1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác ðộng của ðiều kiện tự nhiên ðối với phát triển nông nghiệp ở việt nam

25 304 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc- Kinh tế kháng chiến 1946 - 1954: Từ một nền kinh tế canh nông đã bị tê liệt trước năm 1945, nông nghiệp kháng chiến không những không bị suy thoái

Trang 1

ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

- -BÀI THẢO LUẬN

CHỦ ĐỀ: “TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ

NHIÊN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÔNG

NGHIỆP VIỆT NAM”

Giảng viên :NGUYỄN THANH MINH

Hồ Chí Minh, tháng 4, năm 2018

Trang 2

MỞ ĐẦU

Phát triển nông nghiệp được coi là vấn đề then chốt, ảnh hưởng đến sựthành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa của nhiều quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nềnsản xuất nông nghiệp làm nền tảng Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Namđạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nôngnghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực Nông nghiệp tiếp tục phát triển theohướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa với năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhucầu trong nước và nước ngoài Xuất khẩu tăng mạnh, nhiều mặt hàng nông sản ởViệt Nam có vị thế ngày càng cao trên thị trường thế giới Đạt được những thànhtựu đó là nhờ tác động của nhiều yếu tố như nghiên cứu của các kĩ sư nôngnghiệp về các loại cây trồng, tài nguyên thiên nhiên (Rừng đước ven biển, tàinguyên nước ngầm, nguồn lợi hải sản ven bờ, đa dạng sinh học…) Bên cạnh đócũng không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng to lớn về điều kiện tự nhiên như:Diện tích- Đất đai, khí hậu, sông ngòi, biển,…

Vậy điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển nông

nghiệp ở Việt Nam chúng ta cùng tìm hiểu qua bài tiểu luận của nhóm 4: “TÁC

ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM”.

Trang 3

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 2

DANH SÁCH NHÓM 3

PHỤ LỤC 4

I Tổng quan về nông nghiệp Việt Nam 5

1 Trước đổi mới 1986 5

2 Sau đổi mới 1986 đến nay 7

II Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tác động đến nông nghiệp Việt Nam 9 1 Đất đai 9

2 Khí hậu 15

3.Nguồn nước 18

4 Sông ngòi 19

KẾT LUẬN 23

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 4

I Tổng quan về nông nghiệp Việt Nam

1 Trước đổi mới 1986

- Từ năm 1930 - 1945 dưới chế độ thực dân nửa phong kiến , nền nôngnghiệp nước ta hết sức nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hoàntoàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên

- Năng suất các loại cây trồng đều rất thấp Năng suất lúa bình quân 1 ha thời

kỳ 1930 - 1944 là 12 tạ , trong khi đó Thái Lan là 18 tạ , Nhật Bản là 34 tạ.Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dânPháp Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất.Trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê,cuốc mướn

- Nghịch cảnh sâu sắc diễn ra dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng: Hàng nămViệt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân Việt Nam, ngườilàm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo Năm 1945 ở miền Bắc cótrên 2 triệu người chết đói

Trang 5

Nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc

- Kinh tế kháng chiến (1946 - 1954): Từ một nền kinh tế canh nông đã bị tê

liệt trước năm 1945, nông nghiệp kháng chiến không những không bị suy thoáitiếp, mà đã được duy trì và phát triển, với sản lượng lương thực, thực phẩm vàhàng hóa ngày càng dồi dào hơn, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của cuộc khángchiến và đời sống nhân dân Với nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông thôn Do đó,Đảng và Chính phủ đã chú trọng trước hết đến sản xuất nông nghiệp, khôngngừng động viên nông dân ra sức tăng gia sản xuất, đồng thời tiến hành từngbước chính sách ruộng đất để giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, cảithiện đời sống cho nông dân, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội

* Chỉ tính riêng từ năm 1945 đến tháng 4 năm 1953 ở vùng tự do và đến tháng 7năm 1954 ở vùng mới giải phóng, nông dân miền Bắc đã được chia 475,9 nghìn

ha ruộng đất và ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 410nghìn ha Do lực lượng sản xuất được giải phóng, sản xuất nông nghiệp vùng giảiphóng đạt mức tăng trưởng khá Sản lượng lương thực quy thóc đạt 2,95 triệutấn, tăng 13,7% so với năm 1946, trong đó 2,3 triệu tấn thóc tăng 15,9%

- Thời kỳ 1955 – 1975: Là thời kỳ đặc biệt của quá trình xây dựng và phát

triển ngành Nông nghiệp nước ta, khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiếnhành hai chiến lược cách mạng khác nhau, chịu nhiều thách thức to lớn trong vàngoài nước, dưới chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh Trong khi nôngnghiệp miền Nam phát triển không ổn định, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầulương thực, thực phẩm của xã hội, thì nông nghiệp miền Bắc đã hoàn thành vaitrò mặt trận hàng đầu trong xây dựng hậu phương lớn, chi viện đắc lực cho cuộcđấu tranh giải phóng miền Nam Sản lượng lương thực qui thóc từ 3,76 triệu tấnnăm 1955 tăng lên 5,49 triệu tấn năm 1975; đàn lợn từ 2,45 triệu con lên 6,75triệu con

Trang 6

Hợp tác hóa nông nghiệp ở huyện Đông Anh phục vụ công cuộc xây dựng CNXH

ở miền Bắc.

- Thời kỳ 1976 – 1986 : Chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, đất nước

được độc lập, tự do, mở ra cơ hội và điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp của cả hai miền Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhằm phát triển sản xuất nhưng giai đoạn này sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc vẫn mang nặng tính bình quân, bao cấp; còn ở miền Nam, phong trào hợp tác hóaphát triển nhanh nhưng không bền vững;…

2 Sau đổi mới 1986 đến nay

Từ năm 1986 (Đại hội Đảng VI), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế, biện pháp mới nhằm giải phóng sức sản xuất, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhờ vậy, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã có những chuyển biến mạnhmẽ

Trong 32 năm đổi mới (1986 - 2018) , tốc độ tăng trưởng nông nghiệp liên tục tăng, nông nghiệp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực.Giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ 4,06%/ năm giai đoạn (1986 - 2015) Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc

dù kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp, nông thôn vẫn là ngànhgiữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng cho nền kinh tế Việt Nam đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, bao gồm: Gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản

Trong khi các ngành kinh tế khác còn đang chịu ảnh hưởng lớn của suy thoáikinh tế, ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả khá toàndiện, tăng trưởng ngành đạt tốc độ khá cao Năm 2014, ngành nông nghiệp đạt

Trang 7

tốc độ tăng trưởng 3,3% so với 2,6% (2012 - 2013), đánh dấu sự hồi phục và tăngtrưởng cao.

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13%, vượt mục tiêuNghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra (2,6 - 3%) Giá trị sản phẩm thu đượctrên 1 ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 79,3 triệuđồng/ha năm 2014 và khoảng 82 - 83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặtnước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu đồng/

ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015) Thu nhập của người dân nôngthôn năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu của Nghị quyếtĐại hội Đảng XI đề ra) Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạttới 30,8 tỷ USD, mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay Mặc dù, năng suất laođộng thấp, năng lực cạnh tranh không cao, nhưng nông nghiệp là ngành duy nhất

có xuất siêu, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàngđầu thế giới về nhiều loại nông sản đa dạng như: Gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su,các mặt hàng gỗ và thủy sản

Năm 2016, ngành nông nghiệp Việt Nam đạt tăng trưởng 1,36%, giá trị kimngạch xuất khẩu đạt 32,1 tỷ USD Cơ cấu sản xuất tiếp tục được điều chỉnh phùhợp với định hướng tái cơ cấu và thích ứng với biến đổi khí hậu; sản xuất đượcduy trì trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt; xuất khẩu tăng cao, tăng trưởngngành được phục hồi GDP toàn ngành đã tăng 1,2% so với năm 2015; giá trị sảnxuất (theo giá so sánh 2010) tăng 1,44%, trong đó: Trồng trọt giảm 0,9%, chănnuôi tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 6,17%; thuỷ sản tăng 2,91% Kim ngạch xuấtkhẩu nông lâm thủy sản ước đạt khoảng 32,1 tỷ USD, tăng 5,4% so với năm2015; tiếp tục duy trì được 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trởlên

Năm 2017 , tốc độ tăng trưởng ngành đạt 2,94%, vượt mục tiêu so với Chínhphủ đề ra là 2,84% Về mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản, Chính phủ đề ra là32-33 tỷ USD, ngành đã đạt con số 36,37 tỷ USD, vượt tới hơn 4 tỷ USD so vớinăm trước và thặng dư tuyệt đối của ngành đạt 8,55 tỷ USD, tăng hơn 1 tỷ USD

so với năm 2016

Sơ đồ tăng trưởng ngành Nông nghiệp Việt Nam 2014-2016

Trang 8

II Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tác động đến nông nghiệp Việt Nam

1 Đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông nghiệp; cây trồng vật nuôi là đối tượng lao động trong sản xuất nông nghiệp Chính vì thế, nhân tốquan trọng hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp là đất đai Đất đai ảnh hưởngquyết định đến qui mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp (đặc biệt là với ngànhtrồng trọt)

-Nước ta có 2 nhóm đất chính là đất feralit và đất phù sa Tuỳ theo cácnhân tố, điều kiện hình thành và sự tác động của con người mà các loại đất trên

có sự phân hoá khác nhau :

▪ Đất miền núi, chủ yếu là đất feralit : Lượng khoáng nguyên thấp, hàm

lượng mùn không cao, đất chua và có màu đỏ, hoặc đỏ-vàng của ôxít sắt thíchhợp với cây công nghiệp Ngoài ra, còn có một số loại đất khác: Đất xám phù sa

cổ (rìa Đồng Bằng sông Hồng và nhiều nhất ở Đông Nam Bộ) Đất này thíchhợp với cây công nghiệp và cây ăn quả Đất đen (macgalit) phát triển trên đábazơ (đá bazan, đá vôi), thường gặp ở thung lũng đá vôi (nhiều nhất ở miền Bắc),diện tích tuy không lớn nhưng rất thích hợp với các cây công nghiệp có giá trị(quế, chè, thuốc lá, ) Tốt nhất trong các loại đất đồi núi nước ta là đất bazan( 2,0 triệu ha), tập trung ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ và có một vệt từPhủ Quì (Nghệ An) kéo dài đến Vĩnh Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), loại đất này rấtthuận lợi cho cây công nghiệp (cao su, cà phê ) qui mô lớn

▪ Đất ở đồng bằng : Phần lớn là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả

nước), đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rấtthích hợp cho trồng lúa Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khácnhư đất chua mặn, đất mặn, ven biển, đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng,đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trị đối với sản xuất nông nghiệp vàviệc cải tạo cần nhiều vốn đầu tư

▪ Thực trạng của việc sử dụng đất hiện nay: Quá trình khai thác lãnh thổ

cho đến 2008 chúng ta mới đưa vào sử dụng 80,0% diện tích đất tự nhiên (trong

đó 28,45% là đất nông nghiệp) Vốn đất thuận lợi cho trồng lúa hầu như đã khaithác hết, để tận dụng tiếm năng của tự nhiên ở Đồng bằng sông Hồng nhân dân

đã tìm mọi biện pháp để tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất bằng cách thâmcanh và đầu tư lao động sống để nâng cao năng suất Phần lớn đất nông nghiệpđược trồng cây hàng năm, có thể luân canh - tăng vụ với lúa (như lúa - đay, lúa -thuốc lá); phần còn lại chủ yếu trồng cây lâu năm, nhiều nhất là Tây Nguyên,Đông Nam Bộ trên vùng đất bazan Vốn đất và khả năng mở rộng lại có sự khácnhau giữa các vùng lãnh thổ Năm 2008, cả nước có trên 33,0 triệu ha đất tựnhiên; sử dụng vào sản xuất nông nghiệp 9,42 triệu ha (28,45%), đất lâm nghiệp14,8 triệu ha (44,74 %), đất chuyên dùng và thổ cư 407,0 nghìn ha (6,56%), đấtchưa sử dụng 6,7 triệu ha (20,24%) Như vậy đất chưa sử dụng còn lớn, nhưngviệc mở rộng diện tích lại rất khó khăn, chủ yếu là đất dốc, thiếu nước, xói mòn

và thoái hoá; Đất đồng bằng chưa sử dụng còn rất ít, chủ yếu là đất phèn, đấtmặn, đất ngập úng đòi hỏi phải đầu tư lớn Hiện nay, đất nông nghiệp (đặc biệt làđất trồng lúa) sử dụng vào mục đích khác như công nghiệp, đô thị ngày càng

Trang 9

nhiều Theo dự báo trong vòng 10 năm tới, đất nông nghiệp có thể mất đi mỗinăm ~ 2,8 vạn ha (trong đó đất trồng lúa ~ 1,0 vạn ha) Điều đó chắc chắn sẽ ảnhhưởng đến nông nghiệp.

Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước đến năm 2010

Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giaiđoạn 2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm Sự gia tăng này có thể đến từviệc mở rộng một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp

- Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suygiảm đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có41/63 tỉnh giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từđất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồngrau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ănquả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng,phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh)

- Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 halên 14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng trưởngnày giảm nhẹ trong giai đoạn kế tiếp Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng571.616 ha so với năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâmnghiệp tăng 3.673.998 ha Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã đẩy

Trang 10

mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là doquá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp được xác định lại chính xáchơn.

So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổngdiện tích đất lâm nghiệp cả nước đạt 96,3%, thấp hơn quy hoạch được duyệt là595.059 ha, trong đó có 35 tỉnh không hoàn thành chỉ tiêu quy hoạch

- Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăngtrưởng mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăngkhoảng 66.500 ha Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843

ha (Hình.1) Năm 2010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng

cơ cấu đất nông nghiệp

So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, tổng diệntích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước (không tính diện tích nuôi trồng thủy sảnkết hợp) thực tế thấp hơn 124.392 ha (đạt 84,72% so với quy hoạch được duyệt)

- Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005 vàtăng trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010 Diện tích đất làm muối giảm4.829 ha giai đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha Tính cả giai đoạn2001-2010, diện tích đất làm muối giảm 1.342 ha Mặc dù trong những năm qua,sản xuất muối có những tiến bộ nhất định về năng suất và chất lượng, tuy nhiên,ngành này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước Hàng năm, đất nước cònphải nhập khẩu muối cho các nhu cầu khác nhau với giá thành cao Đây là vấn đềmang tính nghịch lý cần phải xem xét, vì Việt Nam là một nước nhiệt đới, với3.444 km chiều dài bờ biển

- Diện tích đất nông nghiệp khác đã có sự thay đổi đáng kể, tăng trưởng mạnhtrong 10 năm qua, từ 402 ha năm 2000 lên tới 25.462 ha vào năm 2010, gấp hơn

63 lần Mức tăng trưởng gần như tuyến tính, lượng tăng trưởng hàng năm ở mức2.506 ha

Những kết quả đáng ghi nhận: Trong 22 năm đổi mới, nhất là những năm 1995

- 2007, sản xuất cây công nghiệp lâu năm đã liên tục phát triển toàn diện, tăngtrưởng nhanh cả về mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất, tăng sảnlượng Năm 2007, diện tích cây công nghiệp lâu năm cả nước đạt 1.797 nghìnhéc-ta, tăng 321 nghìn héc-ta (21,7%) so với năm 2001 và tăng 894 nghìn héc-ta(99,1%) so với năm 1995 Sản lượng hầu hết các cây công nghiệp lâu năm đềutăng mạnh, nhất là các cây gắn với xuất khẩu như cà phê, cao su, chè, điều, hồtiêu

Ví dụ:

Cây cà phê ở Việt Nam có diện tích kinh doanh năm 1995 đạt 114,1 nghìn

ha và sản lượng 218 nghìn tấn cà phê nhân khô, năm 2000 có trên 477 nghìn ha

và 802 nghìn tấn, đến năm 2007 diện tích gieo trồng lên tới 506 nghìn ha diệntích cho sản phẩm là 488 nghìn ha và 961,2 nghìn tấn nhân khô, năng suất đạtgần 2 tấn/ha Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng sản xuất càphê vối chỉ sau Bra-xin Trong những năm qua, ở nước ta đã hình thành vùng sảnxuất cà phê tập trung quy mô lớn là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó ĐắcLắc là tỉnh có diện tích và sản lượng cà phê lớn nhất, đồng thời cũng là địaphương có tốc độ tăng trưởng sản lượng cà phê nhanh nhất: năm 2007 đạt trên

350 nghìn tấn, tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995 (150 nghìn tấn) Kế đến là LâmĐồng, khoảng 100 nghìn tấn, Gia Lai 70 nghìn tấn và Đồng Nai 30 nghìn tấn,chủ yếu là cà phê vối Hầu hết cà phê được trồng trong các hộ gia đình quy mô

Trang 11

vườn 0,5 ha - 1 ha và đang ở độ tuổi sung sức, có năng suất khá cao, tập trungthành các vùng lớn ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và một số tỉnhmiền núi phía Bắc.

Cà phê là cây công nghiệp gắn với xuất khẩu rất chặt chẽ Quy mô sảnxuất luôn phụ thuộc vào thị trường cà phê thế giới vì trên 95% sản lượng cà phê

để phục vụ xuất khẩu Xuất khẩu cà phê chỉ trong vòng 20 năm qua đã tăngnhanh cả về lượng và giá trị Nếu năm 2000, Việt Nam xuất khẩu 680.000 tấn càphê, đạt kim ngạch trên 500 triệu USD thì đến năm 2016, XK cà phê đã lên tớimốc kỷ lục 1,78 triệu tấn với kim ngạch 3,34 tỷ USD, tăng 32,8% về lượng vàtăng 24,7% về giá trị so với năm 2015 Nếu năm 1991, sản lượng cà phê ViệtNam mới chỉ đạt 1% thị phần thế giới, thì đến niên vụ 2015-2016, Việt Nam đãchiếm gần 20% sản lượng của thế giới Tính đến tháng 4/2017, tổng sản lượngxuất khẩu tất cả các mặt hàng cà phê ước đạt 14,28 triệu bao, giảm mạnh so vớimức 15,25 triệu bao cùng kỳ niên vụ 2015/16; trong đó tổng sản lượng xuất khẩuhạt cà phê tươi đạt khoảng 13,45 triệu tấn, thấp hơn mức 14,42 triệu tấn trongcùng kỳ niên vụ 2015/16

Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam

Tuy vậy, giá trị xuất khẩu cà phê tăng trưởng không vững vàng và lênxuống rất thất thường Những năm gần đây, ngành cà phê chịu nhiều tác động từbiến đổi khí hậu; đặc biệt, năm 2016, ngành cà phê chịu cảnh hạn hán gay gắtnhất trong vòng 30 năm qua Năm 2017, giá cà phê có cao hơn những năm vừaqua

Trang 12

Giá xuất khẩu trung bình cà phê của Việt Nam những năm qua

Nguồn: Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Đắk Lắk, Hiệp hội cà phêViệt Nam, Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) và các nhà xuất

khẩu trong nước

Cây cao su là cây công nghiệp lâu năm, phải trồng và chăm sóc khoảng từ

6 đến 7 năm mới bắt đầu khai thác mủ Thời gian khai thác kéo dài 30 năm- 35năm Trong những năm qua đã hình thành 2 vùng sản xuất cao su tập trung làĐông Nam Bộ, Tây Nguyên và đang mở rộng ra các tỉnh khác vùng Bắc Trung

Bộ và miền núi phía Bắc v.v Diện tích cao su năm 1996 trên 280 nghìn héc-ta,trong đó gần 150 nghìn héc-ta đang khai thác mủ Hai chỉ tiêu tương ứng năm

2000 là 410 nghìn héc-ta và 230 nghìn héc-ta; năm 2007 là 550 nghìn héc-ta và

374 nghìn héc-ta Diện tích cao su năm 2017 đạt 971.600 ha, giảm 0,2% so vớinăm trước do một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đang có xu hướng phá

bỏ cây cao su già cỗi, chuyển đổi sang trồng tiêu và cây trồng khác Năng suấtđạt 16,7 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha; sản lượng đạt 1.086,7 nghìn tấn, tăng 4,96% tươngđương 51.400 tấn

Cùng với mở rộng diện tích, năng suất cao su (tính theo mủ khô) cũngkhông ngừng tăng lên, năm 1996 đạt 900kg/ha, trong đó những diện tích cao su ở

độ tuổi từ 12 đến 20 năm đạt trên 1.000kg/ha, đưa sản lượng cao su (mủ khô) củacả nước lên 140 nghìn tấn, năm 2000 đạt 291 nghìn tấn, và năm 2007 đạt trên

601 nghìn tấn cao su mủ khô Sản lượng cao su xuất khẩu năm 2007 là 750 nghìntấn, kim ngạch đạt trên 1,4 tỉ USD Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, ước tính khối lượng cao su xuất khẩu năm 2017 đạt 1,39 triệutấn và 2,26 tỷ USD, tăng 11% về lượng và 35,6% về giá trị so với cùng kỳ năm

2016 Mặc dù khối lượng cao su xuất khẩu cao gấp đôi so với nhập khẩu nhưnggiá cao su xuất khẩu trung bình năm 2017 là khoảng 1.625,8 USD/tấn, thấp hơn

324 USD/tấn so với giá cao su nhập khẩu trung bình

Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), tuy Việt Nam đứng thứ 3 thế giới

về sản xuất và xuất khẩu cao su thiên nhiên nhưng hàng năm các doanh nghiệptrong nước vẫn phải nhập khẩu một số loại cao su nguyên liệu để đáp ứng nhucầu sản xuất và chế biến Phần lớn cao su nguyên liệu được nhập về để kinhdoanh tạm nhập tái xuất và một phần đáp ứng nhu cầu của nhà sản xuất săm lốp

Ngày đăng: 25/04/2018, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w