Trong số các bộ dữ liệu và công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế lớn, Báo cáo Thuận lợi Thương mại Toàn cầu tên đầy đủ: The Global Enabling Trade Report – viết tắt: TLTMTC do Diễ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ này là một công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Ngọc Huyền Các nội dung được trình bày trong luận văn do chính tôi tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích ở các nguồn tài liệu và công trình khoa học có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn phù hợp Số liệu nghiên cứu trong đề tài này được thu thập và tổng hợp từ các tổ chức quốc tế lớn, uy tín, và được trích dẫn theo đúng quy định Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu được trình bày trung thực, chính xác và chưa được thực hiện hoặc công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Thanh Huy
Trang 3Mục lục TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tổng kết nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Khảo lược các nghiên cứu khoa học có liên quan 2
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 5
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3.1 Mục tiêu chung 6
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 8
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Phương pháp nghiên cứu 9
1.6 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
2.1 Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu 12
2.1.1 Giới thiệu chung về Báo cáo thuận lợi thương mại Toàn cầu 12
2.1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu 12
2.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của báo cáo TLTMTC 14
2.1.4 Độ tin cậy của Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu 18
2.2 Chỉ số thuận lợi thương mại (The Enabling Trade Index - ETI) 19
2.2.1 Khái niệm chỉ số thuận lợi thương mại và tính hiệu quả của chỉ số này 19
2.2.2 Cơ sở khoa học hình thành chỉ số ETI 20
2.2.3 Các thành phần của chỉ số ETI 25
2.2.4 Phân tích các thành phần chỉ số ETI của Việt Nam năm 2016 29
2.3 Kiểm định tính hiệu quả của chỉ số ETI 31
Trang 42.3.1 Giới thiệu mô hình hồi quy Lực hấp dẫn 32
2.3.2 Một số vấn đề của mô hình lực hấp dẫn trong thương mại 34
2.3.3 Ứng dụng mô hình Lực hấp dẫn để kiểm định chỉ số ETI 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Mô hình nghiên cứu 42
3.1.1 Lựa chọn phương pháp ước lượng 42
3.1.2 Giới thiệu phương pháp ước lượng hợp lý cực đại giả Poisson (PPML) 43
3.1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 44
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 47
3.2.1 Biến phụ thuộc IMPij 47
3.2.2 Biến độc lập GDPi, GDPj 50
3.2.3 Biến độc lập CURRij 55
3.2.4 Biến độc lập ETI 56
3.2.5 Các biến độc lập DISTij, COLONYij, LANGij, BORDERij, LLOCKEDij 57
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
4.1 Thống kê mô tả 60
4.2 Diễn giải và phân tích kết quả nghiên cứu 61
4.2.1 Kết quả kiểm định mô hình theo phương pháp PPML 61
4.2.2 Kiểm định mô hình theo phương pháp OLS 65
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 70
5.1 Kết luận của đề tài 70
5.1.1 Tổng kết chung 70
5.1.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và kết luận của đề tài 71
5.2 Một số điểm hạn chế của đề tài 73
5.3 Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: CẤU TRÚC CHỈ SỐ ETI NĂM 2008
Phụ lục 2: CẤU TRÚC CHỈ SỐ ETI NĂM 2016
Phụ lục 3: KẾT QUẢ MÔ PHỎNG CÁC DẠNG KHÁC NHAU CỦA HIỆN TƯỢNG PHƯƠNG SAI THAY ĐỔI VÀ SAI LỆCH CỦA TỪNG PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG TRONG NGHIÊN CỨU (J.M.C & Silvana, 2006)
Trang 5Phụ lục 4: BẢNG SO SÁNH ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG THEO (Xiong & Chen, 2014)
Phụ lục 5: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH SỰ SAI LỆCH DO HIỆN TƯỢNG PHƯƠNG SAI THAY ĐỔI THEO (Xiong & Chen, 2014)
Phụ lục 6: BẢNG ĐIỂM ETI VÀ XẾP HẠNG CỦA VIỆT NAM TRONG BÁO CÁO THUẬN LỢI THƯƠNG MẠI NĂM 2016
Phụ lục 7: BẢNG ĐIỂM ETI CHI TIẾT VÀ XẾP HẠNG CỦA VIỆT NAM TRONG BÁO CÁO THUẬN LỢI THƯƠNG MẠI NĂM 2016
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Danh mục từ viết tắt, ký hiệu tiếng Việt
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
CSHT Cơ sở hạ tầng
TLTMTC Thuận lợi thương mại toàn cầu
XNK Xuất nhập khẩu
Danh mục từ viết tắt, ký hiệu tiếng Anh
CEPII The Centre d’Etude Prospectives
EOS Executive Opinion Survey Khảo sát quan điểm Nhà điều hành ETI The Enabling Trade Index Chỉ số thuận lợi thương mại
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản lượng nội địa
GEA The Global Express Association Tổ chức giao nhận toàn cầu
IATA The International Air Transport
Association
Tổ chức vận tải hàng không quốc
tế ICTs Information and Communication Technologies Công nghệ thông tin và truyền thông ISO The International Organization for Standardization Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế ITC The International Trade Centre Trung tâm Thương mại Quốc tế ITU International Telecommunication Union Liên minh Viễn thông Quốc tế LPI Logistics Performance Index Chỉ số năng lực quốc gia về Logistics
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OLS Ordinary Least Squares Phương pháp bình phương cực
tiểu PPML Poisson pseudo Maximum Likelihood estimation Phương pháp ước lượng hợp lý cực đại giả Poisson TABI Trade Across Borders Indicator Chỉ số thương mại xuyên biên giới TFIs Trade Faciliation Indicators Bộ chỉ số thúc đẩy thương mại UNCTAD The United Nations Conference on Trade and Development Hội đồng Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 7UNSD United Nations Statistics Division Trung tâm dữ liệu thống kê Liên hợp quốc WCO World Customs Organization Tổ chức Hải quan Thế giới
WEF The World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới
WTO The World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU Danh mục bảng
Bảng 2.1: Sơ lược quá trình thay đổi cấu trúc chỉ số ETI 17
Bảng 2.2: Kết quả kiểm định ETI trong nghiên cứu (Robert, et al., 2008) 40
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến giả 60
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến độc lập định lượng 61
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy PPML của mô hình nghiên cứu 62
Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả hồi quy OLS của mô hình nghiên cứu 65
Bảng 4.5: Kết quả phân tích ANOVA 66
Bảng 4.6: Hệ số tương quan mô hình OLS 67
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 4.1: Biểu đồ hàm phân phối của biến phụ thuộc LN_IMPij 68
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ phân phối phần dư của biến phụ thuộc LN_IMPij 69
Danh mục hình vẽ Hình 2.1: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2008 15
Hình 2.2: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2016 16
Hình 3.1: Trích xuất kim ngạch xuất nhập khẩu các nước từ UN Comtrade 50
Hình 3.2: Giao diện trang web tải dữ liệu kinh tế của WEOD 52
Hình 3.3: Giao diện trang web tải dữ liệu kinh tế của WEOD 53
Hình 3.4: Giao diện trang web tải dữ liệu kinh tế của WEOD 53
Hình 3.5: Giao diện trang web tải dữ liệu kinh tế của WEOD 54
Hình 3.6: Giao diện trang web tải dữ liệu kinh tế của WEOD 55
Hình 3.7: Giao diện trang web đăng ký tài khoản truy cập dữ liệu của CEPII 58
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thương mại toàn cầu diễn ra sôi động và phức tạp hơn bao giờ hết Mỗi quốc gia, khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đều cần phải cân nhắc đến hàng loạt biến số kinh tế vĩ mô cũng như sự thay đổi của nhiều yếu tố bất định trong nền kinh tế Đây là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá đã
và đang diễn ra mạnh mẽ trong nhiều thập kỷ vừa qua Đó cũng là lý do mà hàng loạt các học giả và các tổ chức quốc tế lớn dành nhiều sự quan tâm cho chủ đề Thúc đẩy thương mại Nhiều nghiên cứu hàn lâm đã được thực hiện xoay quanh vấn đề này Cùng với những nghiên cứu đó là sự ra đời của nhiều bộ dữ liệu kinh tế cũng như nhiều khái niệm và các chỉ số kinh tế nhằm đo lường mức độ Thúc đẩy thương mại của các quốc gia Tất cả những nỗ lực này nhằm cung cấp cho nhà hoạch định chính sách có thêm thông tin và cơ sở khoa học để ra quyết định phù hợp Vì vậy, một cách gián tiếp, các tổ chức quốc tế, thông qua công cụ là các bộ dữ liệu và các chỉ số kinh tế của mình, đã góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển nhanh
và ổn định hơn Tất nhiên, việc nghiên cứu về các chỉ số kinh tế cũng sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn
Trong số các bộ dữ liệu và công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế lớn, Báo cáo Thuận lợi Thương mại Toàn cầu (tên đầy đủ: The Global Enabling Trade Report – viết tắt: TLTMTC) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xây dựng và công
bố, được xem là một nguồn thông tin khá chi tiết Cùng với sự ra đời của báo cáo này vào năm 2008, WEF đã giới thiệu một chỉ số kinh tế mới, tạm dịch là Chỉ số thuận lợi thương mại (tên đầy đủ: The Enabling Trade Index – viết tắt: ETI), hay đôi khi còn được gọi là Chỉ số thúc đẩy thương mại Về bản chất, ETI là sự tổng hợp nhiều yếu tố tác động đến môi trường thương mại của một quốc gia Do đó, nó cung cấp một bức tranh chung nhất về khả năng thúc đẩy thương mại của các nước
Tác giả chọn đề tài “Tác động của chỉ số thuận lợi thương mại đến kim ngạch xuất
Trang 10nhập khẩu của các quốc gia” để thực hiện nhằm củng cố hơn độ tinh cậy của chỉ số
này về mặt định lượng, cũng như khẳng định lại giá trị của các phân tích chuyên sâu trong Báo cáo TLTMTC năm 2016
1.2 Tổng kết nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Khảo lược các nghiên cứu khoa học có liên quan
Việc nghiên cứu và đo lường các tác nhân ảnh hưởng đến thương mại quốc tế đã là một chủ đề đáng quan tâm trong cộng đồng học giả quốc tế từ những năm 1990 Theo WEF:
Cho đến những năm 1990, các học giả vẫn nỗ lực đo lường mức độ thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia thông qua mô hình Lực hấp dẫn Tuy nhiên, việc phân tích một cách sâu hơn về nguồn gốc của các rào cản thương mại lại bị giới hạn bởi cơ sở dữ liệu nghiên cứu lúc bấy giờ Đến đầu những năm
2000, các nghiên cứu hàn lâm đã chỉ ra rằng rào cản phi thuế quan có tác động tương đương hoặc đôi khi là mạnh hơn cả các rào cản thuế quan 1
Điều này dẫn đến việc nhiều tổ chức quốc tế lớn đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu cũng như xây dựng các cơ sở dữ liệu và chỉ số kinh tế nhằm đo lường những tác động này
Trong báo cáo TLTMTC năm 2016, WEF đã tổng hợp một số chỉ số được xây dựng bởi các tổ chức quốc tế lớn nhằm đánh giá môi trường kinh doanh cũng như năng lực thúc đẩy thương mại của các quốc gia Dưới đây là tóm lượt một vài công trình tiêu biểu và có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn:
• Chỉ số năng lực quốc gia về Logistics (Logistics Performance Index – LPI)
do Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) công bố Đây là một chỉ số kinh
tế tổng hợp được thu thập bởi số liệu khảo sát hơn 200 công ty vận chuyển,
1 Lược dịch từ (The World Economic Forum, 2016), trang 7
Trang 11giao nhận và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực logistics.2 Chỉ số này được
đo lường thông qua 6 biến quan sát Kết quả khảo sát được củng cố thêm bởi các số liệu kinh tế có liên quan Mục tiêu của bài khảo sát nhằm đánh giá môi trường logistics ở mỗi quốc gia Kết hợp với các số liệu thống kê, WB tổng hợp thành chỉ số LPI để so sánh và đánh giá khả năng đáp ứng các yếu
tố về logistics của 160 quốc gia (The World Bank, 2016) Chỉ số LPI cũng
như báo cáo Logistics Thương mại trong Kinh tế toàn cầu là một nguồn tư
liệu khoa học giúp các quốc gia xem xét điều chỉnh và hoàn thiện các khía cạnh logistics của mình Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho thúc đẩy thương mại quốc tế
Báo cáo Logistics Thương mại trong Kinh tế toàn cầu được WB công bố mỗi
hai năm một lần Điều thú vị trong công trình này là chỉ số LPI và các thành phần của nó hầu như không thay đổi suốt một thập kỷ qua, nhưng ở mỗi lần công bố báo cáo, WB đều thực hiện kiểm định lại thang đo của LPI Điều này cung cấp bằng chứng thống kê mang tính thuyết phục cho thang đo của LPI
• Chỉ số thương mại xuyên biên giới (Trade Across Border Indicators – TABI)
do WB công bố Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2005 trong Báo cáo Môi trường Kinh doanh Toàn cầu (Doing Business) của WB, TABI đo lường
thời gian và chi phí liên quan đến tổng thể chu trình xuất nhập khẩu hàng hoá của các quốc gia (không kể đến thuế quan) thông qua 8 biến quan sát WB xây dựng TABI dựa trên 3 khía cạnh: Tuân thủ về mặt chứng từ – Quản lý cửa khẩu/hải quan – Vận chuyển nội địa Dữ liệu của TABI được thu thập và tổng hợp thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi Đối tượng khảo sát là các công ty vận chuyển, logistics; các công chức hải quan/cửa khẩu/cảng và các thương nhân Độ tin cậy cũng như phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu của chỉ số này được WB khẳng định và công bố một cách công khai trên website của mình (The World Bank, 2017)
2 Theo (The World Bank, 2016), trang 55
Trang 12• Bộ chỉ số thúc đẩy thương mại (Trade Faciliation Indicators – TFIs) do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD) tổng hợp và cơng bố Bộ chỉ số này bao gồm 12 thành phần được đo lường bởi 98 biến quan sát do OECD xây dựng dựa trên
Bản tổng hợp Thảo luận về vấn đề Thúc đẩy thương mại của WTO.3
Trong loạt bài Các nghiên cứu về Chính sách thương mại, (Mọsé, et al.,
2011) đã chỉ ra tác động của các nhân tố thúc đẩy thương mại đến chi phí thương mại cũng như giá trị xuất nhập khẩu của các quốc gia Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy đối với từng nhĩm quốc gia hoặc từng lĩnh vực kinh doanh, những nhân tố nào tác động mạnh lên thương mại, những nhân
tố nào tác động khơng đáng kể Từ đĩ, các nhà hoạch định chính sách sẽ cĩ
cơ sở chắc chắn cho những quyết định quản lý kinh tế vĩ mơ của mình
Cơng bố của OECD ngồi các báo cáo nghiên cứu hàn lâm cĩ trình bày mơ hình định lượng một cách khoa học, cũng đi kèm theo đĩ là bộ dữ liệu TFIs cho hơn 100 quốc gia Bộ dữ liệu này cĩ thể phục vụ cho cơng tác nghiên cứu kinh tế của những nhà khoa học đang quan tâm
• Chỉ số thuận lợi thương mại (The Enabling Trade Index – ETI) do WEF xây
dựng và cơng bố Chỉ số này được giới thiệu lần đầu tiên trong Báo cáo thuận lợi thương mại tồn cầu (The Global Enabling Trade Report) năm
2008 Đây được xem là một chỉ số đánh giá tồn diện nhất về mơi trường thương mại của các nước Bởi phương pháp mà WEF xây dựng ETI là tổng hợp từ nhiều chỉ số phụ bao quát nhiều khía cạnh, mà các yếu tố này tác động đến thương mại quốc tế hay độ mở cửa của các quốc gia Hay nĩi cách khác, ETI khơng chỉ đo lường một yếu tố thúc đẩy thương mại, mà tổng hợp tác động của nhiều yếu tố nhằm đánh giá một cách tổng quát nhất mức độ thuận lợi cho hoạt động thương mại tại mỗi quốc gia.4
3 Theo (Mọsé, et al., 2011), trang 5
4 Theo (The World Economic Forum, 2016), trang 13
Trang 13Do tính chất tổng hợp như vậy, dữ liệu của ETI bao gồm cả dữ liệu khảo sát
và số liệu thực tế, được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên, khơng như các chỉ số cĩ liên quan khác như LPI hay TFIs…, cấu trúc và phương pháp tổng hợp của ETI được WEF thường xuyên thay đổi qua các kỳ báo cáo Điều này một mặt phản ánh tức thời những phát hiện mới trong cơ
sở khoa học hiện đại Mặt khác lại gây cho đọc giả hoang mang về tính ổn định của chỉ số này, cũng như khả năng so sánh giữa các năm trong báo cáo
mà WEF cơng bố
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Tầm quan trọng của các chỉ số như ETI, TFIs, LPI,… cũng như các cơ sở dữ liệu được cơng bố kèm theo những chỉ số này đã được cơng nhận ở tầm quốc tế Xét về gĩc độ phân tích và đánh giá, báo cáo TLTMTC của WEF được xem là một nguồn tham khảo quý giá Những phân tích từ báo cáo này khá chi tiết, cụ thể đối với từng quốc gia Bởi báo cáo này là sự tổng hợp chung nhất và bao quát nhất về nhiều khía cạnh trong thương mại quốc tế.5 Tuy nhiên, xét về gĩc độ phân tích định lượng, các cơng trình nghiên cứu xoay quanh bộ chỉ số TFIs của OECD lại thể hiện một cách khoa học và cĩ độ tin cậy khá cao.6
Trải qua nhiều kỳ báo cáo, WEF đã thay đổi cấu trúc của chỉ số ETI khá nhiều lần nhằm phù hợp hơn với các lý thuyết khoa học hiện đại Một số biến quan sát đã được loại bỏ khỏi chỉ số Một số biến quan sát được thêm vào để tổng hợp nên chỉ
số này Việc loại bỏ hay thêm vào bất kỳ một biến quan sát nào đều được WEF giải thích và trích dẫn cơ sở khoa học rõ ràng trong từng báo cáo của họ Tuy nhiên, nếu xét về mặt tổng thể, sự thay đổi cấu trúc này vẫn chưa được WEF kiểm định lại,
5 Theo (The World Economic Forum, 2016), trang 13
6 Tham khảo 2 cơng trình nghiên cứu trong loạt bài về Các chính sách Thương mại của
OECD (OECD Trade Policy Working Papers): (Mọsé, et al., 2011) và (Sorescu & Mọsé,
2013)
Trang 14như cách mà họ đã thực hiện ở những kỳ báo cáo trước đây.7 Việc thiếu vắng bước kiểm tra định lượng về tính hiệu quả của ETI trong báo cáo TLTMTC năm 2016 có thể khiến người đọc băn khoăn và không tự tin vào độ tin cậy của chỉ số này, cũng như những phân tích trong báo cáo Hay nói cách khác, với một cấu trúc các biến quan sát mới, liệu ETI còn đảm nhiệm tốt vai trò đánh giá môi trường thương mại của các nước một cách hiệu quả? Cụ thể hơn, chỉ số thuận lợi thương mại tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu của mỗi qua gia như thế nào? Đây là câu hỏi nghiên cứu chủ chốt mà tác giả muốn giải quyết và cũng chính là ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu này hướng đến
Mặt khác, ETI là một chỉ số tổng hợp và WEF đang xem xét tác động của nó đến tổng thể các quốc gia ở một mức độ tương đương Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ làm rõ sự ảnh hưởng của ETI đến nước xuất khẩu và nước nhập khẩu như thế nào Bằng phương pháp ước lượng hợp lý cực đại giả Poisson (Poisson pseudo Maximum Likelihood estimation – PPML)8, nghiên cứu này cũng cung cấp một hướng đi khác, mới hơn so với mô hình kiểm định ETI mà WEF đã áp dụng trước đây Vì vậy, nghiên cứu này hứa hẹn sẽ cho ra một kết quả kiểm định có ý nghĩa và
độ tin cậy tốt hơn so với các phương pháp kiểm định trước
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm kiểm định tính hiệu quả của chỉ số thuận lợi thương mại, thông qua việc xác định xu hướng và mức độ tác động của chỉ số này đến kim ngạch thương mại của các quốc gia Từ đó, nghiên cứu cũng nhấn mạnh và làm rõ hơn độ tin cậy của Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu và việc áp dụng
7 Từ năm 2010, WEF đã loại bỏ mục kiểm định chỉ số ETI ra khỏi báo cáo TLTMTC Thay vào đó, cấu trúc mới của ETI được biện luận một cách khá chung chung và mang
tính định tính (xem (The World Economic Forum, 2016), trang 15-16: Những thay đổi
trong phương pháp luận của ETI)
8 Chi tiết về phương pháp này sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo
Trang 15các phân tích cũng như số liệu từ báo cáo này cho việc ra các quyết định về chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
Trong nghiên cứu này, tính hiệu quả của chỉ số thuận lợi thương mại được xác định thông qua tác động của chỉ số này đến kim ngạch thương mại song phương giữa các quốc gia Bởi đây là một chỉ số tổng hợp đo lường sự thúc đẩy thương mại của các nước Do đó, để đánh giá xem nó có đo lường tốt, có phản ánh tốt các thành phần giúp tăng cường thương mại quốc tế ở mỗi quốc gia hay không, tác gỉả nghiên cứu mối quan hệ giữa điểm số ETI và kim ngạch thương mại để thấy được mối quan hệ biện chứng của các yếu tố này Nếu ETI phản ánh tốt và hiệu quả các thành phần thúc đẩy thương mại, thì điểm số ETI càng cao sẽ đồng nghĩa với việc quốc gia đó tạo được một môi trường thúc đẩy thương mại tốt và từ đó, xuất nhập khẩu của quốc gia đó cũng tăng tương ứng Ngược lại, nếu mô hình nghiên cứu cho kết quả rằng ETI không có mối quan hệ chặt chẽ với kim ngạch xuất nhập khẩu của các nước, điều này cho thấy việc tăng hay giảm ETI không có ảnh hưởng gì nhiều đến thương mại của mỗi nước Như vậy, cấu trúc của chỉ số ETI đã không thành công trong việc đo lường những nhân tố thúc đẩy thương mại Hay nói cách khác, các quốc gia có cải thiện chỉ số ETI của mình cũng không làm tăng kim ngạch thương mại của mình Khi đó, bảng xếp hạng của WEF và những phân tích trong báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu cũng không có ý nghĩa Năm 2008, trong báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu đầu tiên, khi tác giả Lawrence Robert nhắc đến kiểm định chỉ số ETI, ông cũng sử dụng mô hình Lực hấp dẫn để nghiên cứu về mối quan
hệ giữa ETI và kim ngạch thương mại song phương.9 Từ kết quả nghiên cứu, Lawrence Robert đã phân tích và biện luận được sự hiệu quả của ETI trong việc đo lường và phản ánh các tác nhân thúc đẩy thương mại giữa các nước Trong đề tài này, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp mà tác giả áp dụng cũng tương đồng với Lawrence Robert nhằm kế thừa và tạo cơ sở so sánh kết quả nghiên cứu
9 (Robert, et al., 2008) trang 9, 10
Trang 16Tóm lai, thông qua nghiên cứu về mối quan hệ giữa ETI và kim ngạch xuất nhập khẩu của các quốc gia, đề tài này gián tiếp kiểm định được tính hiệu quả của chỉ số thuận lợi thương mại trong việc đo lường tác nhân thúc đẩy thương mại ở các nước
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa ETI và kim ngạch xuất nhập khẩu của các nước, từ đó kiểm định tính hiệu quả của mô hình ETI, đề tài này sẽ giải quyết được hai câu hỏi nghiên cứu sau:
Một là, chỉ số ETI của một quốc gia có tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu của
quốc gia này hay không?
Hai là, mức độ tác động của chỉ số ETI đến kim ngạch xuất nhập khẩu của các quốc
gia có cường độ mạnh yếu như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là chỉ số ETI với cấu trúc mới, được xây dựng
và giới thiệu trong Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu năm 2016 Cần lưu ý rằng, đề tài này chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu về cấu trúc của chỉ số ETI trong Báo cáo TLTMTC năm 2016, tức mô hình ETI mới nhất cho tới thời điểm nghiên cứu này được thực hiện
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng mối quan hệ giữa ETI và kim ngạch thương mại để biện luận về tính hiệu quả của chỉ số này Do đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài cũng bao gồm kim ngạch thương mại song phương giữa các nước và mối quan hệ của nó với chỉ số ETI
Trang 171.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này giới hạn ở việc nghiên cứu mô hình ETI được trình bày trong báo cáo TLTMTC năm 2016, tức cấu trúc hiện tại và mới nhất của ETI tại thời điểm thực hiện nghiên cứu Tuy nhiên, ETI là một chỉ số đánh giá cấp quốc gia Vì vậy, đề tài này sẽ không đạt được tính tổng quát và có ý nghĩa nếu chỉ thực hiện nghiên cứu ở một hoặc một nhóm quốc gia Mặt khác, nhằm kiểm định tính hiệu quả của chỉ số ETI, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Lực hấp dẫn Điều này đòi hỏi phạm vi nghiên cứu rất rộng và bộ dữ liệu khá lớn Do đó, nghiên cứu này được thực hiện với bộ dữ liệu toàn cầu gồm hơn 100 quốc gia và số liệu thu thập tại năm 2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện theo phương pháp định lượng Tác giả sử dụng mô hình hồi quy Lực hấp dẫn để kiểm định tính hiệu quả của chỉ số ETI, thông qua mối quan
hệ của chỉ số này đối với kim ngạch thuơng mại song phương giữa các nước Đây là
mô hình nghiên cứu phổ biến trong thương mại quốc tế và đã được sử dụng thành công ở hàng loạt nghiên cứu thương mại có liên quan Mô hình này cũng đã từng được áp dụng trong báo cáo TLTMTC năm 2008, tạo cơ sở khoa học đáng tin cậy cho báo cáo này Việc áp dụng lại mô hình nghiên cứu từ năm 2008 cho bộ dữ liệu năm 2015, cũng như cấu trúc mới của ETI, giúp tác giả có cơ sở so sánh kết quả thu được Bên cạnh đó, nhằm cập nhật những phát hiện mới về mặt học thuật liên quan đến kiểm định thống kê của mô hình lực hấp dẫn, tác giả sử dụng một kỹ thuật nghiên cứu khác so với (Robert, et al., 2008) Đó là phương pháp ước lượng hợp lý cực đại giả Poisson.8
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ nhiều tổ chức quốc tế lớn,
có uy tín Do đó, số liệu phân tích và nguồn dữ liệu đảm bảo được độ tin cậy cao Tác giả tổng hợp, xử lý dữ liệu để chạy mô hình hồi quy và phân tích kết quả thu được Chi tiết về phương pháp thực hiện nghiên cứu cũng như cách thức thu thập và
xử lý dữ liệu sẽ được trình bày cụ thể hơn trong Chương 3
Trang 181.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm có 5 chương được trình bày như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Ở phần này, tác giả trình bày những vấn đề chung và tổng quan nhất về đề tài nghiên cứu như: Lý do chọn đề tài, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu này
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Ở phần này, tác giả giới thiệu chi tiết về Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu và chỉ số thuận lợi thương mại, cũng như những nghiên cứu hàn lâm xoay quanh chỉ số này Qua đó, người đọc sẽ tiếp cận được những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn
đề nghiên cứu và nguồn gốc phát sinh nghiên cứu này
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Phần này trình bày một cách chi tiết về cách thức mà tác giả thực hiện nghiên cứu Thông qua mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu và cách thức xử lý dữ liệu, tác giả sẽ chứng minh tính hợp lý và độ tin cậy của nghiên cứu này
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Sau khi trình bày về phương pháp thực hiện nghiên cứu, Chương 4 sẽ dành để phân tích kết quả mà tác giả thu được sau nghiên cứu này Phần này sẽ diễn giải và phân tích cụ thể ý nghĩa của các số liệu thống kê thu được qua mô hình nghiên cứu
Trang 19Chương 5: Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu thu được ở Chương 4, tác giả sẽ đúc kết thành những
ý nghĩa kinh tế của đề tài này Ở phần này, tác giả cũng tóm tắt lại toàn bộ nghiên cứu và chỉ ra những ưu, nhược điểm, đồng thời gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu
2.1.1 Giới thiệu chung về Báo cáo thuận lợi thương mại Toàn cầu
Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu (TLTMTC) là một bài báo cáo nghiên cứu được thực hiện và công bố bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nhằm tổng hợp
dữ liệu, đánh giá và xếp hạng mức độ thuận lợi của môi trường thương mại tại các quốc gia Báo cáo này còn cung cấp những phân tích chuyên sâu về môi trường thương mại cũng như những rào cản mà các quốc gia hoặc khu vực đang gặp phải Qua đó, đây được xem như một công cụ hữu hiệu và là một cơ sở tham khảo toàn diện cho việc hoạch định chính sách Nghiên cứu này được thực hiện mỗi hai năm một lần và được công bố rộng rãi trên trang web của WEF Đến nay, đã có 6 báo cáo TLTMTC được công bố
2.1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu
2.1.2.1 Mục tiêu
Lợi ích từ việc tự do hoá thương mại toàn cầu đã được công nhận rộng rãi từ lý thuyết cho đến thực tiễn Các quốc gia có thể tập trung nguồn lực cho sản xuất hàng hoá dịch vụ mà họ có ưu thế Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn trong khi giá
cả hàng hoá lại rẻ hơn Nguồn lực, cũng như tài nguyên được phân phối lại và sử dụng một cách hiệu quả hơn trên phạm vi toàn cầu Những điều này đã được David Ricardo chứng minh trong học thuyết Lợi thế so sánh của ông Mặc dù vậy, thương mại quốc tế vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản và thách thức to lớn Nhận thấy tầm quan trọng và vai trò của thương mại trên phạm vi toàn cầu, WEF đã xây dựng báo cáo TLTMTC với mục tiêu nền tảng là nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy thương mại
ở mỗi quốc gia (The World Economic Forum, 2008).10
10 (The World Economic Forum, 2008), trang xi
Trang 21Dưới đây là những mục tiêu cụ thể mà tác giả tổng hợp được sau khi tham khảo các báo cáo TLTMTC:
• Tổng hợp dữ liệu kinh tế - thương mại từ nhiều nguồn khác nhau của hơn
100 quốc gia
• Tính toán Chỉ số Thuận lợi thương mại của các quốc gia
• Đánh giá, xếp hạng môi trường thương mại của hơn 100 quốc gia
• Phân tích chuyên sâu về môi trường thương mại và những điểm mạnh, cũng như hạn chế trong việc thúc đẩy thương mại của từng quốc gia và khu vực
• Đưa ra một số nhận xét, gợi ý mang tính khách quan và bao quát về môi trường thương mại của các quốc gia nhằm làm cơ sở tham khảo cho việc thúc đẩy thuận lợi thương mại toàn cầu
2.1.2.2 Ý nghĩa
Đối với những nhà lãnh đạo và điều hành kinh tế - thương mại của mỗi quốc gia:
Báo cáo này cung cấp nhiều thông tin có giá trị cho việc hoạch định chiến lược cấp quốc gia, cũng như hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi nước Mỗi quốc gia
có một cái nhìn tổng quát về vị trí hiện tại của mình cũng như những mặt mạnh/yếu, nhằm điều chỉnh chính sách thương mại sao cho phù hợp Cụ thể, trong trường hợp của Việt Nam, báo cáo TLTMTC năm 2010 đã phản ánh một cách trung thực sự tiến bộ vượt bậc từ hạng 89 lên hạng 71 (tăng 18 bậc) Điều này đạt được là do sự kiện gia nhập WTO vào năm 2007 của Việt Nam giúp thương mại quốc tế của nước này tăng trưởng nhanh chóng Đồng thời, WEF cũng chỉ ra những mặt yếu kém mà Việt Nam cần gấp rút cải thiện, liên quan đến các lĩnh vực: Tính chất minh bạch trong việc quản lý cửa khẩu (hạng 104); Hệ thống giao thông (hạng 103); Mật độ sân bay (hạng 104); Chất lượng đường xá (hạng 95);…11
11 (The World Economic Forum, 2010), trang 23-24
Trang 22Đối với các nhà đầu tư và thương nhân quốc tế:
Trong bộ chỉ số của ETI năm 2016, có một chỉ số phụ về Môi trường hoạt động, mà
trong đó, WEF đo lường và xếp hạng mức độ thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài của tại quốc gia Vì vậy, báo cáo này giúp các nhà đầu tư và thương nhân quốc tế có một bức tranh tổng thể về môi trường kinh doanh toàn cầu, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư phù hợp
Đối với nhà nghiên cứu:
Dữ liệu do WEF tổng hợp từ nhiều tổ chức quốc tế lớn và uy tín.12 Do đó, độ tin cậy
và chính xác về mặt số liệu khá cao Báo cáo này được xem như một cơ sở dữ liệu thương mại đáng tin cậy, phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu về kinh tế - thương mại toàn cầu
Những đánh giá và phân tích trong bài báo cáo được thực hiện bởi những chuyên gia hàng đầu về thương mại quốc tế của WEF và nhiều tổ chức cộng tác khác.12 Do
đó, hàm lượng học thuật và tính hàn lâm trong báo cáo nghiên cứu này tương đối tốt Đối với những công trình nghiên cứu thuộc cấp bậc Đại học, Cao học ở Việt Nam, đây có thể xem là một cơ sở tham khảo đáng tin cậy
2.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của báo cáo TLTMTC
Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu được WEF thực hiện và công bố lần đầu tiên vào năm 2008 Thời gian đầu, đây là một báo cáo thường niên, tức nó được hiện và công bố mỗi năm một lần Đến năm 2010, WEF quyết định sẽ thay đổi về kỳ thực hiện báo cáo Từ đó, mỗi hai năm, báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu mới được công bố một lần.13 Tính đến thời điểm hiện tại, WEF đã công bố 6 báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu, lần lượt theo các năm: 2008, 2009, 2010, 2012, 2014, 2016
12 (The World Economic Forum, 2016), trang v – vii
13 Theo (The World Economic Forum, 2016), trang 13
Trang 23Cứ mỗi kỳ báo cáo, WEF và các chuyên gia lại cập nhật và thay đổi một số nội dung trong phương pháp luận nhằm đáp ứng phản hồi từ đọc giả khắp thế giới Báo cáo này dần được hoàn thiện về cấu trúc cũng như phương pháp nghiên cứu Trong
đó, trọng tâm của bài báo cáo, Chỉ số thuận lợi thương mại toàn cầu (ETI), là yếu tố được thay đổi thường xuyên nhất Trải qua 6 kỳ báo cáo, chỉ số này được thêm, bớt các chỉ tiêu và thay đổi cấu trúc khá nhiều dựa trên các lý thuyết khoa học và phản hồi từ nhiều chuyên gia uy tín trên thế giới
Hình 2.1: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2008 Nguồn: Báo cáo TLTMTC năm 2008, trang 8
Khi mới được xây dựng, ETI được tổng hợp từ 10 nhân tố (hay biến đo lường) Các nhân tố này được sắp xếp vào 4 nhóm (hay còn gọi là Chỉ số phụ) như sau (hình
2.1): Tiếp cận thị trường; Quản lý cửa khẩu; Cơ sở hạ tầng Thông tin và Vận tải; Môi trường kinh doanh Việc sắp xếp này thể hiện các nhân tố được gom nhóm lại
sao cho phù hợp với khía cạnh thúc đẩy thương mại mà chúng đo lường Ở mỗi nhân tố, bản thân chúng lại được đo lường bởi một số biến quan sát, mà số liệu
Trang 24được WEF thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau (các báo cáo uy tín trên thế giới, các bộ dữ liệu khảo sát,…) Phân tích một cách chi tiết, ETI năm 2008 được tổng hợp và đo lường bởi 40 biến quan sát (xem Phụ lục 1) Tính đến năm
2016, ETI đã thay đổi gần như hoàn toàn so với công bố đầu tiên trong báo cáo TLTMTC 2008 Chỉ số này hiện tại được cấu tạo từ 57 biến quan sát (xem Phụ lục
2), đo lường 7 chỉ số phụ (hay nhân tố) và được gom thành 4 nhóm (hình 2.2): Tiếp cận thị trường; Quản lý cửa khẩu; Cơ sở hạ tầng; Môi trường hoạt động Quá trình
thay đổi của chỉ số ETI qua các kỳ báo cáo được thể hiện sơ lược ở hình 2.3
Hình 2.2: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2016
Nguồn: Báo cáo TLTMTC năm 2016, trang 14
Trang 25Bảng 2.1: Sơ lược quá trình thay đổi cấu trúc chỉ số ETI
Năm báo cáo Cấu trúc ETI Sơ lược thay đổi
hàm cả khía cạnh xuất khẩu trong nhóm này (theo (The World Economic Forum, 2009), trang 9)
thức tính ở chỉ số phụ Tiếp cận thị trường nội địa và quốc tế Điều này không làm thay
đổi về ý nghĩa, tính hiệu quả cũng như khả năng so sánh sô liệu với báo cáo năm 2009 (theo (The World Economic Forum, 2010), trang 8)
• Biến Đo lường phi thuế quan trong cấu trúc 2010 đã được loại bỏ
• Trong chỉ số phụ Môi trường pháp lý, một biến quan sát đã được bổ sung là: Tiếp cận tài trợ thương mại
• Biến Thuê bao điện thoại cố định ở chỉ số Úng dụng CNTT&TT đã được thay thế bằng Số lượng người dùng Internet
• Nhóm CSHT thông tin và vận chuyển
được đổi tên thành: Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) Nhóm Môi trường kinh
Trang 26doanh được đổi tên thành: Môi trường hoạt động (Operational Environment)
• 9 chỉ số phụ giảm còn 7 chỉ số:
ü Tiếp cận thị trường nội địa và
quốc tế được tách thành 2 chỉ số phụ là Tiếp cận thị trường nội địa
và Tiếp cận thị trường quốc tế
ü Ba chỉ số phụ thuộc nhóm Quản lý
cửa khẩu được gom lại thành chỉ
số Hiệu quả và tính minh bạch trong Quản lý cửa khẩu
• Các biến quan sát của chỉ số phụ Môi trường hoạt động giảm còn 16 chỉ số, thay
vì 17 chỉ số do nguồn dữ liệu không còn đáp ứng nhu cầu tổng hợp (theo (The World Economic Forum, 2016), trang 16)
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.1.4 Độ tin cậy của Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu
Như đã biết, Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu được thực hiện bởi Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) Đây là một tổ chức phi lợi nhuận lớn và có uy tín quốc tế Được thành lập từ năm 1971 với trụ sở chính đặt tại Geneva, Thuỵ Sỹ, WEF theo đuổi sứ mệnh của mình là trở thành một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế, góp phần
Trang 27phát triển năng lực của thế giới thông qua việc kết nối các nhà lãnh đạo để kiến tạo các quan hệ hợp tác, từ đó thực hiện các mục tiêu kinh tế trên phạm vi toàn cầu và khu vực
Báo cáo TLTMTC không chỉ được thực hiện và biên tập bởi các chuyên gia kinh tế hàng đầu của WEF mà còn có sự cộng tác từ nhiều học giả đến từ các tổ chức có uy tín như Đại học Harvard,… Dữ liệu kinh tế được thu thập và tổng hợp trong báo cáo này đến từ nhiều nguồn đáng tin cậy Tất cả là những tổ chức quốc tế uy tín và số liệu của họ đủ lớn để tổng hợp cho hơn 100 quốc gia trong báo cáo WEF luôn dành một phần trong các báo cáo để công nhận và cảm ơn những đóng góp từ các đơn vị
đã cộng tác và cung cấp số liệu, cũng như để trích dẫn nguồn gốc và cơ sở cho những nội dung và số liệu mà họ trình bày Trong kỳ báo cáo năm 2016, một số tổ chức cộng tác với WEF và cung cấp số liệu để thực hiện báo cáo này như sau:
ü The Global Express Association (GEA)
ü The International Trade Centre (ITC)
ü The United Nations Conference on Trade and Development
ü The World Bank (WB)
ü The World Trade Organization (WTO)
ü The World Economic Forum (WEF)
2.2 Chỉ số thuận lợi thương mại (The Enabling Trade Index - ETI)
2.2.1 Khái niệm chỉ số thuận lợi thương mại và tính hiệu quả của chỉ số này
Trong báo cáo TLTMTC 2008, WEF định nghĩa chỉ số ETI như sau:
ETI là một chỉ số toàn diện để đo lường các yếu tố, chính sách và dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy tự do thương mại hàng hoá qua biên giới
và tới điểm đến.14
14 Lược dịch từ (The World Economic Forum, 2008), trang 7
Trang 28Theo đó, ETI chỉ tập trung đo lường và phân tích các yếu tố liên quan đến khía cạnh thương mại hàng hóa, mà không đề cập đến thương mại dịch vụ Với lập luận rằng thương mại hàng hóa chiếm tới 80% tổng giá trị thương mại toàn thế giới, WEF cho rằng đây là một công cụ hữu hiệu để phân tích và đánh giá các chính sách thương mại cho các quốc gia.15 Bên cạnh đó, một số thành phần của ETI cũng có liên quan
và khá hiệu quả trong việc phân tích và đánh giá về thương mại dịch vụ
Có thể thấy, ETI là một chỉ số để tổng hợp và đo lường các yếu tố tác động đến thương mại quốc tế của các quốc gia Vì vậy, chỉ số này được xem như hoàn thành tốt vai trò và nhiệm vụ của mình khi nó phản ánh đúng các yếu tố thúc đẩy thương mại Tức là, tồn tại một mối quan hệ biện chứng giữa chỉ số ETI và kim ngạch thương mại của các nước Mức độ của mối quan hệ này càng lớn cho thấy ETI càng
đo lường hiệu quả những nhân tố thuận lợi thương mại trong mỗi quốc gia Đây cũng chính là mục tiêu trọng tâm mà đề tài muốn hướng đến
Bởi ETI là một chỉ số tổng quát và toàn diện, nó đo lường nhiều khía cạnh tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thương mại quốc tế của một quốc gia, chứ không chỉ tập trung vào một hoặc một vài khía cạnh như các chỉ số: LPI, TABI, TFIs Vì vậy, cấu trúc và số liệu của ETI thường bao hàm nhiều yếu tố từ các chỉ số thương mại khác Chi tiết về cấu trúc của chỉ số ETI được giới thiệu và phân tích cụ thể ở các phần tiếp theo
2.2.2 Cơ sở khoa học hình thành chỉ số ETI
2.2.2.1 Khung lý thuyết
Với ý tưởng ban đầu xuất phát từ mục tiêu đánh giá môi trường thương mại thế giới, WEF xây dựng chỉ số ETI dựa trên các yếu tố và các biến số tác động đến việc thúc đẩy thương mại của mỗi quốc gia Tại thời điểm được giới thiệu lần đầu tiên,
ETI bao gồm 4 nhóm nhân tố chính: Tiếp cận thị trường (Market Access), Quản lý
15 Theo (The World Economic Forum, 2008), trang 30 – 31
Trang 29cửa khẩu (Border Administration), Cơ sở hạ tầng truyền thông và vận chuyển (Transport and Communications Infrastructure), Môi trường kinh doanh (Business
Environment) 4 nhóm nhân tố này lại tiếp tục được đo lường bởi nhiều chỉ số phụ
và biến quan sát khác nhau Từ đó, tạo nên một cấu trúc đa tầng và bao quát nhiều khía cạnh của chỉ số ETI
• Cơ sở hạ tầng truyền thông và vận chuyển (Transport and Communications Infrastructure)
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng Thương mại quốc tế rất nhạy cảm với khoảng cách địa lý (Disdier & Head, 2008) Cụ thể hơn, chi phí vận chuyển đóng một vai trò rất quan trọng (Hummels, 2007) Cứ mỗi ngày tăng thêm trong chu tình giao hàng làm giảm thương mại quốc tế ít nhất 1% (Djankov, et al., 2006) Bên cạnh đó, (Dollar, et al., 2004) cũng phát hiện rằng ở hầu hết các quốc gia Mỹ Latin, chi phí vận chuyển tạo nên một rào cản thương mại lớn hơn cả thuế quan
Những nghiên cứu trên và nhiều dẫn chứng nữa trong Báo cáo TLTMTC
2008 cho thấy, Cơ sở hạ tầng và Vận chuyển đóng vai trò đặt biệt quan trọng trong môi trường thương mại toàn cầu Việc cải thiện Cơ sở hạ tầng truyền thông và vận chuyển giúp các quốc gia tạo nên một môi trường thân thiện
hơn cho thương mại phát triển Do đó, yếu tố này và hàng loạt biến số đo lường kèm theo nó được đưa vào báo cáo TLTMTC để tính toán chỉ số ETI nhằm đánh giá mức độ đáp ứng và hiệu quả của Cơ sở hạ tầng chuyên chở ở các quốc gia Một quốc gia có cơ sở hạ tầng tốt, cũng như hệ thống vận chuyển, logistics hiệu quả sẽ giúp thương mại trong nước và quốc tế vận hành trơn tru và phát triển mạnh mẽ hơn Ngược lại, sự trì trệ và yếu kém của yếu tố này sẽ tác động khá lớn đến thương mại của quốc gia đó
• Tiếp cận thị trường (Market Access) và Quản lý cửa khẩu (Border Administration)
Trang 30Trong một nghiên cứu của (McCallum, 1995), chúng ta thấy rằng một số tiểu bang của Canada có xu hướng mua bán với nhau hơn là xúc tiến thương mại với các bang ở Hoa Kỳ, mặc dù xét về khoảng cách địa lý, việc trao đổi hàng hoá với Hoa Kỳ sẽ bằng hoặc gần hơn so với giao dịch trong nước Giải thích cho xu hướng thương mại nội địa này là rào cản trong việc khó tiếp cận thị trường và các thủ tục hải quan sát sao và kiểm soát cửa khẩu nghiêm ngặt khiến các thương nhân ngại xúc tiến mua bán quốc tế Một số nghiên cứu hàn lâm khác cũng dẫn chứng cụ thể cho vấn đề này (Anderson & Wincoop, 2003) cho thấy, rào cản là cửa khẩu/biên giới giữa các quốc gia làm giảm thương mại giữa các nước ở khoảng 20% đến 50%
Mặc dù xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ khiến hầu hết quốc gia ngày càng giảm thiểu những rào cản về thủ tục quản
lý cửa khẩu và hải quan Tuy nhiên, yếu tố này vẫn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các rào cản thương mại Bởi chi phí và thời gian dành cho việc kiểm soát và thông quan hàng hóa tại cửa khẩu vẫn được xem là đáng kể
và có tác động đến giảm thiểu thương mại toàn cầu (Huang & Whalley, 2006), trong nghiên cứu của họ, đã cho thấy việc kéo dài thời gian thông quan do kiểm soát an ninh có thể tăng chi phí, bởi nó ảnh hưởng đến tần suất
và quy mô của các giao dịch Tương tự, nghiên cứu của (Sadikov, 2007) chỉ
ra rằng mỗi chữ ký mà nhà xuất khẩu phải thu thập thêm để hoàn tất thủ tục thông quan có thể làm giảm xuất khẩu 4.2% Tác động này là khá lớn, tương đương với việc tăng thuế nhập khẩu lên 5 điểm phần trăm Hơn nữa, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tác động về thủ tục hải quan sẽ ảnh hưởng đến sự
đa dạng trong chủng loại mặt hàng (giảm từ 4-5%)
Vì vậy, việc WEF bổ sung yếu tố Tiếp cận thị trường và Quản lý cửa khẩu
vào cấu trúc của chỉ số ETI nhằm đánh giá độ mở cửa của các quốc gia, cũng như những rào cản thuế quan và phi thuế quan mà thương nhân trong và ngoài nước phải đối mặt là khá hợp lý Một quốc gia có môi trường thúc đẩy
Trang 31tốt cho thương mại thì những chỉ số phụ và biến quan sát thuộc 2 yếu tố này
sẽ đạt điểm đánh giá khá cao, và ngược lại
• Business Environment (Môi trường kinh doanh)
Bên cạnh những rào cản tác động trực tiếp lên thương mại như thuế quan hay chi phí vận chuyển…, môi trường kinh doanh cũng đóng vai trò lớn trong quyết định xúc tiến thương mại của thương nhân quốc tế Những yếu tố như Văn hoá, Tôn giáo, Ngôn ngữ, Tiền tệ, Luật pháp,… thuộc yếu tố môi trường kinh doanh có thể gây khó khăn hoặc cản trở hoạt động thương mại ở một số quốc gia Ví dụ:
ü Bất đồng ngôn ngữ có thể sẽ gây khó khăn cho các thương nhân trong việc giao kết hợp đồng và thực hiện thương vụ
ü Sử dụng tiền tệ khác nhau sẽ khiến các thương nhân đối mặt với rủi ro tỷ giá Điều này làm tăng chi phí và rủi ro trong thương mại khiến các thương nhân ngại mua bán đối với các thương vụ này
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm minh chứng cho điều này Trong
đó, nghiên cứu của (Anderson & Marcouiller, 2002) đối với các nước Mỹ Latin đã chỉ ra rằng: Nếu những chỉ số liên quan đến các yếu tố kể trên được tăng lên tương đồng với khối EU, thương mại của các quốc gia này sẽ tăng lên 30% Tác động này tương đương với việc cắt giảm thuế xuống mức của thuế suất của Mỹ Trong một nghiên cứu tương tự, Blomberg and Hess
(2006) chỉ ra rằng: “Sự hiện diện của khủng bố, cũng như xung đột trong và ngoài nước sẽ có tác động tương đương 30% thuế lên thương mại.”16
Từ những phân tích trên, có thể thấy, yếu tố Môi trường kinh doanh được
thêm vào cấu trúc của chỉ số ETI là có cơ sở khoa học Điều này góp phần giúp ETI trở thành một chỉ số toàn diện, bao quát nhiều khía cạnh Ngoài ra, những số liệu và phân tích trong báo cáo TLTMTC cũng trở nên đa dạng và hiệu quả hơn cho sự tham khảo của những nhà hoạch định chính sách
16 Lược dịch từ Blomberg and Hess (2006)
Trang 32Tóm lại, ngay từ khi được giới thiệu ra công chúng, chỉ số ETI đã được WEF tổng hợp và xây dựng từ rất nhiều học thuyết và nghiên cứu kinh tế Vì vậy, xét về tính hàn lâm, cấu trúc của ETI có cơ sở khoa học khá cao Không những thế, cứ mỗi kỳ báo cáo, WEF cũng thường xuyên cập nhật các cơ sở lý thuyết và những phản hồi
từ nhiều học giả khắp thế giới Cấu trúc và phương pháp tính toán của chỉ số này cũng vì vậy mà thường xuyên được cập nhật nhằm phản ánh khung lý thuyết hiện đại Tuy nhiên, trãi qua 8 năm và 6 kỳ báo cáo, ETI vẫn giữ nguyên khung lý thuyết chung gồm 4 nhóm yếu tố đã được trình bày như trên Mặc dù các chỉ số phụ và các biến quan sát, cũng như cấu trúc của ETI được thay đổi khá nhiều Tính đến kỳ báo cáo mới nhất năm 2016, cấu trúc của ETI gồm 4 nhóm và 7 chỉ số phụ Chi tiết được trình bày cụ thể trong phần 2.2.3
2.2.2.2 Độ tin cậy
Khung lý thuyết mà WEF trình bày trong báo cáo TLTMTC 2008 đã làm nền tảng chắc chắn, chứng minh cho sự tác động và tầm quan trọng của 4 nhóm yếu tố đến thương mại của mỗi quốc gia Đi sâu và chi tiết hơn vào từng nhóm yếu tố, WEF đo lường và đánh giá mỗi quốc gia bằng nhiều chỉ số phụ Các chỉ số phụ này lại được
đo lường bởi một số biến quan sát khác nhau Trong các báo cáo TLTMTC, ETI thường được tổng hợp từ ít nhất 40 biến quan sát Điều này cho thấy rất rõ tính tổng hợp và bao quát của chỉ số ETI so với những chỉ số thương mại khác như LPI hay TABI Độ tin cậy về mặt lý thuyết cũng như tính bao quát và chi tiết của ETI khiến đây trở thành một chỉ số đầy hứa hẹn cho các học giả cũng như những nhà làm chính sách Điều đáng băn khoăn còn lại là độ tin cậy về mặt dữ liệu cũng như ý nghĩa thống kê của chỉ số này Hiểu được vấn đề đó, WEF đã trình bày rất chi tiết trong các báo cáo của mình về nguồn dữ liệu, cách tính toán và giải thích rất rõ những điểm hạn chế, những khoảng trống trong thu thập và xử lý dữ liệu Điều này tạo nên tính minh bạch và dễ dàng sử dụng dữ liệu từ báo cáo này
Trang 33Trong báo cáo TLTMTC 2016, các chỉ số và biến quan sát trong ETI được tổng hợp
từ một số tổ chức quốc tế quy tin sau đây:
ü The Global Express Association (GEA)
ü The International Trade Centre (ITC)
ü The United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD)
ü The World Bank (WB)
ü The World Trade Organization (WTO)
ü The World Economic Forum (WEF)
2.2.3 Các thành phần của chỉ số ETI
Theo báo cáo TLTMTC mới nhất của WEF (2016), cấu trúc của chỉ số ETI bao
gồm 4 nhóm (hay còn gọi là chỉ số phụ): Tiếp cận thị trường (Market Access), Quản lý cửa khẩu (Border Administration), Cơ sở hạ tầng (Infrastructure), Môi trường hoạt động (Operating Environment) Chi tiết hơn, 4 chỉ số phụ này lại được
tổng hợp từ 7 nhân tố, được đo lường bởi nhiều biến quan sát có liên quan Một cách tổng quát, chỉ số ETI được tổng hợp từ 57 biến quan sát, được sắp xếp thành từng nhóm nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường thương mại của mỗi quốc gia Chi tiết về cấu trúc của ETI năm 2016 được mô tả trong hình 2.2
2.2.3.1 Tiếp cận thị trường (Market Access)
• Tiếp cận thị trường nội địa (Domestic market access)
Nhân tố Tiếp cận thị trường nội địa thể hiện mức độ và sự phức tạp trong bảo hộ
thuế quan của các quốc gia Nó phản ánh chính sách thương mại mà mỗi nước đang
áp dụng, cũng như khả năng hay mức độ dễ dàng mà thương nhân quốc tế tiếp cận được thị trường trong nước Việc tăng rào cản hay giảm rào cản thuế quan biểu hiện thông qua sự đa dạng các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu, mức độ biến động thuế suất, mức thuế trần, tỷ lệ nhập khẩu miễn thuế, Các yếu tố này được xem là các biến quan sát (hay biến đo lường) và được sử dụng để tính toán, tổng hợp nên
Trang 34nhân tố Tiếp cận thị trường nội địa Trong báo cáo TLTMTC 2016, nhân tố này
được đo lường bởi 6 biến quan sát (xem phụ lục 2) Dữ liệu được thu thập và tính toán từ Cơ sở dữ liệu Bản đồ tiếp cận thị trường (Market Access Map database) của Trung tâm Thương mại Quốc tế (The International Trade Centre - ITC)17
• Tiếp cận thị trường quốc tế (Foreign market access)
Đây là nhân tố thể hiện rào cản đối với các nhà xuất khẩu trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài Nhân tố này được đo lường bởi 2 biến quan sát bao gồm thuế suất bình quân mà nhà xuất khẩu phải đối mặt và những ưu đãi hoặc lợi ích thương mại đến từ những Hiệp định thương mại song phương, đa phương của mỗi quốc gia Chi tiết về các biến quan sát được trình bày tại Phụ luc 2 WEF thu thập và tính toán
dữ liệu cho các biến quan sát này từ Cơ sở dữ liệu Bản đồ tiếp cận thị trường (Market Access Map database) của Trung tâm Thương mại Quốc tế (The International Trade Centre - ITC)
2.2.3.2 Quản lý cửa khẩu (Border Administration)
• Hiệu quả và minh bạch trong quản lý cửa khẩu (Efficiency and transparency of border administration)
Nhân tố này đo lường tính hiệu quả và sự minh bạch trong hệ thống quản lý cửa khẩu của mỗi quốc gia Cụ thể hơn, các biến quan sát thuộc nhân tố này phản ánh thời gian và chi phí mà các doanh nghiệp phải chi trả để hoàn thành thủ tục xuất nhập khẩu Qua đó, nó thể hiện chất lượng cũng như hiệu quả làm việc của các cơ quan hải quan và các dịch vụ có liên quan Điều này tác động gián tiếp đến thương mại của mỗi nước, thông qua việc tăng hoặc giảm giá thành sản phẩm, từ thời gian
và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra cho thủ tục thông quan
Từ khi được giới thiệu vào năm 2008, chỉ số phụ Quản lý cửa khẩu bao gồm 3 nhân tố: Hiệu quả của quản lý hải quan (Efficiency of Customs Administration), Hiệu
17 Ghi chú kỹ thuật và dẫn nguồn, (The World Economic Forum, 2016), trang 323
Trang 35quả của Thủ thục xuất nhập khẩu (Efficiency of Import – Export procedures), Minh bạch trong Quản lý cửa khẩu (Transparency of Border Administration) Đến kỳ báo
cáo năm 2010, cấu trúc ETI đã trải qua một lần thay đổi lớn Trong đó, 3 nhân tố
thuộc chỉ số phụ Quản lý cửa khẩu đã được gộp lại thành một nhân tố: Hiệu quả và minh bạch trong quản lý cửa khẩu Nhân tố này hiện được đo lường bởi 13 biến
quan sát (xem Phụ lục 2) Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn sau đây:18
ü Tổ chức giao nhận toàn cầu (GEA)
ü Chỉ số Năng lực quốc gia về Logistics của WB
ü Bộ dữ liệu TABI của WB
ü Khảo sát quan điểm Nhà điều hành (EOS) của WEF
2.2.3.3 Cơ sở hạ tầng (Infrastructure)
Chỉ số phụ Cơ sở hạ tầng phản ánh chất lượng và khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng vận chuyển của các quốc gia Nó liên quan đến các dịch vụ cũng như hạ tầng truyền thông đáp ứng cho việc chuyên chở hàng hóa trong và ngoài nước
• Khả năng đáp ứng và chất lượng của cơ sở hạ tầng vận chuyển (Availability and quality of transport infrastructure)
Nhân tố này bao hàm 7 biến quan sát đo lường chất lượng và khả năng đáp ứng của
cơ sở hạ tầng trong nước của mỗi quốc gia, liên quan 4 phương thức vận chuyển hàng hóa là: đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển Việc cải thiện
cơ sở hạ tầng vận chuyển có tác động đáng kể đến thương mại quốc tế của một quốc gia Bởi chi phí và thời gian dành cho vận chuyển hàng hóa chiếm một phần không nhỏ trong giá thành sản phẩm, và do đó tác động tới quyết định kinh doanh của các thương nhân trong và ngoài nước Cơ sở hạ tầng liên quan đến 4 phương thức vận chuyển kể trên đạt chất lượng tốt và đáp ứng được nhu cầu thương mại sẽ thu hút
18 Ghi chú kỹ thuật và dẫn nguồn, (The World Economic Forum, 2016), trang 324-325
Trang 36thương nhân nước ngoài tham gia đầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển kinh doanh Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ các nguồn sau đây:19
ü Tổ chức Tổ chức vận tải hàng không quốc tế (IATA)
ü Khảo sát quan điểm Nhà điều hành (EOS) của WEF
ü Hội đồng Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)
• Khả năng đáp ứng và chất lượng của dịch vụ vận chuyển (Availability and quality of transport services)
Nhân tố này đo lường chất lượng và hiệu của của hệ thống dịch vụ vận chuyển trong nước Nó phản ánh năng lực cũng như khả năng đáp ứng của các công ty dịch
vụ vận chuyển, logistics và được đo lường bởi 6 biến quan sát (xem Phụ lục 2) thu thập từ Chỉ số LPI của WB và khảo sát EOS của WEF.19 Tương tự với nhân tố Khả năng đáp ứng và chất lượng của CSHT vận chuyển, các dịch vụ vận chuyển cũng
góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy thương mại của các nước Thông qua việc cung cấp các dịch vụ chất lượng cao với chi phí hợp lý, các công ty dịch vụ vận chuyển, logistics tạo nên một môi trường thương mại thân thiện và hiệu quả, thúc đẩy kinh doanh, mua bán trong và ngoài nước diễn ra suông sẽ và nhanh chóng hơn
• Khả năng đáp ứng và hiệu quả sử dụng Công nghệ thông tin và truyền thông (Availability and use of ICTs)
Bên cạnh cơ sở hạ tầng và hệ thống dịch vụ vận chuyển, một yếu tố khác cũng đóng góp vào việc thúc đẩy thương mại đó là Công nghệ thông tin và truyền thông Yếu
tố này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại cũng như dịch vụ vận chuyển diễn ra xuyên suốt và hiệu quả hơn 7 biến quan sát đã được sử dụng để đo lường nhân tố Khả năng đáp ứng và hiệu quả sử dụng CNTT và truyền thông (xem Phụ lục 2) Các biến này phản ánh quy mô người dùng mạng của quốc gia cũng như
19 Ghi chú kỹ thuật và dẫn nguồn, (The World Economic Forum, 2016), trang 324-326
Trang 37việc ứng dụng CNTT vào các giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng ứng dụng CNTT của chính phủ các nước Dữ liệu chủ yếu được thu thập và tổng hợp từ Chỉ số Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT Indicators Database) do Liên hiệp Viễn thông Quốc tế (ITU) cung cấp
2.2.3.4 Môi trường vận hành (Operating Environment)
• Môi trường vận hành (Operating Environment)
Như đã biết, những yếu tố như Văn hóa, Tôn giáo, Tiền tệ, Pháp luật,… thuộc nhóm yếu tố Môi trường kinh doanh có tác động không nhỏ đến thương mại quốc tế của mỗi quốc gia Việc thêm nhóm nhân tố này vào ETI góp phần giúp chỉ số này trở thành một chỉ số bao quát và chi tiết, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và hoạch định chính sách Từ năm 2014, WEF đã thay đổi cấu trúc của chỉ số ETI Trong đó,
chỉ số phụ Môi trường vận hành bao gồm 2 nhân tố đã được gộp lại thành 1 nhân tố Hiện tại, Môi trường vận hành được đo lường bởi 16 biến quan sát (xem Phụ lục 2)
với số liệu tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu đến từ Khảo sát quan điểm Nhà điều hành (EOS) của WEF và bộ chỉ số TABI của WB.20 Nhân tố này phản ánh khả năng tiếp cận tài chỉnh của các doanh nghiệp, các quy định của chính phủ liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, quyền sở hữu, thực thi hợp đồng, cũng như chất lượng của các dịch vụ công
2.2.4 Phân tích các thành phần chỉ số ETI của Việt Nam năm 2016
So với năm 2014, chỉ số ETI của Việt Nam đã cải thiện một cách đáng kể, giúp Việt Nam tăng 14 hạng trong bảng xếp hạng của WEF, từ 87 lên 73 Sự tiến bộ này chủ yếu xuất phát từ những nỗ lực cải thiện công tác quản lý cửa khẩu, cụ thể là điểm số
ở chỉ số Hiệu quả dịch vụ hải quan và việc giảm thiểu thời gian và gánh nặng chứng
từ, thủ tục trong thông quan hàng hoá (Phụ lục 8) Những cải thiện này phản ánh trong nhiều cố gắng và chính sách của chính phủ về việc cắt giảm thủ tục hành
20 Ghi chú kỹ thuật và dẫn nguồn, (The World Economic Forum, 2016), trang 327-329
Trang 38chính không cần thiết Tuy nhiên, so với các tiêu chuẩn quốc tế ở nhân tố Hiệu quả
và minh bạch trong quản lý cửa khẩu, Việt Nam vẫn còn phải cải thiện và nổ lực khá nhiều Bởi hiện tại, dù vừa tăng 16 hạng ở khía cạnh này, Việt Nam vẫn còn đang được xếp ở hạng 86, một thứ hạng khá thấp Ngoài ra, đóng góp vào sự thăng hạng của Việt Nam trong năm 2016, một số yếu tố khác dù tăng ít nhưng cũng cần
kể đến như: Nhân tố tiếp cận thị trường nội địa tăng 4 hạng, Cơ sở hạ tầng vận chuyển tăng 14 hạng,…
Nhìn chung, trong 4 trụ cột chính của của số ETI, Việt Nam đạt thế mạnh khá lớn ở nhân tố Cơ sở hạ tầng Chỉ số phụ này đạt điểm tổng kết là 4.1 và được xếp ở hạng 64/136 (Phụ lục 7) Các điểm số thành phần của chỉ số phụ này cũng đạt con số khá khả quan so với các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, ở 3 trụ cột còn lại, Việt Nam còn cần phải cải thiện khá nhiều nếu muốn nâng điểm số ETI của mình trong tương lai Trong đó:
• Chỉ số phụ tiếp cận thị trường đạt 4.5 điểm, xếp hạng 74/136 Ở khía cạnh này, 2 nhân tố thành phần của chỉ số phụ là Tiếp cận thị trường nội địa và Tiếp cận thị trường quốc tế còn đạt điểm khá thấp và cần nhiều nổ lực cải thiện hơn Cụ thể, thuế suất và biên lợi nhuận là 2 yếu tố được đánh giá rất thấp và đang kéo điểm số ETI của Việt Nam xuống khá nhiều (Phụ lục 8) Vì vậy, để cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp (cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài), Việt Nam cần xem xét, tính toán
và điều chỉnh biểu thuế suất cho phù hợp hơn
• Chỉ số phụ Hiệu quả và minh bạch trong quản lý của khẩu đã có bước tiến vượt bậc trong năm 2016 (tăng 16 hạng) Đây là nhân tố chính khiến Việt Nam thăng hạng trong năm này Tuy nhiên, trong danh sách các nhân tố thành phần của chỉ số phụ này, thực tế Việt Nam chỉ cải thiện được một số nhân tố nhất định, còn khá nhiều điểm có thể và cần thiết phải điều chỉnh, cải thiện hơn Các biến quan sát về thời gian và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra cho quy trình xuất nhập khẩu, chủ yếu về mặt chứng từ và thủ tục hành
Trang 39chính, là còn rất cao (xem Phụ lục 8) Do đó, dù trong năm vừa qua, Việt Nam đã nhận thức được điểm yếu của mình trong việc thúc đẩy thương mại nằm ở đâu và đã nổ lực cải thiện những yếu kém đó Tuy nhiên, tính đến hiện tại, những cải thiện này vẫn còn khá khiêm tốn và Quản lý cửa khẩu vẫn đang là một khía cạnh cần nhiều hơn những sự quan tâm của Chính phủ
• Ở chỉ số phụ Môi trường hoạt động, một số điểm được đánh giá khá thấp và cần cải thiện nhiều hơn bao gồm: Chỉ số an toàn về tài sản (3.8 điểm, xếp hạng 92/136) và Chỉ số độ mở đối với tham gia của nước ngoài (4 điểm, xếp hạng 102/136) Ở khía cạnh an toàn về tài sản, WEF đánh giá về quyền sở hữu và bảo hộ sở hữu trí tuệ (Phụ lục 2) Trong đó, vấn đề về bản quyền và
sở hữu trí tuệ ở Việt Nam còn khá yếu kém và phức tạp Đó là lý do Việt Nam không được đánh giá cao ở nhân tố này Trong những năm tới, để tạo dựng niềm tin của các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần
có các chính sách siết chặt hơn nữa công tác bảo hộ bản quyền và sở hữu trí tuệ Ngoài ra, dù đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do song phương,
đa phương nhưng trong thực tế triển khai, điểm số Độ mở đối với tham gia của nước ngoài ở Việt Nam còn khá thấp Nhân tố này đo lường sự tham gia của các doanh nghiệp FDI cũng như sự hỗ trợ và tạo điều kiện của Chính phủ các nước cho đầu tư nước ngoài Điểm số này cho thấy Việt Nam còn đang bảo hộ khá lớn cho doanh nghiệp trong nước và do đó tạo nên một sự cản trở lớn cho đầu tư nước ngoài phát triển Để cải thiện vấn đề này cũng như tăng hạng trong bảng đánh giá của WEF, Việt Nam cần rà soát lại công tác quản
lý FDI của mình và có hành động thiết thực, cụ thể hơn cho công tác thúc đẩy đầu tư nước ngoài
2.3 Kiểm định tính hiệu quả của chỉ số ETI
Trong báo cáo TLTMTC năm 2008, ngoài việc diễn giải chi tiết cơ sở lý thuyết để xây dựng chỉ số ETI, (Robert, et al., 2008) cũng thực hiện một nghiên cứu định
Trang 40lượng nhằm kiểm định tính hiệu quả của mô hình ETI được đề xuất.21 Như đã biết, mục tiêu mà WEF xây dựng chỉ số này là nhằm đo lường mức độ thuận lợi của môi trường thương mại quốc tế ở mỗi quốc gia Vì vậy, ETI sẽ được xem là hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi trở thành một tác nhân thúc đẩy thương mại của các quốc gia Do đó, để kiểm định xem chỉ số này có làm tốt vai trò của mình hay không, (Robert, et al., 2008) đã sử dụng mô hình hồi quy Lực hấp dẫn Đây là một mô hình được sử dụng nhiều trong nghiên cứu thương mại quốc tế
2.3.1 Giới thiệu mô hình hồi quy Lực hấp dẫn
Được ứng dụng lần đầu tiên trong một nghiên cứu của Tinbergen năm 1962, mô hình hồi quy lực hấp dẫn mô phỏng theo Định luật Hấp dẫn của Issac Newton Theo đó:
Mi,Mj : Lần lượt là khối lượng của hai vật thể i, j
Dij : Khoảng cách giữa hai vật thể i và j
Mô hình này giải thích kim ngạch trao đổi thương mại song phương giữa hai quốc gia theo quy mô của hai nền kinh tế và khoảng cách địa lý giữa hai nước tương ứng Theo Tinbergen, giá trị xuất nhập khẩu giữa hai nước sẽ tỷ lệ thuận với quy mô hai
21 (Robert, et al., 2008), trang 9-10