1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một vài biện pháp dạy tăng cường tiếng việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số

25 557 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 254 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy học sinh dân tộc thiểu số gặp không ít khó khăn vì hầuhết các em luôn có thói quen nói tiếng mẹ đẻ và phát triển khả năng tư duy củacác em cũng bằng chính ngôn ngữ đó; đ

Trang 1

I Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Mục tiêu hàng đầu của giáo dục chính là đào tạo con người phát triển toàndiện về đức, trí, thể, mĩ và các kỹ năng cơ bản để các em tiếp tục học lên trunghọc cơ sở, các cấp học khác và áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễncuộc sống lao động nhằm đáp ứng với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Thực tế hiện nay ngành giáo dục đào tạo luôn được nhà nước và cả xã hộiquan tâm đưa lên quốc sách hàng đầu Tiểu học là bậc học nền tảng, việc dạychữ có tầm quan trọng vì nó đồng nghĩa với việc chúng ta đã trao cho các emchìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai

Tiếng Việt là tiếng phổ thông đóng vai trò quan trọng góp phần hìnhthành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học và giao tiếptrong các môi trường hoạt động của trẻ Nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt là công

cụ để học học tập các môn học Có nghe được mới nói được, có đọc được mớiviết được Chính vì thế nên Tiếng Việt là môn học đóng vai trò quan trọng trongsuốt quá trình học tập và trong cuộc sống của con người

Thực tế cho thấy học sinh dân tộc thiểu số gặp không ít khó khăn vì hầuhết các em luôn có thói quen nói tiếng mẹ đẻ và phát triển khả năng tư duy củacác em cũng bằng chính ngôn ngữ đó; điều kiện sử dụng giao tiếp bằng tiếngViệt trong cuộc sống hàng ngày còn hạn chế; bản thân các em và cha mẹ các emchưa nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm vững tiếng Việt Với mộttrường có trên 97% học sinh dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy rằng khả năng nhậndiện và ghi nhớ con chữ chậm dẫn đến khả năng đọc, viết chậm Việc đọc liềnmạch từ, câu gặp nhiều khó khăn, chưa có khả năng đọc biểu cảm Hầu hết các

em còn hạn chế về ngôn ngữ nói, như nói chưa chuẩn, nói chưa đúng mà chủyếu là nói câu chưa đầy đủ, nói thừa, nói thiếu dấu thanh và lẫn lộn giữa dấuthanh nặng với dấu thanh sắc, … Rất ít em biết tiếp nhận thông tin, tư duy để xử

lý, tái tạo nội dung thông tin

Trong công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học, việc dạy tăng cường tiếng Việt đã được vận dụng linh hoạt trong cáctiết học nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh Tăng cường tiếng Việt giúp các em học sinh có

cơ hội được thực hành nghe, đọc, nói, viết thành thạo, mạnh dạn tự tin tronggiao tiếp Tuy nhiên, trong thực tế việc dạy tăng cường tiếng Việt vẫn chưa được

sử dụng đúng mực và chưa phát huy hết hiệu quả Vì vậy các em còn chưa hứngthú với môn học

Đổi mới phương pháp dạy học mà đặc biệt là tìm ra các giải pháp để tăngcường tiếng Việt giúp giáo viên và học sinh giảm bớt đi những khó khăn, ràocản về ngôn ngữ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Khi các em có được vốntiếng Việt đủ để nghe, hiểu thì việc giao tiếp hàng ngày đặc biệt là quá trình tiếpthu bài của các em trở nên dễ dàng hơn Sau nhiều năm nghiên cứu và áp dụngmột số giải pháp cụ thể về tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Trang 2

tôi thấy chất lượng giáo dục ở trường đã được dần dần nâng lên Với tầm quantrọng và cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu sốthiểu số nói chung và học sinh dân tộc trường Tiểu học Võ Thị Sáu nói riêng

chính là lí do tôi chọn đề tài “Một vài biện pháp dạy tăng cường tiếng Việt

cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu: Thực hiện đề tài này với mục đích nâng cao kỹ năng đọc, viết,hiểu nghĩa của tiếng Việt, kỹ năng giao tiếp và tìm ra biện pháp khắc phụcnhững yếu kém mà học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số thường mắc phải Thức đẩytinh thần tự học và tìm kiếm tri thức; mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp Qua đógóp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân, nâng cao chất lượng giáodục, kỹ năng sống cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu giáo dụcngày một đi lên

Nhiệm vụ của đề tài: Thống kê, tổng hợp những thuận lợi, khó khăn vềhọc tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số Tìm ra biện pháp để khắcphục những nhược điểm và đề xuất một số giải pháp tăng cường, nâng cao tiếngViệt cho học sinh dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy và hoạt động ngoàigiờ lên lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

3 Đối tượng nghiên cứu

Một vài biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểusố

4 Giới hạn của đề tài

Học sinh khối 1, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện KrôngAna, tỉnh Đắk Lắk năm học 2016 – 2017, năm học 2017 – 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu

b Phương pháp ngiên cứu thực tế

Tổng hợp số liệu về thực trạng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số ởtrường tiểu học Võ Thị Sáu

C Phương pháp phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khichưa thực hiện giái pháp và sau khi áp dụng những giải pháp

Phỏng vấn giáo viên, học sinh về những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả đạtđược, những hạn chế khi thực hiện những giải pháp hỗ trợ, tăng cường tiếngViệt

II Phần nội dung

1 Cơ sở lí luận

Tiếng Việt có vị trí hàng đầu ở trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp Tiểuhọc Tiếng Việt vừa là một môn học độc lập, lại vừa là một thứ công cụ hỗ trợcho khả năng diễn đạt và tư duy tất cả các môn học khác Tiếng Việt thể hiện

Trang 3

tính liên quan dạy- học với các môn học khác Mục tiêu của chương trình “hìnhthành và phát triển” ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt đó là: Nghe, nói,đọc, viết Học sinh học Tiếng Việt bằng tư duy trực tiếp, thông qua sự tiếp cậnngôn ngữ tự nhiên từ việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày một cách tự phát đếnviệc nắm ngôn ngữ một cách hệ thống qua các bài học Từ đó học sinh có tâm lý

tự tin trong học tập Bằng hiểu biết qua nghe, nói khi học đọc và viết học sinh cóthể dễ dàng nhận ra mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh vàngữ nghĩa, ngữ pháp qua đó các em có thể học đọc, học viết dễ dàng Nghị quyết40/2002/NQ- QH của quốc Hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông đãkhẳng định: Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhấttrong hệ thống quốc dân Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách:vừa là môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh

Thực tế cho thấy vốn tiếng Việt của học sinh còn hạn chế đặc biệt là họcsinh lớp Một Việc nghe, nói, đọc, viết và kĩ năng giao tiếp của các em học sinhdân tộc thiểu số lại càng khó khăn Một mặt do điều kiện kinh tế, điều kiện họctập, trình độ nhận thức trong đó sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ lànguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên

Học tốt môn Tiếng Việt trở thành điều kiện thuận lợi cho việc học cácmôn học khác Do đó, ngay từ khi bước vào ngưỡng cửa của lớp Một, việc hìnhthành nên một tư duy ngôn ngữ cho các em là hết sức cần thiết Tiếng Việt làtiền đề cho quá trình học tập của các em sau này

Tập nói tiếng Việt là nhiệm vụ đầu tiên với các em Học sinh dân tộc cần

có vốn tiếng Việt trước để học chữ Bộ giáo dục đã có nhiều văn bản chỉ đạonhư công văn 9832/ BGD&ĐT - GDTH ngày 1 tháng 9 năm 2006; công văn9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về việc hướng dẫn nộidung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; công văn số8114/ BGD&ĐT- GDTH V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộcthiểu số ban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009; công văn 5842/BGD&ĐT- VPngày 01 tháng 09 năm 2011 hướng dẫn điều chính nội dung dạy học Trongnhững năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị "Triển khai các

phương án tăng cường tiếng Việt (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu số " Tại hội

nghị, xuất phát từ những quan điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận gắn vớiđặc điểm học sinh dân tộc các vùng miền, năm phương án về chủ đề này đãđược trình bày, và trao đổi ý kiến rộng rãi Đó là: 1) Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻmẫu giáo trước tuổi đến trường (Vụ GD Mầm non) 2) Dạy tiếng Việt trên cơ sởtiếng mẹ đẻ trong chương trình song ngữ Ê- đê- Việt (Vụ GD Dân tộc) 3)Nghiên cứu thử nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâmNghiên cứu GD dân tộc) 4) Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộcthiểu số ở lớp 1(Nhóm tăng cường năng lực dạy và học- Dự án PEDC) 5) Dạyhọc lớp 1 cho học sinh dân tộc chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệGD)

Trang 4

Năm học 2017 – 2018, khối 1 có 110 em, trong đó học sinh dân tộc thiểu

số là 104 em chiếm 94,5%, số em người Kinh cũng gặp không ít khó khăn Mặc

dù hằng năm đã được nghiệm thu lớp Mẫu giáo 5 tuổi, nhưng trong thực tế cómột số em đến ngày nghiệm thu mới ra lớp vì vậy vốn tiếng Việt của các em cònnghèo nàn nên việc giao tiếp của các em gặp nhiều khó khăn Mặt khác qua 3tháng nghỉ hè các em không có cơ hội giao tiếp bằng tiếng phổ thông Đây làmột trong những khó khăn lớn nhất cho giáo viên dạy lớp Một Những em nàyhầu như chưa biết tiếng Việt và chưa biết giao tiếp bằng tiếng Việt Tỉ lệ họcsinh có thể hỏi, trả lời và hiểu được yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm tỉ lệ mộtphần nhỏ Các em chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh đơn giản như “trật tự”,

“ra chơi”, “vào lớp”, “ra về”

Khi bước vào lớp Một, kiến thức về tiếng Việt của các em như một tranggiấy trắng Giáo viên rất vất vả trong quá trình truyền thụ kiến thức cho các em

vì người giáo viên vừa phải dạy tiếng kết hợp dạy chữ, dạy kỹ năng sống Quathực tế giảng dạy, tôi luôn trăn trở tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượnggiáo dục như đổi mới phương pháp dạy học, tăng thời lượng môn tiếng Việt theochương trình 300 tiết lên 500 tiết, tăng cường phụ đạo học sinh còn khó khăntrong học tập, tổ chức các hình thức học tập theo nhóm, đôi bạn cùng tiến, nhiềutiết học kéo dài 60 – 65 phút song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn

Có khi một câu hỏi giáo viên đưa ra đến ba lần nhưng các em vẫn không hiểu,không trả lời được Cũng có khi các em chỉ trả lời trống không, không có đầucâu và cuối câu Một vài em sau khi lên lớp mới chỉ biết đánh vần, chưa có khảnăng đọc thông viết thạo, một số em không thích đi học vì không tiếp thu đượcbài Xảy ra tình trạng này không phải là do giáo viên cho học sinh lên lớp khichưa đủ điều kiện lên lớp mà do các em còn ít vốn tiếng Việt nên các em tiếpthu kiến thức một cách thụ động rất dễ quên Lại thêm 3 tháng nghỉ hè các em

đã quên khá nhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết

là làm toán dẫn đến tình trạng nhiều học sinh ngồi nhầm lớp

Việc tạo thói quen và bồi dưỡng tiếng Việt của các em ở gia đình và cộngđồng cũng gặp khó khăn vì người dân thường sống theo buôn làng, ít giao tiếpvới người Kinh, không có điều kiện giao tiếp bằng tiếng phổ thông Nhiều ngườitrong gia đình không nói được tiếng Việt hoặc ít sử dụng tiếng Việt nên việcsinh hoạt giao tiếp trong gia đình hầu như bằng tiếng mẹ đẻ Vì vậy, khi trẻ ralớp thường chưa nói và hiểu được tiếng Việt

Trang 5

Bên cạnh đó, trình độ dân trí vẫn còn thấp, các gia đình chưa thật sự quantâm đến việc học tập của con em Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh khó khăn củagia đình nên thường xuyên phải nghỉ học Nhiều gia đình không có bàn ghế,không có góc học tập để các em học ở nhà

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a Mục tiêu của giải pháp

Nghiên cứu lựa chọn giải pháp phù hợp với đối tượng học sinh dân tộcthiếu số nhằm tăng cường tiếng Việt một cách hiệu quả góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học Tăng cường tiếng Việt chohọc sinh lớp Một, giúp các em tự tin mạnh dạn trong giao tiếp, tiếp thu các mônhọc có hiệu quả là cơ sở để các em học tốt ở các lớp trên

b Nội dung và cách thức thực hiện của giải pháp

Biện pháp thứ nhất: Phối hợp và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của lớp học

Đổi mới phướng pháp dạy - học và đánh giá đóng vai trò rất quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng dạy và học Đây là việc làm thường xuyên, liêntục của người giáo viên nhằm đem đến cho người học sự hứng thú trong học tập

và hiệu quả cao nhất Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá nhằm giúp họcsinh chủ động trong việc học, chống lại thói quen học tập thụ động Rèn luyệncho học sinh cách học theo nhóm, phát huy tính sáng tạo, năng động, cách trìnhbày một vấn đề, cách thuyết trình trước đám đông, cách trả lời câu hỏi nhanh vàđúng Loại bỏ dần thói quen thu nhận thông tin một cách thụ động của ngườihọc để hoạt động học thực sự là một quá trình kiến tạo

Một tiết học thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố Một trong những

yếu tố không thể thiếu đó là sự phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, vàđối tượng học sinh Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng không có phươngpháp nào là vạn năng Vì vậy, người giáo viên phải biết vận dụng, lựa chọn cácphương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh vừa truyền đạt kiến thứccủa bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những phương pháp như sau:

Phương pháp 1: Phương pháp quan sát, động viên, khen thưởng học sinh.

Trong mỗi tiết dạy, người giáo viên thường quan sát, nắm bắt kịp thời từng đốitượng học sinh Đối với những em năng khiếu thường khích lệ, khen ngợi để các

em phấn khởi hơn Còn với học sinh khó khăn trong học tập phải nhẹ nhàng an

ủi động viên: “ Em đã có tiến bộ, nếu em đọc không sai dấu thanh sắc thì em đọchay hơn” Chỉ bằng những lời động viên, khích lệ nhỏ cũng tạo cho các em có sựhứng thú học tập Không chỉ động viên khen khen ngợi mà còn giành nhiều thờigian để giúp đỡ các em Trong giờ ra chơi giáo viên nên trò chuyện, chỉ bảo chocác em những chỗ các em chưa biết Với phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn,cây bút cũng làm cho các em phấn khởi và cố gắng hơn

Ví dụ: Em H’Sê Na Bkrông lúc đầu em đọc rất yếu lại đọc sai dấu thanhsắc với dấu thanh nặng Thấy vậy, tôi thường xuyên gọi em đọc bài Tôi phân

Trang 6

tích lại cấu tạo của tiếng em đọc sai gồm có âm, vần, dấu thanh sau đó hướngdẫn cách phát âm thật kĩ lưỡng Đối với tiếng có dấu thanh sắc khi phát âm chú

ý cao độ tức là phải đọc lên giọng, còn tiếng có thanh nặng cao độ thấp nên đọcxuống giọng Sau đó phát âm mẫu rồi yêu cầu em phát âm lại Mặc dù em phát

âm chưa chuẩn nhưng vẫn động viên và khen ngợi Vì thế dần dần em mạnhdạn, tự tin hơn khi tham gia hoạt động học và một thời gian sau em đã phát âmđúng

Phương pháp 2: Phương pháp hỏi đáp

Đây là phương pháp mà giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lờinhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiệnnhững cái mới từ đó tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động

Ví dụ: Khi dạy bài 8: l – h, sau khi cho học sinh tìm ghép trên bảng gài

âm mới, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi hướng các em suy nghĩ trả lời pháthiện cái mới như sau:

- Đây là âm gì?

- Tiếng lê gồm có mấy âm tạo thành?

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễnghe, dễ hiểu tránh những câu hỏi dài dòng, câu hỏi có hoặc không Lời nói củagiáo viên khi đưa ra câu hỏi phải nhẹ nhàng, tuyệt đối không la mắng khi họcsinh trả lời sai

Phương pháp 3: Phương pháp tổ chức học nhóm

Học tập theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó học sinhcủa một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ Là phương pháp có sự tham giatích cực của học sinh Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cáchdân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bìnhđẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp họcsinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn Kết quả làm việc của nhómđược trình bày và đánh giá trước toàn lớp Phương pháp dạy học theo nhómđược đánh giá là một phương pháp tích cực, hướng vào học sinh, phát huy cao

độ khả năng hợp tác, giúp đỡ học tập lẫn nhau Vì vậy trong mỗi tiết dạy giáoviên thường chia nhóm cho các em học tập đảm bảo nhóm nào cũng có em năngkhiếu, em còn khó khăn trong học tập Qua hoạt động tổ chức học theo nhómcác em được học tập lẫn nhau, từ đó các em sẽ mạnh dạn và tự tin hơn tronggiao tiếp Tuy vậy giáo viên không nên lạm dụng phương pháp dạy học theonhóm quá nhiều

Ví dụ: Khi dạy bài 17: U, Ư, sau khi cho các em nhận biết âm u và âm ư,tôi tổ chức cho các em tìm tiếng, từ có chứa âm vừa học Giáo viên chia lớpthành các nhóm, mỗi nhóm có 4 em trong đó một em làm nhóm trưởng Sau đógiao việc và thời gian cho các em thảo luận tìm ra những tiếng từ có chứa vầnvừa học Trong quá trình thảo luận, các em trao đổi tìm ghép vào bảng gàinhững tiếng từ theo yêu cầu Hết thời gian, các em tự phân công nhau báo cáo

Trang 7

kết quả làm việc của nhóm mình Các bạn khác nghe để bổ sung ý kiến nếu thấycòn thiếu Qua hình thức tổ chức này giúp các em mạnh dạn, tính thi đua, họchỏi lẫn nhau, được nói một cách tự nhiên dù kết quả thảo luận chưa cao.

Khi dạy phần luyện nói bài tập đọc Bàn tay mẹ sách giáo khoa Tiếng Việtlớp 1, tập 2 trang 56, giáo viên chia nhóm, giao việc, quy định thời gian cho các

em thảo luận sau đó tổ chức cho các em thực hành hỏi đáp theo nhóm đôi, một

em hỏi một em trả lời

- Ai nấu cơm cho bạn ăn? Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn

- Ai chăm sóc khi bạn ốm? Mẹ tôi chăm sóc khi tôi ốm

- Ai mua quần áo mới cho bạn? Mẹ tôi mua quần áo mới cho tôi

- Ai vui khi bạn học tốt? Mẹ vui khi tôi học tốt

Khi học sinh thực hành hỏi đáp, giáo viên theo dõi, sửa chữa kịp thời nếucác em nói câu ngược hoặc nói câu thiếu thành phần

Với những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng phương pháp thảoluận nhóm đã giúp học sinh trở nên mạnh dạn, tự tin, vốn tiếng Việt của các em

đã được cải thiện rất đáng mừng Các em đã có khả năng tự đặt ra những câuhỏi, biết diễn đạt bằng lời những ý kiến của mình trước tập thế Việc giao tiếpcủa các em cũng tốt hơn Không khí lớp học sôi động, hấp dẫn, các em tiếp thubài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn tiếng Việtmột cách hiệu quả

Phương pháp 4: Phương pháp tổ chức các trò chơi

Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi ''Học mà chơi,chơi mà học '' tạo ra sự hứng thú và niềm tin trong học tập, duy trì được khảnăng chú ý của các em trong tiết học Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí,củng cố, hệ thống hoá kiến thức được học, mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức,nắm chắc âm vần vừa học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể Trò chơigiúp các em phát triển cả về năng khiếu lẫn tư duy Tạo môi trường để rèn luyện

sự linh hoạt, nhạy bén, có thói quen phản ứng nhanh giúp các em có tính mạnhdạn, tính hợp tác, tính thi đua, tính kỉ luật khi thể hiện mình trước tập thể Thôngqua trò chơi tạo không khí thi đua sôi nổi trong mỗi tiết học, làm cho tiết học trởnên nhẹ nhàng hơn, sinh động và hiệu quả hơn Vì vậy cần xác định rõ mục đíchcủa mỗi trò chơi, tuân thủ các nguyên tắc và thay đổi các hình thức tổ chức chohọc sinh chơi Có thể tổ chức trò chơi khi thì vào bài, có khi để dẫn dắt các emchiếm lĩnh kiến thức mới cần đạt, có lúc để củng cố, hệ thống hoá kiến thứctrong một bài hay trong một chương Khi tổ chức trò chơi, cần phổ biến tên tròchơi, nội dung chơi, vật dụng phục vụ cho trò chơi, luật chơi và trước khi tổchức chơi cho các em chơi thử để các em tự tin hơn

Một trong những trò chơi phát huy tính tích cực thể hiện kĩ năng nói, kĩnăng giao tiếp là phương pháp đóng vai

Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong họctập cho học sinh học mà chơi, chơi mà học, rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết

Trang 8

đặc biệt đây là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh song để manglại hiệu quả, giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều thời gian.

Ví dụ khi dạy bài tập đọc Vẽ ngựa, sau khi hướng dẫn đọc và tìm hiểu bài,giáo viên cho các em xác định bài có mấy nhân vật? Đó là nhân vật nào? Chocác em phân vai và đọc theo vai nhân vật mình yêu thích Đến phần luyện nói,các em hỏi đáp Một bạn vai người hỏi, một bạn vai người trả lời

Bạn có thích vẽ không?

Tôi rất thích vẽ

Bạn thường vẽ vào lúc nào? Ở đâu?

Tôi thường vẽ vào giờ học Mĩ thuật Tôi vẽ trong vở tập vẽ

Đối với hình thức tổ chức dạy học này, các em hào hứng tham gia, mạnhdạn, tự tin trình bày những suy nghĩ, việc làm của bản thân Tiết học trở nên sôiđộng và hấp dẫn, hiệu quả của tiết dạỵ khá thành công Qua đó vốn tiếng Việtcủa các em cũng được cải thiện đáng kể Bước đầu các em có kĩ năng đặt câuhỏi và trả lời câu hỏi có đủ thành phần

Phương pháp 5: Phương pháp kiểm tra, đánh giá

Thực hiện thông tư 22/2016/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 vềsửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hànhkèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thườngxuyên trong mỗi tiết dạy, theo định kì Kiểm tra, đánh giá là một việc làm nhằmđộng viên khuyến khích và chỉ ra những thiếu sót của học sinh giúp học sinh cóhướng khắc phục Từ đó giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phùhợp

Qua kết quả kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợpmột số phương pháp dạy học nhằm nâng cao kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và sự

tự tin trong giao tiếp từ đó nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộcthiểu số

Biện pháp thứ hai: Bồi dưỡng những học sinh thành thạo tiếng Việt

để làm trợ giảng cho giáo viên

Những năm trước đây, dự án PEDC đã hỗ trợ kinh phí để hợp đồng mỗiđiểm trường một nhân viên là người dân tộc thiểu số để hỗ trợ, giúp đỡ giáo viêntrong việc “ phiên dịch ” hướng dẫn, làm quen với giáo viên Giúp cho học sinhhiểu được những yêu cầu của giáo viên và ngược lại nhằm nâng cao chất lượngtrong quá trình giảng dạy Song việc thực hiện gặp nhiều khó khăn nên hiệu quảmang lại không được như mong muốn

Từ năm 2010, dự án PEDC kết thúc, giáo viên người Kinh không biếttiếng dân tộc nên gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy nhất là đối với họcsinh lớp Một Vì vậy nhiều giáo viên vào đầu năm học đã nhờ vài em có vốntiếng Việt nổi trội trong lớp làm “ phiên dịch” trong quá trình tổ chức lớp học

Trang 9

Sau đó, giáo viên bồi dưỡng, hướng dẫn những em học sinh này giống như một

“ trợ giảng” đắc lực cho giáo viên nhằm thực hiện phương pháp hỏi đáp trongquá trình dạy học Biện pháp này rất gần gũi và nhẹ nhàng giúp giáo viên và họcsinh cảm thấy thoải mái, không còn sự ngăn cách mà không tốn nhiều thời gian

Không nhất thiết trong suốt tiết học chỉ có giáo viên hỏi - học sinh trả lời

Để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, giáo viên định hướng cho họcsinh kĩ năng hỏi, đáp thông qua người học với người học Trong mỗi tiết học,giáo viên thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu để các em cóthêm kĩ năng đặt câu hỏi Những em năng khiếu trong lớp “thay mặt” giáo viênđưa ra hệ thống câu hỏi để bạn mình suy nghĩ và trả lời Cũng có lúc nhiều bạnchưa hiểu nên phải hỏi thêm bằng tiếng dân tộc Hình thức này nhằm khuyếnkhích học sinh mạnh dạn và hình thành kỹ năng đặt câu hỏi, trả lời trước đámđông, giúp các em có động lực tìm tòi, học hỏi để tự nâng cao vốn tiếng Việt củamình khi được thầy cô tin tưởng giao nhiệm vụ Những em học sinh khác cũng

có động lực cố gắng có được vốn tiếng Việt để trả lời được những câu hỏi dochính bạn mình đặt ra bằng tiếng Việt

Qua thời gian thực hiện giải pháp này, cho ta thấy kết quả đem lại rất khảquan Tiết học nhẹ nhàng, các em rất hứng thú vì được tham gia vào các hoạtđộng học tập chủ động Nhiều em học sinh được giáo viên bồi dưỡng đã trởthành những học sinh năng khiếu có kỹ năng điều hành hoạt động học trong lớp,

có kĩ năng nghe và diễn đạt tiếng Việt rất tốt

Biện pháp thứ ba: Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh thông qua dạy Môn Tiếng Việt

Dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số quả là khó khăn bởi đây là ngôn ngữ thứ hai các em Vào lớp Một, các em bắt đầu tiếp cận

với vốn tiếng Việt không chỉ học chữ mà còn học nói Tồn tại khó sửa nhất đốivới các em học sinh dân tộc thiểu số là nói, viết thừa hoặc thiếu dấu thanh, nóicâu thừa hoặc nói câu thiếu thành phần, nói ngược Điều đó ảnh hưởng rất lớnđến việc học tập, giao tiếp Nó có thể làm ta hiểu sai nghĩa của từ, của nội dungcâu nói Vì thế việc dạy tăng cường tiếng Việt trong môn Tiếng việt có vai tròquan trọng trong việc nâng cao chất lượng môn học Do vậy, khi giảng từ, giảinghĩa từ, hướng dẫn phát âm giáo viên hướng dẫn kỹ, phát âm mẫu nhiều lần,

sửa sai cụ thể cho các em Thực hiện việc tăng thời lượng môn tiếng Việt theo

chương trình 300 tiết lên 500 tiết cũng là một thuận lợi, học sinh có nhiều thờigian để luyện tập

Trên thực tế việc thực hiện tăng thời lượng môn Tiếng Việt từ 2 tiết thành

3 tiết nên thời gian các em thực hành đọc, nói nhiều hơn Tạo cơ hội cho các emphát huy tính tự tin, mạnh dạn trong hoạt động học Vậy để nâng cao có kĩ năngnghe, nói, đọc, viết, mạnh dạn trong giao tiếp, việc đầu tiên giáo viên phải giúpcác em biết đọc, biết viết Có đọc được mới viết được, có nghe được mới nóiđược Đọc đúng mới viết đúng Vì vậy để các em phát âm đúng, khi dạy phát âmgiáo viên cần phát âm mẫu vài ba lần một từ nào đó rồi yêu cầu các em quan sátkhẩu hình và lắng nghe cô phát âm sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại (cá nhân,

Trang 10

đồng thanh) Làm sao em nào cũng được đọc Giáo viên theo dõi và sửa lỗi phát

âm cho học sinh Với những âm, tiếng khó khi phát âm giáo viên có thể mô tảbằng cách nêu rõ vị trí của cách đặt lưỡi, vị trí của lưỡi với răng, độ mở củamôi Giáo viên lưu ý cần sử dụng các từ ngữ mô tả dễ hiểu kết hợp với việc chohọc sinh quan sát giáo viên phát âm Việc phát âm được tiến hành với các mức

độ khác nhau: âm, vần, tiếng chứa vần và dấu thanh, từ, câu, bài Từ đó họcsinh phát âm một cách chính xác hơn Để thay đổi không khí và thu hút học sinhhọc tập trong tiết học giáo viên có thể thay đổi hình thức dạy học bằng cách tổchức các trò chơi học tập

Ví dụ : Dạy bài 94: oang, oăng trang 24 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1,tập 2 Để phát huy tính tích cực chủ động trong học tập, cần khuyến khích họcsinh năng khiếu đọc mẫu, sau đó gọi nhiều em đọc lại Nhưng với bài này các

em thường nhầm lẫn giữa oang/ oan, oăng/ oăn; từ ngữ ứng dụng có dấu thanhsắc Nên giáo viên hướng dẫn thật kĩ lưỡng độ mở của môi rồi thực hiện mẫucho các em quan sát Nếu thấy học sinh chưa phát âm đúng, giáo viên phát âm

cả hai vần oang và oan để các em phân biệt độ mở môi vần oan – oang Khi đọcthành thạo vần, tiếp tục cho các em đọc tiếng, từ rồi so sánh hai vần vừa học rút

ra điểm giống nhau và khác nhau của hai vần Cuối tiết học, tổ chức cho các emthi nhận biết vần trong tiếng, từ và đọc lại bằng cách thi tìm tiếng, từ có chứavần vừa học Sang phần luyện tập đọc đoạn ứng dụng lắng nghe các em thườnghay đọc sai tiếng nào thì dừng lại phân tích, hướng dẫn cách đọc ngay như tiếngnắng – năng; thoảng – thoãng; tập - tấp - tấc; Rõ ràng khi được quan sát thực

tế và thực hành đọc nhiều lần các em đọc đúng, rõ ràng hơn

Nghe và nói tiếng Việt có liên quan mật thiết với nhau Có nghe được mớinói được, nghe đúng mới nói đúng Do vậy, giáo viên phải nói rõ ràng, nói đúng,đồng thời phải nói chậm rãi để học sinh dễ tiếp thu và hướng dẫn cách phát âm,

cách nói để học sinh nói theo Khả năng nói tiếng Việt của học sinh được xác

định là khả năng phát âm chuẩn, khả năng sử dụng tiếng từ đúng và phong phútrong khi nói, khi tham gia giao tiếp với người khác Khả năng nói tiếng Việt lànền tảng ban đầu quan trọng nhất để hình thành các kỹ năng khác của mônTiếng Việt Đặc biệt đối với học sinh dân tộc Ê - đê các em nói thế nào viết thế

ấy thì việc tập cho các em nói đúng lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Thực tế trong giảng dạy cho thấy khả năng nói tiếng Việt của các em là rất yếu,nói lẫn lộn giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt Đó là do vốn từ về tiếng Việt của các

em còn quá ít, các em không diễn đạt được khi nói khi giao tiếp, còn rụt rè tronggiao tiếp

Để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc mỗi giáo viên cần quantâm đến kỹ năng dạy phát triển lời nói trong các bài học âm vần cũng như kỹnăng nghe, nói trong tiếng Việt Để thực hiện tốt được nội dung này giáo viêncần dùng tranh ảnh vật thật, điệu bộ, cử chỉ và lời nói tiếng Việt để hướng dẫn,gợi ý trao đổi trực tiếp với học sinh trong quá trình lên lớp Giáo viên cần tổchức cho học sinh thực hành nhiều lần theo mẫu( hỏi - trả lời) hoặc giao tiếptrực tiếp tại lớp bằng các hình thức như: cá nhân nói trước lớp, nói theo cặp, trò

Trang 11

chơi học tập Qua các hoạt động đó tạo điều kiện cho học sinh tập nói tiếng Việtmột cách hứng thú, tự giác

Ví dụ dạy phần luyện nói bài 13: N, M

Giáo viên tổ chức cho các em luyện nói theo hình thức hỏi - trả lời nhưsau:

Lần lượt đưa ra các câu hỏi, nhiệm vụ của các em quan sát bức tranh trang

29 nói lại những hiểu biết của mình

- Chủ đề luyện nói là gì? Thưa cô chủ đề luyện nói hôm nay là ba má, bốmẹ

- Quê em gọi người sinh ra mình là gì ? Quê em gọi người sinh ra em là

bố mẹ, ma mí, ba má

Mỗi địa phương có cách gọi khác nhau Giáo viên chú ý giảng cho họcsinh hiểu rõ cách gọi của từng địa phương cụ thể: Có nơi gọi là bố mẹ, có nơigọi là ba má Còn đối với các em đồng bào thường gọi là ma, mí Tất các cáccách gọi trên đều chỉ người sinh ra chúng ta

- Nhà em có mấy anh em, em là con thứ mấy?

Có nhiều câu trả lời khác nhau

Nhà em có 2 anh em, em và em của em Nhà em có 3 anh em: chị em, em

và em của em Nhà em có 2 chị em: em và em của em

- Em thường làm gì để bố mẹ luôn vui lòng? Để bố mẹ vui lòng em phảingoan ngoãn, vâng lời bố mẹ, chăm học, giúp mẹ những việc vừa sức mình,không nghịch, không đánh nhau,

Căn cứ vào khả năng nói của học sinh giáo viên sửa chữa, uốn nắn kịpthời cách nói, nói phải đủ câu, không nói câu cụt thiếu thành phần, không nóicâu ngược Đồng thời giáo dục các em biết yêu quý bố mẹ - người sinh thành ramình, biết tuyên truyền với mọi người cần thực hiện kế hoạch hóa gia đình tức

là không nên sinh nhiều con Có như vậy mới nuôi con khỏe dạy con ngoan

Cũng có thể tổ chức cho các em luyện nói theo cặp một em hỏi, một emtrả lời Như vậy sẽ tạo tính mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cho các em

Trong giờ dạy, giáo viên chú ý tạo điều kiện cho tất cả các em đều đượctham gia trả lời, giao tiếp tuỳ thuộc vào khả năng của từng đối tượng Và dànhnhiều thời gian tập và hướng dẫn thật kĩ nên hiệu quả nâng cao Mặt khác, việctập nói tiếng Việt cho học sinh phải được thực hiện dưới nhiều hình thức vàphương pháp dạy học khác nhau như: dạy trong tiết dạy tăng cường tập nói tiếngViệt, thông qua trò chơi, nói chuyện với các phương pháp trực quan, phươngpháp thực hành luyện tập theo mẫu, phương pháp giao tiếp, phương pháp đàmthoại Việc phối hợp hệ thống các phương pháp dạy tập nói tiếng Việt giúp các

em dễ hiểu dễ nhớ về nghĩa của từ thông qua các hình ảnh trực quan, nói đúngcấu trúc câu theo mẫu, hạn chế cách nói ngược theo tiếng địa phương Tập chohọc sinh khả năng diễn đạt theo tình huống, tự tin trong học tập, giao tiếp với

Trang 12

bạn bè với thầy cô giáo bằng tiếng Việt Tuy vậy, cần phải có sự linh hoạt sángtạo, không rập khuôn máy móc, mà phải tuỳ theo từng mức độ của đối tượng đểlựa chọn nội dung và phương pháp cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả theocác việc như lựa chọn tiếng, từ để tập nói cho phù hợp Luyện nói theo câu hỏi,câu trả lời có chứa tiếng, từ mới cung cấp cho học sinh Tạo tình huống cho họcsinh đối thoại được giao tiếp trong đó chú ý tạo môi trường giao tiếp học sinhvới học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Bên cạnh đó việc sửa lỗi phát âm cho học sinh không kém phần quantrọng Học sinh phát âm chưa chuẩn thường do nguyên nhân sinh lý, do nhữngkhiếm khuyết nào đó trong bộ máy phát âm Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nêncác em học sinh dân tộc thiểu số thường mắc phải đó là phát âm không chuẩn ởdấu thanh, tiếng có dấu thanh thì phát âm không có dấu thanh, tiếng không dấuthanh lại phát âm có dấu thanh, tiếng có thanh nặng thành tiếng có thanh sắc.Bên cạnh đó do cách phát âm của một bộ phận nhỏ giáo viên phát âm chưachuẩn vẫn còn mang bản sắc của địa phương, phát âm còn lẫn ở một số phụ âm:l/n; ch/tr; s/x; chưa phát âm rung r/s Chính vì vậy để sửa chữa được lỗi phát âmcho học sinh giáo viên cần phải có ý thức rèn luyện cho mình cách phát âmchuẩn vì có phát âm chuẩn thì giáo viên mới có thể nhận ra được lỗi phát âm saicủa học sinh Giáo viên chỉ ra chỗ sai trong phát âm của học sinh có thể so sánhvới phát âm đúng Giáo viên phát âm mẫu thật chuẩn xác, chậm, rõ ràng để họcsinh theo dõi Phát âm chuẩn không để tiếng địa phương ảnh hưởng tới phát âmmẫu của mình Hướng dẫn học sinh phát âm Cho học sinh phát âm nhiều lần

Để thay đổi hình thức học tập giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơihọc tập để rèn cách phát âm cho các em

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh đọc bài Bàn tay mẹ sách giáo khoa TiếngViệt lớp 1, tập 2, trang 55 Giáo viên yêu cầu học sinh lắng nghe bạn đọc, nêulỗi bạn mắc phải khi đọc Cụ thể các em thường đọc sai các từ yêu nhất - yếunhât, nấu cơm – nâu cớm, rám nắng – ram nặng, tã lót - tả lọt Lỗi sai chủ yếu làtiếng có dấu thanh đọc không có dấu thanh, tiếng không dấu thanh đọc có dấuthanh, tiếng có thanh huyền thành tiếng có dấu thanh sắc, tiếng có thanh nặngthành tiếng có thanh sắc Lúc này giáo viên gợi mở hướng dẫn các em phân tíchlại cấu tạo từ, tiếng, hướng dẫn cách mở môi, cao độ của từng dấu thanh rồi phát

âm mẫu hoặc cho học sinh năng khiếu phát âm sau đó yêu cầu học sinh phát âmlại Qua hoạt động này học sinh vừa được luyện phát âm vừa được mở rộngthêm vốn từ qua các từ ngữ mà các bạn tìm và giới thiệu trong nhóm vừa chủđộng tự tin, mạnh dạn Việc sửa lỗi phát âm không chỉ thực hiện trong giờ TiếngViệt mà còn ở tất cả các môn học khác Đối với những học sinh thường xuyênphát âm sai giáo viên quan tâm và sửa chữa kịp thời Việc luyện tập thườngxuyên sẽ tạo kỹ năng bền vững cho học sinh Mặt khác giáo viên thường xuyênkhuyến khích học sinh tự sửa chữa lỗi cho nhau bằng hoạt động thi đua như đôibạn cùng tiến ( thực hiện thông tư 22/2016/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 9năm 2016 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểuhọc ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm

2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ngày đăng: 25/04/2018, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w