tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục kỷ luật.Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấphuyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất
Trang 1II Mục tiêu, nhiêm vụ của đề tài.
III Đối tượng nghiên cứu
IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu
V Phương nghiên cứ
2211141414
Trang 2tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục kỷ luật.
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấphuyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rấtcần thiết
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúpcho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đốitượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của họcsinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCSđặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực
2 Cơ sở thực tiễn:
Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) được sự quan tâmcủa Đảng và nhà nước đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị để nuôi, dạy, ăn, ở tạitrường, điều kiện học tập, thời gian học tập rất thuận lợi Song trong thời gianvừa qua chất lượng học tập vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo, một bộ phậnhọc sinh học xong lớp 9 ở trường PTDTNT huyện không vào được trườngPTDTNT tỉnh đã bỏ học ở nhà làm nông hoặc đi học nghề ngắn hạn tại địaphương hoặc vào trường THPT rồi bỏ học giữa chừng Bởi vậy việc nâng caochất lượng học tập ở trường PTDTNT là vấn đề hết sức nan giải bản thân luôntrăn trở để tìm ra biện pháp Trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh họcyếu:
-
- Những rào cản của chính bản thân các em: Khả năng nói và hiểu tiếngViệt của học sinh dân tộc thiểu số còn yếu nhất là lớp đầu cấp, phần lớn các emcòn thiếu tự tin, nhút nhát, không biết ghi chép, không biết cách sử dụng tài liệu,sách giáo khoa Một phần do các em còn nhỏ, lần đầu tiên phải sống xa gia đình,một phần do chất lượng đào tạo ở một số trường tiểu học vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế
- Môi trường học tập: chưa có sự quan tâm chu đáo, tận tình của giáo viên,thiếu sự đồng cảm của bạn bè, điều kiện học tập chưa đảm bảo
Trang 3Do đặc thù của các trường PTDTNT THCS hầu hết đối tượng học sinh làcon em đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện như: ÊđêGiarai, Tày, Nùng, Mường, Thái… Nên mỗi dân tộc, mỗi địa phương có phong tụctập quán, ngôn ngữ khác nhau Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em cònnhỏ (độ tuồi từ<= 13 tuổi) có không ít em chưa thành thạo tiếng phổ thông Khảnăng tiếp thu của các em còn chậm Các em rất rụt rè trong giao tiếp Hơn nữahiện nay trong xã hội vấn nạn giáo viên đánh đập học sinh vẫn còn xảy ra không
ít và nhiều lý do khác làm cho các em sợ thầy cô, ngại giao tiếp với thầy cô Vìvậy tôi mạnh dạn đưa nội dung giáo dục kỷ luật kỷ luật tích cực đối với học sinhdân tộc thiểu số để toàn thể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dung vào việcgiáo dục kỷ luật cho học sinh DTTS trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
để giúp các em học tốt các môn học, có tinh thần yêu trường, mến bạn,quí thầy
cô và giúp các em luôn luôn cảm thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc”
II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
1 Mục tiêu:
Mục tiêu củađề tài GDKLTC là giúp học sinh DTTS tại trường PTDTNTTHCS Krông Ana phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ vàcác kỹ năng sống cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân, tính năng động vàsáng tạo, hình thành nhân cách học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lênhoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
+ Cung cấp sách báo, tài liệu:
Sách báo, tài liệu là một trong những nguồn cunhg cấp thông tin không thểthiếu, giúp cho việc thay đổi nhận thức của giáo viên Thông qua nguồn thông tinnày, giáo viên tự học hỏi và tích lũy kinh nghiệm giao dục học sinh mà khôngdung hình phạt
+ Tổ chức các lớp tập huấn:
Các lớp tập huần, hội thảo luôn mang lại cho giáo viên những ý tưởng hay.Cán bộ quản lý giáo dục cần tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn để giáo viênnhận thức được mục đích việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực,giúp họ chọn lọc, sáng tạo những hình thức giáo dục phù hợp với đối tượng họcsinh lớp mình
Trang 4+ Xây dựng cơ chế khuyến khích việc thực hiện các biện pháp giáo dụckỷluật tích cực
Nhà trường cần có cơ chế cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp giáodục kỷ luật tích cực Cơ chế này được xây dựng trên cơ sở thống nhất của Hộiđồng sư phạm bao gồm đầy đủ các nội dung như kiểm tra giám sát việc thựchiện, khen thưởng, tôn vinh những giáo viên thực hiện tốt, kỷ luật nghiêm khắcnhững giáo viên vi phạm nội quy Việc nhà trường thực hiện tốt cơ chế này sẽđảm bảo tất cả học sinh để được hưởng lợi ích của biện pháp giáo dục tích cực.+ Tuyên truyền tới phụ huynh:
+ Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKTTC thông qua các buổihọp phụ huynh, các buổi hội thảo, tọa đàm…
+ Mời phụ huynh tham gia vào quá trình thực hiện Ví dụ: Lấy ý kiến củaphụ huynh đóng góp cho nội quy lớp/ trường học để phụ huynh năm được vàphối hợp với nhà trường trong việc theodõi, giám sát thực hiện
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp tổchức
+ Tuyên truyền bằng tờ rơi bằng cách gửi trực tiếp cho phị huynh, bằng áppíc treo ở các trung giáo dục cộng đồng hay các nhà văn hóa của các thôn buôn
Đối với giáo viên:
Khi GDKLTC cho học sinh giáo viên cần thực hiện các nội dung sau:+ Dạy trẻ tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách nhiệmđối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình, biết tôn trọng mình và tôntrọng người khác Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và cócác hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cảcuộc đời
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong họctập và cuộc sống của các em
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinhkhông cảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ramối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh , học sinh và học sinh, bố mẹ
và con cái
Đối với Phụ huynh:
Tìm hiểu về GDKTTC thông qua các buổi họp phụ huynh, các buổi hộithảo, tọa đàm…
Tham gia ý kiến đóng góp cho nội quy lớp, trường học để phụ huynh nămđược và phối hợp với nhà trường trong việc theo dõi, giám sát thực hiện
Trang 5Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp
tổ chức
III Đối tượng nghiên cứu:
Giáo dục kỷ luật tích cực cho học sinh dân tộc thiểu số trường PTDTNTTHCS HuyệnKrông Ana từ năm học 2015-2017
IV Giới hạn của đề tài:
Học sinh trường PTDT nội trú Krông Ana, thực hiện áp dụng từ năm học 2015 2017
-V Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện bằng cách đem lý thuyết áp dụng vào thực tế, cóđiều chỉnh bổ sung và từ thực tế rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thựchiện
Quá trình nghiên cứu, thực hiện sử dụng các phương pháp sau:
Viết thành chuyên đề để cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh thảoluận, bàn bạc và góp ý cụ thể từng nội dung.Tổ chức chuyên đề phổ biến chotoàn thể cán bộ, giáo viên nắm vững nội dung để thực hiện
Qua quá trình triển khai thực hiện có lấy ý kiến đóng góp của cán bộ giáoviên, phụ huynh và học sinh để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực
là mầm mống của các hiện tượng tiêu cực gây rối loạn trật tự xã hội tại các vùngmiền núi
1 Kỷ luật và giáo dục kỷ luật:
Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà conngười phải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật làchìa khóa vạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộcsống
Trang 6Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “trừng phạt” đặc biệt trừng phạt thân thể Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thựccủa từ “kỷ luật” đối với học sinh.
Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinhđược coi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển Nhiệm vụ quantrọng của chúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tựkiểm soát được hành vi, thái độ, trên cơ sở các quy định, quy ước đã được xâydựng, thỏa thuận giữa người dạy và người học Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên làbạn, là anh, là chị, người mẹ, người cha – chỉ cho các em nhận ra lỗi của mình để
tự điều chỉnh Việc tự nhận ra lỗi để điều chỉnh bản thân là cơ sở cho sự pháttriển hoàn thiện nhân cách Kỷ luật tích cực mang tính xây dựng và là biện pháphiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp giải quyết các tình huống mang tính thách thứctrong lớp học và trong nhà trường Giáo dục kỷ luật tích cực hỗ trợ việc dạy học
và giáo dục các em học sinh DTTS Giáo dục kỷ luật tích cực còn xây dựng sự tựtin của học sinh và long ham thích học tập cho các em
Giáo dục kỷ luật tích cực là để phát triển hành vi cho các em, cụ thể là:
- Giáo dục học sinh tự kiểm soát và tự tin để biết cách thực hiện các hành
vi mong đợi.
- Dạy trẻ biết cách tự kiềm chế bản thân và chungsống hài hòa với người
khác.
- Giáo dục kỷ luật tích cực là sự động viên khích lệ thực hiện hành vi, xây
dựng sự tự tin, lòng tự trọng và tính trách nhiệm, giúp các em phát triển nhân cách, chứ không phải làm cho các em bị đớn đau.
Giáo dục kỷ luật tích cực tôn trọng trẻ và không mang tính bạo lực Đây làcách tiếp cận mang tính giáo dục, giúp trẻ thành đạt, cung cấp cho các em thôngtin các em cần để học và hỗ trợ sự phát triển của các em
Giáo dục kỷ luật tích cực không phải là:
- Sự buông thả, để cho học sinh muốn làm gì thì làm.
- Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
- Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho
việc tát, đánh hay sỉ nhục.
Trang 7II Thực trạng
1 Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tảmột số nội dung dưới đây:
Sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ (học tập) đặt ra chưa cao Các emthường bịthuhút vào những thuộc tính rực rỡ, màu sắc mới lạ ở bên ngoài đốitượng tri giác, do vậy các em khó phân biệt được đâu là thuộc tính bản chất, đâu
là thuộc tính không bản chất
Khả năng tư duy hình học, vật lí của các em còn yếu Các em có thể nhận ratừng dấu hiệu, thuộc tính đơn lẻ của sự vật, hiện tượng Song quá trình tổng hợpkhái quát để đi đến nhận xét chung lại hạn chế, khả năng kết hợp các giác quanyếu Các em có thể nhận diện nhanh chóng các hình vẽ do giáo viên vẽ trênbảng, song để các em tự vẽ lại thì rất khó khăn, nhất là phải sử dụng dụng cụ họctập như Compa, thước kẻ
Tính kế hoạch và sự kiên trì quan sát trong quá trình học tập hạn chế Các emkhông thể tập trung được lâu Nếu giờ dạy thiếu đồ dung dạy học trực quan,thiếu ngôn ngữ dân tộc để giải thích, giáo viên (GV) nói nhanh không nhấn mạnhnội dung quan trọng cần giáo dục (GD), hoặc nói quá to… thì sự chán nản củacác em đến rất nhanh, khi đó các em không quan sát, không nói chuyện, khôngphá phách như học sinh người kinh, các em vẫn ngồi yên, song trong đầu khônghoạt động Một giáo viên tâm sự “Giáo viên chỉ nói to hơn bình thường một chút
là học sinh nghĩ là chúng tôi mắng các em, vì vậy chúng tôi phải thận trọng hơnkhi giáo dục kỷ luật”
1.2 Đặc điểm nhận thức ngôn ngữ tiếng Việt
Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, là phương tiện để thực hiện quá trìnhnhận thức của bất cứ dân tộc nào trẻ em sinh ra đã nói tiếng mẹ đẻ Các em giao
Trang 8tiếp bằng tiếng mẹ đẻ Khi đến trường các em học bằng tiếng Việt, các em đã gặpkhó khăn về ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp.
Qua thảo luận nhóm với học sinh, qua xem bài kiểm tra của các em, xem
vỡ ghi chép hàng ngày của các em và quan sát các em giao tiếp với nhau… Từ
đó có thể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
- Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
- Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
- Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
- Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dântộc nhưng không phải là ngoại ngữ Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếpnhận với trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi Tiếng Việt và các tiếngdân tộc cũng có nhiều điểm gần gũi về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Vấn đề quantrọng là giáo viên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại
và khai thác tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹkhó khăn hay quá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việtđều là không đúng với khoa học dạy tiếng
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng tronghiện thực khách quan mà trước đó chưa biết Học sinh DTTS có các đặc điểm tưduy riêng biệt sau:
Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,ngại động não, khi gặp phải vấn đề khó khăn là các em bỏ qua, nên dẫn tới khảnăng tự học hạn chế Vì vậy khi gặp vấn đề này thì trong quá trình giáo dục kỷluật giáo viên cần lưu ý
Tư duy của học sinh DTTS còn thể hiện kém nhanh nhẹn, kém linh hoạt
và kém mềm dẻo Mặt khác do hạn chế về Tiếng Việt nên ngại tranh luận, ngạitrình bày các vấn đề khó nói, sợ bị các bạn cười
Học sinh DTTS tư duy trực quan – hình ảnh tốt, tư duy trừu tượng logicyếu
Học sinh DTTS thường tồn tại kiểu tư duy kinh nghiệm; yếu về tư duy líluận, tư duy sáng tạo, tư duy khoa học
Những đặc điểm về tư duy chi phối toàn bộ quá trình nhận thức của các
em, tác động mạnh mẽ tới các thuộc tính tâm lí và trạng thái tâm lí, trong giáodục giáo viên cần giúp các em tư duy lí luận, tư duy khoa học thong qua các hoạtđộng
1.4 Đặc điểm về trí nhớ
Trang 9Học sinh DTTS có một số đặc điểm về ghi nhớ sau:
Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế, các em ghi nhớ một cách rời rạc, thiếulogic với nhau Để khắc phục nhược điểm này GV phải kiên trì, mỗi vấn đề giáodục yêu cầu các em nhớ mình phải làm cái gì, dựa vào đâu để làm được, làm thếnào để không vi phạm kỷ luật
Khả năng tái hiện không tốt Biểu hiện là do các em trình bày lại vấn đề
đã các em đã đọc là rất khó khăn Vậy để giúp học sinh tái hiện nhanh chónggiáo viên cần hướng dẫn học sinh có thói quen truy bài, trao đổi bài thườngxuyên, phát biểu trước đám đông…
1.5 Đặc điểm về tình cảm:
Học sinh DTTS có những đặc điểm về tình cảm như sau:
Tình cảm của các em là chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không cóhiện tượng quanh co, lèo lái hoặc khéo léo che đậy những tình cảm của mình.Tình cảm của các em rất thầm kín
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, làng bản, quê hương Hầu hếtcác em không muốn xa gia đình Khi phải đi học ở trường PTDTNT THCS các
em rất nhớ nhà, nhiều khi khóc cả tuần
Tình cảm bạn bè của các em học sinh DTTS rất độc đáo, thân nhau nhưanh em, bảo vệ nhau đến cùng Bạn nghỉ học cũng phải nghỉ học theo
Các em rất ưa tình cảm và giải quyết mọi vấn đề bằng tình cảm Một emgái dân tộc nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cânđối Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên,tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong
đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục
1.6 Đặc điểm về tính cách:
Học sinh THCS người DTTS có một số đặc điểm riêng:
Các em sống hồn nhiên, giản di, thật thà, chất phác
Do hạn chế về Tiếng Việt nên các em rất rụt rè, rất ít nói, hay tự ti
Các em đã bắt đầu có lòng tự trọng, có tính bảo thủ và đặc biệt là hay tự ái vàhay tủi thân
Các em sống theo kiểu phóng khóang, tự do, không thích gò bó, chặt chẽ
Trong giao tiếp, các em không biết nói năng mềm dẻo, tế nhị Đại đa số nói trốngkhông, cộc lốc, không cần thưa gửi, một phần do ngôn ngữ bị hạn chế
1.7 Đặc điểm về nhu cầu:
Trang 10Học sinh DTTS từ khi chưa đi học đến khi đi học là cả một sự đấu tranhbên trong của cá nhân Ở nhà các em hoạt động chủ yếu là vui chơi Đối với họcsinh DTTS đến trường, đi học là sự thay đổi căn bản của hoạt động chủ đạo.Thời kỳ này tâm lý học sinh có sự chuyển biến, ý thức vì mình là học sinh Dovậy, duy trì được nhu cầu thích học, khẳng định được vị trí của mới của ngườihọc là một trong những yêu cầu sư phạm cần thiết để giáo dục học sinh.
Ý thức tập thể, kỷ luật học tập, phải trở thành nếp sống mới, thói quenmới và dần được khắc sâu trong học sinh Đồng thời với yêu cầu trên là hìnhthành nhu cầu Tiếng Việt cho học sinh DTTS Tuy nhiên, đối với học sinhDTTS, tiếng mẹ đẻ đã có chiều sâu nhất định, do vậy không thể hạn chế, cưỡng
ép, xóa bỏ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ trong học tập
Quan trọng là hình thành cho học sinh một cách nhìn mới về giá trị củangôn ngữ công cụ và ngôn ngữ mẹ đẻ Việc hạn chế, cưỡng ép học sinh bỏ thóiquen sử dụng tiếng mẹ đẻ là một hành vi trái với văn hóa, đồng thời với khoa họcdạy tiếng Tiếng mẹ đẻ của học sinh không phải là hòn đá chặn đường mà chính
là viên đá lát đường dẫn các em nhanh chóng đến với ngôn ngữ thứ hai và đếnvới chân trời khoa học Vấn đề quan trọng ở chổ là chúng ta phải nắm rất chắcbản chất và các bước đi của giáo dục song ngữ để vận dụng các hoạt động dạyhọc trong nhà trường, vì vậy để giáo dục lỷ luật có hiệu quả giáo viên cần phảibiết tiếng mẹ đẻ của dân tộc đó
Những kích thích bên ngoài không xuất phát từ chính đối tượng của hoạtđộng học tập có vai trò quan trọng vì đáp ứng nhu cầu đang có ở học sinh Nhucầu được khen, chiếm được uy tín của bạn bè, nhu cầu được chơi, hoạt độngngoại khóa… đều có tác dụng tích cực đối với hoạt động giáo dục của học sinhDTTS Do vậy việc mở rộng phạm vi nhu cầu như: Tổ chức các hoạt động họctập thể, lao động, vui chơi, giao lưu, hoạt đ6ọng xã hộ, văn hóa thể thao… là tiền
đề sinh ra nhu cầu mới, nhu cầu nhận thức Tổ chức giáo dục theo các hình thứckhác nhau như giáo dục tự học, giáo dục học ngoài giờ chính khóa, giáo dục quatình huống, giáo dục qua hoạt động ngoại khóa đều có tác dụng bổ sung tri thức,
mở ra những nhu cầu mới cho học sinh
Trong một môi trường mới, trường PTDTNT THCS, hoạt động của bảnthân học sinh là động lực trở thành thành viên xã hội, phát triển nhân cách Cácdạng hoạt động như: Học tập, vui chơi, hoạt động xã hội …đều được thong quagiao lưu quan hệ với người khác (thầy- trò, bạn bè, gia đình, xã hội…) Trong dónhu cầu khẳng định trong học tập và rèn luyện ngày càng chiếm ưu thế và là đặcđiểm quan trọng của học sinh Đồng thời, nhu cầu của học sinh ở cuối cấp hướngvào sự thành đạt, nhu cầu học nghề, nhu cầu tình bạn, tình yêu… so với học sinhngười kinh có sự đa dạng và phân hóa về mức độ và tính chất Sự phát triển vềnhu cầu của học sinh đang diễn ra đúng quy luật chung: Từ những quá trình vàchức năng trực tiếp thành gián tiếp, từ không chủ định thành chủ định, từ chưa có
ý thức đến có ý thức Quá trình hình thành nhu cầu, động cơ học tập không tách
Trang 11rời phương pháp, biện pháp tổ chức học tập Do đó, mọi hoạt động của học sinhDTTS, dưới sự chí đạo của thầy phải xác định học sinh là chủ thể của hoạt độnggiáo dục.
Nếu như trước khi đến trường PTDTNT THCS, học sinh chưa có nhucầu, động cơ học tập rõ rệt thì quá trình hình thành nhu cầu của học sinh trongtrường PTDTNT THCS có nội dung mới: Nhu cầu giao tiếp, nhu cầu hoạt động
xã hội… có đặc điểm và tính chất riêng Như vậy khi thực hiện các biện pháp thuhút học sinh vào hoạt động tập thể, làm cho học sinh nào cũng nhìn thấy rõ kếtquả học tập của mình thì các em yên tâm học tập hơn
Từ những đặc điểm nhu cầu của học sinh DTTS, có thể nhận xét như sau:Nhu cầu học tập của học sinh DTTS đã đáp ứng và phát triển nhờ vàogiải pháp xây dựng trường PTDTNT THCS Đây là biện pháp có tính chiến lượcquan trọng xét về khía cạnh nhu cầu học tập Vấn đề quan trọng tiếp theo là tổchức học tập, giáo dục có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thúcủa học sinh Hình thành và phát triển nhu cầu cho học sinh gắn liền với việc cảitiến nội dung phương pháp, các hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng caokết quả học tập của học sinh thông qua các đa dạng học tập có hiệu quả là hướng
đi quan trọng của lực lượng giáo dục Nhu cầu giao tiếp của học sinh DTTS phụthuộc vào khả năng ngôn ngữ công cụ Do vậy, trang bị cho học sinh ngôn ngữphổ thông là cung cấp cho các em phương tiện giao tiếp cục kỳ quan trọng, để
mở rộng phạm vi nhu cầu, hiệu quả hóa những nhu cầu đặc trưng lứa tuổi vànhững nét riêng trong nhu cầu học sinh DTTS hiện nay
1.8 Đặc điểm về giao tiếp:
Sự hình thành kiểu quan hệ mới: Học sinh người DTTS khi học hết bậctiểu học tiếp tục học lên các trường THCS hoặc vào tại trường PTDTNT THCScấp huyện, các em có nhu cầu mở rộng mối quan hệ và thực sự có nhiều mốiquan hệ hình thành đối với các em
Khi đến trường PTDTNT THCS hoặc trường THCS nhiều mối quan hệmới nảy sinh: Quan hệ với thầy cô chủ nhiệm, quan hệ với thầy cô bộ môn, quan
hệ với cô cấp dưỡng, bác bảo vệ, quan hệ với bạn bè trong từ các địa phươngkhác đến; quan hệ với các bạn cùng phòng trong ký túc xá… các quan hệ này làhoàn toàn mới lạ đối với các em Bên cạnh đó các em lại xa gia đình sống tự lập,đây thực sự là thách thức đối với các em Các em sẽ phải giải quyết các mối quan
hệ này như thế nào? Đặc biệt là những em học lớp đầu cấp.đến trường PTDTNTTHCS thực sự là môi trường mới và hoàn toàn xa lạ đối với các em, Thực tế chothấy chỉ có một hành vi cử chỉ không thân thiện của giáo viên là các em có thể
bỏ học Một em gái dân tộc ÊĐê nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn vàkhông muốn học nữa”