Hợp tác kinh tế trong ASEAN đã giúp nền kinh tế của các quốc gia thành viên tăng trưởng mạnh, phát triển tiềm năng và tạo dựng được vị thế trên trường quốc tế.. Hiến chương Liên hợp quốc
Trang 1Mục lục
A, phần mở đầu……….2
B, Phần nội dung……… ………3
I,Cộng đồng kinh tế ASEAN………3
1,Khái quát về tổ chức quốc tế khu vực và vai trò……….3
2,Khái quát về ASEAN……… 3
2.1,Sự thành lập……….3
2.2,Bản tuyên bố ASEAN và sự thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN………4
3,Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)………4
3.1,Mục đích thành lập………5
3.2,Mục tiêu………5
3.3,Tác động và vai trò của AEC đến các nước thành viên………6
II,Ảnh hưởng của AEC đến phát triển thương mại ở Việt Nam………7
1,Khái quát về sự gia nhập AEC của Việt Nam……… 7
2,Ảnh hưởng tích cực……….8
3,Ảnh hưởng tiêu cực………11
4,Cơ hội và thách thức……… 12
5,Giải pháp cho Việt Nam………14
C,Kết luận………16
Trang 2Lời mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế phát triển nổi bật hiện nay trên thế giới với sự tồn tại của hàng loạt các tổ chức,các liên kết khu vực liên kết giữa các quốc gia : WTO,ASEAN,EU, thông qua các Hiệp định được ký kết như các FTA
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN) đang khẳng định là một trong những hình mẫu hợp tác khu vực thành công trên thế giới,đặc biệt trên phương diện kinh tế được thể hiện thông qua liên kết nội khối : khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA Hợp tác kinh tế trong ASEAN đã giúp nền kinh tế của các quốc gia thành viên tăng trưởng mạnh, phát triển tiềm năng
và tạo dựng được vị thế trên trường quốc tế
Sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN ( AEC ) là sự tiếp nối của AFTA nhằm tiến tới một mức độ hội nhập kinh tế cao hơn trong sự phát triển không ngừng của khối Các nước thành viên
sẽ có được những lợi ích như tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ hơn, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh Tuy nhiên,cũng chính AEC tạo ra cho các quốc gia những thách thức trong việc hội nhập như vấn đề năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng,đặc biệt là trong thương mại hàng hóa khi mà thuế và các rào cản phi thuế quan được loại bỏ
Đối với Việt Nam,Đảng ta xác định ASEAN là đối tác chiến lược – một trong những trụ cột quan trọng trong tiến trình thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế Bên cạnh đó, ASEAN cũng là một trong các đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và là động lực quan trọng giúp nền kinh tế nước ta duy trì tốc
độ tăng trưởng và xuất khẩu trong nhiều năm qua Việc Việt Nam tham gia AEC đã tạo điều kiện cho nền kinh tế thương mại của ta được hội nhập và phát triển cùng khu vực Thế nhưng, việc tham gia này sẽ đem lại cho nền kinh tế thương mại nước ta những tác động mạnh mẽ
Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm 3 đã chọn đề tài : “ Cộng đồng kinh tế ASEAN ( AEC ) và những ảnh hưởng đến phát triển thương mại ở Việt Nam “ làm đề tài thảo luận của nhóm nhằm nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị giúp Việt Nam có thể hội nhập và phát triển toàn diện hơn
Trang 3
Nội dung
I Cộng đồng kinh tế ASEAN ( AEC)
1 Khái quát về tổ chức quốc tế khu vực và vai trò của tổ chức quốc tế khu vực nói chung.
Tổ chức quốc tế là Tổ chức bao gồm các thành viên thuộc hai hoặc nhiều bên quốc tịch hợp thành, có chung tôn chỉ mục đích hoạt động, có cơ quan, bộ máy điều hành chung, có trụ sở và quy chế pháp luật chung để hoạt động Tổ chức quốc tế có thể là tổ chức của các quốc gia có chủ quyền như Đại hội đồng Liên hợp quốc và các tổ chức của Liên hợp quốc, hoặc là tổ chức của các đảng phái chính trị xã hội như tổ chức Quốc tế cộng sản hoặc tổ chức nghề nghiệp như Tổ chức các nhà báo quốc tế "OIJ", hoặc tổ chức tôn giáo như Phật giáo quốc tế, Hồi giáo, Thiên chúa giáo
Tổ chức quốc tế khu vực là tổ chức quốc tế của các quốc gia ở cùng một khu vực, được thành lập trong các lĩnh vực khác nhau: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học - kĩ thuật, vv Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, không ngăn cản việc thành lập các tổ chức quốc tế khu
vực nhằm phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các nước kể cả các nước có chế
độ xã hội khác nhau, vì hoà bình và phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước và của cả khu vực.
Được công nhận là hợp pháp nếu mục đích, tôn chỉ và hoạt động của tổ chức phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Trong những năm gần đây, xu hướng thành lập các tổ chức quốc tế khu vực có xu hướng ngày càng phát triển, ví dụ Hiệp hội các Nước Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Châu Âu (EU), Liên minh Châu Phi (AU), Tổ chức các Nước Châu Mĩ (OAS),vv
Các tổ chức quốc tế khu vực có vai trò rât quan trọng trong việc duy trì an ninh khu vực, góp phần vào công cuộc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, tạo tiền đề vững chắc để tham gia hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, các tổ chức quốc tế khu vực còn gặp phải nhiều khó khăn nhất định, ảnh hưởng tới hiệu quả của các tổ chức này trong công cuộc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Vì vậy, trước nhu cầu của bối cảnh hiện nay, các tổ chức quốc tế khu vực cần tiến hành những biện pháp cần thiết để hoạt động của các tổ chức này ngày càng hiệu quả
2 Khái quát về ASEAN
2.1 Sự thành lập
*Bối cảnh ra đời:
Bối cảnh khu vực:
Sau khi dành được độc lập, nhiều nước trong khu vực cần có sự hợp tác cùng nhau trong cùng phát triển
Muốn hạn chế chế ảnh hưởng của các cường quốc ngoài đối với khu vực,nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ ngày càng tỏ rõ ko tránh khỏi thất bại cuối cùng
Trang 4 Bối cảnh quốc tế:
Trên thế giới xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác mang tính khu vực: Khối thị trường chung châu Âu(EEC)
Sự cần thiết ra đời:
Gần gũi về mặt địa lý
Trình độ phát triển tương đối đồng đều
Sự tương đồng cao trên nhiều lĩnh vực
*Lộ trình hợp tác, liên kết khu vực ĐNA:
- Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội Đông Nam Á, thường được gọi tắt là ASA ASA là một liên minh thành lập năm 1961 gồm ba nước Philippines, Malaysia và Thái Lan
- Năm 1963, MAPHILINDO gồm 3 nước hợp tác là Malai, Phillip và Indo
- Tháng 8 – 1967, “Hiệp hội các nước Đông Nam á” (ASEAN) thành lập tại BăngCôc (Thái Lan)gồm các nước: Indonexia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan, Philippin
- Năm 1984 ASEAN kết nạp Bru-nây ngay sau khi nước này được độc lập
- Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN
- 1997 Mi-an-ma và Lào gia nhập ASEAN
- Căm-pu-chia được kết nạp vào ASEAN tại Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 1999, hoàn tất mục tiêu của ASEAN trở thành một tổ chức khu vực với đầy đủ 10 quốc gia thành viên Đông Nam Á
2.2 Bản tuyên bố Asean và sự thành lập cộng đồng kinh tế Asean (AEC)
Tầm nhìn ASEAN 2020, được thông qua 12/1997, Các nhà lãnh đạo ASEAN đã định hướng ASEAN sẽ hình thành một Cộng đồng, trong đó sẽ tạo ra một Khu vực Kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển thông thoáng, vốn được lưu chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và
Ý tưởng đó được khẳng định lại tại HNCC ASEAN 9 (Bali, In-đô-nê-xia, tháng 10/2003), thể hiện trong Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II) Theo đó, ASEAN nhất trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN liên kết, tự cường vào năm 2020 với 3 trụ cột chính là hợp tác chính trị - an ninh (Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC), hợp tác kinh tế (Cộng đồng Kinh tế ASEAN – AEC) và hợp tác văn hoá xã hội (Cộng đồng Văn hoá Xã hội ASEAN – ASCC) Quyết định xây dựng AEC vào năm 2020 trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II) ghi rõ: tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng
và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế đồng đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh
Để đẩy nhanh các nỗ lực thực hiện mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tại Cebu, Phi-líp-pin, tháng 1/2007 đã quyết định rút ngắn thời hạn hình
Trang 5thành Cộng đồng, trong đó có Cộng đồng Kinh tế, từ 2020 xuống 2015 Hội nghị cũng thông
qua Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN trong dịp này Sáng 22-11, thay
mặt các quốc gia thành viên ASEAN, Thủ tướng Malaysia - nước chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEAN lần 27 – Najib Razak đã tuyên bố thành lập Cộng đồng chung ASEAN vào ngày 31-12 năm 2015 thông qua lễ ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập Cộng đồng ASEAN 2015
3, Cộng đồng kinh tế ASEAN
3.1 Mục đích thành lập
Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập là để thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 3 Cộng đồng kinh tế ASEAN 2020", nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lệch kinh tế-xã hội được giảm bớt vào năm 2020 Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010) - Chương trình Hành động Vientian đã xác định
rõ hơn mục đích của AEC là: tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN
3.2 Mục tiêu của cộng đồng kinh tế ASEAN
+ Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, thông qua:
Tự do lưu chuyển hàng hoá
Tự do lưu chuyển dịch vụ
Tự do lưu chuyển đầu tư
Tự do lưu chuyển vốn
Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
Lĩnh vực hội nhập ưu tiên
Thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp
+ Một khu vực kinh tế cạnh tranh, thông qua:
Các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh
Bảo hộ người tiêu dùng
Quyền sở hữu trí tuệ
Trang 6 Phát triển cơ sở hạ tầng
Thuế quan
Thương mại điện tử
+ Phát triển kinh tế cân bằng, thông qua:
Các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN
+ Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thông qua:
Tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác kinh tế
Nâng cao năng lực tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu
3.3 Tác động và vai trò của AEC đến các nước thành viên
Với mục tiêu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế công bằng trong khu vực, AEC sẽ tạo ra một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu Do đó, lợi ích mà các thành viên có được khi AEC được hình thành là tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ hơn, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh Đặc biệt, AEC chú trọng đến mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước, cũng là lĩnh vực mà Việt Nam hết sức quan tâm a,Tác động tích cực (AEC tạo động lực phát triển)
AEC mở ra một khu vực thị trường chung rộng lớn: với gần 100% hàng hóa được tự
do lưu chuyển trong nội khối, AEC tạo ra một khu vực thị trường hàng hóa chung giữa các nước ASEAN, mở ra cơ hội làm ăn kinh doanh lớn cho các doanh nghiệp trong khu vực;
AEC mở ra cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào các nước thành viên: môi trường kinh doanh được mở rộng theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn sẽ là điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài không những từ các nước ASEAN mà cả từ các nước ngoại khối, đặc biệt là các nước đối tác FTA của ASEAN vào các nước thành viên để tham gia vào chuỗi giá trị khu vực;
Trang 7 AEC tạo ra sức ép, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vào các nước thành viên: tham gia vào một sân chơi chung và chịu áp lực cạnh tranh từ các đối tác khu vực cả về trình độ quản lý, công nghệ và nhân lực sẽ buộc các doanh nghiệp những nước thành viên đang phát triển phải tự cải tổ, thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển
AEC tạo ra khí thế và động lực cho doanh nghiệp: Điển hình như Việt Nam với tinh thần chuẩn bị cho việc hình thành AEC vào cuối năm 2015 và những trông đợi về một khu vực thị trường chung năng động với nhiều cơ hội mở ra, các doanh nghiệp Việt Nam dường như đã được thức tỉnh để chuẩn bị tư thế và hành tranh cho tiến trình hội nhập mạnh mẽ sắp tới
b,Tác động tiêu cực
Tạo sức ép cạnh tranh từ hàng hóa từ các nước ASEAN: với cơ cấu sản phẩm tương đối giống nhau ở cả 10 nước ASEAN, việc mở cửa thị trường sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn được bảo hộ cao từ trước tới nay Trong tương lai, khi các mục tiêu AEC được hoàn tất, những sức ép từ các khía cạnh khác sẽ xuất hiện, thách thức vì vậy sẽ mở rộng ra các vấn đề khác Thách thức về dịch vụ: Nếu mục tiêu tự do lưu chuyển dịch vụ trong AEC được hiện thực hóa, các doanh nghiệp các nước thành viên trong lĩnh vực dịch vụ chắc chắn sẽ bị đặt trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn nhiều
Thách thức về lao động: Khi AEC hoàn tất mục tiêu tự do lưu chuyển lao động, nếu không có
sự chuẩn bị đầy đủ, lao động các nước đang phát triển tay nghề còn kém, thiếu các kỹ năng cần thiết (ngoại ngữ, tính chuyên nghiệp…) có thể sẽ gặp khó khăn lớn
II, Ảnh hưởng của AEC đến phát triển thương mại ở Việt Nam
1, Khái quát về sự gia nhập AEC của Việt Nam
Trang 8Là thành viên tích cực của ASEAN, Việt Nam đã và đã nỗ lực chuẩn bị gia nhập AEC Theo cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong CEPT-ATIGA, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế về 0% cho tất cả các mặt hàng trao đổi trong ASEAN (ngoại trừ các mặt hàng trong Danh mục loại trừ chung) với lộ trình cho hầu hết các dòng thuế là cho tới năm 2015 và 7% dòng thuế còn lại cho tới năm 2018 Hải quan điện tử là một nội dung quan trọng đang được thực hiện nhằm các mục tiêu trên Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam về cơ bản đã đạt được các mục tiêu như rút ngắn thời gian thông quan, và giảm các yêu cầu về các giấy tờ kê khai Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình Một cửa quốc gia (Vietnam's National Single Window - VNSW)
Bên cạnh các nội dung trên, Việt Nam cũng đã nỗ lực đơn giản hoá hệ thống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm Các nỗ lực này thể hiện qua
hệ thống eCoSys (hệ thống xin cấp C/O qua mạng) cũng như việc cấp phép nhập khẩu tự động Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu
tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các
Để thực hiện trụ cột 2 của AEC, Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù hợp với các cam kết trong hiệp định khung ASEAN về dịch vụ(AFAS) cũng như GATS Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, e-ASEAN và hàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và Thái Lan
Cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Thị trường lúc đó sẽ không còn là 90 triệu dân Việt Nam mà là 600 triệu dân ASEAN
2.Ảnh hưởng tích cực
- Sau khi hình thành vào cuối năm nay, AEC cơ bản sẽ trở thành một thị trường chung gồm khoảng 600 triệu người tiêu dùng với tổng GDP gần 3.000 tỷ USD, một không gian sản xuất
Trang 9thống nhất, giúp phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN Hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ
và lao động có tay nghề sẽ được tự do lưu chuyển trong ASEAN mà không chịu bất cứ hàng rào hay sự phân biệt đối xử nào giữa các thành viên
- Việt Nam sẽ có cơ hội dễ dàng tiếp cận thị trường trong và ngoài khu vực, qua đó mở rộng thị trường, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá đầu vào nhập khẩu,
từ đó, góp phần cải cách quản lý, dịch chuyển cơ cấu kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Một trong những trụ cột trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC là hình thành thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất Mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ
sở sản xuất thống nhất đang được ASEAN thúc đẩy mạnh bao gồm 5 yếu tố cơ bản: (i) Tự do lưu chuyển hàng hóa; (ii) Tự do lưu chuyển dịch vụ, (iii) Tự do lưu chuyển đầu tư, (iv) Tự do lưu chuyển vốn, (v) Tự do lưu chuyển lao động có kỹ năng Năm yếu tố này sẽ là những động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng kim ngạch XK của Việt Nam với các nước ASEAN cũng như với
Từ trước tới nay, ASEAN luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam Tính đến 9 tháng đầu năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với thị trường ASEAN đạt 31,3 tỷ USD Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa sang khu vực thị trường ASEAN đạt trị giá 13,7 tỷ USD và chiếm 11,4% kim ngạch xuất khẩu của cả nước ra thế giới Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu xấp xỉ 17,6 tỷ USD hàng hóa
có xuất xứ từ các nước ASEAN, chiếm 14,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước từ tất cả các thị trường Tính đến tháng 9 năm 2015, ASEAN đang là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu và là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam
- Việt Nam sẽ có cơ hội tăng cường thu hút FDI cũng như mở rộng cơ hội đầu tư sang các nước ASEAN và cơ hội kinh doanh từ bên ngoài; tiếp cận các nguồn hỗ trợ về khoa học-công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán
Tính đến hết tháng 10 năm 2015, ASEAN có 2.629 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 56,55 tỷ USD, bình quân 1 dự án là 21,51 triệu USD/dự án cao hơn so với bình quân đầu tư 1 dự án nước ngoài đầu tư tại Việt Nam là 13,9 triệu USD/dự án
Số liệu thống kê cho thấy ASEAN luôn là đối tác thương mại hàng hóa lớn của Việt Nam, với tốc độ tăng thương mại song phương bình quân đạt 12,3%/năm trong giai đoạn
1996-2006 và 8,1%/năm giai đoạn 2007-2016
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – ASEAN tăng gấp 7 lần sau 20 năm trở thành viên của khối này Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN năm 2016 đạt 41,49 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 11,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước
Trang 10Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – ASEAN giai đoạn 1996-2016
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trong đó, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang các nước ASEAN trong năm 2016 đạt gần 17,45
tỷ USD, giảm 4,4% so với năm 2015 So với thời điểm gia nhập cộng đồng này cách đây 20 năm, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN năm 2016 tăng 6,8 lần với tốc độ tăng bình quân 10% năm
Nhập khẩu hàng hóa xuất xứ ASEAN năm 2016 đạt 24,04 tỷ USD, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2015 và tăng 7,2 lần so với năm 1996 Sau 20 năm gia nhập, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa xuất xứ từ ASEAN đạt tốc tộ tăng 10,4% mỗi năm
Cán cân thương mại hàng hóa luôn nghiêng về thâm hụt với các nước ASEAN và trong suốt 20 năm gia nhập, Việt Nam chưa từng đạt thặng dư thương mại với khối này Năm 1996 thời điểm gia nhập ASEAN Việt Nam thâm hụt với khối này là 745 triệu USD, thì đến năm 2016 thâm hụt 6,59 tỷ USD
- Tham gia AEC sẽ tác động đến việc thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo chiều hướng tích cực ASEAN là thị trường chung có qui mô lớn Thời gian qua, cơ cấu XK của ViệtNam sang ASEAN đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực, được nâng cao cả về chất lượng và giá trị Ngoài những mặt hàng nông sản và nguyên liệu có hàm lượng chế tác thấp, Việt Namđã xuất khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm với giá trị cao và ổn định
Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi lớn nhờ phát huy hiệu quả từ quy mô để tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, dẫn tới giá cả hàng hóa cạnh tranh Điều mong đợi hơn cả là việc AEC có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp ASEAN, đóng góp vào tăng trưởng và thịnh vượng chung của khu vực Bên cạnh đó, định hướng cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận