấy sẽ làm những đạo luật độc đoán để thi hành một cách độc đoán Sẽ không có tự do nếu

Trang 35

quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền lập pháp, thì sẽ không có tự do Nếu quyền xét xử được nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ trở thành những

kẻ áp bức”26

Xuất phát từ mong muốn lật đổ chế độ phong kiến bằng hệ tư tưởng chính trị, trong một thời gian dài giai cấp tư sản giành nhiều tâm sức đấu tranh cho yêu cầu độc lập của Tòa án Sự độc lập của Tòa án khỏi lập pháp và hành pháp là một trong những thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng, tự do của con người, chống lại chuyên chế, lạm dụng quyền lực nhà nước Tuy nhiên vị trí, vai trò của Tòa án có độc lập hoàn toàn hay không, phụ thuộc nhiều vào quan điểm tư tưởng của giai cấp cầm quyền trong bộ máy nhà nước tư sản

Hệ thống Tòa án với tư cách là một thể chế thống nhất được giao chức năng xét xử các vụ án hình sự đồng thời xét xử tranh chấp giữa các người dân với nhau hay giữa người dân với các cơ quan nhà nước Trong xã hội hiện đại người dân có nhiều phương thức để giải quyết các tranh chấp như hòa giải, thông qua trọng tài nhưng cách thức giải quyết mang tính quyền lực nhà nước phải thông qua hoạt động xét xử của Tòa án Sự phán quyết của Tòa án khi đó được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước Đây chính là đặc trưng cơ bản của Tòa án trong hoạt động xét xử Trong ba nhánh quyền lực nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp thì chỉ có Tòa án- nhánh quyền lực tư pháp qua hoạt động xét

xử độc lập mới có quyền năng buộc hai nhánh quyền lực trên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và thực hiện các điều khoản trong Hiến pháp Chính vì điều này mà trên thực tế “rất tự nhiên” nhánh quyền lập pháp và hành pháp luôn

có xu hướng tìm cách kìm hãm, hạn chế tư pháp, tác động tới hoạt động xét xử như đề ra các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm Thẩm phán, quản lý về chế độ tài chính của cơ quan tư pháp (Tòa án)

Có thể nói sự độc lập về thể chế của Tòa án chính là điều kiện không thể thiếu để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Thực tế cho thấy một khi vai trò nhiệm vụ của các nhà lập pháp, hành pháp và tư pháp được giao cho ba cơ

26 Montesquieu SL ( 1967), Tinh thần pháp luật NXB Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 25/04/2018, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w