1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của việt nam giai đoạn 2005 đến 2015

35 243 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 213,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

từ bên ngoài cho các hoạt động đầu tư công theo các hình thức: tư nhân hóa, đối táccông tư PPP.Việc thay đổi tư duy, đường lối của Nhà nước là một hướng đi đúng đắn, thể hiện ở những côn

Trang 1

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

BÀI TẬP NHÓM Môn: Kinh tế đầu tư

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 - 2015

Giảng viên hướng dẫn: Ths Lê Huy Đoàn Nhóm thực hiện: (Nhóm 8)

Trang 2

từ bên ngoài cho các hoạt động đầu tư công theo các hình thức: tư nhân hóa, đối táccông tư (PPP).

Việc thay đổi tư duy, đường lối của Nhà nước là một hướng đi đúng đắn, thể hiện

ở những công trình xây dựng đường cao tốc theo hình thức BOT, BTO, BT… ngàycàng trở nên phổ biến, làm thay đổi cơ bản bộ mặt của đất nước, tạo tiền đề vững chắccho phát triển kinh tế, xã hội bền vững, bảo vệ môi trường; hình thức tư nhân hóa cácbệnh viện, trường học đã góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách hàng năm, cảithiện đời sông vật chất, tinh thần của nhân dân

Tuy nhiên, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chếnhư: thu hút vốn đầu tư còn chưa hiệu quả, đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn vào các dự

án cơ sở hạ tầng kỹ thuật, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng xã hội và môi trường còn thấp,không đáng kể Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí, thất thoát vốn vẫn xảy ra ở các dự án

từ dự án đầu tư công đến dự án đầu tư của tư nhân hay khu vực nước ngoài; quản lýcác dự án còn chồng chéo dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao; quá trình giám sát thicông lẫn bộ máy quản lý chính quyền bộc lộ nhiều yếu kém

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam đạt nhều thành tựa, giúp thay đổidiện mạo của đất nước Tuy vậy vẫn còn nhiều điểm yếu kém, bất hợp lý cần phải sửađổi để nâng cao hiệu quả cho đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam Việc đánh giá thựctrạng và phân tích các hạn chế tìm ra các giải pháp cho đầu tư phát triển ở Việt Namhiện nay là vô cùng cần thiết Do đó, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích thựctrạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 201” cho bài nghiêncứu của nhóm mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đưa ra được các khái niệm cơ bản về đầu tư phát triển, đầu tư phát triển cơ sở hạtầng, phân loại đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

- Phân tích được thực trạng của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam tronggiai đoạn 2005 – 2015, từ đó kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam trong giai đoạn tới

Trang 3

3 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam

- Biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam tronggiai đoạn tới

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu

- Phương pháp phân tích và đánh giá

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: 2005 - 2015

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Việt Nam

- Phạm vi nội dung: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

6 Bố cục nội dung của bài

Bài nghiên cứu gồm 5 nội dung chính:

I Cơ sở lý luận

1 Khái niệm.

2 Phân loại cơ sở hạ tầng.

3 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng.

II Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2015

1 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

2 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng xã hội

3 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng môi trường

III Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế

IV Bài học kinh nghiệm của các quốc gia khác

V Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trang 4

- Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật có chức năng phục vụ trựctiếp dịch vụ sản xuất của dân cư, được phân bố trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sảnxuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai

2 Phân loại cơ sở hạ tầng

Căn cứ vào các chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở

hạ tầng thành ba loại:

- Cơ sở hạ tầng kĩ thuật: Là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống baogồm các công cụ thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông,cấp thoát nước, thông tin liên lạc

- Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các công trình phục vụ cho các địa điểm dân cưnhư nhà văn hóa, bệnh viện, trường học, nhà ở và các họa động dịch vụ công cộngkhác Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổnđịnh, nâng cao đời sống dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cưtrên vùng lãnh thổ

- Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kĩ thuật thực hiện cho việcbảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trừng số của con người, hệ thống nàybao gồm các công trình chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển vàcác nguồn tài nguyên thiên nhiên

3 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xãhội khác Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có các đặc điểm sau:

Trang 5

- Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốnđầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác

để thu hồi vốn

- Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động

và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốnnhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng

kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bánkhác

- Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính củahàng hoá công cộng Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chínhphủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản

do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu làvốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tưhơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn

- Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy môlớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người trong hiện tại và cả trong tương lai nữa Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình

cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, ápdụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầngbên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vàoquy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai

- Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sảnxuất và đời sống Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạtầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụbưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở

sự thuận lợi trong quá trình sản xuất và đời sống hàng ngày của con người

Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bướcphát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, bên cạnh sựphát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuốngcấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao

Trang 6

Ngoài ra thì một số công trình giao thông quan trọng, có kỹ thuật cao đã được xâydựng như: cầu Nhật Tân, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương Và đang tiến tới xâydựng các tuyến đường trọng điểm ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam

Trong giai đoạn 2005 – 2015, đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông có rất nhiều dự

án lớn được phê duyệt và xây dựng Điển hình là đường cao tốc Nội Bài – Lào Caikhởi công năm 2008 với số vốn đầu tư điều chỉnh đạt 1,46 tỷ USD (giai đoạn 1) baogồm vay ưu đãi ADF (ADB) 236,21 triệu USD, vay thông thường OCR (ADB) 1,03

tỷ USD và vốn đối ứng là 170,31 triệu USD cho giải phóng mặt bằng Đường đượcđưa vào sử dụng từ ngày 21/9/2014 Tuy nhiên, trong quá trình triển khai dự án, vẫncòn tồn tài 1 số vấn đề như chậm trễ trong bàn giao mặt bằng, gây ảnh hưởng đến tiến

độ thi công; một số nhà thầu phụ còn tồn tại nhiều yếu kém, nhà thầu chính còn thiếubao quát, các cơ quan chức năng giám sát còn lỏng lẻo, thiếu sát sao dẫn đến tìnhtrạng dự án chậm tiến độ (theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào năm 2013), gây đội vốn(số vốn dự kiến là 1,216 tỷ USD) Tuy nhiên, chỉ sau 2 ngày đưa vào thông xe, mặtđường đã xuất hiện 1 vết nứt dài (tại km 83 chiều từ Yên Bái về Phú Thọ), gây nguyhiểm cho xe cộ lưu thông

Dự án cao tốc Hà Nội – Hải Phòng là công trình trọng điểm của cả nước, xây theotiêu chuẩn quốc tế nhằm kết nối khu vực kinh tế năng động của miền Bắc Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh, xây dựng theo hình thức BOT; vốn huy động trong xãhội(vay vốn nước ngoài),và lấy các công trình xung quanh dự án để thu hồi vốn: CácKhu Công nghiệp, các khu đô thị Khi hoàn thành đưa vào sử dụng thì tổ chức thu phí

để hoàn vốn trong khoảng 35 năm, sau đó giao lại Nhà nước quản lý Dự án khởi côngngày 2/2/2009, thông xe ngày 5/12/2015 (theo kế hoạch là vào năm 2014), mức vốnđầu tư được phê duyệt vào năm 2007 là 24.566 tỷ đồng, tuy nhiên trong quá trình thi

Trang 7

công dự án, sự chậm trễ trong giải phóng mặt bằng, một số nhà thầu còn chểnh mảng,bên cạnh đó, việc Tổng công ty phát triển hạ tầng và đầu tư tài chính Việt Nam lại xảy

ra việc gửi 550 tỷ đồng từ vốn của dự án tại công ty tài chính 2 và gây thất thoát khiến

dự án chậm tiến độ, giá nguyên vật liệu tăng cao, chi phí giải phóng mặt bằng tăng độtbiến khiến dự án đội giá lên gấp đôi so với phê duyệt ban đầu đẩy kinh phí của dự ánlên xấp xỉ 2 tỷ đô Hội đồng nhiệm thu Nhà nước đã kiểm tra và dò xét chất lượng củatuyến cao tốc, đã phát hiện nhiều gói thầu (gói thầu từ EX-3 đến EX-6) không đạt yêucầu, thi công sai với bản vẽ kỹ thuật, chất lượng kém

b Đường sắt

Chiều dài: 3.146km, bao gồm đường lồng, đường khổ 1.435mm, đường khổ1.000mm Chạy qua 34 tỉnh thành phố, có 6 tuyến chính: HN – HP, HN – TP.HCM,

HN – Lào Cai, HN – Thái Nguyên, HN - Lạng Sơn và kép - Quảng Ninh

Hệ thống đường sắt được quan tâm chú trọng đầu tư hơn, đưa ra mục tiêu và từngbước hiện đại hóa tuyến đường sắt Hà Nội - TP.HCM dài 1.726km hiện có để đạt tốc

độ chạy tàu bình quân từ 80 đến 90 km/h đối với tàu khách và 50 đến 60 km/h với tàuhàng

Nghiên cứu phương án xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ1,435m, trong đó chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước ưu tiên xây dựng trướcnhững đoạn tuyến có nhu cầu vận tải lớn như Hà Nội - Vinh và TP.HCM - Nha Trang,

ưu tiên xây dựng trước những đoạn có nhu cầu vận tải lớn trên trục Bắc - Nam theokhả năng huy động vốn

Trong giai đoạn vừa qua, dự án trọng điểm đường sắt trên cao được phê duyệt năm

2008 cũng xảy ra tình trạng thi công chậm tiến độ do năng lực nhà thầu Trung Quốccòn kém, chưa từng thi công hạng mục đường sắt trên cao; tốc độ giải phóng mặt bằngchậm, xảy ra tình trạng nhà thầu chính Trung Quốc còn thiếu nợ các nhà thầu phụtrong nước 554 tỷ đồng, dự án kéo dài đến 8 năm, số vốn ban đầu từ 553 triệu USD(vốn đối ứng của Việt Nam là 133,86 triệu USD, vốn cho vay ưu đãi của Trung Quốc

là 419 triệu USD) tăng lên 868 triệu USD Công trình thi công chậm tiến độ gây ảnhhưởng lớn đến đời sống của nhân dân, gây ách tắc giao thông; gây tai nạn khiến nhiềungười tham gia giao thông tử vong, và bị thương, gây tâm lý lo sợ cho người dân khi

đi qua các đoạn đường đang thi công

c Cảng biển.

Với bờ biển dài 3.260km, hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển đều có các cảngbiển được xây dựng và đi vào hoạt động Phân bố thành 8 nhóm cảng: (1) Nhóm cảngphía Bắc (bao gồm các cảng từ bờ biển Quảng Ninh đến Ninh Bình); (2) Nhóm cảngBắc Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Thanh Hoá đến Hà Tĩnh); (3) Nhóm cảngTrung Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Quảng Bình đến Quãng Ngãi); (4)Nhóm cảng Nam Trung Bộ (bao gồm các cảng từ bờ biển Bình Định đến BìnhThuận); (5) Nhóm cảng Thành phố Hồ Chí Minh- Vũng Tàu- Thị Vải; (6) Nhóm cảng

Trang 8

Đồng bằng Sông Cửu Long; (7) Nhóm cảng các đảo Tây Nam; và (8) Nhóm cảng CônĐảo13

d Sân bay

Hiện nay có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số hơn 20 sân nayđược đưa vào hoạt động thì có 3 sân bay lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế: Sân bay Nội Bài,Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng

Với hệ thống sân bay được phân bố khắp các vùng, mạng đường bay nội địa củahàng không Việt Nam đã được phát triển đồng đều để đáp ứng nhu cầu đi lại trongnước, cũng như việc phát triển kinh tế xã hội cho vùng, địa phương Tuy nhiên, hiệuquả kinh doanh các đường bay nội địa không đồng nhất, một số đường có tần suất vàhiệu quả khai thác cao như đường bay trục Bắc – Nam Trong khi đó một số đườngbay còn lại kém phát triển hoạt động không hiệu quả phải bù lỗ

1.2 Bưu chính viễn thông

Đất nước ngày càng hiện đại hơn với hệ thống các công nghệ thông tin ngày càngphát triển, nắm được vấn đề đó chủ trương chú trọng phát triển các dịch vụ bưu chínhviễn thông, tăng tốc độ mạng thông tin mở rộng nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu ngàycàng lớn của con người

Tuy nhiên sự phát triển còn với tốc độ chậm, chi phí khá cao và chỉ mới tập trungvào những lợi ích trước mắt Quy hoạch mạng viễn thông chưa đồng bộ, chất lượngchưa cao và còn kém an toàn

1.3 Hệ thống mạng lưới điện

Sản lượng điện thương phẩm năm 2015 tăng 11,44% so với năm 2014, độ tin cậycung cấp điện được cải thiện, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam tăng mạnh.Năm 2015, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện cho sảnxuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân Hoạt động chỉ đạo điều hành sản xuất,vận hành hệ thống điện quốc gia đã bám sát nhu cầu sử dụng điện, đáp ứng kịp thờinhu cầu điện cấp bách cho sản xuất và kinh doanh

Theo đó, năm 2015, điện sản xuất và mua đạt 159,4 tỷ kWh, tăng 11,23% so vớinăm 2014

Tổng kết giai đoạn năm 2011-2015, sản lượng điện sản xuất và mua tăng trưởngbình quân 10,37%/năm; điện thương phẩm tăng trưởng bình quân là 10,84%/năm.Song việc phát triển nuồn điện vẫn còn chưa cân đối về cơ cấu, tổn thất điện đã giảm

so với các năm trước nhưng vẫn ở mức lớn, năm 2015,có tổng thời gian mất điệnkhách hàng bình quân (SAIDI) là 2.110 phút, tần suất mất điện kéo dài bình quân(SAIFI) là 12,85 lần/khách hàng, tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI)là

Trang 9

2,0 lần/khách hàng Và tần suất các nhà máy nhiệt điện chưa cao, thiết bị lạc hậu, tiêuhao nhiên liệu cao.

2 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng xã hội

2.1 Y tế

Y tế là ngành cần được chú trọng đầu tư nhằm phục vụ việc chăm sóc và khámchữa bệnh cho người dân, đặc biệt là với một quốc gia đông dân như Việt Nam cầnphải có sự quan tâm sâu sắc hơn nữa Nhìn chung cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế

ở nước ta còn thiếu, chưa đồng bộ còn lạc hậu so với khu vực, phần lớn không đượcđịnh kỳ bảo dưỡng và kiểm chuẩn

Hàng năm, ngân sách nhà nước chi cho phát triển y tế khoảng 5 – 6% trong tổngGDP của cả nước Trong khi, để có thể đầu tư phát triển, xây dựng bệnh viện tuyếntỉnh nhu cầu vốn ước đạt 2,2 tỉ USD; chưa kể đầu tư cho phát triển chuyên sâu cần10.000 tỷ đồng; nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh cần đến 100.000 tỷđồng Mặc dù việc tham gia khá mạnh mẽ của các bệnh viện thuộc khu vực tư nhân,khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây (97 bệnh viện tư nhânđang hoạt động, trong đó có 30 bệnh viện chuyên khoa và 67 bệnh viện đa khoa; dự

án đầu tư nước ngoài vào xây dựng bệnh viên bao gồm 70 dự án với số vốn gần 1 tỷUSD) Nhìn chung, với nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng, nâng cấp các bệnh viên

là không đáp ứng được yêu cầu hiện nay

Về xây dựng các cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe nhìnchung có sự gia tăng Năm 2005 có 878 bệnh viện thì đến năm 2014 số lượng bệnhviện là 1.063 tăng 185 bệnh viện được xây dựng Phòng khám đa khoa khu vực, bệnhviện điều dưỡng và các trạm y tế xã phường, giảm dần số lượng qua từng năm dohoạt động không hiệu quả bên cạnh đó chưa được chú trọng đầu tư cho các cơ sởtuyến dưới

Bảng: Số cơ sở khám chữa bệnh (chưa kể khu vực tư nhân)

Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng 53 44 61

Trang 10

2005 2010 2014

( Nguồn: Niên giám thống kê 2014)

Về mạng lưới bệnh viện ở Việt Nam tồn tại hơn 1.100 bệnh viện công trong đó75% được xây dựng trước năm 1995 và khỏang 130 bệnh viên tư nhân, cung cấp tổng

số hơn 200.000 giường bệnh tỷ lệ 22giường/10.000 dân Từ năm 2011-2014 sốgiường bệnh được gia tăng nhanh nhằm phục vụ cho nhu cầu khám bệnh ngày mộttăng cao của người dân

Bảng: Số giường bệnh trực thuốc sở Y tế

CẢ

( Nguồn: Niên giám thống kê 2014)

Trong hoàn cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam đã thực hiệnkhá tốt trong lĩnh vực y tế so với các quốc gia khác trong khu vực Tuy nhiên số liệuthống kê không thể chỉ ra một thực tế là hệ thống y tế của Việt Nam đang phải đối mặtvới những thách thức rất lớn như tình trạng quá tải tại các bệnh viện và chất lượngchăm sóc kém Hầu hết các bệnh viện công ở Việt Nam bị quá tải hoặc có tần suất sửdụng các giường bệnh quá cao, đặc biệt ở các tuyến bệnh viện Trung ương tại cácthành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… Tần suất sử dụng giường bệnh ở một

số bệnh viện lớn rất cao Đơn cử ở bệnh viện K năm 2009 là 250%, bệnh viện Chợ rẫy

là 139%, bệnh viện Bạch Mai là 168% Số liệu cho thấy dù có tiến bộ tương đối, cảithiện chất lượng cơ sở y tế thì tỷ lệ quá tải ở các bệnh viện lớn vẫn trên 100% Lý giảimột phần là đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị cho các bệnh viện tuyến dưới còn thấp vàthiếu thốn Các bệnh viện tuyến huyện có mới 30 - 50%, cá biệt có bệnh viện chỉ 20%thiết bị y tế theo yêu cầu, thiếu nhiều trang thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị nhưđèn mổ, máy siêu âm, máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học, máy thở, máy theo dõibệnh nhân

Theo báo cáo của các địa phương, tính đến 31/12/2011 có 353 bệnh viện huyệnhoàn thành (trong đó có 152 bệnh viện hoàn thành toàn bộ và 201 bệnh viện hoànthành một số hạng mục), có 70 phòng khám đa khoa khu vực đã hoàn thành Như vậy,giai đoạn 2008 - 2012 đã hoàn thành 460 bệnh viện huyện (hoàn thành toàn bộ hoặchoàn thành các hạng mục đã triển khai) và 70 phòng khám đa khoa khu vực Trong 11

dự án do Bộ Y tế quản lý: Đã hoàn thành một phần dự án có: Bệnh viện Lao và bệnhphổi TW Phúc Yên, Bệnh viện K (cơ sở Tân Triều) và các hạng mục cơ bản củaTrường Đại học Y Dược Cần Thơ

Trang 11

2.2 Giáo dục

Những năm qua nhờ sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước và nhân dân, giáo dụcđược đầu tư về cả chất lẫn lượng Với tiêu chí lấy yếu tố con người làm mục tiêu hàngđàu của quốc gia, ngành giáo dục đã nỗ lực trong việc xây dựng các cơ sở học tập,trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy… Chi Ngân sách hàng năm cho giáodục luôn ở mức 12 – 16 % tổng chi Ngân sách Năm 2015, chi Ngân sách cho lĩnh vựcgiáo dục đạt 224.826 tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách

Từ năm 2005-2006 đến nay tổng số trường học được xây mới tăng 1695 trường,trong đó số trường trung học sơ sở được xây dựng tăng mạnh chiếm 35,58% tổng sốtrường học được xây dựng năm 2014-2015

Bảng: Số trường học, số lớp học phổ thông tại thời điểm 30/9

(Nguồn: Niên giám thống kê 2014)

Nhiều trường đã có cơ sở vật chất (CSVC) khang trang, đẹp hơn, có hệ thốngphòng thí nghiệm, hệ thống máy tính kết nối Internet…, từng bước đảm bảo và nângcao chất lượng công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ kịp thời yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, tỉ lệ các trường đáp ứng được yêu cầu đómới ở mức rất thấp hầu hết là các trường ở vùng sâu vùng xa, điều kiện còn nhiều khókhăn Hệ thống trang thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm mới chỉ đáp ứng được 40%nhu cầu đào tạo; hệ thống CSVC đáp ứng được 50% nhu cầu; hệ thống thư viện,CSVC thông tin còn yếu, nhiều trường chưa có quy hoạch…… các trường đại học,cao đẳng Việt Nam còn tồn tại một khoảng cách khá lớn, khả năng tụt hậu lâu dài sovới các trường trong khu vực và trên thế giới Nhìn trên diện rộng thì CSVC của cáctrường ĐH, CĐ công lập hiện nay còn nhiều hạn chế, yếu kém Diện tích đất nhỏ, đầu

Trang 12

tư trang thiết bị chưa đồng bộ; nhiều trường chưa có quy hoạch xây dựng trường,trường có quy hoạcthì chất lượng chưa cao; thiết kế nhà, phòng thí nghiệm, phònghọc

Số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo cho thấy, năm học 1999-2000, cảnước có 833 nhà trẻ, 3.909 trường mẫu giáo; đến năm học 2004-2005 số nhà trẻ giảmmạnh còn 67, số trường mẫu giáo là 2.738; đến năm học 2010-2011 số trường mẫugiáo là 2.877 (trong đó hệ công lập là 2416, ngoài công lập là 461); chỉ có các trườngmầm non có sự tăng thêm từ 4.856 trường năm học 1999-2000 lên 9.992 trường nămhọc 2010-2011 Số trẻ trong độ tuổi bước vào cấp học mầm non năm học 1999-2000

là 2.496.788, năm học 2004-2005 là 2.754.094, đến năm học 2010-2011, số lượng này

là 3.599.663 em, tăng 1.102.875 so với năm học 1999-2000.Thiếu nhà trẻ, mẫu giáo,đang gây ra những tác động không tốt đến bản thân các em nhỏ, gia đình các em và xãhội Thiếu trường, nhiều bậc phụ huynh phải đưa con em mình đến các trường tư thục,các nhà trẻ tư, dịch vụ trông giữ trẻ tại nhà với điều kiện chăm sóc chưa đúng tiêuchuẩn Việc xây dựng nhiều nhà trẻ, mẫu giáo, các trường tiểu học là một đòi hỏikhách quan để thực hiện nhiệm vụ của nền giáo dục là chăm sóc những mầm non ngay

từ những ngày đầu để đảm bảo cho các em phát triển tốt Tuy nhiên, trong khi nhu cầuđược đến trường, được học tập và nuôi dưỡng của các em nhỏ tăng cao thì số nhà trẻ,mẫu giáo, lại chưa được quan tâm phát triển đúng mức

2.3 Các công trình dịch vụ công cộng.

Ở Việt Nam, hệ thống DVCC của những đô thị thời Pháp thuộc đã kế thừa các môhình dịch vụ sinh sống nhỏ kiểu “phố hàng” của đô thị truyền thống và xây dựng đượccác Trung tâm công cộng mới theo kiểu đô thị phương Tây khá phù hợp với quy môdân số còn khiêm tốn lúc bấy giờ Ví dụ như Hà Nội đã có các Trung tâm Văn hoá,Giáo dục ven bờ sông Hồng, Quảng trường Nhà hát lớn, Trung tâm Thương mại hồHoàn Kiếm, Trung tâm Chính trị - Hành pháp Ba Đình ở Hà Nội Các trung tâm mớinày vẫn song song tồn tại với hệ thống dịch vụ đời sống kiểu “phố hàng” của dân cưbản địa tại khu 36 phố phường làm nên đặc trưng rất riêng của thành phố này CácTrung tâm công cộng kiểu này cũng được phát triển ở Quận 1, Quận 3 tại TP.HCM vàtương tự ở Hải Phòng, Huế, Đà Lạt, Sa Pa với các quy mô khác nhau Hiện nay,những Trung tâm đô thị thời Pháp thuộc vẫn đóng vai trò chủ chốt trong đời sốngcông cộng như hành chính - hành pháp, thương mại, văn hoá, giáo dục mà các khu

đô thị mới hiện nay chưa theo kịp Chúng đã tạo thành các khu phố lịch sử - di sản rất

có giá trị của Việt Nam Bên cạnh đó là thu hút du khách quốc tế, tạo không gianthoáng đãng có thể thư giãn cho người dân Nhưng hiện nay các công trình này đangdần bị quá tải và có nguy cơ bị phá vỡ cấu trúc vốn có, do nhiều nguyên nhân, trong

đó có việc lạm dụng quá mức công suất DVCC Các công viên cây xanh được xâydựng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu do sự gia tăng về mặt dân số cũng như đầu tưxây dựng chưa hợp lý Không chỉ đóng vai trò là không gian dành cho nghỉ ngơi, vuichơi, tạo cảnh quan mà còn là nơi giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng xóm giếng cho dân

Trang 13

cư Hơn nữa, không gian công cộng còn góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, kiếntạo và thúc đẩy mối liên kết giữa các cá nhân, gia đình trong khu dân cư Tuy nhiên,thực tế tại các đô thị cả nước cho thấy, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều hệ quảxấu từ việc thiếu quy hoạch hệ thống không gian công cộng Một thực tế khác cũngđang tồn tại, đó là số lượng không nhỏ các không gian công cộng không còn nguyêntrạng về quy mô hay chức năng sử dụng do bị lấn chiếm hoặc sử dụng sai mụcđích, trong quá trình đô thị hóa, trong cuộc sống diễn ra hết sức phức tạp, do sự quản

lý quá lỏng lẻo nên bị chiếm dụng, mất đi không gian vui chơi của cộng đồng Điềuđấy là một điều đang diễn ra hết sức rõ ràng ở Hà Nội hay ở các đô thị lớn khác đó làviệc lấn chiếm các không gian công cộng để buôn bán, trưng bày hàng hóa làm hưhỏng, mất đi kết cấu công trình vốn có Chính vì vậy chúng ta cần đặt ra các mục tiêu

để xây dựng các công trình dịch vụ công cộng có hiệu quả, tránh gây thất thoát vàlãng phí

3 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng môi trường

Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việcbảo vệ, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống củacon người Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trìnhbảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

3.1.Hiện trạng đầu tư công trình phòng chống thiên tai

Năm 1945 trên cả nước có hơn 3.000 km đê các loại Đến nay, trên cả nước đã có8.000 km đê các loại trong đó có hơn 5.000 km đê sông, gần 3.000 km đê biển Ngoài

ra còn hàng ngàng km bờ bao chống lũ, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và cácđịa phương

Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện được xây dựng đóng góp rất lớn trong việc nângmức bảo đảm chống lũ ở Hà Nội lên 500 năm Hệ thống công trình thủy lợi kết hợpkiểm soát lũ khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần đảm bảo ổn định sảnxuất lúa từ 2 đến 3 vụ lúa Hệ thống cụm, kiểu dân cư vượt lũ góp phần ổn định chỗ ở,đảm bảo an toàn nhân dân vùng gặp lũ Hiện nay, nước ta có 5 nhà máy thủy điệncông suất lớn (Hòa Bình, Yali, Trị An, Đại Ninh, Sé San 4), 19 nhà máy thủy điệnđược xây dựng từ Bắc vào Nam trong giai đoạn 2010-2015 và có thêm 7 dự án chuẩn

bị đầu tư vào các nhà máy thủy điện để đưa vào vận hành năm 2015

Quy hoạch phòng chống lũ được điều chỉnh theo từng thời kỳ nâng mức bảo đảmchống lũ với lưu lượng lớn nhất tại Sơn Tây là 32.500 m³/s ( tương ứng với trận lũtháng 8/1945) lên mức 37.800 m³/s (tương ứng với trận lũ tháng 8/1971), sau đó làmức 42.600 m³/s giai đoạn 2007-2010 (tương ứng với lũ có chu kỳ lặp lại 250 năm) vàmức 48.500 m³/s giai đoạn 2010-2030 (tương ứng với lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm).Ngân sách nhà nước đảm bảo cho việc đầu tư các dự án phòng, chống, giảm nhẹthiên tai và dự phòng để xử lý, khắc phục hậu quả thiên tai Dự trữ quốc gia được sửdụng cho công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong trường hợp cần thiết.Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA cho các dự án phòng, chống và giảm nhẹ

Trang 14

thiên tai, ưu tiên sử dụng các nguồn vốn ODA không hoàn lại trong việc nâng caonăng lực, chuyển giao khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý.

3.2 Công trình bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên

Rừng nước ta đang được phục hồi cụ thể là năm 2010 tỷ lệ che phủ rừng tăng lên39,5%, tỷ lệ che phủ rừng năm 2014 tăng lên 48,5% Nhưng chất lượng rừng bị giảmsút

Chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học được duy trì, bảo tồn tốt hơn ởnhững khu rừng đặc dụng đã được thành lập và có ban quản lý Tuy nhiên, tình trạngphổ biến là rừng tự nhiên vẫn bị suy giảm về chất lượng những khu rừng nguyên sinh,rừng giàu chủ yếu chỉ còn ở những khu rừng đặc dụng và phòng hộ thuộc vùng sâu,vùng xa, rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất hiện có 3.105.647 ha, trong đórừng giàu và trung bình chỉ còn 652.654 ha chiếm 21%, rừng nghèo và rừng non2.453.002 ha chiếm 79% đa số là rừng tự nhiên tái sinh và rừng phục hồi sau khaithác, sau canh tác nương rẫy

Về đa dạng sinh học: Giới sinh vật nước ta có tính đa dạng sinh vật cao, nhưng sốlượng loài thực vật và động vật đang bị suy giảm nghiêm trọng Thực vật giảm 500loài trên tổng số 14.500 loài đã biết, trong đó có 100 loài có nguy cơ tuyệt chủng Thúgiảm 96 loài trên tổng số 300 loài đã biết, trong đó có 62 loài có nguy cơ tuyệt chủng.Chim giảm 57 loài trên tổng số 830 loài đã biết, trong đó có 29 loài có nguy cơ tuyệtchủng…

Chỉ ở những cánh rừng đủ rộng với những hệ sinh thái khỏe mạnh và an toàn cácloài hoang dã mới có thể sinh sôi và phát triển

Để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, Việt Nam đã tiến hành công tác bảotồn đa dạng sinh học khá sớm Hai hình thức bảo tồn đa dạng sinh học phổ biến được

áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồnngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation)

Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các

loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên Tuỳ theođối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp Thông thường bảo tồnnguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biệnpháp quản lý phù hợp

Hệ thống các khu bảo tồn (KBT) của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm:Các KBT rừng (Khu rừng đặc dụng) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thônđang quản lý 128 KBT Các khu bảo tồn biển thuộc Bộ Thủy sản quản lý 15 KBT.Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý 68 KBT

Trang 15

Bảng Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam

T.T Loại Số lượng Diện tích (ha)

II Khu Bảo tồn thiên nhiên 60 1.184.372

III Khu Bảo vệ cảnh quan 38 173.764

Hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh tháitoàn quốc Trong số 128 KBT có 14 khu có diện tích nhỏ hơn 1000 ha, chiếm 10,9%.Các khu có diện tích nhỏ hơn 10.000 ha là 52 khu, chiếm 40,6% các khu bảo tồn, baogồm VQG 4 khu, 9 khu dữ trữ thiên nhiên, 9 khu bảo vệ loài, 30 khu bảo vệ cảnhquan Chỉ có 12 khu có diện tích từ 50.000 ha trở lên Nhiều khu bảo tồn còn baochiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư, ranh giới một số khu bảo tồn trênthực địa chưa rõ ràng, còn có tranh chấp, tính liên kết các khu yếu, chưa hình thànhđược các hành lang liên kết các KBT nhỏ, có nhiều đặc điểm giống nhau v.v

Ngoài các KBT, các hình thức bảo tồn dưới đây đã được công nhận ở Việt Nam

- 5 khu Dự trữ sinh quyển quốc gia được UNESCO công nhận: Khu Cần giờ (Tp

Hồ Chí Minh), Khu Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước), Khu Cát Bà (Tp.Hải Phòng), khu ven biển Đồng bằng Sông Hồng (Nam Định và Thái Bình) và khu

Dự trữ sinh quyển Kiên Giang

- 2 khu di sản thiên nhiên thế giới: Khu Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và KhuPhong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình);

- 4 khu di sản thiên nhiên của Asean: 4 VQG: Ba bể (Bắc Cạn), Hoàng Liên(Lào Cai), Chư Mom Rây ( Kon Tum) và Kon Ka Kinh ( Gia Lai)

- 2 khu Ramsar: Vườn quốc gia Xuân Thủy, (tỉnh Nam Định) và VQG (Cát Tiên)

Trang 16

Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi

thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưutập các chất mầm, mô cấy Các biện pháp gồm di dời các loài cây, con và các vi sinhvật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là đểnhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: i) nơi sinh sống

bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên…

Hiện nay, nước ta có 17 khu rừng thực nghiệm với diện tích 8.516 ha Các khurừng thực nghiệm bao gồm các vườn cây gỗ, vườn thực vật, vườn sưu tập cây rừng vàcác lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, Một số khu thực nghiệm điển hình như:Vườn cây gỗ Trảng Bom (huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai): có 155 loài, thuộc 55

họ và 17 loài tre nứa, Thảo cầm viên Sài gòn với hơn 100 loài cây

Nước ta có tới 3.800 cây thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật Các loài cây thuốcphân bổ khắp trên các vùng sinh thái ở Việt Nam Trong số đó, phần lớn các cây thuốc

là mọc tự nhiên và khoảng 20% đã được gieo trồng Tuy nhiên, , trong số 848 loài câythuốc được xác định cần bảo tồn mới chỉ có 120 loài, dưới loài được bảo tồn trong cácvùng và các cơ sở nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều vườn cây thuốc đã được thànhlập, ngoài ra còn có hệ thống các vườn cây thuốc của các hộ gia đình làm nghề thuốcnam và thuốc bắc

Theo thống kê của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (2009), đếnnay, ngân hàng gen cây trồng quốc gia đang bảo quản tại kho hơn 14.300 giống của

115 loài, gồm 3 ngân hàng gen:

- Ngân hàng gen hạt giống: 12.500 giống của 83 loài cây có hạt

- Ngân hàng gen đồng ruộng: 1.720 giống của 32 loài cây sinh sản vô tính

- Ngân hàng gen in vitro: bảo quản 102 giống khoai môn - sọ

Tại 19 cơ quan mạng lưới của hệ thống bảo tồn quỹ gen cây trồng đang bảo tồn

5000 giống của 50 loài cây trồng và 3.340 kiểu gen (Genotype), 200 tiêu bản hạt củacây cao su Đang xây dựng tập đoàn 300 kiểu gen, tư liệu hoá 2.000 kiểu gen cây cao

Hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia trong những năm vừa qua dần được cải thiện, quy

mô được mở rộng và hình thức ngày càng đa dạng

Trang 17

Theo ước tính trong 10 năm của giai đoạn vừa qua có hơn 24% tổng đầu tư xã hội

là dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn vốn này tương đương 9% GDP của

cả nước, trong đó chiếm đến 65% là nguồn vốn ngân sách nhà nước Điều thành cônghơn nữa là nguồn lực của nhà nước, cơ cấu của nguồn đầu tư này còn được đa dạnghóa bởi các nguồn đầu tư, đóng góp tự nguyện của nhân dân

Về hệ thống giao thông đường bộ từ năm 2000 đến 2010, tổng chiều dài hệ thốngđường bộ trên cả nước đã tăng từ 217 nghìn km lên hơn 256 nghìn km, theo tính toán

sơ bộ đã tăng hơn 39 nghìn km Hệ thống đường cao tốc trong vòng 10 năm cũng đã

có những bước tiến vượt bậc khi năm 2000 chỉ có 24 km đường cao tốc, đến năm

2010 đã tăng gấp 7 lần khi đạt 150 km Các tuyến quốc lộ cũng đã được chỉnh trang

và mở rộng, đảm bảo giao thông thông suốt trên cả nước, đến năm 2010 tổng chiềudài các tuyến quốc lộ đã đạt 17 nghìn km so với chỉ hơn 15 nghìn km của năm 2000…

Hệ thống giao thông đường sắt của Việt Nam cũng được cải thiện và mở rộng quy

mô theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hệ thống giao thông đường biển có những thay đổi và bước tiến quan trọng để gópphần đưa đất nước hội nhập nhanh hơn với quốc tế Đặc biệt các cửa ngõ giao thươngthen chốt như Hải Phòng, Cái Lân, Sài Gòn, Vũng Áng, Quy Nhơn,… từng bước đượcnâng cấp hiện đại để có thể dón những chuyến tàu lớn vào Việt Nam một cách thuậnlợi nhất

Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông trong những năm qua được mởrộng cả về số lượng lẫn chất lượng

Các hạ tầng về y tế, giáo dục, thương mại, văn hóa – du lịch trong thời gian quađều được đầu tư phát triển đúng mức mang lại nhiều thành quả kinh tế - xã hội

- Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định nhưngnhìn chung có xu hướng tăng dần

- Xét về cơ cấu vốn đầu tư, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước đãgiảm dần từ 59,1% (năm 2000) xuống còn 33,9% (năm 2008) và tăng nhẹ trở lại lênmức 40,4% năm 2013 và 38% năm 2015 nhằm duy trì ổn định và phát triển kinh tếkhi khu vực đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, cầutăng thấp do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế

Ngày đăng: 25/04/2018, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w